Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nghiệp & Quả Báo 10 - Kinh Thiên Sứ 1

2026-03-03 00:54:49
Kinh Nikāya Giảng Giải

Nghiệp & Quả Báo 10 - Kinh Thiên Sứ 1

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thiên sứ PAGEREF _Toc150438967 \h 1

II. Năm sự kiện cần phải thường xuyên quán sát PAGEREF _Toc150438968 \h 8

I. Thiên sứ

Hôm nay chúng ta nghe một bài kinh rất đặc biệt nằm trong Trung Bộ, tập III, bài tên có tên Thiên sứ.

"Một thời, Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà viên), tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: 'Này các Tỳ-kheo'. – 'Thưa vâng, bạch Thế Tôn'. Các vị Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

-- Ví như, này các Tỳ-kheo, có hai nhà có cửa; ở đây, một người có mắt đứng chính giữa có thể thấy những người đi vào nhà, đi ra khỏi nhà, đi qua, đi lại. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, thấy các chúng hữu tình chết đi sanh lại, hạ liệt, cao sang, đẹp trai, xấu hình, thiện thú, ác thú, tùy theo hạnh nghiệp của họ, và Ta nghĩ: 'Các bậc hữu tình này do thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không công kích các bậc Thánh, có chánh kiến, thọ trì nghiệp phù hợp chánh kiến, các vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào thiện thú, Thiên giới, ở đời này. Hay các vị hữu tình này, do thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không công kích các bậc Thánh, có chánh kiến, thọ trì nghiệp phù hợp với chánh kiến, các vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh ra giữa loài Người" 

(Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)

Đức Phật nói ngài giống như người có con mắt sáng nhìn hai nhà đối diện nhau với hai cánh cửa có người đi qua đi lại rõ mồn một. Chúng sanh ra khỏi cõi lành, đi vào trong cõi dữ như thế nào ngài thấy rõ như người đứng giữa hai căn nhà. Chúng sanh tại sao đẹp đẽ, tại sao xấu xí, tại sao giàu có, tại sao nghèo khổ, tại sao lại sanh ra trong một gia đình thấp hèn, hèn hạ hay ở trong gia đình giàu có, quyền uy đều được ngài thấy rõ nguyên do giống như một người nhìn người đi qua đi lại hai căn nhà. Với thiên nhãn siêu nhân của Đức Phật, con mắt của ngài muốn nhìn ở đâu là chỗ đó đều sáng tỏ, không có gì làm chướng ngại, đó là hạnh nghiệp của chúng sanh, chết đi sanh lại, cao sang hay thấp hèn, đẹp đẽ hay xấu xí, sanh vào cõi lành hay cõi dữ, cõi khổ hay cõi vui đều tùy vào hạnh nghiệp của họ, ngài đều thấy rõ như vậy.

Đối với một người tật nguyền, què quặt, mù lòa ngài nhìn đều biết tại sao họ lại bị như vậy, vì nghiệp gì mà họ lại vậy, đời trước họ đã làm những gì. Đối với người giàu có, vua chúa ngài nhìn thì biết đời trước họ đã làm những hạnh thiện gì, hạnh lành gì, không có một chút nào che mờ hay không có một chút nào không thấy rõ, mọi thứ tỏ tường, minh bạch như ngài đứng ở giữa nhìn người đi qua đi lại giữa hai căn nhà đối diện nhau.

"Còn các hữu tình, do thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, công kích các bậc Thánh, có tà kiến, thọ trì nghiệp phù hợp với tà kiến, các vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi ngạ quỹ (pettivisaya). Hay các hữu tình này, do thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, công kích các bậc Thánh, có tà kiến, thọ trì nghiệp phù hợp tà kiến, các hữu tình ấy sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào các loại bàng sanh. Hay các hữu tình này, do thành tựu thân ác hành... Sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, Ðịa ngục". (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)

Miệng nói điều ác, suy nghĩ ác, công kích bậc Thánh, có những nhìn nhận sai lầm của tà kiến, có ba nghiệp phù hợp với những tà kiến đó thì sau khi nhắm mắt ra đi sanh vào loài quỷ đói, cô hồn, sanh vào loài ngạ quỷ vất vơ vất vưởng, đói khát, thiếu thốn, khóc than, rên rỉ, khổ sầu. Có những chúng sanh với những ác nghiệp như vậy thì sanh vào trong thế giới của thú vật, những loài súc sanh trâu, bò, heo, gà, muỗi, kiến, trùng, gián, giòi, rắn, rết… Vì những nghiệp ác nên sanh ra thân hình tương thích với nghiệp ác đó, có những chúng sanh rơi vào đọa xứ, địa ngục.

"Này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục, sau khi bắt giữ người ấy với nhiều cánh tay, dẫn người ấy đến trước vua Yama và thưa:

'-- Tâu Ðại vương, người này không có từ tâm, không xứng là Sa-môn, không xứng là Bà-la-môn, không kính trọng các vị lớn tuổi trong gia đình. Ðại vương hãy trừng phạt nó!'

Này các Tỳ-kheo, vua Yama, chất vấn người ấy, cật vấn, thẩm vấn người ấy về Thiên sứ thứ nhất: 'Này người kia, Ngươi có thấy Thiên sứ thứ nhất đã hiện ra giữa loài Người không?'

Người ấy nói: 'Thưa Ngài, không thấy'. Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này Người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người có đứa con nít nhỏ, yếu ớt, nằm ngửa, nằm rơi vào giữa phân và nước tiểu của nó hay không?' Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, có thấy'. Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: "Này người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: 'Ta bị sanh chi phối, ta không thoát khỏi sanh; ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu và ý'. Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật'". (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)

Con không thể làm điều thiện, nghĩ điều thiện, nói lời thiện vì con buông lung phóng dật, vì con sống một đời sống buông thả, buông trôi. Như vậy đó là thiên sứ thứ nhất, tức là hạ sanh, là sứ trời thứ nhất, đứa trẻ lọt lòng mẹ với tiếng khóc oa oa, yếu ớt, nằm trong đống phân và nước tiểu của chính nó, tất cả chúng sanh bị sanh ra, phải chịu sự sanh ra mà chúng sanh không biết đó là thiên sứ, không biết rằng sự sanh ra cùng chung với sự khổ.

Thế Tôn nói sự xuất sanh, sự xuất hiện, sự hiện hữu, sự có mặt của thân này là đồng nghĩa với sự xuất sanh, xuất hiện, hiện hữu của khổ, của lo lắng, của bất an, sợ hãi. Chúng ta không thấy nguy hiểm của sự sanh, chúng ta hoan nghênh sự sanh, chúng ta vui sướng sự sanh, chúng ta yêu thích sự sanh, chúng ta vỗ tay sự sanh, chúng ta chúc mừng sinh nhật, chúng ta không biết rằng sanh là thiên sứ thứ nhất. Trong kinh dùng từ "ngươi" nhưng mình đừng nghĩ là người khác, mà người đó chính là mình. Người này trả lời do buông lung phóng dật, không tu thiện pháp, không giữ giới, không làm các hạnh lành.

"Này các Tỳ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn và thẩm vấn người kia về Thiên sứ thứ nhất, vua Yama mới chất vấn, cật vấn, thẩm vấn về Thiên sứ thứ hai: 'Này người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, Thiên sứ thứ hai hiện ra không?' Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, không thấy'. Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người kia: 'Này Người kia, Ngươi có thấy người đàn bà hay người đàn ông tám mươi tuổi, hay chín mươi tuổi, hay một trăm tuổi, già yếu, cong như nóc nhà, lưng còm, chống gậy, vừa đi vừa run, bệnh hoạn, tuổi trẻ đã qua mất, răng rụng, tóc sói, da nhăn, run rẩy, với tay chân bạc màu?' Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, có thấy'.

Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này Người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: 'Ta bị già chi phối, ta không thoát khỏi già; ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu và ý'. Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật, thưa Ngài'". (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)

Đã bước qua tuổi 70-80 nên hình hài cong xuống, lưng còng gối mỏi, chống gậy, vừa đi vừa rung rẩy vì tuổi trẻ đã qua mất rồi, răng rụng, đầu hói vậy mà không làm điều thiện vì buông lung phóng dật, ham ăn, ham chơi, ham đi du lịch, ham ngủ, ham nói chuyện phù phiếm vô nghĩa, tham lam, nóng giận, ham tranh đấu, thả lỏng các căn, không biết giữ giới, không biết hi sinh, phụng sự, không biết giúp đỡ người khác mà chỉ ích kỷ, hưởng thụ, đam mê, thỏa mãn những dục vọng, ham muốn cá nhân nên phải rơi xuống địa ngục. Nếu biết suy nghĩ sẽ bị cái gì chi phối, không thoát khỏi già, cố gắng tu hành những nghiệp lành thì giờ này không bị đày đọa xuống địa ngục. Thưa ngài, con thật là vô minh, ngu si vì con buông lung phóng dật

"Này các Tỳ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn, thẩm vấn người kia về Thiên sứ thứ hai, vua Yama mới chất vấn, cật vấn, thẩm vấn về Thiên sứ thứ ba: 'Này Người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, Thiên sứ thứ ba hiện ra không?' Người ấy đáp: 'Thưa Ngài không thấy'. Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người kia: 'Này Người kia, Người có thấy người đàn bà hay người đàn ông bị bệnh hoạn, khổ não, bị bệnh trầm trọng nằm rơi vào trong nước tiểu và phân của mình, cần người khác nâng dậy, cần người khác dìu nằm xuống?' Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, có thấy'".(Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)

Thiên sứ thứ ba là một tình trạng bệnh trầm trọng, liệt gường liệt chiếu, ỉa trây đái dầm trong chính đống phân và nước tiểu của mình, phải chịu đựng những cảm thọ nhức nhối, đau đớn mãnh liệt. Muốn ngồi dậy phải có người đỡ, muốn nằm xuống cũng phải có người đỡ, chúng ta có nhìn thấy thiên sứ thứ ba không, chúng ta có ấn tượng sâu sắc hay không.

Chúng ta có nhìn thấy ông bà của mình không? Chúng ta có nhìn thấy cha mẹ mình, tấm thân mình và những người xung quanh mình cô, chú, bác gì hay nhìn phớt qua rồi chúng ta quên mất, ngay chính bản thân mình đang bị già nua, bệnh tật bủa vây mà mình cũng quên, mình sống trong lãng quên, trong vô minh, sống trong dại khờ, trong buông lung phóng dật, thả lỏng các căn, sống trong bóng đêm, không thấy không biết.

Chúng ta có thấy xót thương cho mình hay không? Có tội nghiệp cho mình không? Có thấy mình sống trong thất niệm, sống trong sự không quán sát, quán chiếu, tuệ quán để rồi mình quên mất mình đã già rồi, mình quên mình bệnh rồi. Suốt ngày chỉ lo tranh thủ gom góp, giành giật, tích lũy, đi hơn thua, gây thù chuốc oán, chỉ biết hướng ra ngoài để so đo, phân biệt, cao thấp, đúng sai, tốt xấu, còn tấm thân già nua, bệnh tật tiều tụy, tàn tạ lại không nhớ. Mình sống trong sự đánh mất chính mình, mình nghĩ ai già, ai bệnh chứ mình không có già, không có bệnh, như vậy gọi là sống trong vô minh.

Đây đều là những hình ảnh cho chúng ta thiền quán, cho chúng ta suy ngẫm, Đức Thế Tôn nói rất vắn tắt nhưng từ những câu kinh này, từ những sự kiện này thì chúng ta phải đem bài này vào thiền quán 3 tháng. Đã bệnh hoạn như vậy rồi, đã nằm một chỗ rồi mà vẫn còn tham lam, vẫn còn mưu mô, mưu sĩ, mưu tính, mưu hại người khác, vẫn còn sân si, bản ngã, hơn thua, làm khổ cho mình làm khổ cho người, cho nên mới rơi xuống địa ngục.

Những cái này được chính Đức Thế Tôn bằng thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân nhìn thấy sự kiện này ở dưới địa ngục, có thật tuyệt đối 100%. Có khi người đó chính là mình, vì vô minh, vì ăn bát cháo lú nên mình không nhớ gì cả, bát cháo lú đó là vô minh, là một cái tâm mê, tâm lãng quên, tâm dại khờ, bước qua một đời sống mới là mình quên hết.

"Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với nó: 'Này Người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: 'Ta bị bệnh chi phối, ta không thoát khỏi bệnh; ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu và ý'. Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật, thưa Ngài'". (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)

Sống một đời sống thả lỏng, sống buông thả, buông lơi, buông lung, không cố gắng giữ giới, hành thiện, bố thí, tu tuệ.

"Này các Tỳ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn thẩm vấn người kia về Thiên sứ thứ ba, vua Yama mới chất vấn, cật vấn, thẩm vấn về Thiên sứ thứ tư: 'Này người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, Thiên sứ thứ tư hiện ra không?' Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, không thấy'. Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người kia: 'Này người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, các vua chúa sau khi bắt được tên trộm cướp có phạm tội, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy... họ lấy gươm chặt đầu?'. Người ấy nói: 'Thưa Ngài, có thấy'.

Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này Người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: 'Thật sự những ai làm các ác nghiệp, họ phải chịu những hình phạt sai khác, ngay trong hiện tại như vậy, huống nữa là về đời sau! Ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu, ý'. Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật, thưa Ngài'". (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)

Ai làm những ác nghiệp đều phải chịu những hình phạt thích đáng đau đớn, khổ sở ngay trong hiện tại thì huống gì là về đời sau, thế thì tại sao không suy nghĩ nói lời lành, làm việc lành? Tại sao không biết tác ý những điều đó? Nghiệp và quả báo của ác nghiệp là thiên sứ thứ tư, nếu mình thường nghĩ về những cái này thì mình sẽ sợ, mà sợ thì không dám làm những điều ác, không dám nói những điều ác, không dám suy nghĩ những điều ác thì mình sẽ không rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

"Này các Tỳ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn, thẩm vấn người kia về Thiên sứ thứ tư, vua Yama mới chất vấn, cật vấn, thẩm vấn về Thiên sứ thứ năm: 'Này Người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, Thiên sứ thứ năm hiện ra không? 'Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, không thấy'. Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này Người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, người đàn bà hay người đàn ông chết đã được một ngày, hai ngày hay ba ngày, sưng phồng lên, xanh xám lại, rữa nát ra?' Người ấy nói: 'Thưa Ngài, có thấy'.

Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này Người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: 'Ta bị chết chi phối, ta không thoát khỏi chết; ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu và ý'. Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật, thưa Ngài'". (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)

Trong kinh ghi rất nhẹ nhàng chứ thực tế Diêm Vương – vua Yama rất hung dữ nên mọi người đều sợ hãi. Nếu nói "ỉa trây đái dầm trong đống phân đó" thì mới có cảm thọ, còn nói theo trong kinh rất nhẹ, phải nói là "cứt đái bẩn thỉu" thì mới cảm thọ được, mới lột tả được sự thật, mới phơi bày ra sự thật. Chữ "phân" là tiếng Hán Việt, còn chữ "cứt" mới là chữ thuần Việt, tại sao mình lại sợ từ đó, sợ thì làm sao tu được, học chánh pháp là học sự thật.

Con đi thăm bệnh nhiều lần nên con đã nhìn thấy nhìn cảnh đau xót, phải mang cái tả trở về thời con nít, trong viện dưỡng lão có những gường đặc biệt, khoét cái lỗ giữa gường đặt cái bô ở đó vì không ai lau chùi nổi nữa. Những người phục vụ làm quá nhiều quá mệt nên họ sân lên rồi chửi mắng, đánh những người bệnh như một đứa con nít nhưng những cái này không phải là ai khác mà chính là mình trong tương lai và mình đã từng như vậy trong vô lượng lần rồi và tiếp tục như vậy nữa nếu mình không chấp dứt vòng luân hồi này.

Có những gia đình tâm sự với con rằng người mẹ sống hơn 100 tuổi, người con này rất có hiếu nhưng họ mệt mỏi, không chịu đựng nổi. Cứ ị ra như vậy rồi dọn vệ sinh mấy chục năm, không thể làm gì được cho nên đời kiếp nào chúng ta còn tạo duyên lành, nghiệp thiện thì còn đỡ, nếu tạo ác nghiệp thì thân người sẽ bị như vậy nhưng thân người còn vậy chứ chưa nói đến thân thú vật, cô hồn, ngạ quỷ, địa ngục, nếu ở dưới đó thì còn thống khổ đến mức nào nữa mà mình cứ cười nhăn răng, không thấy khổ gì cả.

Đức Phật nói cho chúng ta biết những điều này, chúng ta phải lấy đó làm đề tài thiền quán suốt cả buổi thiền, mình thấy run sợ, ê chề, mình thấy ngao ngán quá, sợ hãi, mình thấy mang cái thân như vậy thì thật bất an, bất trắc, bất ngờ, bất định, bất ổn, bất toại nguyện. Mình để cho sự thật này thấm vào da, đi vào thịt, tới trong xương, vào tận trong tủy não của mình, đây là sự thật mà vô lượng kiếp vừa qua mình đã sống trong lãng quên. Ai còn ưa thích nhìn thân xác phiền não, khổ đau thì còn mãi, ai nhàm, ai chán nhìn thân xác thì các cõi luân hồi chấm dứt ngay.

Mình còn đam mê, còn nắm giữ, say đắm, khao khát trong tấm thân này, tâm mê chui vào làm hang ổ, làm tổ trong thân này để rồi phiền não, khổ đau, để rồi tham, sân, si, hơn thua, đấu đá, giết hại, đó là vô minh, tham ái, chấp thủ. Sự thật này diễn ra với ông với bà của chúng ta, sự thật này diễn ra với cha với mẹ của chúng ta, sự thật này diễn ra với cô, chú, bác, dì, thím, với lục thân quyến thuộc của chúng ta, sự thật này diễn ra với chính tự thân của chúng ta. Tại sao chúng ta lại lãng quên? Tại sao chúng ta không nhớ? Có năm sự kiện thường xuyên phải quán sát đã được Đức Phật dạy.

II. Năm sự kiện cần phải thường xuyên quán sát

"Có năm sự kiện này, này các Tỳ-kheo, cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Thế nào là năm?

Ta phải bị già, không thoát khỏi già.

Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh.

Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết.

Tất cả pháp khả ái, khả ý đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt

Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy.

Có những loài hữu tình, này các Tỳ-kheo, đang còn trẻ, kiêu mạn trong tuổi trẻ, say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn tuổi trẻ trong tuổi trẻ được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu.

Nếu vị Thánh đệ tử, này các Tỳ-kheo, suy tư như sau: 'Không phải chỉ một mình ta già, không thoát khỏi già, nhưng phàm có những loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình ấy phải bị già, không thoát khỏi già'. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, con đường được sanh khởi. Vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn.

Do vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt" (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII). Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)

Rồi một ngày nào đó mắt mình sẽ mờ, tóc bạc phơ, da nhăn nheo, mặt trổ đồi mồi, lỗ tai không còn nghe rõ nữa, nói nam nghe bắc, nói đông nghe tây nên những đứa cháu cười khinh khi, là phế vật, là phế nhân, là vô dụng, là ăn bám, nằm một chỗ ăn rồi báo nên con cháu chán chê. Nếu mình tạo ra được một số tài sản thì chúng nó sẽ vì tài sản đó mà xem trọng mình, còn nếu không có gì cả lại nằm đó thì nó dằn mâm xắn chén, thân thể này đã đau nhức, mỏi mòn rồi, trong tâm biết bao tham, sân, si, bản ngã chất chứa mấy chục năm, bên ngoài là những ánh nhìn không mấy thân thiện. Câu chuyện đã diễn ra nhiều năm về trước được báo chí ghi lại, có người mẹ già 80 tuổi ăn cơm rớt chén nên đứa con gái lấy chổi đánh mẹ. Thật là xót xa! Đó là những ác nghiệp và quả của ác nghiệp, những cái ngũ nghịch đại tội, những hình ảnh này cần phải quán chiếu để kinh sợ, khiếp sợ với tội lỗi bất hiếu của mình và của chúng sanh, cần phải đưa những hình ảnh đó vào tim để vĩnh viễn không bao giờ quên, nghĩ tới là thấy lo lắng, sợ hãi.

Mình nguyện phải làm con hiếu dù trong bất cứ hoàn cảnh nào xảy ra, mình nguyện phải làm trò ngoan dù cho bất cứ hoàn cảnh nào xảy ra, mình nguyện phải làm một người sống có tình nghĩa với huynh đệ, sống có ân đức, nhân hậu, có trước có sau giữa bà con thân tộc, xóm làng, đồng nghiệp, đồng tu với mình để rồi đến ngày nằm trên gường bệnh mình suy nghĩ lại tất cả những sinh hoạt, đời sống, những suy nghĩ, ngôn ngữ, hành vi trong quá khứ sẽ hiểu hiện lại như thước phim, những gì mình đã trải qua sẽ được chiếu lại như những tập phim.

Lúc đó nếu mình tạo ác nghiệp thì mình sẽ lo lắng, sợ hãi, tâm mình sẽ hối hận, khi làm lỗi bất cứ chuyện gì dù nhỏ mình sẽ ray rứt trong tâm chứ đừng nói gì đến những tội lớn nghiệp ác, nếu nhiều nghiệp ác thì tâm thức chúng ta sẽ rơi vào trạng thái hoảng loạn cộng với việc sợ chết nữa, nhiều thứ cộng dồn vào một lúc thì nó trở thành sự rối rắm, kinh hoàng, cận tử nghiệp đến thì đi vào ba đường ác. Còn tâm thức của một người hiền nhân, thiện nhân thì quay lại chỉ toàn là hình ảnh đẹp, quay lại những cảm giác ngọt ngào, chia sẻ, giúp đỡ, bảo bọc, hi sinh, lo lắng cho mọi người thì người này mỉm cười, tâm bình an, hoan hỉ với những thiện pháp đã làm thì người này sẽ sanh vào cõi người hoặc sanh lên thiên giới, đó là những người tu tập nhân thiên pháp, còn bậc Đa văn Thánh đệ tử thì khác.

Không có một ai bắt mình phải xuống địa ngục, chỉ có tâm thức tương ứng thì phải đi xuống để gặp những cảnh đó. Không có bất cứ ai có thể đưa mình lên thiên giới hoặc kéo mình xuống địa ngục, Đức Phật ví dụ hình ảnh quăng cục đá giữa hồ, có nhiều người quỳ xung quanh kêu gọi hòn đá nổi lên từ sáng đến chiều, từ chiều đến tối, kêu suốt cả tháng cả năm thì hòn đá cũng không nổi lên được vì nó nặng nên chìm xuống.

"Này Thôn trưởng, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, một người sát sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: 'Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này!' Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, người ấy do nhân cầu khẩn của đại quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này?

Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Ví như, này Thôn trưởng, có người lấy một tảng đá lớn ném xuống một hồ nước sâu. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: 'Hãy đứng lên, tảng đá lớn! Hãy nổi lên, tảng đá lớn! Hãy trôi vào bờ, này tảng đá lớn!' Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, tảng đá lớn ấy do nhân cầu khẩn của đại quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, có thể trồi lên, hay nổi lên, hay trôi dạt vào bờ không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Cũng vậy, này Thôn trưởng, người nào sát sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: 'Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này!' Nhưng người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục". (Tương Ưng Bộ, Tập VI – Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VI. Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết)

Bây giờ còn sống không chịu lo sám hối tội lỗi, sửa chỉnh những cái sai lầm, tu tập các thiện pháp mà cứ đến chùa gửi gắm mai này mình chết thì nhờ thầy cô đến hộ niệm giùm, chúng ta đã hiểu sai lầm, tự thân mình không nỗ lực làm lại dựa dẫm vào một điều xa xôi không thực tế. Chính tự thân mình phải nỗi lực điều chỉnh, tu chỉnh, sửa chỉnh, chuyển đổi thì khi đó mình sẽ nằm bệnh nhưng tâm mình bình an, nếu vậy thì phải tu tập tâm hiền, tâm từ.

Nếu hở chút là sân giận, khó chịu, gay gắt là còn địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh dài dài, mình nghe chút là bực bội, gặp cái gì là tức tối thì ngay đó là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Phải nhiếp phục được cảm thọ đó, trong tâm mình cảm giác lúc nào cũng hiền hòa, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương, ngọt ngào, dù người ta làm khó chịu thì mình vẫn giữ được cảm thọ dễ chịu thì cái đó có khả năng mình tránh địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Cho nên nhìn vào là biết liền mình có khả năng xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh hay không, không cần phải hỏi ai cả, mình học trí tuệ này đặc biệt ở chỗ đó, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh còn hay không là nhìn vào cảm thọ, nhìn vào suy nghĩ, nhìn vào tư tưởng của mình là biết liền, không cần đi xem bói gì cả.

Lúc còn trẻ cứ giành giật, đấu đá, hơn thua, chỉ một tiếng nói là không chịu thua, một ánh mắt mình cũng khó chịu, cạnh tranh nhau từng chút một, con thường hay dùng từ nhỏ nhen, nhỏ mọn, nhỏ hẹp, nhỏ bé, nhỏ nhặt, nhỏ nhoi, thành con rệp, thành con kiến, thành con muỗi, thành con vi trùng, bồ hóng, cái tâm nhỏ như vậy thì sanh ra tấm thân cũng nhỏ như vậy.

Phải biết sợ những cái tâm đó, khi nó sanh khởi lên phải thấy sợ hãi, "ngươi hãy tan biến khỏi tâm ta hoàn toàn đi, ta không chấp nhận những ý nghĩ này, những tư tưởng này", mình tác ý cho mạnh, "đây là tâm của con muỗi, con rắn độc, ngươi hãy tan biến hoàn toàn đi. Ta muốn làm người hiền trí, hiền thiện chứ không muốn làm lang sói, cọp beo, ta không muốn làm những con kiến lửa, những con rận, con rệp". Phải thấy được những tâm niệm đó, những ý nghĩ đó là súc sanh, nó sanh khởi lên là mình gọi thẳng nó "súc sanh, ngươi hãy tan biến khỏi tâm ta đi", những ý niệm này là nhân dẫn thẳng vào đường súc sanh. Những ý niệm ác độc, hung hăng, những tâm niệm hận thù, ghim gút, mưu hại là tâm niệm của súc sanh, khi nó sanh khởi lên là mình gọi thẳng nó "súc sanh tan biến ngay đi, ta không muốn chứa chấp nhà ngươi".

Trong phim Tây Du Kí, khi Tôn Ngộ Không đánh mãi không thắng được liền đi rước Bồ-tát xuống "nghiệt súc" thế là nó rùng mình hiện nguyên hình, "đừng ở trong này dẫn ta đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, những cái tâm tham, sân, si, vô minh, bản ngã ngu si này hãy tan biến đi". Đó là chúng ta có được oai lực, tuệ lực, tác ý mãnh liệt, đó là sức mạnh của trí tuệ, sự như lý tác ý mạnh mẽ, đại hùng, đại lực, khi nó sanh khởi lên những nội tâm đó thì mình phải dùng Thánh trí của Đức Phật đã truyền trao cho mình để đánh đuổi, đó gọi là tuệ lực, tinh tấn lực, dũng mãnh lực, mãnh hỗ lực, thi triển pháp lực, thần lực, sư tử lực, tượng vương lực.

"Hãy đứng dậy, lên đường,

Hãy dấn thân Phật giáo,

Hãy đánh bại Ma quân,

Như voi phá chòi lá.

Ai trong pháp luật này,

An trú không phóng dật,

Ðoạn tận vòng sống chết,

Sẽ chấm dứt khổ đau". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, II. Phẩm Thứ Hai, IV. Arunavàti)

Phải dùng sức của tượng vương, là voi chúa giẫm đạp những chướng ngại để đi đến thành trì Niết-bàn bất tử. Chúng ta học Phật khác với học những kiến thức, tri thức thông thường bên ngoài, học Phật không phải chỉ thâu nạp kiến thức cho nhiều, biết được nhiều bài kinh, đọc được nhiều bộ mà Đức Phật muốn mình phải văn – tư – tu, tức là đọc đến đâu phải nghiền ngẫm, tư duy, chiêm nghiệm, đem lời Phật dạy soi rọi vào đời sống của mình, soi rọi vào tâm thức của mình để mình cảm nhận được, cảm thọ được, mình áp dụng được, vận dụng được thì mới thành tựu thêm một trí tuệ nữa là tư duy.

Bước đầu tiên là đọc, nghe nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó thì chỉ có kiến thức suông thôi, gọi là trí tuệ do nghe đọc, văn tuệ, vì thế mình cứ đọc, cứ nghe nhiều quá sẽ thành quá tải, căng thẳng đầu óc hoặc là không thể nạp vô được nữa cho nên chúng ta phải vận dụng bước thứ hai là tư duy, nghiền ngẫm như nãy giờ Minh Thành chia sẻ cho chúng ta.

Chúng ta không đọc phớt qua sanh, già, bệnh, chết là xong mà chúng ta phải đem vào áp dụng trong cuộc sống, ví dụ Đức Phật nói giận là khổ đau, làm khổ cho mình khổ cho người, là hại mình hại người, là thiêu đốt mình thiêu đốt người thì chúng ta lấy một câu đó làm chủ đề, làm một chuyên đề để đầu tiên là nhìn lại thân mình mỗi khi nổi giận, sau khi nhìn mình cho đúng thì mới nhìn ra những người bên ngoài bằng những sự kiện hằng ngày.

Mình thấy đúng là như vậy, cái tức giận này làm khổ cho bản thân, làm khổ cho mẹ cha, gia đình, làm khổ cho những người mình giao tiếp, khi nhiếp phục, chặn đứng được cơn giận thì có lợi ích như thế nào, bằng cách nào mình nhiếp phục, chế ngự cho hiệu quả. Như vậy mình vận dụng được bằng tư duy nghiền ngẫm, quán chiếu, áp dụng vào thực tế, thực tiễn, trải nghiệm, thực chứng thì thành tựu một trí tuệ thứ ba là tu huệ, tức là mình hiểu điều đó, mình làm được điều đó, có kết quả thực nghiệm, thực chứng trong vấn đề đó.

Khi mình đã thành tựu được trí tuệ đó thì trí tuệ đó không còn trong kinh nữa mà trí tuệ đó biến thành trí tuệ của chính tự thân mình thì gọi là thành tựu được pháp, tức là cách thức hóa giải cơn sân đó, mình có được cách rất chính xác, đúng đắn, đầy đủ, hiệu quả toàn diện thì gọi là đạt pháp, đắc pháp, tức là mình đạt được cách làm cho cơn giận này hoàn toàn chấm dứt, ở ngoài gọi là học thành tài, học Phật là phải học như vậy.

./.