Thiền Quán - Căn Trần Thức là Khổ 2 - Tương Ưng Sáu Xứ - Kinh Liễu Tri 1&2
Kinh Nikāya Thiền Quán
Căn Trần Thức Là Khổ 2
Tương Ưng Sáu Xứ
Kinh Liễu Tri 1&2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Duyên sanh – vô thường PAGEREF _Toc161994292 \h 1
II. Mù lòa PAGEREF _Toc161994293 \h 5
I. Duyên sanh – vô thường
Hôm nay là mùng 1 cũng là ngày trai giới của các Phật tử, sáng nay chúng ta thực tập thiền quán về sáu căn và sáu trần nhưng do cúp điện nên chúng ta kết thúc sớm. Trong bài thiền quán đó tổng hợp nhiều ý nghĩa của các bài kinh Tương Ưng Bộ, nếu sau này đủ duyên thì mỗi ngày trai giới của quý Phật tử sẽ có những buổi thực tập thiền quán sâu sắc, đó là các ngày âm lịch 14,15, 29/30 và mùng 1.
" -- Này các Tỳ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả, thời không có thể đoạn tận khổ đau.
Và này các Tỳ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả cái gì thời không có thể đoạn tận khổ đau?
Này các Tỳ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ mắt, thời không có thể đoạn tận khổ đau. Không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ các sắc, thời không có thể đoạn tận khổ đau... nhãn thức... nhãn xúc... Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ cảm thọ ấy, thời không có thể đoạn tận khổ đau... tai... mũi...
... lưỡi... thân.." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, IV. Liễu Tri (1))
Không thấy biết thấu đáo, không thấy biết rốt ráo, không lìa tham muốn đối với hình thể này, hình hài này, thân xác này, hình tướng này thì không thể chấm dứt khổ đau. Không bằng trí tuệ chân thật, không bằng trí tuệ thẩm thấu, không bằng trí tuệ của bậc Thánh để thấu suốt bản chất thật sự của nhãn thức này, những sự rõ biết các sắc này thì không thể chấm dứt khổ đau, còn yêu thích sự rõ biết các sắc này, còn đam mê nhãn thức này, còn cho sự rõ biết các hình sắc này là tôi, là của tôi, là tôi thấy, tôi nhìn, tôi ngó, còn say đắm, yêu mến nó thì người đó không thể chấm dứt khổ đau.
Khi mắt tiếp xúc với những hình sắc sanh khởi lên sự rõ biết, ba pháp này hội tụ, giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của mắt, nhãn xúc, khi tiếp xúc sanh ra cảm thọ, sanh ra cảm giác, sanh ra cảm xúc mà không thấy biết một cách thấu đáo đối với cảm thọ này, không thấy biết rốt ráo đối với những cảm giác do con mắt tiếp xúc sanh khởi lên, còn ham thích cảm xúc đó, còn luyến ái cảm giác đó, còn cho cảm giác đó là tôi, là của tôi và tự ngã của tôi, còn yêu thích những cảm giác vui ghét, bỏ cảm giác khổ, còn si mê trong cảm giác không vui không khổ, không liễu tri, thắng tri, không ly tham, từ bỏ những cảm thọ đó thì không thể thoát khỏi khổ đau.
Thấy biết một cách trọn vẹn tính chất vô thường của con mắt, tính chất bất tịnh của con mắt, thấy biết một cách thấu đáo tính chất bệnh hoạn và đau khổ của con mắt, không tham muốn đối với con mắt, từ bỏ đối với con mắt thì có thể đoạn tận khổ đau. Thấy biết một cách trọn vẹn các hình sắc này là từ những đống đất, nước, gió, lửa, thấy biết rốt ráo tất cả những sắc tướng là vô thường, là duyên sanh, là sự lắp ráp, kết hợp, thấy rõ tận tường tính chất đồ gốm của nó, tính chất dễ tan hoại, dễ bể nát, dễ vỡ tan của nó, không ưa thích nó, không tham muốn đối với những hình tướng, sắc tướng, ly tham và nhàm chán đối với nó, từ bỏ nó thì có thể chấm dứt khổ đau.
Thấy biết tận cùng nhãn thức này là duyên sanh, do căn trần kết hợp sanh khởi, sự rõ biết các sắc pháp này là kết hợp, là duyên khởi, là lắp ráp, là mắc xích, là vô thường, là giới hạn, là bị dối gạt, là trò ảo thuật của tâm thức, thấy biết triệt để không còn ưa thích nhãn thức này, không còn tham đắm trong sự rõ biết các sắc, không còn cho sự rõ biết các sắc này là tôi, là của tôi, ly tham đối với nhãn thức, không say đắm, ưa thích sự rõ biết các sắc này, không chấp thủ trong nhãn thức, nhãn xúc này, lìa xa sự nắm giữ đối với nó, rời bỏ ý nghĩ nó là mình, là của mình, không còn ham thích, ham muốn nó nữa thì có thể chấm dứt khổ đau.
Những cảm giác do con mắt tiếp xúc sanh khởi ra, thấy biết một cách tận tường những cảm thọ này do căn, trần, thức, xúc kết hợp sanh khởi, những cảm giác này là vô thường, nắm giữ cảm giác này là đau khổ. Cảm giác khó chịu, bực bội này là mũi tên, cảm giác đơ đơ không khổ không vui này là biến hoại, là mong manh, là bất tịnh, là duyên sanh, trong đây là sự rỗng không của các pháp, là sự trống không chứ không có một tự ngã trong này, không có một cái tôi, cái ta trong đây, chỉ do con mắt thấy các sắc rồi khởi lên sự rõ biết, giao thoa với nhau rồi sanh khởi những cảm giác.
Đó là một chuỗi vận hành của các pháp chứ không có một tự ngã nào, không tìm thấy có một cái tôi trong đó, đó là sự vận hành của dục, tham, ái, của sân si, hơn thua, bức xúc, vận hành của tôi theo chiều vô minh, si ám còn sự thật của nó là một sự trống không, trống trơn, vì thế không nắm giữ nó, không tham muốn đối với nó, không cho nó là mình, là tự ngã của mình, ly tham đối với nó, từ bỏ đối với nó, như vậy là chấm dứt khổ đau. Lỗ tai đối với âm thanh, lỗ mũi đối với mùi hương, lưỡi nếm vị, thân đối với sự xúc chạm sanh ra những cảm giác ưa hay không ưa, thích hay không thích, dễ chịu hoặc không dễ chịu hoặc là thường thường thì tất cả những cái này phải được quán chiếu sâu sắc là căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ.
Phải thấy được sự sanh khởi, sự vận hành và sự móc nối của nó, nhìn thấy được sự mưu mô, quỷ quyệt, môi giới trong ngoài rồi dẫn dắt ta đi vào con đường mê, con đường dại dội, ngu si, con đường vô minh, bản ngã, nó thúc giục, sai khiến, ham muốn, thèm thuồng, khao khát, nắm chặt, chiếm hữu để rồi đau khổ, bất an, lo lắng, sợ hãi, khổ sầu. Phải nhìn vào trong nội tâm thật tường tận để thấy được guồng máy hoạt động của sự vô tri, vô trí, của sự không thấy không biết của thân tâm, của không thấy không biết về mắt, tai, mũi, lưỡi, thân này, đừng để bóng đêm bao phủ, che lấp rồi sống trong tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo, sống trong một cái tôi của ảo tưởng, sống trong một cái tôi của huyễn hóa, của hư ảo.
Phải nhìn ra được những gì đang sanh khởi bên trong, những gì đang an trú, đang vận hành, đang sai khiến, phải nhìn ra những cảm giác thúc giục, những suy nghĩ, hình bóng thúc giục cần phải được phát giác, phát hiện, mình hỏi những cảm giác đòi hỏi, những suy nghĩ thèm thuồng, khát ái này "ngươi thèm lắm hay sao? Bao nhiêu năm qua rồi ngươi vẫn chưa thỏa mãn hay sao mà cứ thúc giục trong tâm ta mãi, người đã nhìn bao nhiêu ngàn lần rồi, người đã ăn bao nhiêu vạn lần rồi, ngươi đã nghe bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp rồi, ngươi đã ngửi, đã nếm bao nhiêu tỉ lần rồi mà giờ vẫn khao khát, thèm thuồng. Ngươi đã tham dục, nhiệt não, bốc cháy, rực cháy để rồi làm khổ mình, khổ người hay sao hỡi tâm ngu si này. Ngươi cứ mãi tìm kiếm, thèm thuồng, khát khao. Tại sao ngươi không làm người tự do? Tại sao ngươi phải lệ thuộc vào người khác, vào cảnh vật, vào những đồ vật bên ngoài rồi sau này nhắm mắt ra đi thì ai đi theo hỡi này tâm ngu si kia? Ngươi hãy tập đi một mình, tập ngồi một mình, ngươi hành hạ ta như thế là đủ rồi, ngươi đày đọa, chà đạp ta như thế là đủ rồi, ta làm tôi, làm tớ, làm nô lệ cho người như vậy là vừa rồi. Ngươi ác độc vừa phải thôi, ta bị người đè đầu cưỡi cổ suốt cả đời, bây giờ ngươi hãy để ta yên đi, ngươi hãy tan thành tro, thành bụi, thành hư không đi, ngươi hãy tan biến hoàn toàn đi, đừng bao giờ sanh khởi trở lại trong tương lai nữa. Hỡi này thứ dục ác độc kia, hỡi này thứ sân ngu si kia, ngươi hãy toàn hoàn lắng dịu tịch tịnh, mát mẻ, thanh lương đi, an tịnh, dễ chịu, ngọt ngào đi. Ngươi cứ mãi chạy theo ta, tôi, mi, tớ, ngươi cứ mãi chạy theo những thứ hơn thua, ganh đua, ngươi cứ mãi chạy theo bản ngã để rồi ngươi đau khổ. Ngươi hãy nhìn lại gương mặt mình đi, ngươi càng vênh váo thì ngươi càng nhục, càng hèn hạ chừng đó, càng bị người ta khinh bỉ chừng đó. Hỡi ngày bản ngã ngu muội, ác độc kia người hãy cúi đầu xuống, dập đầu xuống lạy dưới chân người ta đi, chính vì bản ngã hách dịch mà này cứ mãi hơn thua, chính vì bản ngã ta đây mà cứ mãi tranh đua, chính vì bản ngã ác độc này mà cứ mãi sân si. Thật là tội nghiệp cho tâm ngu này! Ngươi ngu vừa vừa phải phải thôi, ngươi bớt ngu đi, ngươi hại ta như vậy là đủ rồi. Hỡi này những cảm giác thúc giục, ưa thích, cảm giác ham muốn, đòi hỏi kia hãy hoàn toàn an tịnh, lắng dịu đi".
Hãy tập nhìn thân xác này là một nấm mồ, hãy tập nhìn thân xác này là một đống tro tàn được lấy từ lò thiêu, hãy tập nhìn thân xác này là một ung nhọt ngày đêm đang rỉ chảy đầy phân, nước tiểu, nước mắt và nước bọt. Hãy nhìn vào trong để thấy một sự thật phũ phàng nhơ nhớp và bất tịnh thì vênh váo với ai, ta đây với ai, bản ngã với ai.
Thật là nhục nhã cho ngươi!
Thật là hèn hạ cho ngươi!
Thật là tội lỗi cho ngươi!
Thật là đáng thương cho ngươi hỡi cái tâm tham, sân, si, bản ngã, ngu muội và vô minh này. Ngươi muốn tranh hơn thua với ai? Hơn thua với tử thi hay hơn thua với cái hòm, hay là hơn thua với bộ xương, hủ cốt? Thật là tội nghiệp cho tâm mê này! Thật là tội nghiệp cho tâm ngu này! Thật là tội nghiệp cho tâm dại khờ, tâm hắc ám, si mê này! Thật là đáng thương cho ngươi! Ngươi quá giỏi nên giờ này ngươi đầy tham, sân, si, vô minh, bản ngã, ngươi thông minh quá nên giờ này ngươi đầy rẫy dục vọng, sân hận.
Hãy tự quở trách, la rầy chính bản thân mình để dẫn dắt tâm mê này trở về sự tỉnh thức, để đánh thức tâm đang ngủ say tỉnh dậy, tỉnh giác, tỉnh ngộ. Phải nhắc nhở thường xuyên và liên tục như vậy mới làm sáng được tâm vô minh này, nếu không là nó dẫn mình đi suốt ngày, thích cái này, ham cái kia, thúc giục cái nọ, nó dẫn mình đi vào biển lửa, dẫn mình đi lên núi đao, đi vào tù ngục, dẫn mình đi tìm xiềng xích, gông cùm, hoạn nạn, khổ đau.
II. Mù lòa
"Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi...
Thân là mù lòa..." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Do chúng sanh không thấy không biết con mắt này là tứ đại, con mắt này là bất tịnh, không thấy không biết con mắt này là vô thường, là duyên sanh rồi cho rằng con mắt này là mình, là của mình thì đó là mù lòa. Do không biết các sắc là vô thường, là tứ đại, là vô ngã nên cho rằng đây là con tôi, vợ tôi, nhà tôi, đất của tôi, xe của tôi. Những cảm giác yêu, ghét, thù, hận sanh khởi lên đều là mù lòa, chúng sanh bị mù lòa bởi sanh, già, bệnh, chết, lo lắng, bất an, buồn đau và sợ hãi, cứ như vậy mà tiếp tục tái sanh vì đã nhận lầm con mắt này là mình, đã nhận lầm lỗ tai này là mình, đã lầm nhận gương mặt, đôi môi, hình hài, vóc dáng, da thịt này là mình, đó là si dại, là mù lòa, không thấy biết.
Mù lòa bởi sự tái sanh, già nua, bệnh tật, bởi sự lo lắng, bất an, khổ sầu, chết chóc và sợ hãi. Thật là đáng thương cho hữu tình chúng sanh đã sống trong mù lòa, cứ nghĩ mắt tinh lắm nhưng thật sự đang mùa lòa, tưởng rằng tai thính lắm nhưng thật ra đang bị điếc, vô minh mà cứ nghĩ là thông minh, vô ngã mà nghĩ rằng của mình, vô thường mà cho là thường còn, đau khổ mà ảo tưởng rằng đang vui sướng, như vậy là sống trong mù lòa, sống trong bóng đêm hắc ám, sống trong si mê, đau khổ.
Chúng ta không thấy các pháp vận hành mà chỉ cần nghe một tiếng nói hoặc một âm thanh nào chói tai là chúng ta bừng bốc lên. Chúng ta hoàn toàn không thấy không biết, hoàn toàn quờ quạng trong bóng đêm, lao mình chạy đua trong bóng đêm rồi kết cuộc là nước mắt và khổ sầu, máu và những sinh mạng nằm xuống, ngã xuống, sau mấy mươi năm dục, tham, ái, sân, si, bản ngã thì kết thúc là dòng nước mắt, kết cuộc là căn bệnh ung thư giai đoạn cuối, chung cuộc của những sự sân si, ngã mạn là một tử thi, một thây chết, là một cái hòm, là một đống tro, là một hủ cốt.
Thương thật là thương cho chúng ta vì có đời sống đầy rẫy dục, tham, sân, si, bản ngã rồi cuối cùng là oằn vai vì gánh nặng của ác nghiệp rồi không biết đi về đâu, chỉ có sự hoảng loạn kinh hoàng, trong tâm là những cảm giác sôi sục, thèm khát, những hình bóng ám ảnh của tưởng uẩn và biết bao lời lầm thầm réo gọi của hành uẩn, của sự suy tư, như vậy là kết thúc cuộc đời, sau mấy mươi năm chất chứa một đống tham, dục, ái, chất chứa một đống sân si, ngã mạn, chất chứa một đống cảm giác sừng sộ, sẵn sàng khẩu tranh, đấu võ, đó là sự nghiệp của một đời sống vô minh.
Sau một kiếp người lại chồng chất thêm một bản ngã to lớn rồi tạo ra biết bao ác nghiệp, gánh lấy quả báo khổ trong tương lai. Hãy thoát ra mau vì không còn kịp nữa, nước đã đến chân rồi, lửa đã táp trên đầu rồi, bão lũ, địa chấn đã gần đến rồi, tất cả những sự biến động của địa cầu đã ở trước mắt, đây là giờ phút phản tỉnh, đây là giờ khắc quay về, đây là thời điểm thoát ra.
"Ý là mù lòa. Các pháp là mù lòa. Ý thức là mù lòa. Ý xúc là mù lòa. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng bên trong tâm là mù lòa. Càm giác, nghĩ tưởng không cái nào biết nên đều cho là tôi, là của tôi. Chúng ta bị mù lòa đối với các pháp bên trong và mù lòa đối với các pháp bên ngoài, sanh khởi ra những cảm xúc buồn vui, tham sân, thích hay không thích thì cảm giác đó cũng là mù lòa.
"Thấy vậy, này các Tỳ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán cảm thọ ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: 'Ta đã được giải thoát'. Vị ấy biết rõ rằng: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Nhìn vào gương thấy con mắt là nhàm chán cái thứ vô thường này, cái thứ làm bằng đất sét này, làm bằng vũng nước này, làm bằng cơn gió này, cái thứ này không phải tôi, không phải của tôi. Vị Đa văn Thánh đệ tử thường nghe nhiều chánh pháp, thường tư duy, quán sát, thắp lên ngọn đuốc Thánh tuệ của bậc Chánh Biến Tri, vị này nhìn thấy đôi môi này, miệng lưỡi này, gương mặt này là thứ lắp ráp, là thứ duyên sanh, vô thường, dễ vỡ, dễ bể nát nên vị này không cho đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi, vị này gỡ ra từng suy nghĩ, cảm giác, gỡ ra từng hình ảnh trong tâm, từ bỏ cái suy tư cho rằng những thứ đó là tôi, là của tôi, vị này nhàm chán cái thứ vô thường, vô tình, vô nghĩa, vô ngã này, vị này rời xa tất cả những thứ này, không tham muốn, từ bỏ, chấm dứt, vị này giải thoát khỏi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý vô thường.
Vị này thoát ra khỏi sắc; thanh; hương; vị; xúc, pháp tan vỡ này, vị này thoát khỏi nhãn thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, nhĩ thức này, vị này không chấp thủ trong nhận thức mà thoát khỏi nó, vị này không nắm giữ đối với những cảm giác do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc sanh khởi ra, vị này thấy biết tất cả các cảm thọ và không nhận nó là mình, là của mình.
Vị này tháo gỡ, quăng ra, thoát ra khỏi căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ, vị này thành tựu sự nghiệp tu tập tối thượng, vị này đã thoát ra thật sự, sự thấy biết trong tâm vị này khỏi lên "ta đã thật sự thoát ra tứ đại ngũ uẩn này rồi, ta đã thật sự thoát ra khỏi căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ này rồi, ta đã thật sự thoát ra sự chấp thủ, bản ngã này rồi". Chỉ có Niết-bàn mới thật sự là tối thắng lạc, chỉ có sự dập tắt hết tham, sân, si, vô minh, ngu mê này mới thật sự là niềm vui cứu cánh, ngoài Niết-bàn ra thì tất cả hiện hữu dù ở trong hình thái nào cũng là ở trong đau khổ mà thôi.
"Thấy được sáu lợi ích này, này các Tỳ-kheo, thật là vừa đủ để Tỳ-kheo làm cho an trú tưởng khổ, không có hạn chế trong tất cả hành. Thế nào là sáu?
Trong tất cả hành, tưởng Niết-bàn sẽ được an trú trong tôi, ví như kẻ giết người đang đưa dao lên chém; ý của tôi sẽ xuất khỏi tất cả thế giới; tôi sẽ trở thành một người thấy được tịnh lạc trong Niết-bàn; các tùy miên trong tôi sẽ được nhổ lên; tôi sẽ là người đã làm các việc nên làm; tôi sẽ với từ tâm hầu hạ bậc Ðạo Sư.
Thấy được sáu lợi ích này, này các Tỳ-kheo, thật là vừa đủ để Tỳ-kheo làm cho an trú tưởng khổ không có hạn chế trong tất cả hành". (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, X. Phẩm Lợi Ích, VIII. Không Có Hạn Chế (2))
Thấy được sáu lợi ích là vừa đủ để một người tu an trú tâm mình vào sự quán tưởng bản chất khổ đau trên cuộc đời này. Không hạn chế trong tất cả hành là bất cứ suy tư, nghĩ tưởng, quán chiếu, nghiền ngẫm, tác ý, nhận thức không có hạn chế, bất cứ lúc nào cũng có thể an trú được thì gọi là không hạn chế. Trong mọi sự vận hành của thân xác này, của các cảm giác này, mọi sự vận hành của hình bóng, suy nghĩ, nhận thức, rõ biết thì cái tưởng Niết-bàn thanh tịnh sẽ được an trú trong mình, mình không ưa thích những sự vận hành này vì biết nó là vô thường, bất tịnh, mục nát, tan rã, là thứ bệnh hoạn, là ổ vi trùng, không khao khát, thèm muốn nó mà chỉ muốn được dập tắt, đó nghĩa là "tưởng Niết-bàn sẽ được an trú trong tôi", là sự chấm dứt của mọi hình sắc, sự lắng dịu an tịnh hoàn toàn sắc pháp, sắc tướng.
Người nào thường an trú vào tưởng khổ, thường quán chiếu tính chất khổ của năm uẩn này, của đời sống này, của mọi cảm giác, tư tưởng, nhận thức này thì người này sẽ được an trú trong tưởng của Niết-bàn. Những sự hơn thua, tham ái, đòi hỏi là kẻ giết người, những cảm giác ganh đua là kẻ giết người, những hình bóng vênh váo là kẻ giết người, chính vì những cảm giác, nghĩ tưởng đó mới sanh tử liên tục, tái sanh vào biết bao đời sống đầy rẫy những ác nghiệp khổ đau, đó là kẻ giết người.
Các hành này giống như kẻ giết người đưa dao lên chém chúng ta, một người thành tựu Khổ Thánh Trí này thì người này sẽ thường an trú trong Niết-bàn vì Niết-bàn là một sự an tịnh, dập tắt, lắng dịu hoàn toàn dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Khổ thì lấy gì để mà sân si, tranh đua, hơn thua, ta đây? Cho nên Thế Tôn nói ai thấy được Khổ Thánh Đế thì người đó thấy được nguyên nhân của khổ, Thánh đạo Nikāya này nhất quán xuyên suốt hết tất cả pháp, từ mở đầu, sơ thiện, trung thiện và hậu thiện, mở đầu tốt lành, chặng giữa tốt lành, cuối cùng tốt lành, xuyên suốt nhất quán chứ không có nói khác nhau, đều nói về việc phải nhìn thấy bản chất đối với ngũ uẩn, ly tham đối với ngũ uẩn, từ bỏ, chấm dứt và thoát ra khỏi ngũ uẩn, đó là lợi ích thứ nhất.
Lợi ích thứ hai là "ý của tôi sẽ xuất khỏi tất cả thế giới", đó chính là sự xuất ly, ý của tôi sẽ ra khỏi tất cả thế giới dù cho đó là thế giới của chư thiên hay là thế giới vô hình, vô sắc giới, thế giới của tâm tưởng. Lợi ích thứ ba là "tôi sẽ trở thành một người thấy được tịnh lạc trong Niết-bàn", chúng ta học về khổ, quán về khổ, nhìn đâu cũng thấy khổ nhưng lại là người thấy được sự tịnh lạc trong Niết-bàn, sự an tịnh lắng dịu hoàn toàn ngũ uẩn này thì lúc đó chứng nhập được trạng thái thanh tịnh và an lạc thật sự của Niết-bàn.
Thứ tư là "các tùy miên trong tôi sẽ được nhổ lên", người thường quán khổ thì những phiền não, dục lậu, vô minh lậu, hữu lậu, những tập khí ngủ ngầm bên trong sẽ từ từ được nhổ lên, khi người này thấy được tất cả những khía cạnh, góc độ của khổ trong căn, trần, thức, xứ, giới, uẩn, thấy mọi suy nghĩ, cảm thọ, hình bóng, nhận thức đều là khổ thì những phiền não, tập khí, lậu hoặc trong này sẽ tan rã từ từ, làm sao nó có thể tồn tại trong Thánh trí về khổ, tùy miên là các thứ phiền não, lậu hoặc, tập khí đi theo mình miên man sẽ được nhổ lên khi mình thường trú trong sự thấy biết về khổ của ngũ uẩn, phải tập nhìn để thấy được tính chất khổ của nó chứ đừng nhìn theo tri kiến của phàm phu vì nếu nhìn như vậy thì vĩnh viễn và mãi mãi không thể thoát khỏi khổ đau. Thứ năm là "tôi sẽ là người đã làm các việc nên làm", người nào thường trú trong sự quán chiếu về khổ sẽ thường làm các việc nên làm, không làm những việc không nên làm mà chỉ làm việc đáng làm, làm việc nên làm, làm vệc phải làm, đó chính là chánh nghiệp trong Bát Chánh Đạo.
Tất cả những gì trong đây đều là Bát Chánh Đạo, thấy khổ chính là thấy đúng, mình nghĩ ngũ uẩn là kẻ giết người chính là nghĩ đúng, mình nói đúng về điều này chính là nói đúng, sống thấy khổ nên không sát sanh, trộm cắp, tà dâm chính là sống đúng, siêng năng làm những việc nên làm là siêng đúng, tập trung tâm ý vào đề mục này là định đúng, nhìn mọi khía cạnh để quán về tính chất khổ là quán đúng cũng chính là chánh niệm, vì đã thấy khổ nên không ham muốn, không còn sự thúc giục, không còn thèm muốn, khao khát, đòi hỏi, không nắm bắt nữa thì lúc đó tâm an tịnh, lắng dịu, chính là định đúng cho nên mọi thứ đều nằm trong Bát Chánh Đạo.
Lợi ích cuối cùng là "tôi sẽ với từ tâm hầu hạ bậc Ðạo Sư", hầu hạ bậc Đạo sư với một tâm từ, tâm thương mến, điều này chỉ cho Đức Phật ở thời ngài còn tại thế và chỉ cho vị thầy hướng dẫn cho mình trong thời điểm hiện tại, nếu đó đúng là một vị minh sư chỉ cho mình đúng đạo lộ tu tập, đúng Thánh pháp, hướng dẫn cho mình đúng chánh tri kiến thì đó gọi là bậc đạo sư. Đạo sư nghĩa là vị thầy dẫn đường, chữ đạo trong này là dẫn đường chứ không phải là con đường, với lòng biết ơn, tôn kính hầu hạ người đã truyền trao cho mình con mắt trí tuệ, chỉ cho mình đạo lộ của bậc Thánh, dẫn mình đi trên con đường tối thượng. Khi thấy được sáu lợi ích này thì vừa đủ để một người tu tâm niệm mỗi phút mỗi giây, mỗi thời mỗi khắc an trú vào Khổ Thánh Đế, Khổ Thánh Trí.
Sự quán chiếu về khổ này trong hạn chế trong tất cả sự vận hành của ngũ uẩn, nhìn sắc nào cũng thấy tính chất khổ trong đó, người này nhìn biết bao cảm thọ cũng thấy khổ trong đó, người này nhìn bất cứ hình bóng nào dù là hình bóng đẹp đẽ, đáng mến cũng vẫn thấy khổ trong đó, mỗi suy nghĩ sanh khởi ra đều thấy tính chất khổ trong đó nên không yêu thích, không tham ái trong suy nghĩ đó, không cho suy nghĩ đó là tôi, trong mỗi sự nhận thức, trong từng cái thấy, cái nghe, cái ngửi, nếm… đều thấy rõ các pháp vận hành và đó chỉ là sự vận hành của pháp.
"Thế Tôn đã nói như sau: 'Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi'. Những pháp này do duyên khởi lên chính là năm thủ uẩn. Sự tham dục, chấp trước, tham đắm, mê say trong năm thủ uẩn này tức là khổ tập; sự nhiếp phục tham dục, sự từ bỏ tham dục tức là sự khổ diệt'". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Đến bây giờ mới thấy hai chữ "duyên khởi" thật sự thâm sâu vô lượng, tất cả vũ trụ vạn vật, mọi suy nghĩ, cảm thọ, nhận thức đều là duyên khởi của pháp thôi, không có cái tôi trong đó cho nên thấy được lý duyên khởi là thấy được pháp và cũng là người Nhập Lưu, ít nhất cũng Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất, không còn thấy có một cái tôi nữa. Đức Phật nói không có một ai cảm xúc, cảm thọ, không có một người nào ái mà chỉ do sự tiếp xúc sanh ra cảm thọ, có cảm giác thì sanh ra ái cho nên lý duyên khởi rất thâm sâu, chúng ta cố gắng tu học và quán chiếu để hành trì, nhất là trong giai đoạn này, tự mình thương mình, tự mình giúp mình và tự mình cứu lấy mình.
./.
Căn Trần Thức Là Khổ 2
Tương Ưng Sáu Xứ
Kinh Liễu Tri 1&2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Duyên sanh – vô thường PAGEREF _Toc161994292 \h 1
II. Mù lòa PAGEREF _Toc161994293 \h 5
I. Duyên sanh – vô thường
Hôm nay là mùng 1 cũng là ngày trai giới của các Phật tử, sáng nay chúng ta thực tập thiền quán về sáu căn và sáu trần nhưng do cúp điện nên chúng ta kết thúc sớm. Trong bài thiền quán đó tổng hợp nhiều ý nghĩa của các bài kinh Tương Ưng Bộ, nếu sau này đủ duyên thì mỗi ngày trai giới của quý Phật tử sẽ có những buổi thực tập thiền quán sâu sắc, đó là các ngày âm lịch 14,15, 29/30 và mùng 1.
" -- Này các Tỳ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả, thời không có thể đoạn tận khổ đau.
Và này các Tỳ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả cái gì thời không có thể đoạn tận khổ đau?
Này các Tỳ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ mắt, thời không có thể đoạn tận khổ đau. Không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ các sắc, thời không có thể đoạn tận khổ đau... nhãn thức... nhãn xúc... Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ cảm thọ ấy, thời không có thể đoạn tận khổ đau... tai... mũi...
... lưỡi... thân.." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, IV. Liễu Tri (1))
Không thấy biết thấu đáo, không thấy biết rốt ráo, không lìa tham muốn đối với hình thể này, hình hài này, thân xác này, hình tướng này thì không thể chấm dứt khổ đau. Không bằng trí tuệ chân thật, không bằng trí tuệ thẩm thấu, không bằng trí tuệ của bậc Thánh để thấu suốt bản chất thật sự của nhãn thức này, những sự rõ biết các sắc này thì không thể chấm dứt khổ đau, còn yêu thích sự rõ biết các sắc này, còn đam mê nhãn thức này, còn cho sự rõ biết các hình sắc này là tôi, là của tôi, là tôi thấy, tôi nhìn, tôi ngó, còn say đắm, yêu mến nó thì người đó không thể chấm dứt khổ đau.
Khi mắt tiếp xúc với những hình sắc sanh khởi lên sự rõ biết, ba pháp này hội tụ, giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của mắt, nhãn xúc, khi tiếp xúc sanh ra cảm thọ, sanh ra cảm giác, sanh ra cảm xúc mà không thấy biết một cách thấu đáo đối với cảm thọ này, không thấy biết rốt ráo đối với những cảm giác do con mắt tiếp xúc sanh khởi lên, còn ham thích cảm xúc đó, còn luyến ái cảm giác đó, còn cho cảm giác đó là tôi, là của tôi và tự ngã của tôi, còn yêu thích những cảm giác vui ghét, bỏ cảm giác khổ, còn si mê trong cảm giác không vui không khổ, không liễu tri, thắng tri, không ly tham, từ bỏ những cảm thọ đó thì không thể thoát khỏi khổ đau.
Thấy biết một cách trọn vẹn tính chất vô thường của con mắt, tính chất bất tịnh của con mắt, thấy biết một cách thấu đáo tính chất bệnh hoạn và đau khổ của con mắt, không tham muốn đối với con mắt, từ bỏ đối với con mắt thì có thể đoạn tận khổ đau. Thấy biết một cách trọn vẹn các hình sắc này là từ những đống đất, nước, gió, lửa, thấy biết rốt ráo tất cả những sắc tướng là vô thường, là duyên sanh, là sự lắp ráp, kết hợp, thấy rõ tận tường tính chất đồ gốm của nó, tính chất dễ tan hoại, dễ bể nát, dễ vỡ tan của nó, không ưa thích nó, không tham muốn đối với những hình tướng, sắc tướng, ly tham và nhàm chán đối với nó, từ bỏ nó thì có thể chấm dứt khổ đau.
Thấy biết tận cùng nhãn thức này là duyên sanh, do căn trần kết hợp sanh khởi, sự rõ biết các sắc pháp này là kết hợp, là duyên khởi, là lắp ráp, là mắc xích, là vô thường, là giới hạn, là bị dối gạt, là trò ảo thuật của tâm thức, thấy biết triệt để không còn ưa thích nhãn thức này, không còn tham đắm trong sự rõ biết các sắc, không còn cho sự rõ biết các sắc này là tôi, là của tôi, ly tham đối với nhãn thức, không say đắm, ưa thích sự rõ biết các sắc này, không chấp thủ trong nhãn thức, nhãn xúc này, lìa xa sự nắm giữ đối với nó, rời bỏ ý nghĩ nó là mình, là của mình, không còn ham thích, ham muốn nó nữa thì có thể chấm dứt khổ đau.
Những cảm giác do con mắt tiếp xúc sanh khởi ra, thấy biết một cách tận tường những cảm thọ này do căn, trần, thức, xúc kết hợp sanh khởi, những cảm giác này là vô thường, nắm giữ cảm giác này là đau khổ. Cảm giác khó chịu, bực bội này là mũi tên, cảm giác đơ đơ không khổ không vui này là biến hoại, là mong manh, là bất tịnh, là duyên sanh, trong đây là sự rỗng không của các pháp, là sự trống không chứ không có một tự ngã trong này, không có một cái tôi, cái ta trong đây, chỉ do con mắt thấy các sắc rồi khởi lên sự rõ biết, giao thoa với nhau rồi sanh khởi những cảm giác.
Đó là một chuỗi vận hành của các pháp chứ không có một tự ngã nào, không tìm thấy có một cái tôi trong đó, đó là sự vận hành của dục, tham, ái, của sân si, hơn thua, bức xúc, vận hành của tôi theo chiều vô minh, si ám còn sự thật của nó là một sự trống không, trống trơn, vì thế không nắm giữ nó, không tham muốn đối với nó, không cho nó là mình, là tự ngã của mình, ly tham đối với nó, từ bỏ đối với nó, như vậy là chấm dứt khổ đau. Lỗ tai đối với âm thanh, lỗ mũi đối với mùi hương, lưỡi nếm vị, thân đối với sự xúc chạm sanh ra những cảm giác ưa hay không ưa, thích hay không thích, dễ chịu hoặc không dễ chịu hoặc là thường thường thì tất cả những cái này phải được quán chiếu sâu sắc là căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ.
Phải thấy được sự sanh khởi, sự vận hành và sự móc nối của nó, nhìn thấy được sự mưu mô, quỷ quyệt, môi giới trong ngoài rồi dẫn dắt ta đi vào con đường mê, con đường dại dội, ngu si, con đường vô minh, bản ngã, nó thúc giục, sai khiến, ham muốn, thèm thuồng, khao khát, nắm chặt, chiếm hữu để rồi đau khổ, bất an, lo lắng, sợ hãi, khổ sầu. Phải nhìn vào trong nội tâm thật tường tận để thấy được guồng máy hoạt động của sự vô tri, vô trí, của sự không thấy không biết của thân tâm, của không thấy không biết về mắt, tai, mũi, lưỡi, thân này, đừng để bóng đêm bao phủ, che lấp rồi sống trong tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo, sống trong một cái tôi của ảo tưởng, sống trong một cái tôi của huyễn hóa, của hư ảo.
Phải nhìn ra được những gì đang sanh khởi bên trong, những gì đang an trú, đang vận hành, đang sai khiến, phải nhìn ra những cảm giác thúc giục, những suy nghĩ, hình bóng thúc giục cần phải được phát giác, phát hiện, mình hỏi những cảm giác đòi hỏi, những suy nghĩ thèm thuồng, khát ái này "ngươi thèm lắm hay sao? Bao nhiêu năm qua rồi ngươi vẫn chưa thỏa mãn hay sao mà cứ thúc giục trong tâm ta mãi, người đã nhìn bao nhiêu ngàn lần rồi, người đã ăn bao nhiêu vạn lần rồi, ngươi đã nghe bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp rồi, ngươi đã ngửi, đã nếm bao nhiêu tỉ lần rồi mà giờ vẫn khao khát, thèm thuồng. Ngươi đã tham dục, nhiệt não, bốc cháy, rực cháy để rồi làm khổ mình, khổ người hay sao hỡi tâm ngu si này. Ngươi cứ mãi tìm kiếm, thèm thuồng, khát khao. Tại sao ngươi không làm người tự do? Tại sao ngươi phải lệ thuộc vào người khác, vào cảnh vật, vào những đồ vật bên ngoài rồi sau này nhắm mắt ra đi thì ai đi theo hỡi này tâm ngu si kia? Ngươi hãy tập đi một mình, tập ngồi một mình, ngươi hành hạ ta như thế là đủ rồi, ngươi đày đọa, chà đạp ta như thế là đủ rồi, ta làm tôi, làm tớ, làm nô lệ cho người như vậy là vừa rồi. Ngươi ác độc vừa phải thôi, ta bị người đè đầu cưỡi cổ suốt cả đời, bây giờ ngươi hãy để ta yên đi, ngươi hãy tan thành tro, thành bụi, thành hư không đi, ngươi hãy tan biến hoàn toàn đi, đừng bao giờ sanh khởi trở lại trong tương lai nữa. Hỡi này thứ dục ác độc kia, hỡi này thứ sân ngu si kia, ngươi hãy toàn hoàn lắng dịu tịch tịnh, mát mẻ, thanh lương đi, an tịnh, dễ chịu, ngọt ngào đi. Ngươi cứ mãi chạy theo ta, tôi, mi, tớ, ngươi cứ mãi chạy theo những thứ hơn thua, ganh đua, ngươi cứ mãi chạy theo bản ngã để rồi ngươi đau khổ. Ngươi hãy nhìn lại gương mặt mình đi, ngươi càng vênh váo thì ngươi càng nhục, càng hèn hạ chừng đó, càng bị người ta khinh bỉ chừng đó. Hỡi ngày bản ngã ngu muội, ác độc kia người hãy cúi đầu xuống, dập đầu xuống lạy dưới chân người ta đi, chính vì bản ngã hách dịch mà này cứ mãi hơn thua, chính vì bản ngã ta đây mà cứ mãi tranh đua, chính vì bản ngã ác độc này mà cứ mãi sân si. Thật là tội nghiệp cho tâm ngu này! Ngươi ngu vừa vừa phải phải thôi, ngươi bớt ngu đi, ngươi hại ta như vậy là đủ rồi. Hỡi này những cảm giác thúc giục, ưa thích, cảm giác ham muốn, đòi hỏi kia hãy hoàn toàn an tịnh, lắng dịu đi".
Hãy tập nhìn thân xác này là một nấm mồ, hãy tập nhìn thân xác này là một đống tro tàn được lấy từ lò thiêu, hãy tập nhìn thân xác này là một ung nhọt ngày đêm đang rỉ chảy đầy phân, nước tiểu, nước mắt và nước bọt. Hãy nhìn vào trong để thấy một sự thật phũ phàng nhơ nhớp và bất tịnh thì vênh váo với ai, ta đây với ai, bản ngã với ai.
Thật là nhục nhã cho ngươi!
Thật là hèn hạ cho ngươi!
Thật là tội lỗi cho ngươi!
Thật là đáng thương cho ngươi hỡi cái tâm tham, sân, si, bản ngã, ngu muội và vô minh này. Ngươi muốn tranh hơn thua với ai? Hơn thua với tử thi hay hơn thua với cái hòm, hay là hơn thua với bộ xương, hủ cốt? Thật là tội nghiệp cho tâm mê này! Thật là tội nghiệp cho tâm ngu này! Thật là tội nghiệp cho tâm dại khờ, tâm hắc ám, si mê này! Thật là đáng thương cho ngươi! Ngươi quá giỏi nên giờ này ngươi đầy tham, sân, si, vô minh, bản ngã, ngươi thông minh quá nên giờ này ngươi đầy rẫy dục vọng, sân hận.
Hãy tự quở trách, la rầy chính bản thân mình để dẫn dắt tâm mê này trở về sự tỉnh thức, để đánh thức tâm đang ngủ say tỉnh dậy, tỉnh giác, tỉnh ngộ. Phải nhắc nhở thường xuyên và liên tục như vậy mới làm sáng được tâm vô minh này, nếu không là nó dẫn mình đi suốt ngày, thích cái này, ham cái kia, thúc giục cái nọ, nó dẫn mình đi vào biển lửa, dẫn mình đi lên núi đao, đi vào tù ngục, dẫn mình đi tìm xiềng xích, gông cùm, hoạn nạn, khổ đau.
II. Mù lòa
"Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi...
Thân là mù lòa..." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Do chúng sanh không thấy không biết con mắt này là tứ đại, con mắt này là bất tịnh, không thấy không biết con mắt này là vô thường, là duyên sanh rồi cho rằng con mắt này là mình, là của mình thì đó là mù lòa. Do không biết các sắc là vô thường, là tứ đại, là vô ngã nên cho rằng đây là con tôi, vợ tôi, nhà tôi, đất của tôi, xe của tôi. Những cảm giác yêu, ghét, thù, hận sanh khởi lên đều là mù lòa, chúng sanh bị mù lòa bởi sanh, già, bệnh, chết, lo lắng, bất an, buồn đau và sợ hãi, cứ như vậy mà tiếp tục tái sanh vì đã nhận lầm con mắt này là mình, đã nhận lầm lỗ tai này là mình, đã lầm nhận gương mặt, đôi môi, hình hài, vóc dáng, da thịt này là mình, đó là si dại, là mù lòa, không thấy biết.
Mù lòa bởi sự tái sanh, già nua, bệnh tật, bởi sự lo lắng, bất an, khổ sầu, chết chóc và sợ hãi. Thật là đáng thương cho hữu tình chúng sanh đã sống trong mù lòa, cứ nghĩ mắt tinh lắm nhưng thật sự đang mùa lòa, tưởng rằng tai thính lắm nhưng thật ra đang bị điếc, vô minh mà cứ nghĩ là thông minh, vô ngã mà nghĩ rằng của mình, vô thường mà cho là thường còn, đau khổ mà ảo tưởng rằng đang vui sướng, như vậy là sống trong mù lòa, sống trong bóng đêm hắc ám, sống trong si mê, đau khổ.
Chúng ta không thấy các pháp vận hành mà chỉ cần nghe một tiếng nói hoặc một âm thanh nào chói tai là chúng ta bừng bốc lên. Chúng ta hoàn toàn không thấy không biết, hoàn toàn quờ quạng trong bóng đêm, lao mình chạy đua trong bóng đêm rồi kết cuộc là nước mắt và khổ sầu, máu và những sinh mạng nằm xuống, ngã xuống, sau mấy mươi năm dục, tham, ái, sân, si, bản ngã thì kết thúc là dòng nước mắt, kết cuộc là căn bệnh ung thư giai đoạn cuối, chung cuộc của những sự sân si, ngã mạn là một tử thi, một thây chết, là một cái hòm, là một đống tro, là một hủ cốt.
Thương thật là thương cho chúng ta vì có đời sống đầy rẫy dục, tham, sân, si, bản ngã rồi cuối cùng là oằn vai vì gánh nặng của ác nghiệp rồi không biết đi về đâu, chỉ có sự hoảng loạn kinh hoàng, trong tâm là những cảm giác sôi sục, thèm khát, những hình bóng ám ảnh của tưởng uẩn và biết bao lời lầm thầm réo gọi của hành uẩn, của sự suy tư, như vậy là kết thúc cuộc đời, sau mấy mươi năm chất chứa một đống tham, dục, ái, chất chứa một đống sân si, ngã mạn, chất chứa một đống cảm giác sừng sộ, sẵn sàng khẩu tranh, đấu võ, đó là sự nghiệp của một đời sống vô minh.
Sau một kiếp người lại chồng chất thêm một bản ngã to lớn rồi tạo ra biết bao ác nghiệp, gánh lấy quả báo khổ trong tương lai. Hãy thoát ra mau vì không còn kịp nữa, nước đã đến chân rồi, lửa đã táp trên đầu rồi, bão lũ, địa chấn đã gần đến rồi, tất cả những sự biến động của địa cầu đã ở trước mắt, đây là giờ phút phản tỉnh, đây là giờ khắc quay về, đây là thời điểm thoát ra.
"Ý là mù lòa. Các pháp là mù lòa. Ý thức là mù lòa. Ý xúc là mù lòa. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng bên trong tâm là mù lòa. Càm giác, nghĩ tưởng không cái nào biết nên đều cho là tôi, là của tôi. Chúng ta bị mù lòa đối với các pháp bên trong và mù lòa đối với các pháp bên ngoài, sanh khởi ra những cảm xúc buồn vui, tham sân, thích hay không thích thì cảm giác đó cũng là mù lòa.
"Thấy vậy, này các Tỳ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán cảm thọ ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: 'Ta đã được giải thoát'. Vị ấy biết rõ rằng: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Nhìn vào gương thấy con mắt là nhàm chán cái thứ vô thường này, cái thứ làm bằng đất sét này, làm bằng vũng nước này, làm bằng cơn gió này, cái thứ này không phải tôi, không phải của tôi. Vị Đa văn Thánh đệ tử thường nghe nhiều chánh pháp, thường tư duy, quán sát, thắp lên ngọn đuốc Thánh tuệ của bậc Chánh Biến Tri, vị này nhìn thấy đôi môi này, miệng lưỡi này, gương mặt này là thứ lắp ráp, là thứ duyên sanh, vô thường, dễ vỡ, dễ bể nát nên vị này không cho đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi, vị này gỡ ra từng suy nghĩ, cảm giác, gỡ ra từng hình ảnh trong tâm, từ bỏ cái suy tư cho rằng những thứ đó là tôi, là của tôi, vị này nhàm chán cái thứ vô thường, vô tình, vô nghĩa, vô ngã này, vị này rời xa tất cả những thứ này, không tham muốn, từ bỏ, chấm dứt, vị này giải thoát khỏi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý vô thường.
Vị này thoát ra khỏi sắc; thanh; hương; vị; xúc, pháp tan vỡ này, vị này thoát khỏi nhãn thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, nhĩ thức này, vị này không chấp thủ trong nhận thức mà thoát khỏi nó, vị này không nắm giữ đối với những cảm giác do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc sanh khởi ra, vị này thấy biết tất cả các cảm thọ và không nhận nó là mình, là của mình.
Vị này tháo gỡ, quăng ra, thoát ra khỏi căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ, vị này thành tựu sự nghiệp tu tập tối thượng, vị này đã thoát ra thật sự, sự thấy biết trong tâm vị này khỏi lên "ta đã thật sự thoát ra tứ đại ngũ uẩn này rồi, ta đã thật sự thoát ra khỏi căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ này rồi, ta đã thật sự thoát ra sự chấp thủ, bản ngã này rồi". Chỉ có Niết-bàn mới thật sự là tối thắng lạc, chỉ có sự dập tắt hết tham, sân, si, vô minh, ngu mê này mới thật sự là niềm vui cứu cánh, ngoài Niết-bàn ra thì tất cả hiện hữu dù ở trong hình thái nào cũng là ở trong đau khổ mà thôi.
"Thấy được sáu lợi ích này, này các Tỳ-kheo, thật là vừa đủ để Tỳ-kheo làm cho an trú tưởng khổ, không có hạn chế trong tất cả hành. Thế nào là sáu?
Trong tất cả hành, tưởng Niết-bàn sẽ được an trú trong tôi, ví như kẻ giết người đang đưa dao lên chém; ý của tôi sẽ xuất khỏi tất cả thế giới; tôi sẽ trở thành một người thấy được tịnh lạc trong Niết-bàn; các tùy miên trong tôi sẽ được nhổ lên; tôi sẽ là người đã làm các việc nên làm; tôi sẽ với từ tâm hầu hạ bậc Ðạo Sư.
Thấy được sáu lợi ích này, này các Tỳ-kheo, thật là vừa đủ để Tỳ-kheo làm cho an trú tưởng khổ không có hạn chế trong tất cả hành". (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, X. Phẩm Lợi Ích, VIII. Không Có Hạn Chế (2))
Thấy được sáu lợi ích là vừa đủ để một người tu an trú tâm mình vào sự quán tưởng bản chất khổ đau trên cuộc đời này. Không hạn chế trong tất cả hành là bất cứ suy tư, nghĩ tưởng, quán chiếu, nghiền ngẫm, tác ý, nhận thức không có hạn chế, bất cứ lúc nào cũng có thể an trú được thì gọi là không hạn chế. Trong mọi sự vận hành của thân xác này, của các cảm giác này, mọi sự vận hành của hình bóng, suy nghĩ, nhận thức, rõ biết thì cái tưởng Niết-bàn thanh tịnh sẽ được an trú trong mình, mình không ưa thích những sự vận hành này vì biết nó là vô thường, bất tịnh, mục nát, tan rã, là thứ bệnh hoạn, là ổ vi trùng, không khao khát, thèm muốn nó mà chỉ muốn được dập tắt, đó nghĩa là "tưởng Niết-bàn sẽ được an trú trong tôi", là sự chấm dứt của mọi hình sắc, sự lắng dịu an tịnh hoàn toàn sắc pháp, sắc tướng.
Người nào thường an trú vào tưởng khổ, thường quán chiếu tính chất khổ của năm uẩn này, của đời sống này, của mọi cảm giác, tư tưởng, nhận thức này thì người này sẽ được an trú trong tưởng của Niết-bàn. Những sự hơn thua, tham ái, đòi hỏi là kẻ giết người, những cảm giác ganh đua là kẻ giết người, những hình bóng vênh váo là kẻ giết người, chính vì những cảm giác, nghĩ tưởng đó mới sanh tử liên tục, tái sanh vào biết bao đời sống đầy rẫy những ác nghiệp khổ đau, đó là kẻ giết người.
Các hành này giống như kẻ giết người đưa dao lên chém chúng ta, một người thành tựu Khổ Thánh Trí này thì người này sẽ thường an trú trong Niết-bàn vì Niết-bàn là một sự an tịnh, dập tắt, lắng dịu hoàn toàn dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Khổ thì lấy gì để mà sân si, tranh đua, hơn thua, ta đây? Cho nên Thế Tôn nói ai thấy được Khổ Thánh Đế thì người đó thấy được nguyên nhân của khổ, Thánh đạo Nikāya này nhất quán xuyên suốt hết tất cả pháp, từ mở đầu, sơ thiện, trung thiện và hậu thiện, mở đầu tốt lành, chặng giữa tốt lành, cuối cùng tốt lành, xuyên suốt nhất quán chứ không có nói khác nhau, đều nói về việc phải nhìn thấy bản chất đối với ngũ uẩn, ly tham đối với ngũ uẩn, từ bỏ, chấm dứt và thoát ra khỏi ngũ uẩn, đó là lợi ích thứ nhất.
Lợi ích thứ hai là "ý của tôi sẽ xuất khỏi tất cả thế giới", đó chính là sự xuất ly, ý của tôi sẽ ra khỏi tất cả thế giới dù cho đó là thế giới của chư thiên hay là thế giới vô hình, vô sắc giới, thế giới của tâm tưởng. Lợi ích thứ ba là "tôi sẽ trở thành một người thấy được tịnh lạc trong Niết-bàn", chúng ta học về khổ, quán về khổ, nhìn đâu cũng thấy khổ nhưng lại là người thấy được sự tịnh lạc trong Niết-bàn, sự an tịnh lắng dịu hoàn toàn ngũ uẩn này thì lúc đó chứng nhập được trạng thái thanh tịnh và an lạc thật sự của Niết-bàn.
Thứ tư là "các tùy miên trong tôi sẽ được nhổ lên", người thường quán khổ thì những phiền não, dục lậu, vô minh lậu, hữu lậu, những tập khí ngủ ngầm bên trong sẽ từ từ được nhổ lên, khi người này thấy được tất cả những khía cạnh, góc độ của khổ trong căn, trần, thức, xứ, giới, uẩn, thấy mọi suy nghĩ, cảm thọ, hình bóng, nhận thức đều là khổ thì những phiền não, tập khí, lậu hoặc trong này sẽ tan rã từ từ, làm sao nó có thể tồn tại trong Thánh trí về khổ, tùy miên là các thứ phiền não, lậu hoặc, tập khí đi theo mình miên man sẽ được nhổ lên khi mình thường trú trong sự thấy biết về khổ của ngũ uẩn, phải tập nhìn để thấy được tính chất khổ của nó chứ đừng nhìn theo tri kiến của phàm phu vì nếu nhìn như vậy thì vĩnh viễn và mãi mãi không thể thoát khỏi khổ đau. Thứ năm là "tôi sẽ là người đã làm các việc nên làm", người nào thường trú trong sự quán chiếu về khổ sẽ thường làm các việc nên làm, không làm những việc không nên làm mà chỉ làm việc đáng làm, làm việc nên làm, làm vệc phải làm, đó chính là chánh nghiệp trong Bát Chánh Đạo.
Tất cả những gì trong đây đều là Bát Chánh Đạo, thấy khổ chính là thấy đúng, mình nghĩ ngũ uẩn là kẻ giết người chính là nghĩ đúng, mình nói đúng về điều này chính là nói đúng, sống thấy khổ nên không sát sanh, trộm cắp, tà dâm chính là sống đúng, siêng năng làm những việc nên làm là siêng đúng, tập trung tâm ý vào đề mục này là định đúng, nhìn mọi khía cạnh để quán về tính chất khổ là quán đúng cũng chính là chánh niệm, vì đã thấy khổ nên không ham muốn, không còn sự thúc giục, không còn thèm muốn, khao khát, đòi hỏi, không nắm bắt nữa thì lúc đó tâm an tịnh, lắng dịu, chính là định đúng cho nên mọi thứ đều nằm trong Bát Chánh Đạo.
Lợi ích cuối cùng là "tôi sẽ với từ tâm hầu hạ bậc Ðạo Sư", hầu hạ bậc Đạo sư với một tâm từ, tâm thương mến, điều này chỉ cho Đức Phật ở thời ngài còn tại thế và chỉ cho vị thầy hướng dẫn cho mình trong thời điểm hiện tại, nếu đó đúng là một vị minh sư chỉ cho mình đúng đạo lộ tu tập, đúng Thánh pháp, hướng dẫn cho mình đúng chánh tri kiến thì đó gọi là bậc đạo sư. Đạo sư nghĩa là vị thầy dẫn đường, chữ đạo trong này là dẫn đường chứ không phải là con đường, với lòng biết ơn, tôn kính hầu hạ người đã truyền trao cho mình con mắt trí tuệ, chỉ cho mình đạo lộ của bậc Thánh, dẫn mình đi trên con đường tối thượng. Khi thấy được sáu lợi ích này thì vừa đủ để một người tu tâm niệm mỗi phút mỗi giây, mỗi thời mỗi khắc an trú vào Khổ Thánh Đế, Khổ Thánh Trí.
Sự quán chiếu về khổ này trong hạn chế trong tất cả sự vận hành của ngũ uẩn, nhìn sắc nào cũng thấy tính chất khổ trong đó, người này nhìn biết bao cảm thọ cũng thấy khổ trong đó, người này nhìn bất cứ hình bóng nào dù là hình bóng đẹp đẽ, đáng mến cũng vẫn thấy khổ trong đó, mỗi suy nghĩ sanh khởi ra đều thấy tính chất khổ trong đó nên không yêu thích, không tham ái trong suy nghĩ đó, không cho suy nghĩ đó là tôi, trong mỗi sự nhận thức, trong từng cái thấy, cái nghe, cái ngửi, nếm… đều thấy rõ các pháp vận hành và đó chỉ là sự vận hành của pháp.
"Thế Tôn đã nói như sau: 'Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi'. Những pháp này do duyên khởi lên chính là năm thủ uẩn. Sự tham dục, chấp trước, tham đắm, mê say trong năm thủ uẩn này tức là khổ tập; sự nhiếp phục tham dục, sự từ bỏ tham dục tức là sự khổ diệt'". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Đến bây giờ mới thấy hai chữ "duyên khởi" thật sự thâm sâu vô lượng, tất cả vũ trụ vạn vật, mọi suy nghĩ, cảm thọ, nhận thức đều là duyên khởi của pháp thôi, không có cái tôi trong đó cho nên thấy được lý duyên khởi là thấy được pháp và cũng là người Nhập Lưu, ít nhất cũng Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất, không còn thấy có một cái tôi nữa. Đức Phật nói không có một ai cảm xúc, cảm thọ, không có một người nào ái mà chỉ do sự tiếp xúc sanh ra cảm thọ, có cảm giác thì sanh ra ái cho nên lý duyên khởi rất thâm sâu, chúng ta cố gắng tu học và quán chiếu để hành trì, nhất là trong giai đoạn này, tự mình thương mình, tự mình giúp mình và tự mình cứu lấy mình.
./.