Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh NIKAYA Giảng Giải - Tất Cả Là MÙ LÒA

2026-03-03 00:54:49
Kinh NIKAYA Giảng Giải - Tất Cả Là MÙ LÒA

Thích Minh Thành

Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta sẽ học kinh mù loà.

Kinh này khi Minh Thành nghe, thì nghe đi nghe lại rất nhiều lần. Mỗi lần nghe có cảm xúc cảm động, chấn động nội tâm. Kinh này hết sức sâu sắc cho chúng ta quán chiếu.

Tương Ưng Bộ Kinh (Tập 4)

Khi đó Đức Thế Tôn ở vương xá Trúc Long, chỗ nuôi dưỡng con sóc. Đức Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo tất cả là mù loà. Cái gì mùa loà? Mắt là mù loà, các sắc là mù loà, nhãn thức là mù loà, nhãn xúc là mù loà. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì? Lạc thọ hay là khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Cảm thọ ấy là mùa loà. Mù loà bởi cái gì? Ta nói rằng mùa loà bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Tai, mũi, lưỡi là mù loà, các vị là mùa loà, thiệt thức là mù loà, thiệt xúc là mùa loà. Do duyên thiệt xúc khởi lên những cảm thọ gì, dễ chịu hay khó chịu hay là không dễ chịu không khó chịu. Tất cả cảm thọ đó là mù loà. Mù loà bởi cái gì? Mù loà bởi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Này các Tỷ-kheo thân là mù loà, ý là mù loà, các pháp là mù loà, ý thức là mù loà, ý xúc là loà. Do duyên ý súc khởi lên những cảm thọ gì, dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu không khó chịu. Tất cả những cảm thọ đó là mù loà. Mù loà bởi cái gì? Ta nói rằng mù loà bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.

Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị đa văn thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì? Vui, khổ, không vui không khổ. Tất cả những cảm thọ ấy, vị ấy nhàm chán. Do nhàm chán vị ấy li tham, do li tham vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát trí khởi lên biết rằng ta đã được giải thoát. Vị ấy rõ biết rằng sanh đã tận, phạm hạnh đã thành. Những việc nên làm đã làm xong và không còn trở lui trạng thái này nữa.

Này các Tỷ-kheo, tất cả là mù loà. Tất cả chúng ta đang sống trong trạng thái mù loà, đui mù, sống trong trạng thái si ám, vô minh, vô tri.

Này các Tỷ-kheo, tất cả chúng sanh là mù loà. Sống trong bóng đêm, sống trong bóng đêm, sống trong vô minh, sống trong dục, trong ngã mạn. Đau khổ cho những kẻ mù này.

Đầy rẫy những người mù, tràn ngập những người mù, nheo nhúc đông đúc ồn ào là những người mù.

Không thấy không biết mù đối với con mắt, không biết con mắt làm bằng cái gì, không biết sự sanh khởi của con mắt, không biết sự chấm dứt của con mắt, không biết vị ngọt của con mắt, không biết sự nguy hiểm của con mắt và không biết sự xuất li khỏi con mắt. Tưởng con mắt là con mắt mà không biết con mắt là vô thường, không biết con mắt là biến hoại, không biết con mắt là đổi khác. Tưởng đâu con mắt là con mắt, tưởng đâu con mắt long lanh như vậy hoài, trong sáng như vậy hoài, đó là mù loà đối với con mắt. Không có thực sự, thực thấy, thực biết như chân về con mắt, cho nên mù đối với con mắt.

Này các Tỷ-kheo các sắc là mù loà. Tất cả những thứ mình thấy, xung quanh mình đây là mù loà. Mình không biết được bản chất thực sự tứ đại của nó. Tối ngày cứ chạy đi nhìn đẹp xấu, xanh đỏ trắng vàng. Mà mình không biết bản chất các sắc này là vô thường, là biến hoại, là hoại diệt. Cho nên mình mù loà với các sắc.

Bên trong mù, bên ngoài mù. Trong sự tiếp xúc mù, nhãn thức, sự rõ biết các sắc mù loà, đó là pháp duyên sanh. Nhãn thức khởi lên là do con mắt và các sắc mà mình không biết không thấy, cho nên mình mù loà đối với nhãn thức, đối với sự rõ biết của con mắt, mình không biết bản chất của nó, không biết từ đâu mà nó sanh khởi ra, không biết tại sao nó chấm dứt, không biết sự nguy hiểm của nó, không biết tác hại của nó.

Mình mù loà đối với nhãn thức. Ba pháp hội tụ giao thoa rồi mù loà nữa. Nhãn xúc mù loà, trong khi xúc không biết không thấy, cho đó là thiệt, cho đó là mình, là tôi, là tự ngã của tôi. Mắt đây là mắt của tôi, tôi thấy cái đó đẹp, tôi thích và sau đó tôi khổ. Đó là cả một chuỗi dài của tăm tối, si ái.

Cho nên nhãn xúc khởi lên cảm thọ, thích hay không thích, dễ chịu hay khó chịu, khổ hay là vui. Cảm thọ ấy mù loà. Ở trong cảm thọ mù loà, mình hoàn toàn không thấy, không biết. Chỉ thấy rằng tôi thích vì cái đó đẹp. Đó là mù loà từ trong ra ngoài. Đau khổ cho một người mù, nhọc nhằn cho một kẻ mù. Vất vả cho kẻ mù, quờ quạng trong bóng đêm, chụp cái này bắt cái kia, tưởng cái này tượng cái nọ. Mình chưa có mù, mình chưa biết cảm giác người mù đâu.

Minh Thành có trải nghiệm cảm giác mù một tiếng rưỡi. Mình Thành vào chỗ đó hoàn toàn là tăm tối hết, người này phải vị vai người kia. Ăn cơm phải mò mẫm từng cái mà khó chịu vô cùng. Chỗ đó là người ta muốn cho mình trải nghiệm cảm giác mù, những người phụp vụ trong đó là những người mù, khuyết tật. Một tiếng mấy thôi mà mình khó chịu vô cùng, mà người ta phải mù suốt đời, sống trong bóng đêm như vậy. Mà cái mù của con mắt thịt chưa có là gì, mù của con mắt tuệ cái đó mới thống khổ thật sự.

Cho nên nếu chúng ta không gặp chánh pháp này, không gặp bậc thiện tri thức, không nghe, không hiểu, không hành trì thì chúng ta mù vô lượng kiếp, không biết tới ngày nào mới sáng được con mắt ra. Đó là ân đức của tam bảo, mình phải biết được điều đó.

Sống trong cảnh mù, mù bởi cái gì? Ta nói rằng mù loà bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Mù từ khi sanh ra, lớn lên cũng đi tìm dục tham ái rồi cũng khát khao, khốn khổ, rồi bệnh hoạn, cuối cùng đối hiện với tử vong.

Khổ mà không biết tại sao mình khổ, buồn mà không biết tại sao mình buồn. Lo lắng và sợ hãi mà không biết tại sao mình lo lắng sợ hãi, đó là vì mình mù. Mù đối với gì? Đối với sự thật, mù đối với chân lí, mù đối với chân lí các sắc, nhãn thức, nhãn xúc, đối với các cảm thọ. Và tự sự tiếp xúc của con mắt đem lại là mình hoàn toàn không biết. Mù đối với lỗ tai, mù đối với âm thanh, mù đối với sự rõ biết âm thanh, mù đối với nhĩ xúc, sự tiếp xúc của lỗ tai. Chỉ cần nghe một tiếng phê bình thôi là phản ứng, phán kháng, phản biện, bản bội. Rồi sân hận lên, bực tức lên, ganh ghét lên. Bực lên là đánh nhau, chém nhau, giết nhau, đó có phải là mù loà đối với âm thanh không?

Mù loà đối với cảm giác là do sự tiếp xúc với âm thanh đem lại. Mù loà đối với lổ mũi, lưỡi đối vị. Để đồ ngon vô miệng là tê tái hết, không còn biết trời trăng gì nữa, không còn thấy rõ các pháp nữa. Không còn thấy lưỡi, không còn thấy thức ăn, không thấy thiệt thức, không thấy thiệt xúc mà bị chìm đắm vô một chút cảm thọ của cái lưỡi. Ăn như vậy là ăn trong mù loà, si ái, si ám, si mê. Rồi suốt cuộc đời mình chạy theo mấy cái đó.

Rồi con cái thân xúc chạm. Xúc chạm vô rồi là không biết cái gì nữa, thậm chí là hi sinh cả thân mạng để được xúc đó. Đau khổ vì chuyện không được xúc, dằn dặt khốn khổ, thậm chí đi ra đời để được xúc cho thân nó mù loà. Tiếp xúc ở trong cái mù loà, những cảm giác mù loà, mình mù loà đối với cảm giác khi tiếp xúc. Khi xúc mình không nhìn thấy đây là thân, là tứ đại. Nếu mình không quán chiếu là mình không thấy. Những cái vật mình tiếp xúc, mình không thấy rõ cái nào là thân xúc, cái nào là thọ do thân xúc sanh. Cảm giác khi thân tiếp xúc đó đem lại. Theo đó là ái. Đây là nói ngắn gọn đó. Những cảm giác khổ hay vui, vừa lòng hay nghịch ý là khởi tham sân. Còn cảm giác thường thường đều đều là si. Do mình không thấy các pháp, như vậy là tham sân si mù loà hết. Nói rộng ra là mình mù loà đối với dục, mù loà đối với tham, mù loà đối với ái, mù loà đối với sân, mù loà đối với bản ngã. Khi nó sanh khởi lên mình không thấy không biết. Mình thấy mình biết là bắt đầu mình có con mắt rồi. Cho nên trong sự tu hành này, người nào càng nhìn thấy nhiều lậu hoặc, những ô nhiễm, những cấu nhiễm trong nội tâm mình nhiều chừng nào thì con mắt trí huệ mở sáng chừng đó. Còn người không thấy mình có lỗi gì hết thì người đó con mù loà. Thậm chí được người ta nhắc mình cũng không đồng ý là cái đó mù nặng. Mình phải nhìn thấy được thực sự là cấu bẩn lậu quặc hết sức dài đặc. Kinh khiếp, khiếp sợ đối với các lậu quặc của nội tâm khi mình ở một mình. Nó tràn ngập, nó đầy rẫy hết.

Nếu mình không có tu thì mình làm gì? Có phải mình đi tìm dục, tìm tham, tìm ái không?

Sáng mở mắt dậy là đi kiếm cái gì ăn cho ngon, trưa cũng vậy. Tìm cái gì đẹp đặng thấy, cái gì hay đặng nghe, cái gì thơm đặng ngửi, cái gì ngon đặng nếm, cái gì êm ái để tiếp xúc. Có cái gì khác đâu? Như vậy là mình mù loà đối với dục, đối với tham, đối với ái. Và ở trong đó là sầu, bi, khổ, ưu, não.

Bây giờ mình đi tu không phải là xong rồi đâu. Đức Phật ví dụ: một khúc cây còn ướt bị ngâm dưới nước, một khúc cây còn ướt mà để trên khô. Cây ướt để dưới nước có cọ cho nó ra lửa được không? Cây ướt mà để dưới nước thì làm sao cọ cho nó ra lửa được. Mà bây giờ được vớt lên trên khô rồi mà bên trong vẫn bị ướt thì cọ sao ra lửa được. Chỉ có cây khô để trên chỗ khô thì cọ mới ra lửa.

Vây ướt mà để trong nước là người đời, không biết tu.

Cây được vớt lên khỏi mặt nước rồi, mà bên trong còn ướt cũng giống như mình vô chùa rồi mà mình không chịu đoạn tận các lậu quặc, mình không đặt mục tiêu của mình là đoạn tận tham sân si, phá diệt bản ngã. Dù cho để trên khô và trong ruột ướt thì cũng không cháy được. Không phải vô chùa là xong, không phải cạo đầu là rồi, không phải nghe pháp học hiểu biết là thánh tựu. Ở bên trong, ở trong ruột ướt hay là khô, mình người trí mình phải biết và làm khúc cây của mình trở thành khô.

Khô đối với cái gì? Đối với dục, tham, ái. Còn nếu không cái dục nó trá hình, cái ái nó trá hình, ái tham nó trá hình. Nó sẽ tìm cái này, tìm cái kia theo một kiểu khác. Bản ngã nó trá hình, ta đây nó trá hình. Cho nên mình phải thấy được những cái lậu quặc. Cho nên bốn trí phải lậu quặc là tuyệt diệu lắm, cho nên mình phải lạy Đức Phật vì đã chỉ cho mình bốn trí về lậu hoặc.

Thứ nhất mình phải biết lậu hoặc là cái gì. Thứ hai mình phải biết từ đâu nó sanh khởi lên lậu hoặc. Thứ ba cái gì sanh khởi lên lậu hoặc. Thứ tư là mình phải biết diệt tận lậu hoặc và con đường dẫn đến chấm dứt tất cả lậu hoặc.

Tới bây giờ mình không biết lậu hoặc là cái gì thì làm sao mình diệt. Hoặc là sự mê hoặc, mù loà đó. Mình không biết mình đang bị mù thì làm sai mình tìm bác sĩ trị, làm sao mình đi cầu cứu với lương y. Mình nói tôi không có mù, tôi sáng mắt, tôi là người khoẻ mạnh, không có mù thì làm sao mình trị. Cho nên đầu tiên là phải biết mình mù.

Thánh trí thứ nhất là nhận thức được mình mù loà. Mình không biết mình mù, mình không biết mình bệnh, mình không biết mình đang nguy kịch, mình không biết mình đang nguy cấp. Mình cho là mình đang khoẻ mạnh, mình an toàn, mình tốt. Mình không có lầm lỗi gì hết. Thì như vậy là xong rồi. Cho nên cái hết sức quan trọng trong sự nhận diện năm uẩn là để mình thấy lậu quặc, để mình phát hiện ra mình đang bị mù. Những sự mê hoặc, ngấm ngầm hoạt động một cách hết sức tinh tế, tinh vi, tinh ranh, tinh xảo, tinh ma ở trong nội tâm của mình. Mình phát hiện ra được cái đó là mình biết được thế nà là lậu hoặc. Đó là thánh trí thứ nhất. Nếu mình không nhận diện năm uẩn là mình không biết một cách chính xác, mình chỉ biết trên suy tưởng thôi.

Mình phải nhìn lại thân thể, cảm giác, những suy nghĩ và các cái tưởng ở bên trong. Cho nên Minh Thành gọi đây là công trình vĩ đại ở bên trong. Sự tu hành của mình là một công trình vĩ đại ở bên trong. Mình phải phát hiện ra lậu quặc, nhìn thấy được dục lậu mặt mũi nó như thế nào. Mình phải phát hiện ra sự thúc dục ở bên trong, nó thúc dục, ưa thích, muốn những cái lạc thọ, những cái khoang khoái thích thú. Khi đi, khi ăn, khi nói, khi ngồi, khi nằm, khi tụng kinh, khi nghe pháp, khi tiếp đãi, ứng xử tiếp xúc, mình phải luôn luôn nhìn lại ở bên trong thì mình sẽ phát hiện ra được dục lậu. Sự thúc dục, sự ưa thích những cái gọi là khả lạc, khả hỉ, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn. Nó ưa thích, nó muốn được mấy cái đó, nó muốn giữ mấy cái đó.

Cho nên mình có bài kinh là chấp thủ, Tương Ưng Bộ Kinh (tập 4)

Ta sẽ giảng các pháp bị chấp thủ và chấp thủ hãy lắng nghe. Thế nào là các bị chấp thủ và chấp thủ. Mắt, này các Tỷ-kheo là pháp bị chấp thủ. Ở đây chỗ nào có dục và tham, ở đấy là chấp thủ.

Tai, mũi, lưỡi, thân, ý là pháp bị chấp thủ. Ở đây chỗ nào có dục và tham thì chỗ đấy bị chấp thủ.

Mình dục và tham đối với con mắt. Cho nên khi Minh Thành nghe chương sáu sứ này là rúng động hết. Chương sáu sứ này trong Tương Ưng Bộ Kinh.

Mình không ngờ Đức Thế Tôn chĩa thẳng vô tổng hành dinh, là chỗ thật sự chấp thủ dục tham ái. Cái bên ngoài là cái thô pháp, ai cũng có thể nhìn thấy, nhưng cái chấp thủ với sau căn của mình thì cái đó khó có thể biết được, nếu không phải bậc chánh đẳng giác. Sự chấp thủ thật sự của mình là gì? Là con mắt, lỗ tai, cái lưỡi, cái thân, cái ý này.

Bây giờ nói bình thường không nói gì sâu xa, mình lại nhìn lên gương mình thấy con mắt mình coi được không. Mình có thấy hài lòng với con mắt mình không? Dục đó, tham đó, ái đó.

Mình nhìn lỗ tai trong gương, nhìn lỗ mũi, nhìn cái mặt. Dục lậu nằm chỗ đó. T Mình phải thấy được tham ái ở chỗ nào? An trú ở chỗ nào? Sanh khởi ở chỗ nào? Cho nên cái này tuyệt diệu lắm, học nó lí thú mà thực hành là sướng. Học được cái này là khoang khoái, thích thú, tuệ giác. Cho nên con đường chứng quả dự lưu là gì? Mình phải thấy được cái gì? Mình phải thấy được sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, sáu giới, năm uẩn là vô thường biến hoại đổi khác. Đó là con đường chứng quả dự lưu. Một vị mà thường trực quán chiếu như vậy, mà tin tưởng được như vậy, thực hành theo như vậy thì không thể mạng chung mà không chứng quả dự lưu. Đó là lời nói của bậc chánh đẳng chánh giác.

Cho nên ai có lòng tin, có sự tin hiểu đối với những pháp này. Vị ấy được gọi là tuỳ tín hành, đã nhập chánh tánh, đã nhập chân nhân địa, đã vượt phàm phu địa. Vị ấy không thể làm hành động gì, do làm hành động ấy mà phải sanh vào địa ngục, bàng sanh ngạ quỷ. Một vị không có thể mệnh chung mà không chứng quả dự lưu.

Với ai kham nhẫn một ít thiền quán, như vậy với trí huệ về những pháp này, vị ấy được gọi là tuỳ pháp hành, đã nhập chánh tánh, đã nhập chân nhân địa, đã vượt phàm phu địa. Với ai, đối với những pháp này biết rõ như vậy, thấy như vậy, vị ấy được gọi là đã chứng dự lưu, không còn bị thói đoạ quyết chắc hướng đến giác ngộ.

Phân tích ra thì Đức Phật nói nhiều khía cạnh, còn gom gọn lại là năm uẩn. Bậc chánh đẳng chánh giác nói thì không còn khía cạnh nào thiếu xót hết. Mình tu mình nghiên cứu, mình nghe, mình học, mình thực hành chứng đắc thì mọi cái còn lại thành tựu hết.

Cho nên chỗ thâm sâu mình đang nói đây là gì? Là trí tuệ của lậu quặc là để mình nhìn thấy được dục lậu. Mà nó không ở đâu xa hết, nó ở trong con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, miệng, thân, ý của mình. Con mắt của mình mình yêu thích lắm, lỗ tai của mình mình yêu thích lắm, lỗ mũi cái thân của mình mình yêu thích lắm. Đó là dục tham ái ở trong đó.

Nhiều khi người ta nghĩ rằng người này yêu thích người kia, hay yêu thích món đồ nọ, cái đó chỉ bên ngoài thôi. Giờ thử người mình yêu mà họ làm gì hại mình thì lúc đó còn yêu không, còn thương không? Lúc đó là hết rồi. Người ta chửi mình cái gì đó thì lúc đó còn thương không? Tại sao vậy? Tại mình thương mình hơn. Thương cái gì? Thương cảm giác dễ chịu. Thương cái gì? Thương những suy nghĩ của chính mình. Mình từ từ mới phát hiện ra hữu lậu, trạng thái dao động. Trạng thái sanh khởi ra cảm giác, sanh khởi ra những cái tưởng, sanh khởi ra những suy nghĩ, sanh khởi ra những cái thức. Nó dao động sanh khởi hoài như vậy. Đó là nói cái sâu sắc.

Thường thì đi vô cái pháp thì nó không chịu, đi ra ngoài thì nó siêng năm lắm. Đi vô cái pháp để dừng lại dao động là nó không thích, mà đi ra pháp là nó thích lắm. Đi ra pháp là nó hân hoan, phấn khởi, nhiệt tình, cháy bỏng lắm. Làm sao mà khi kêu đi lên tu mà vui hơn đi chơi thì cái đó bắt đầu được rồi đó. Tại vì sao? Vì cái dục lạc của thế gian kém hơn dục như ý túc, thì lúc đó có phần. Tức là sự ưa thích, khao khát, mong muốn tu tập chứng ngộ của mình phải hăng say, hăng hái, mạnh mẽ thì nó mới chiến thắng được hữu lậu, hữu nhiễm.

Còn nói thâm sâu hơn nữa thì hữu lậu là gì? Là sự hiện hữu, nó muốn nó hiện hữu. Giờ nói tu mà chấm dứt năm uẩn là sợ, nói tu như vậy còn cái gì nữa. Đó là gì? Đó là hữu lậu sợ, sợ mất nó.

Hồi trước Minh Thành có đi ngắm mây cũng có một chút lạc thọ, còn bây giờ là không cho cảm giác đó lưu trú trong nội tâm mình. Mà biết nó là vô thường, nó là tan hoại, mình không ưa thích cảm giác đó. Có những vị nói là mình tu để mình tìm cảm giác đó, mà giờ mình có cảm giác đó mà mình bỏ luôn vậy, vậy mình tu còn cái gì? Tại vì sao mình không cho cảm giác đó lưu trú trong nội tâm mình? Mình dính mắc vô như vậy là mình không giải thoát được, mình chết rồi là mình trở lại đây trụ trì nữa. cái tâm mình dính mắc vô sắc uẩn này rồi. Phải chưa? Tâm mình dính mắc vô cái sắc này, dính mắc vô cái thọ này, dính mắc vô những suy nghĩ này. Đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi, đây là chùa tôi, đây là núi của tôi, đây là tu viện của tôi, đây là đẹp. Vậy đó là gì? Đó là tham dục ái vi tế. Thấy vậy mà cái này khó nhận ra lắm chứ không có dễ. Nói là tế nhưng nhìn sâu vô thì vẫn là thô. Tại vì đó cái bên ngoài. Sau này chúng ta sẽ học bài kinh chân nhân thâm sâu lắm, đạt đến phi tưởng phi phi sứ luôn nhưng vẫn là ta đây. Tu đến tầng thiền tối cao nhất trong tam giới, nếu không thành tựu chánh tri kiến là vẫn trong luân hồi. Tại vì dính mắc, ái luyến, chấp thủ vô đó.

Trở lại vấn đề hữu lậu là hết sức thâm sâu. Là nó muốn hiện hữu. Cho nên cái này là không có thể nào bậc thánh thông thường có thể nói được chứ đừng nói kẻ phàm phu. Chỉ có bậc chánh đẳng giác mới nói nổi cái này. Diệt tận năm uẩn, không còn một chút xíu nào để cho nó yêu thích trong đó thì mới đi hoàn toàn được, mới giải thoát hoàn toàn, bất động tâm giải thoát. Mình còn muốn đời sau mình sẽ làm sao, mình còn muốn mình tu để sau mình được cái gì, thì đó là hữu lậu đó.

Phải chấm dứt hoàn toàn sự ham muốn trong hiện hữu của năm uẩn. Tại vì sao? Vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức là vô thường, là khổ, là vô ngã. Mà giờ mình còn yêu thích như vậy là mình còn yêu thích vô thường, yêu thích khổ. Mà Đức Phật nói: Này các Tỷ-kheo, người nào còn ưa thích khổ thì người đó không thể giải thoát khỏi khổ. Mình ưa thích khổ thì làm sao mình giải thoát khỏi khổ. Cho nên chỗ này là chỗ hết sức thâm sâu.

Rồi cái vô minh lậu. Sự không rõ biết, không rõ biết pháp duyên sanh, gọi là vô minh lậu. Không rõ biết tứ đại, ngũ uẩn, không rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất li, không biết đạo lộ để thoát ra. Như vậy cái đó là vô minh lậu. Còn nói gần gũi dễ hiểu nhất là mình đang ngồi thiền mà năm uẩn vận hành như thế nào mình không biết thì cái đó là vô minh. Thấy rõ không? Mình đang ăn mà dục tham sanh khởi lên, cái thọ có dục có tham có ái trong đó mà mình không thấy, không biết thì như vậy là vô minh. Mình đang khởi bản ngã lên như vậy mà mình không thấy, không biết, đó là vô minh. Mình đang khởi cái sân, cái bực tức mà mình nói không, tôi đâu có sân, thì đó là vô minh, mù.

Bất cứ ai nói mình một cái gì, góp ý bằng thiện tánh thôi là mình bật lại liền. Mình tu cỡ này rồi, nhận diện năm uẩn liên tục, một ngày ngồi thiền năm thời mà còn như vậy. Thì người chưa biết gì thì họ làm sao?

Khi nghe ai đó nói mình không có quay lại nhìn cái thọ của mình, nhìn vô cái hành của mình. Rồi mình nhìn sâu vô cảm giác, mình kiểm soát vấn đề đó thật kĩ rồi sau đó mình mới phản ứng. Thì như vậy là bớt mù rồi. Còn mình phản ứng liền, chối cãi liền, mình nguỵ biện liền là mù luôn hai con mắt. Còn chậm chậm suy xét thì còn sáng được một mắt.

Mù đối với cái tham, cái dục, cái ái, cái sân, bản ngã, tật đố, hơn thua, ta đây, cống cao, đố kỵ, ganh tỵ, nhân ngã, bỉ thử, đúng sai. Mình mù hết, mình không thấy cái đó vận hành, mình chạy theo cái đó, mình không thấy nó là khách. Có một bài kinh là khách xá ở trong tương ưng bộ.

Có người sang tới, người khách hèn, người khách giàu, người khách mặc áo đen, áo trắng. Bao nhiêu người đó đến rồi đi. Tất cả những cái đó là cảm thọ, cảm giác vô thường, sanh diệt. Mình phải thấy, phải biết như vậy là không mù. Mình không thấy gì hết là mù, là vô minh lậu.

Cũng như bữa đó Minh Thành đi tới chùa đó giảng pháp. Thì gặp một ông già, cũng hơi say rồi đứng trước xe như vậy, chỉ xe chạy qua bên này, chạy qua bên kia như lơ xe vậy. Thì qua đoạn đó thầy mới hỏi mấy chú ở đó cảm thọ lúc đó như thế nào? Mấy chú nói con không có cảm giác gì hết, con thấy bình thường. Con nói: vậy mấy chú hay hơn thầy rồi, thầy thì có một cảm giác khó chịu nhẹ và lo cho người lái, không biết người này có nổi nóng không. Thành ra cái này hết sức vi tế, không phải dễ thấy. Nói là mình nhận diện năm uẩn như vậy mà không phải dễ thấy cảm thọ đó. Nếu mà người thường thường, chỉ nhìn được cái thô, nhưng cái lớn. Người tương đối một chút thì nhìn thấy cái vừa. Còn người nhìn kĩ hơn nữa thì nhìn thấy được những cái tế, rồi nhìn thấy cái tế ở trong cái tế. Càng nhìn sâu chừng nào thì người ấy càng đoạn tận được tất cả các lậu hoặc.

Cho nên nhiều khi mấy chú thấy rằng thầy khó. Mấy chú nói: con thấy con không có lỗi mà thầy chỉ ra tùm lum hết trơn. Đó là thầy đang cho mấy chú sức thuốc vô con mắt đó, đặng giúp cho mấy chú từ từ sáng con mắt ra để nhìn thấy. Vì tình thương, vì lòng bi mẫn thầy mấy chỉ cho mấy chú. Chứ thầy rảnh thầy đi nhìn mấy chú làm cái gì, thầy còn không có thời gian rảnh để ngồi thiền nhiều mà. Thầy đâu có rảnh để đi làm điều đó, công chuyện chùa thì thầy bỏ hết trên dưới các chùa, cha mẹ nhiều khi thầy còn không hỏi sức khoẻ, bệnh thầy còn không hay. Cho nên thầy đâu có rảnh đi nhìn để kiếm chuyện xấu của người ta. Mấy chú vào chùa bỏ hết cha mẹ, quý thầy hơn cha mẹ của mình mà vô đây thầy bỏ đại như vậy thì thầy là người gì? Nhưng mà từ đây về sau không đào luyện nhiều nữa, chỉ ít thôi. Chỉ có người tha thiết, chân thành lắm mới đào tạo, vì đào tạo như vậy mấy chú chịu không nổi.

Tại vì chính bản thân người đó không thấy không biết mà thầy chỉ là chạm vào lòng tự trọng. Chỉ một lần không thấy, để chỉ bốn năm lần là không ổn. Mà người đó phải chịu học, chịu tu và chịu nhiệt thành, tha thiết, chân thành muốn cho mình hướng thượng, muốn cho mình đi tới chỗ đoạn tận thì mới được. Mà người đó thì hiếm lắm. Cho nên trí huệ thứ nhất là trí huệ phát hiện ra lậu hoặc thôi là không đơn giản. Trong bốn trí, cái trí thấy được lậu hoặc thôi là một sự nỗ lực, tinh tấn, liên tục để nội soi công trình bên trong để thấy được lậu quặc. Đó là mới thấy thôi, còn chưa nói đến con đường diệt tận lậu hoặc.

Còn giờ ngồi thiền, giờ ngủ, giờ tu mà còn đợi nhắc thì không thể nào vô bốn đôi tám chúng được hết.

Bữa nay đọc kinh thấy được thêm một bậc nữa chín bậc, là bậc chuyển tộc, chuyển tánh. Trong bài kinh chuyển tánh.

Bậc chuyển tách trong bài kính đáng được cúng dường. Tăng Chi Bộ Kinh (tập 4)

Này các Tỷ-kheo, có mười hạng người đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.

Một là Đức Như Lai, bậc Alahan chánh đẳng giác.

Hai là bậc độc giác

Ba là bậc giải thoát cả hai phần. Là câu phần giải thoát, tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Bốn là bậc tuệ giải thoát.

Năm là bậc thân chứng.

Sáu là bậc kiến chí.

Bảy là bậc tính giải thoát.

Tám là bậc tuỳ pháp hành.

Chín là bậc tuỳ tín hành.

Mười là bậc chuyển tánh.

Chuyển tánh là chưa hướng dự lưu mà người này bắt đầu chuyển đổi để đi qua hướng của hiền thánh. Có chỗ kêu bằng chuyển tộc. Tánh là dòng họ.

Cho nên sự tu hành hết sức là sâu sắc. Mình thấy được lậu quặc, như là mình đã thấy rác rồi bắt đầu mình dọn rác.

Mình phải biết được nguyên nhân sanh khởi các lậu hoặc là từ tham dục, tham ái, si mê, vô minh, chấp ngã.

Con đường đoạn tận các lậu hoặc là gì? Là bát chánh đạo. Mình sẽ học bát thánh đạo. Mình phải dùng thánh tri kiến, thánh tư duy, thánh chánh ngữ, thánh chánh nghiệp, thánh chánh mạng, thánh chánh tinh tấn, thánh chánh niệm, thánh chánh định.

Đầu tiên phải dùng thấy biết của bậc thánh mình mới thay đổi được cái thấy biết của phàm tục. Mình không đứng ở trên thánh trí để mình nhìn, mình quán chiếu thì không bao giờ mình nhập lưu được hết. Mình phải đứng trên thánh tri kiến chứ không đứng trên thấy biết của mình. Khi mình đối trị các lậu hoặc trong nội tâm là mình đứng trên thánh tri kiến, tức là mình dựa vào thấy biết của chánh đẳng giác. Chứ mình nhìn theo cái nhìn của mình là mãi mãi là phàm thôi.

Cho nên cửa đầu tiên là thánh tri kiến, thánh chánh kiến. Cái để nhìn thấy ngũ uẩn, nhìn thấy lậu hoặc, nhìn thấy những dục, tham, ái, bản ngã, vô minh, chấp thủ vận hành bên trong. Cái nhìn thấy được đó, đó là cái nhìn thấy của bậc thánh.

Cái này phàm phu không thấy được, vĩnh viễn không thấy được. Cho nên mình thấy được là hay lắm. Thấy được là hết mù, là mở được con mắt gọi là đắc pháp nhãn tịnh. Tuệ nhãn được sáng ra, mắt pháp được tỏ ra. Cho nên phải thấy các lậu quặc, phải thấy, phải biết. Có một bài kinh là bảy cách đoạn trừ phiền não đó. Phật chỉ mình đoạn từ từng cái bằng cách nào.

Cho nên sự quay lại nội tâm mình là tuyệt vời lắm, đó là công trình vĩ đại ở bên trong. Công trình đó không ai thấy biết được hết, chỉ có chính mình thấy được.

Thấy vậy này các Tỷ-kheo, vị đa văn thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc, nhàm chán đối với các cảm thọ. Nhàm chán cho nên mới lìa tham, lìa tham cho nên mới giải thoát.

Thấy vậy là thấy cái gì? Là thấy được các lậu hoặc đó. Trước giờ mình tưởng mình ngon lắm, nhìn thấy là khủng khiếp, kinh khiếp, khiếp sợ không chịu nổi. Cái tâm gian ác, hư nguỵ, xảo trá, tật đố, ganh tỵ, khen mình, chê người, cống cao, ngã mạn. Thấy được cái đó rồi là nhàm chán một nội tâm đầy rẫy những thứ cấu uế, bẩn thỉu, hôi dơ, thúi tha. Nó đòi hỏi dục, ái, tham. Nó đi tìm kiếm, nó khao khát.

Nhàm chán đối với con mắt này. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý này nhàm chán đối với nhãn thức, nhĩ thức, tuỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp là mình nhàm chán hết. Sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu thọ, sáu ái là mình nhàm chán hết. Nhàm chán với sự yêu thích.

Sự yêu thích làm nô lệ cho nó, nó sau khiến mình chạy hoài thôi. Vô chùa cạo đầu rồi vẫn còn chạy, tưởng vô chùa cạo đầu rồi là hết chạy sao. Mình cạo đầu rồi mà nó vẫn sai mình như thường vì mình đâu có biết đâu. Mình nhìn mình tưởng người đó chạy, mà không phải, tên dục ở trong nó làm cho chạy. Cái dục, cái ái, cái tham, cái bản ngã ở bên trong đó. Nhất là cái bản ngã, đôi khi thầy cũng đẹp qua một bên luôn, pháp để qua một bên, tôi là số một. Cho nên bây giờ chánh pháp mai một hết là vậy đó.

Tại sao mình tu mình không thành tựu? Thầy nói rồi, nghe lời thôi là nhập lưu thánh quả mà không nghe, không muốn nghe. Nghe mấy cái suy nghĩ của mình, nghe mấy cái tưởng, mấy cảm giác của mình, nghe cái tưởng chứ nghe lời chánh pháp là không nghe.

Có bài kinh nữa là bài kinh Bẫy.

Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức, đáng yêu, đáng vui, vừa lòng liên hệ đến dục hấp dẫn. Nếu mà người tu hoan hỉ cái sắc ấy, tán dương, tham luyến, án trú vô trong đó. Đây gọi là Tỷ-kheo đã đi đến trú sứ của ma, bị ma chinh phục, lưới bẫy của ma đanh vây vị ấy. Vị ma trói buộc, vị ấy bị ác ma muốn làm gì thì làm.

Có những tiếng, có những hương, có những vị, có những xúc. Này các Tỷ-kheo có những pháp do ý nhận thức vui vẻ, vừa lòng, đáng yêu liên hệ đến dục hấp dẫn. Nếu mà người tu hoan hỉ cái sắc ấy, tán dương, tham luyến, án trú vô trong đó. Đây gọi là Tỷ-kheo đã đi đến trú sứ của ma, bị ma chinh phục, lưới bẫy của ma đanh vây vị ấy. Vị ma trói buộc, vị ấy bị ác ma muốn làm gì thì làm.

Những sắc cũng như vậy. Sắc, thinh, hương, vị, súc, pháp đều như vậy. Nếu vị tỷ-kheo không hoan hỉ sắc ấy, không tán dương, không tham luyến, không an trú thì vị ấy không đi đến trú xứ của ma.

Cái gì mà con mắt tiếp xúc thấy đẹp, dễ thương, dễ mến, đáng yêu là coi chừng bẫy, sập bẫy. Mình phải cẩn thận bẩy nó dăng. Khi nghe cũng vậy, tin nhắn mở ra là mật ong ở trong đó, đường cát trắng ở trong đó, đường phèn ở trong đó. Mình phải coi chừng cái bẩy ở trong điện thoại đó, chứ không phải ngoài cái điện thoại đâu. Mình phải cẩn thận sập bẩy của ác ma.

Mà có một cái bẩy khủng khiếp trong tất cả cái bẩy là cái gì? Là ngồi đó không thấy, không nghe, không tiếp xúc gì hết mà ngồi ở đó mà bên trong có ý xúc. Tham luyến trong đó, an trú trong đó, tán dương, hoan hỉ trong đó những sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Đang ngồi trên bồ đoàn mà sụp bẩy của ác ma đó.

Đừng có tưởng ngồi đó mà không sập bẩy. Ngồi đó khoang khái thích thú với những suy nghĩ của mình, với những cảm giác, những cái tưởng. Cho nên là hay, là đẹp, là đáng yêu. Là mê trong đó, thích thú, tán dương, hoan hỉ, tham luyến trong đó, án trú trong đó là sập bẫy rồi. Sập bẩy và bị trói.

Sập bẩy hết, sập bẩy hết trơn. Nếu mà không có chánh niệm tỉnh giác, không có an trú trong tứ niệm xứ, không có diệt trừ truyền cái, không thực tập thất giác tri, hành trì bát chánh đạo là sập bẫy dài dài.

Cái tượng đẹp, cái chùa đẹp, cái chùa đẹp, cái xe đẹp, cái dáng hình đẹp là sập bẩy hết.

Mù không thấy đường thì đi vô cái bẩy rồi sập bẩy, sập bẩy xong là bị trói, bị trói xong thì nó muốn làm gì thì làm.

Cho nên mình phải quán chiếu một vấn đề mù loà, vấn đề thứ hai là sập bẩy. Do mù loà cho nên không thấy được lậu quặc, không thấy được hoạt động ngấm ngầm của dục, của hữu lậu, của vô minh. Mà mình lại nuôi nấng nó, mình thấy rồi mình phải đánh đuổi từ từ. Mình đánh một lần sẽ bị thua nhưng mình đánh tiếp, học thêm rồi đánh tiếp. Rồi mình mài gươm, mài dao, chuẩn bị vũ khí pháp kí mình đánh từ từ, đánh hoài không chịu thua, thì từ từ sẽ ca khúc khải hoàng.

Đọc bài kinh mù loà cảm giác thấy đau đớn lắm. Nghe thôi mà cũng thấy não nề lắm. Thương cho tấm thân này, thương cho kiếp sống này, thương cho cuộc đời này, thương cho cả một kiếp người sống trong mù loà. Không biết ở đâu lọt ra đây, rồi lớn lên tìm dục, tìm ái. Rồi sân hận, si mê rồi tranh dành, mưu mô sảo trá, huỷ huyệt đủ thứ, tạo ra bao nhiêu ác nghiệp. Rồi tai nạn chết, bệnh chết, già chết. Rồi mù mịt đi, không biết đi đâu. Khổ thiệt, khổ thiệt là khổ. Vậy đó mà ăn chơi phè phỡn, vậy mà ganh tỵ đố kỵ, vậy mà ta đây, vậy mà thủ đoạn mưu mô, lợi dụng.

Mù mà không biết mình mù mới đau đớn.

Đọc cái này muốn rưng rưng nước mắt. Thương thay cho cuộc đời chính mình, tạo bao nhiêu thứ nghiệp ở trong màn đêm, sau đó mình phải lãnh lấy một hậu quả kinh khiếp, khủng khiếp.

Hết trộn cắp ngoài đường rồi vô chùa trộm cướp, lừa gạt những người tu hành. Thật kiếp sợ. Làm như vậy rồi đi về đâu? Đi về địa ngục, ác thú, đoạ xứ.

Cho nên mình phải sáng, mình phải dùng thuốc, mình phải chữa cho mắt mình sáng ra để mình thấy rõ được các pháp. Thấy rõ được năm uẩn này, sáu căn, sáu trần, sáu thức này là vô thường, biến hoại, bại hoại, tan nát. Để nhàm chán, li tham, để giải thoát. Để mình giúp những người có duyên, họ muốn thoát ra mình giúp họ. Đời sống đó Đức Phật gọi là đời sống tối thượng, tự lợi lợi tha.