Nhận Diện Thân Tâm 8
Tinh Hoa Nikāya
Nhận Diện Thân Tâm 8
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thực hành ba pháp PAGEREF _Toc179571039 \h 1
II. Nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc179571040 \h 6
I. Thực hành ba pháp
Kính bạch quý thầy, trước khi chúng ta tiếp tục vào bài thì chúng ta sẽ thực tập ba pháp. Pháp thứ nhất là mắt nhìn xuống về phía trước và tầm nhìn của mình rộng mở, không trú vào một điểm. Tầm nhìn rộng mở hết mức ra hai bên, mắt nhìn xuống ra phía trước khoảng chừng 1m, không trú vào một điểm nào mà tầm nhìn rộng mở, tuyệt đối không nhắm mắt, đây là pháp thứ nhất mà Đức Thế Tôn gọi là đặt niệm trước mặt, chánh niệm trước mặt, rõ biết trước mặt.
Pháp thứ hai là cảm nhận hơi thở vào ra, cảm nhận sự động chuyển của hơi thở ở ba chỗ chóp mũi, lồng ngực và bụng, từ ba chỗ này lan tỏa sự cảm nhận cảm giác trên đỉnh đầu, cảm nhận cảm giác ở lỗ tai, cảm nhận cảm giác trên gương mặt, cảm nhận cảm giác ở đôi vai, cảm nhận cảm giác ở cánh tay, bàn tay, lòng bàn tay, cảm nhận cảm giác ở từng ngón tay, cảm nhận cảm giác ở lưng, ở bụng, ở ngực, ở mông, cảm nhận cảm giác ở chân, ngón chân, bàn chân, lòng bàn chân, cảm nhận cảm giác toàn bộ cơ thể từ đỉnh đầu cho đến gót chân. Đây Đức Thế Tôn gọi là cảm giác toàn thân, đây là pháp thứ hai, cảm giác toàn thân trong khi ngồi thiền, chúng ta cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể từ đỉnh đầu cho đến gót chân, ghi nhận toàn bộ cảm giác, đang có cảm giác gì sanh khởi trên thân.
Chúng ta bước qua pháp thứ ba là nội tâm tỉnh giác. Chúng ta để ý vào bên trong xem trong tâm đang có hình bóng gì, đang có suy nghĩ gì, đang có những cảm thọ như thế nào, tỉnh giác trong tâm thấy rõ được thọ; tưởng; hành. Đây là pháp thứ ba, gọi là nội tâm tỉnh giác, nếu có những hình bóng về dục thì tác ý đánh đuổi, diệt tận, nếu có những suy nghĩ về sân thì tác ý dập tắt, tẩy sạch, nếu có những suy nghĩ về tự ngã thì tác ý quán chiếu làm cho nó tan biến, an trú nơi cảm giác toàn thân.
Pháp thứ nhất là rõ biết trước mặt, pháp thứ hai là cảm giác toàn thân, pháp thứ ba là nội tâm tỉnh giác, đây là ba pháp thực hành trong khi ngồi thiền theo lời Đức Phật dạy trong kinh Tứ Niệm Xứ. Vừa rồi chúng ta đã thực tập ba pháp rất căn bản và quan trọng trong khi hành thiền, trước khi vào học của mỗi lớp Trung Cấp và Cao Đẳng Tăng Ni thì con đều cho thực tập khoảng vài phút, hôm nay chúng ta thực tập buổi đầu tiên về ba pháp này. Thông thường chúng ta ngồi thiền quen nhắm mắt hoặc làm tượng Đức Phật nhắm mắt là không đúng, mắt Đức Phật nhìn xuống về phía trước chứ không có nhắm, trừ khi Đức Phật nhập đại định còn khi hành thiền là không nhắm mắt.
Lý do chúng ta không được nhắm mắt vì thứ nhất tâm sẽ bị mờ tối, mình không nhận diện được mình đang ở đâu, nhất là cả ngày mệt mỏi mà tối vào ngồi thiền lại nhắm mắt rồi ngồi thở vào thở ra là ngủ gục luôn, cho nên căn cứ theo tinh thần Đức Phật dạy trong kinh Tứ Niệm Xứ và rất nhiều những bài kinh khác trong tạng kinh Nikāya thì khi nhìn xuống mà trú vào một điểm thì tưởng sẽ hoạt động. Cứ nhìn chăm chú vào nền gạch hoặc tấm thảm, nền gỗ thì sẽ tưởng ra con này con kia cho nên không nhìn vào một điểm mà tầm nhìn phải rộng mở, nhãn thức mở rộng hết mức ra phía trước, nhìn tổng thể chứ không nhìn cố định vào điểm nào.
Những cái này ban đầu thực tập rất khó vì mình đã quen nhắm mắt mà kêu mở mắt ra sẽ thấy khó nhưng khi thực tập rồi sẽ thấy khác biệt. Khi mở mắt ra mình sẽ rõ biết được cảnh trước mặt, mình biết mình đang ngồi thiền còn khi nhắm mắt thì tâm sẽ mờ tối hoặc bị lạc vào trong những cái tưởng, những hình bóng này hình bóng kia hiện ra, thứ ba là dễ bị rơi vào hôn trầm. Vì thế nhắm mắt khi ngồi thiền có ba yếu điểm, thứ nhất là rơi vào si, thứ hai là rơi vào tưởng và thứ ba là bị hôn trầm cho nên khi ngồi thiền tuyệt đối không nhắm mắt.
Ở ngoài mình đi làm có khi còn tỉnh táo hơn khi ngồi thiền vì khi làm mình còn nhận thức được mình đang làm gì, đang cầm vật gì, đang ở đâu, còn khi ngồi thiền nhắm mắt một hồi là không còn biết gì cả, đó là thiền si cho nên cái pháp thứ nhất là rõ biết trước mặt, chánh niệm trước mặt hay đặt niệm trước mặt trong kinh Tứ Niệm Xứ là cực kì quan trọng. Chúng ta cần nắm vững những điều này để khi thực hành chúng ta sẽ thấy sự khác biệt, tức là lúc đó cảnh sắc trước mặt mình sẽ được sự rõ biết soi sáng, kế đó là rõ biết thân thể mình.
Chúng ta không dừng lại ở hơi thở vì hơi thở là một pháp rất nhỏ, nếu chú tâm trong hơi thở thì tâm sẽ nhỏ hẹp nhưng bây giờ đa số lại thích trú trong hơi thở. Chúng ta cần trú trong cảm giác toàn thân, Đức Phật dùng từ "từ đảnh tóc cho đến gót chân" là tất cả những gì trên thân đều được mình cảm nhận, cảm thọ, cảm giác, như vậy thứ nhất là mình rõ được cảnh, thứ hai là mình rõ được thân căn chính mình, tất cả mọi cảm giác đều phải được ghi nhận.
Tiếp theo là đi sâu vào trong tâm, mình thấy rõ được từng hình bóng, cảm giác, suy nghĩ xuất hiện, sanh khởi như thế nào cho nên pháp thứ ba nội tâm tỉnh giác là soi rọi vào bên trong tâm. Như vậy là chúng ta rõ biết cảnh, thân, tâm hay là căn, trần, thức, lúc đó ngồi thiền là tỏa sáng cả mười tám giới chứ không phải chỉ ngồi nhắm mắt, khép miệng rồi thở vô thở ra mà không biết gì cả, ngồi như vậy rất uổng vì không thấy được cái pháp.
Khi chúng ta ngồi thì chánh niệm trước mặt, đây là chúng ta rõ cảnh. Cảm giác toàn thân là rõ thân căn. Nội tâm tỉnh giác là biết rõ được thọ; tưởng; hành, là rõ được tâm. Vậy là cả thân, tâm, cảnh khi ngồi thiền đều được rõ biết, tỏa sáng, đây là mười tám giới cho nên ngồi thiền như vậy thì tâm chúng ta sẽ tinh minh, chói sáng thì mới quán chiếu được các pháp, còn ngồi nhắm mắt là không thấy được các pháp, có khi mình quên là đang ngồi thiền luôn, những hình bóng trong tâm dẫn dắt mình hay là tâm bị lờ mờ, hôn trầm, ngồi một hồi rồi nghe kẻng xả thiền là ngủ được một giấc.
Khi ngồi thiền theo tinh thần ba pháp này thì gọi là thực hành ba pháp thì chúng ta sẽ rất năng động, làm việc liên tục trong khi ngồi thiền, có khi còn hơn cả làm việc bên ngoài. Khi ngồi rõ biết trước mặt, con mắt lúc nào cũng tỉnh táo, còn khi mắt nhướng lên xuống muốn sụp xuống là phải chiến đấu ngay, si nằm ngay con mắt nên khi bị si là phải đánh phá nó vì thế cả một thời thiền để không bị si áp đảo, xâm chiếm là cả một sự chiến đấu.
Nếu con mắt có sụp thì mình vẫn biết để chống chọi lại, mở to mắt ra, con mắt của tổ sư Bồ-đề Đạt-ma là con mắt khi ngồi thiền, dùng để trị buồn ngủ, trị si ám, trị si mê, hôn trầm, chúng ta phải quán con mắt giống như vậy, nếu cả một thời thiền từ đầu đến cuối mà chúng ta không bị con ma si ám đánh vào con mắt là chúng ta đã thành công bước đầu.
Giờ ngồi thiền không phải là giờ bình thường mà đó là giờ chiến đấu với con mắt. Không được để buồn ngủ, không cho nhắm mắt mà phải đánh cho thắng, như vậy đó là cả một công phu. Tiếp theo là chúng ta phải cảm nhận được tất cả cảm giác của cơ thể, cảm giác toàn thân, chúng ta phải rà soát như khi đi qua cửa khẩu hải quan, chẳng những rà bằng tay mà còn dùng công cụ hỗ trợ để rà toàn thân, khi có tiếng kêu là phải bỏ hết đồ ra khỏi quần áo.
Sự nhận diện cảm giác toàn thân của mình rất quan trọng vì tất cả pháp hội tụ trong cảm thọ cho nên khi rà soát như vậy mà chỗ nào khó chịu là có vấn đề, tất cả pháp hội tụ trong cảm thọ cho nên trong cảm thọ mà có gì trục trặc là có vấn đề cho nên phải rà soát cảm thọ liên tục, không những trong lúc ngồi thiền mà cả trong khi làm việc, công tác, tiếp khách, nấu cơm, giặt đồ, rửa chén… Trong tất cả mọi thời mọi khắc đều phải rà cảm giác toàn thân, kiểm tra xem nó có chứa đồ lậu không, dục có sanh khởi không, sân có an trú trong lồng ngực không, si mê có hoạt động nơi con mắt không, mình tỉnh táo rà soát, cảm nhận cảm giác toàn thân, có chỗ nào dễ chịu không, có chỗ nào khó chịu không, có chỗ nào thường thường đều đều không.
Kế đó là nội tâm tỉnh giác nghĩa là quay ngược trở vào kiểm tra thọ; tưởng; hành, xem trong đó có hình bóng của ai, đang có suy nghĩ gì, suy nghĩ về ai, suy nghĩ về món đồ gì, có cảm giác gì. Mình phải phân biệt được thọ thân và thọ tâm, cảm giác ở nơi thân và cảm giác trong tâm, mình phải quay lại xem thọ; tưởng; hành bên trong và phải tỉnh giác với nó. Đó cũng gọi là quán tâm trên tâm, có khi mình nói quán tâm nhưng tâm là gì không biết thì làm sao quán được, tâm chính là thọ; tưởng; hành; thức, là những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ và sự rõ biết bên trong.
Phải thấy rõ được sự sanh khởi, sự an trú và sự chấm dứt của nó, trong khi nó sanh khởi như vậy phải xem có dục tham, sân hận, bực bội, khó chịu trong đó không, có bản ngã sanh khởi trong đó không. Đối với những ác và bất thiện pháp cần soi gương và rửa mặt nó, chỗ nào dơ phải lau chùi, tẩy rửa cho nên pháp thứ ba nội tâm tỉnh giác là nhìn vào bên trong để chiến đấu với nó, không phải chỉ nhìn thấy nó rồi thôi mà cần phải chiếu đấu.
Lúc đầu là chiến đấu trên gương mặt, còn bây giờ là chiến đấu trong tâm, chiến đấu với những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác ở trong tâm. Vì thế ngồi thiền là lúc ra chiến trận đánh giặc chứ không phải là giờ ngồi im rồi ngủ gục chờ tới lúc xả thiền là xong, không phải ngồi tính giờ cho hết mà là chiến đấu để xử lý những vấn đề một mình mình biết, một mình mình hay.
Những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác trong tâm của mình ai có thể rõ được ngoài bản thân mình cho nên chỉ có mình chiến đấu với nó, ngoài ra cũng cần chiến đấu với cảm giác của thân. Lúc cái đầu mình thấy ngồi đau nhức, tê mỏi nhưng vẫn phải chiến đấu không bỏ chân ra, phải gồng mình chịu đựng, đó là chiến đấu với thân đau, chân tê, lưng mỏi, vậy là phải chiến đấu với con mắt, chiến đấu với thân thể và chiến đấu với những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác trong tâm, đó chính là giờ ngồi thiền của chúng ta.
Bên ngoài thấy ngồi im lặng nhưng bên trong tâm lại đang đánh giặc, đó là chiến sĩ tâm linh dù đang ngồi bất động. Giờ ngồi thiền là giờ thần thánh, giờ thiêng liêng, giờ xung trận, giờ đánh giặc tâm, giặc vô hình, giặc không nhìn thấy bằng mắt thường cho nên cần tác ý chiến đấu với con mắt, chiến đấu với thân thể và chiến đấu với những thọ; tưởng; hành của tâm, đừng để thua nó.
Có khi thấy ngồi im là tu nhưng chưa chắc, những suy nghĩ, ý niệm trong tâm mà có dục, tham, ái nhưng mình vẫn để cho nó sanh khởi thì Đức Thế Tôn gọi là kẻ hạ liệt, thấp hèn, hèn hạ. Những ý niệm dục sanh khởi rồi đi theo nó mà không trừ diệt, không đoạn tận, không tẩy sạch, ngồi đó mà những hình bóng bực bội, khó chịu lại chấp nhận, lưu giữ, tích trữ, không tẩy sạch, không đoạn tận là không hề chiến đấu gì cả, có ngồi nhưng không có thiền, ở ngoài nhìn thấy giống như tu nhưng bên trong lại không có tu chứ không phải cứ thấy ngồi là thiền, ngồi là tu.
II. Nhận diện ngũ uẩn
Tiến sâu thêm vào bên trong thì thọ; tưởng; hành rất ghê gớm, chỗ tu đi đến thâm sâu chính là thọ; tưởng; hành. Ngũ uẩn là kẻ giết người, là kẻ sát nhân, năm thủ uẩn này giết chúng sanh từ vô lượng vô biên kiếp nhưng tất cả chúng sanh hữu tình lại nắm chặt, nắm giữ nó, say mê, khao khát nó và cho rằng nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi rồi đau khổ cho nên ngồi để nhìn ra những pháp này là cả một sự chiến đấu, là cả một công phu, công trình, công lực tu tập, là cả một công đức, công lao.
Vì thế cần nhận diện ngũ uẩn thường xuyên và liên tục cả trong những bước chân, khi nói chuyện, cả trong giấc ngủ, chiêm bao, tập nhận diện những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó xem nó có tương ưng với dục, tham, ái không, xem nó có yêu thích tự thể này không, có nhận những cái đó là mình không, nó có muốn phô trương tự ngã không, có muốn hơn người không. Cần phải soi rọi những suy nghĩ đó để chiến đấu với nó, bắn nó, diệt tận đó, đó là công trình tu tập của chúng ta không phải chỉ trong giờ thiền mà trong cả mọi lúc mọi nơi.
Khi chúng ta thường nhận diện ngũ uẩn thường xuyên và liên tục thì từ từ chúng ta sẽ thành tựu một loại trí tuệ thâm sâu, tách mình ra khỏi ngũ uẩn. Mình không còn bị ngũ uẩn xâm chiếm, áp đảo mà từ từ mình sẽ làm chủ lại ngũ uẩn, đó là các bậc Thánh đức trong hàng Thánh đệ tử của Đức Phật, còn tất cả hữu tình phàm phu chúng ta dù cho hình tướng là gì đi nữa thì vẫn là nạn nhân của ngũ uẩn, nếu chưa thành tựu chánh tri kiến thì sẽ bị thân xác này, những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, nhận thức nhấn chìm, làm chủ, sai khiến và làm nô lệ cho dục tham. Chúng ta đi sâu vào trong kinh tạng Nikāya thì chúng ta sẽ thường trú trong cảm giác tàm quý, xấu hổ và một cảm giác thấp kém, hạ liệt, khi đã thật sự thấy được pháp thì mình mới thấy tâm mình là tâm ô nhiễm, tâm cấu bẩn, đầy rẫy dục, tham, ái, si mê, vô minh và bản ngã.
Còn khi chưa đi vào dòng pháp, chưa thành tựu chánh tri kiến, chưa thành tựu cái thấy biết một cách chân chánh về thân tâm thì lúc nào mình cũng nghĩ bản thân tốt đẹp rồi, giỏi giang rồi, đó là cái thấy của vô văn phàm phu, còn cái thấy của các bậc Thánh là thấy thân này là một cái nùi giẻ rách, là tấm chùi chân, thân này là một ung nhọt, là một đống khổ, năm thủ uẩn này là năm đống khổ lớn. Các ngài nhìn vào thân này chỉ thấy tủi hổ, xấu hổ, ê chề, thấy gớm ghê, nhàm chán, không ưa thích, không nắm giữ, không say mê trong này, không ham thích, không cho đó là tự ngã, các ngài nhìn thấy đây là nguyên nhân của khổ.
Hôm nay con xin trình bày và chia sẻ đến quý thầy phương pháp ngồi thiền theo tinh thần kinh Tứ Niệm Xứ trong kinh tạng Nikāya. Ba pháp này không phải chỉ khi ngồi thiền mới thực hiện mà bất cứ lúc nào, ở đâu đều thực hiện được ba pháp này, khi đi cũng thực hành ba pháp, khi đứng cũng thực hành ba pháp, khi làm việc cũng thực hành ba pháp và đây là phương pháp thực tập rất quan trọng của pháp hành kinh tạng Nikāya. Con mong rằng quý thầy nhớ thật kĩ, ghi chép thật đầy đủ và thực hành rồi sẽ thấy sự hiệu quả khác biệt rất nhiều với khi chưa thực hành.
Trước nay chúng ta đã học những trí tuệ căn bản rất quan trọng, những cái này rất quan trọng nên con mong quý thầy phải thuộc lòng duyên sanh pháp về pháp học, pháp hành, sau này sẽ đem lại lợi lạc vô cùng lớn trong con đường tu học cho tự thân mình và cho những người có duyên với mình. Mình cần thực tập duyên sanh pháp khi căn, trần, thức, xúc, thọ sanh khởi và nhất là phần nhận diện ngũ uẩn là cực kì quan trọng, nhận diện cảm thọ, mình phải biết tất cả những cái này chứ đừng để nhập cuộc chung với nó rồi dính chùm vào chung thành một cái tôi thì mình sẽ không thể tách ra khỏi nó được. Cần thường xuyên nhận diện để tháo gỡ nó ra chứ đừng để dính chùm, dính chặt vào đó, cái đó gọi là năm thủ uẩn.
Khi đã nắm vững được duyên sanh pháp thì chúng ta sẽ thấy rõ được những cái buồn giận, thương ghét trong cuộc sống này chỉ là những pháp duyên sanh thôi. Mình nghe tiếng chuông hay tiếng kêu, lời khen, lời chỉ trích cũng như nhau, khi nghe tiếng chuông có vị thì hoan hỉ, có vị thì giật mình, có vị sẽ có cảm giác khó chịu, đó là do thọ do nhĩ xúc sanh nhưng người ở ngoài cổng thiền viện không nghe tiếng chuông nhỏ này thì không khởi những cảm thọ đó.
Cho nên những cảm thọ mình có chỉ là duyên sanh pháp thôi, nếu ở ngoài giới vức mà tai có thể cảm nhận được âm thanh thì không thể nhận thức được cho nên nhận thức cũng là duyên sanh, là giới hạn, nó có giới vực vì vậy cái thức này là vô thường, là duyên sanh, cái thấy, cái nghe của mình cũng là duyên sanh, không có thật. Nhưng vì vô minh, chấp thủ của chúng sanh nên khi thấy hoặc nghe, cảm thọ cái gì đều cho là thật nên họ đau khổ.
Có chàng rể rất đàng hoàng, hiền lành trong xóm ai cũng thương, hôm nọ chàng rể này nhậu với bạn thì cha vợ không hài lòng nên có lời mắng chửi. Cậu này có nói lại vài câu thì bị cha vợ đánh vài bạt tai, sau đó người con rể đi về thì bị cha vợ chửi liên tục nên anh này nổi nóng lấy xe về nhà ba mẹ ngủ, khi dẫn xe ra thì người cha vẫn chửi, khi mở cốp xe ra thấy con dao thì người con rể này lấy dao đâm vào người cha vợ làm người cha chết tại chỗ.
Vụ án xảy ra làm cả làng xóm bàng hoàng vì người con rể này vô cùng hiền lành, thường giúp đỡ mọi người, bây giờ rượu vào lời ra, cộng thêm bị đánh nữa, dù đã ráng kiềm chế nhưng không may khi mở cốp xe lại có con dao trong đó nên xảy ra án mạng. Nếu lúc đó không có con dao trong cốp thì có xảy ra án mạng không? Nếu không mở cốp ra thì có thể không xảy ra án mạng cho nên các pháp đó là duyên sanh, xúc sanh ra thọ; tưởng; hành, tiếp xúc rồi sanh suy nghĩ "lấy dao ra xử vì cứ chửi hoài", những hình bóng, tưởng là nhào vào lấy dao đâm, những cảm giác thúc giục bên trong tâm và người này hoàn toàn bị sự nhiệt não, nóng bức, phẫn nộ xâm chiếm, áp đảo hoàn toàn, người này nghe theo những cái thọ; tưởng; hành đó rồi xảy ra chuyện đau lòng.
Tất cả đời sống này, tất cả thế gian này, tất cả địa cầu này chỉ lòng vòng trong những hình bóng, nghĩ tưởng này, lòng vòng trong tham, sân, si, ham muốn, thúc giục, tức tối, bản ngã. Chính cái này là nguồn cơn của những sự đau khổ, nước mắt và máu, sự chết chóc, hủy diệt, chiến tranh trên khắp địa cầu này. Nếu lúc đó mở cốp xe ra mà trong đó là hoa sen hoặc bức hình Quán Thế Âm Bồ-tát, nếu trong đó là pháp khí của nhà Phật sẽ có kết cục khác rất nhiều. Thánh trí ngũ uẩn sẽ giải mã tất cả những bí mật trên thế gian này, tất cả những nỗi khổ niềm đau, những tham, sân, si trên cuộc đời này sẽ được Thánh trí ngũ uẩn giải mã, không có gì là bí mật cả, kể cả những điều sâu kín nhất.
Trong câu chuyện vừa rồi có thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do ý xúc sanh cộng rồi rượu làm chất xúc tác, cho nên có rất nhiều pháp kết hợp nhau tấn công người con rể, nó bày trận trong tâm. Một người phàm phu không thể thấy biết được các pháp đang vận hành, đốt cháy, xâm chiếm và áp đảo, nó hủy hoại chính tự thân người đó và những người thân thương của người đó cho nên Thế Tôn đã nói:
"Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ" (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Nếu mình không thấy biết về ngũ uẩn, không thấy biết về duyên sanh pháp thì làm sao biết được thật sự cái gì là khổ, nguyên nhân tại sao khổ? Mình sẽ không thể thấy được tận tường./.
Nhận Diện Thân Tâm 8
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thực hành ba pháp PAGEREF _Toc179571039 \h 1
II. Nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc179571040 \h 6
I. Thực hành ba pháp
Kính bạch quý thầy, trước khi chúng ta tiếp tục vào bài thì chúng ta sẽ thực tập ba pháp. Pháp thứ nhất là mắt nhìn xuống về phía trước và tầm nhìn của mình rộng mở, không trú vào một điểm. Tầm nhìn rộng mở hết mức ra hai bên, mắt nhìn xuống ra phía trước khoảng chừng 1m, không trú vào một điểm nào mà tầm nhìn rộng mở, tuyệt đối không nhắm mắt, đây là pháp thứ nhất mà Đức Thế Tôn gọi là đặt niệm trước mặt, chánh niệm trước mặt, rõ biết trước mặt.
Pháp thứ hai là cảm nhận hơi thở vào ra, cảm nhận sự động chuyển của hơi thở ở ba chỗ chóp mũi, lồng ngực và bụng, từ ba chỗ này lan tỏa sự cảm nhận cảm giác trên đỉnh đầu, cảm nhận cảm giác ở lỗ tai, cảm nhận cảm giác trên gương mặt, cảm nhận cảm giác ở đôi vai, cảm nhận cảm giác ở cánh tay, bàn tay, lòng bàn tay, cảm nhận cảm giác ở từng ngón tay, cảm nhận cảm giác ở lưng, ở bụng, ở ngực, ở mông, cảm nhận cảm giác ở chân, ngón chân, bàn chân, lòng bàn chân, cảm nhận cảm giác toàn bộ cơ thể từ đỉnh đầu cho đến gót chân. Đây Đức Thế Tôn gọi là cảm giác toàn thân, đây là pháp thứ hai, cảm giác toàn thân trong khi ngồi thiền, chúng ta cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể từ đỉnh đầu cho đến gót chân, ghi nhận toàn bộ cảm giác, đang có cảm giác gì sanh khởi trên thân.
Chúng ta bước qua pháp thứ ba là nội tâm tỉnh giác. Chúng ta để ý vào bên trong xem trong tâm đang có hình bóng gì, đang có suy nghĩ gì, đang có những cảm thọ như thế nào, tỉnh giác trong tâm thấy rõ được thọ; tưởng; hành. Đây là pháp thứ ba, gọi là nội tâm tỉnh giác, nếu có những hình bóng về dục thì tác ý đánh đuổi, diệt tận, nếu có những suy nghĩ về sân thì tác ý dập tắt, tẩy sạch, nếu có những suy nghĩ về tự ngã thì tác ý quán chiếu làm cho nó tan biến, an trú nơi cảm giác toàn thân.
Pháp thứ nhất là rõ biết trước mặt, pháp thứ hai là cảm giác toàn thân, pháp thứ ba là nội tâm tỉnh giác, đây là ba pháp thực hành trong khi ngồi thiền theo lời Đức Phật dạy trong kinh Tứ Niệm Xứ. Vừa rồi chúng ta đã thực tập ba pháp rất căn bản và quan trọng trong khi hành thiền, trước khi vào học của mỗi lớp Trung Cấp và Cao Đẳng Tăng Ni thì con đều cho thực tập khoảng vài phút, hôm nay chúng ta thực tập buổi đầu tiên về ba pháp này. Thông thường chúng ta ngồi thiền quen nhắm mắt hoặc làm tượng Đức Phật nhắm mắt là không đúng, mắt Đức Phật nhìn xuống về phía trước chứ không có nhắm, trừ khi Đức Phật nhập đại định còn khi hành thiền là không nhắm mắt.
Lý do chúng ta không được nhắm mắt vì thứ nhất tâm sẽ bị mờ tối, mình không nhận diện được mình đang ở đâu, nhất là cả ngày mệt mỏi mà tối vào ngồi thiền lại nhắm mắt rồi ngồi thở vào thở ra là ngủ gục luôn, cho nên căn cứ theo tinh thần Đức Phật dạy trong kinh Tứ Niệm Xứ và rất nhiều những bài kinh khác trong tạng kinh Nikāya thì khi nhìn xuống mà trú vào một điểm thì tưởng sẽ hoạt động. Cứ nhìn chăm chú vào nền gạch hoặc tấm thảm, nền gỗ thì sẽ tưởng ra con này con kia cho nên không nhìn vào một điểm mà tầm nhìn phải rộng mở, nhãn thức mở rộng hết mức ra phía trước, nhìn tổng thể chứ không nhìn cố định vào điểm nào.
Những cái này ban đầu thực tập rất khó vì mình đã quen nhắm mắt mà kêu mở mắt ra sẽ thấy khó nhưng khi thực tập rồi sẽ thấy khác biệt. Khi mở mắt ra mình sẽ rõ biết được cảnh trước mặt, mình biết mình đang ngồi thiền còn khi nhắm mắt thì tâm sẽ mờ tối hoặc bị lạc vào trong những cái tưởng, những hình bóng này hình bóng kia hiện ra, thứ ba là dễ bị rơi vào hôn trầm. Vì thế nhắm mắt khi ngồi thiền có ba yếu điểm, thứ nhất là rơi vào si, thứ hai là rơi vào tưởng và thứ ba là bị hôn trầm cho nên khi ngồi thiền tuyệt đối không nhắm mắt.
Ở ngoài mình đi làm có khi còn tỉnh táo hơn khi ngồi thiền vì khi làm mình còn nhận thức được mình đang làm gì, đang cầm vật gì, đang ở đâu, còn khi ngồi thiền nhắm mắt một hồi là không còn biết gì cả, đó là thiền si cho nên cái pháp thứ nhất là rõ biết trước mặt, chánh niệm trước mặt hay đặt niệm trước mặt trong kinh Tứ Niệm Xứ là cực kì quan trọng. Chúng ta cần nắm vững những điều này để khi thực hành chúng ta sẽ thấy sự khác biệt, tức là lúc đó cảnh sắc trước mặt mình sẽ được sự rõ biết soi sáng, kế đó là rõ biết thân thể mình.
Chúng ta không dừng lại ở hơi thở vì hơi thở là một pháp rất nhỏ, nếu chú tâm trong hơi thở thì tâm sẽ nhỏ hẹp nhưng bây giờ đa số lại thích trú trong hơi thở. Chúng ta cần trú trong cảm giác toàn thân, Đức Phật dùng từ "từ đảnh tóc cho đến gót chân" là tất cả những gì trên thân đều được mình cảm nhận, cảm thọ, cảm giác, như vậy thứ nhất là mình rõ được cảnh, thứ hai là mình rõ được thân căn chính mình, tất cả mọi cảm giác đều phải được ghi nhận.
Tiếp theo là đi sâu vào trong tâm, mình thấy rõ được từng hình bóng, cảm giác, suy nghĩ xuất hiện, sanh khởi như thế nào cho nên pháp thứ ba nội tâm tỉnh giác là soi rọi vào bên trong tâm. Như vậy là chúng ta rõ biết cảnh, thân, tâm hay là căn, trần, thức, lúc đó ngồi thiền là tỏa sáng cả mười tám giới chứ không phải chỉ ngồi nhắm mắt, khép miệng rồi thở vô thở ra mà không biết gì cả, ngồi như vậy rất uổng vì không thấy được cái pháp.
Khi chúng ta ngồi thì chánh niệm trước mặt, đây là chúng ta rõ cảnh. Cảm giác toàn thân là rõ thân căn. Nội tâm tỉnh giác là biết rõ được thọ; tưởng; hành, là rõ được tâm. Vậy là cả thân, tâm, cảnh khi ngồi thiền đều được rõ biết, tỏa sáng, đây là mười tám giới cho nên ngồi thiền như vậy thì tâm chúng ta sẽ tinh minh, chói sáng thì mới quán chiếu được các pháp, còn ngồi nhắm mắt là không thấy được các pháp, có khi mình quên là đang ngồi thiền luôn, những hình bóng trong tâm dẫn dắt mình hay là tâm bị lờ mờ, hôn trầm, ngồi một hồi rồi nghe kẻng xả thiền là ngủ được một giấc.
Khi ngồi thiền theo tinh thần ba pháp này thì gọi là thực hành ba pháp thì chúng ta sẽ rất năng động, làm việc liên tục trong khi ngồi thiền, có khi còn hơn cả làm việc bên ngoài. Khi ngồi rõ biết trước mặt, con mắt lúc nào cũng tỉnh táo, còn khi mắt nhướng lên xuống muốn sụp xuống là phải chiến đấu ngay, si nằm ngay con mắt nên khi bị si là phải đánh phá nó vì thế cả một thời thiền để không bị si áp đảo, xâm chiếm là cả một sự chiến đấu.
Nếu con mắt có sụp thì mình vẫn biết để chống chọi lại, mở to mắt ra, con mắt của tổ sư Bồ-đề Đạt-ma là con mắt khi ngồi thiền, dùng để trị buồn ngủ, trị si ám, trị si mê, hôn trầm, chúng ta phải quán con mắt giống như vậy, nếu cả một thời thiền từ đầu đến cuối mà chúng ta không bị con ma si ám đánh vào con mắt là chúng ta đã thành công bước đầu.
Giờ ngồi thiền không phải là giờ bình thường mà đó là giờ chiến đấu với con mắt. Không được để buồn ngủ, không cho nhắm mắt mà phải đánh cho thắng, như vậy đó là cả một công phu. Tiếp theo là chúng ta phải cảm nhận được tất cả cảm giác của cơ thể, cảm giác toàn thân, chúng ta phải rà soát như khi đi qua cửa khẩu hải quan, chẳng những rà bằng tay mà còn dùng công cụ hỗ trợ để rà toàn thân, khi có tiếng kêu là phải bỏ hết đồ ra khỏi quần áo.
Sự nhận diện cảm giác toàn thân của mình rất quan trọng vì tất cả pháp hội tụ trong cảm thọ cho nên khi rà soát như vậy mà chỗ nào khó chịu là có vấn đề, tất cả pháp hội tụ trong cảm thọ cho nên trong cảm thọ mà có gì trục trặc là có vấn đề cho nên phải rà soát cảm thọ liên tục, không những trong lúc ngồi thiền mà cả trong khi làm việc, công tác, tiếp khách, nấu cơm, giặt đồ, rửa chén… Trong tất cả mọi thời mọi khắc đều phải rà cảm giác toàn thân, kiểm tra xem nó có chứa đồ lậu không, dục có sanh khởi không, sân có an trú trong lồng ngực không, si mê có hoạt động nơi con mắt không, mình tỉnh táo rà soát, cảm nhận cảm giác toàn thân, có chỗ nào dễ chịu không, có chỗ nào khó chịu không, có chỗ nào thường thường đều đều không.
Kế đó là nội tâm tỉnh giác nghĩa là quay ngược trở vào kiểm tra thọ; tưởng; hành, xem trong đó có hình bóng của ai, đang có suy nghĩ gì, suy nghĩ về ai, suy nghĩ về món đồ gì, có cảm giác gì. Mình phải phân biệt được thọ thân và thọ tâm, cảm giác ở nơi thân và cảm giác trong tâm, mình phải quay lại xem thọ; tưởng; hành bên trong và phải tỉnh giác với nó. Đó cũng gọi là quán tâm trên tâm, có khi mình nói quán tâm nhưng tâm là gì không biết thì làm sao quán được, tâm chính là thọ; tưởng; hành; thức, là những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ và sự rõ biết bên trong.
Phải thấy rõ được sự sanh khởi, sự an trú và sự chấm dứt của nó, trong khi nó sanh khởi như vậy phải xem có dục tham, sân hận, bực bội, khó chịu trong đó không, có bản ngã sanh khởi trong đó không. Đối với những ác và bất thiện pháp cần soi gương và rửa mặt nó, chỗ nào dơ phải lau chùi, tẩy rửa cho nên pháp thứ ba nội tâm tỉnh giác là nhìn vào bên trong để chiến đấu với nó, không phải chỉ nhìn thấy nó rồi thôi mà cần phải chiếu đấu.
Lúc đầu là chiến đấu trên gương mặt, còn bây giờ là chiến đấu trong tâm, chiến đấu với những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác ở trong tâm. Vì thế ngồi thiền là lúc ra chiến trận đánh giặc chứ không phải là giờ ngồi im rồi ngủ gục chờ tới lúc xả thiền là xong, không phải ngồi tính giờ cho hết mà là chiến đấu để xử lý những vấn đề một mình mình biết, một mình mình hay.
Những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác trong tâm của mình ai có thể rõ được ngoài bản thân mình cho nên chỉ có mình chiến đấu với nó, ngoài ra cũng cần chiến đấu với cảm giác của thân. Lúc cái đầu mình thấy ngồi đau nhức, tê mỏi nhưng vẫn phải chiến đấu không bỏ chân ra, phải gồng mình chịu đựng, đó là chiến đấu với thân đau, chân tê, lưng mỏi, vậy là phải chiến đấu với con mắt, chiến đấu với thân thể và chiến đấu với những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác trong tâm, đó chính là giờ ngồi thiền của chúng ta.
Bên ngoài thấy ngồi im lặng nhưng bên trong tâm lại đang đánh giặc, đó là chiến sĩ tâm linh dù đang ngồi bất động. Giờ ngồi thiền là giờ thần thánh, giờ thiêng liêng, giờ xung trận, giờ đánh giặc tâm, giặc vô hình, giặc không nhìn thấy bằng mắt thường cho nên cần tác ý chiến đấu với con mắt, chiến đấu với thân thể và chiến đấu với những thọ; tưởng; hành của tâm, đừng để thua nó.
Có khi thấy ngồi im là tu nhưng chưa chắc, những suy nghĩ, ý niệm trong tâm mà có dục, tham, ái nhưng mình vẫn để cho nó sanh khởi thì Đức Thế Tôn gọi là kẻ hạ liệt, thấp hèn, hèn hạ. Những ý niệm dục sanh khởi rồi đi theo nó mà không trừ diệt, không đoạn tận, không tẩy sạch, ngồi đó mà những hình bóng bực bội, khó chịu lại chấp nhận, lưu giữ, tích trữ, không tẩy sạch, không đoạn tận là không hề chiến đấu gì cả, có ngồi nhưng không có thiền, ở ngoài nhìn thấy giống như tu nhưng bên trong lại không có tu chứ không phải cứ thấy ngồi là thiền, ngồi là tu.
II. Nhận diện ngũ uẩn
Tiến sâu thêm vào bên trong thì thọ; tưởng; hành rất ghê gớm, chỗ tu đi đến thâm sâu chính là thọ; tưởng; hành. Ngũ uẩn là kẻ giết người, là kẻ sát nhân, năm thủ uẩn này giết chúng sanh từ vô lượng vô biên kiếp nhưng tất cả chúng sanh hữu tình lại nắm chặt, nắm giữ nó, say mê, khao khát nó và cho rằng nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi rồi đau khổ cho nên ngồi để nhìn ra những pháp này là cả một sự chiến đấu, là cả một công phu, công trình, công lực tu tập, là cả một công đức, công lao.
Vì thế cần nhận diện ngũ uẩn thường xuyên và liên tục cả trong những bước chân, khi nói chuyện, cả trong giấc ngủ, chiêm bao, tập nhận diện những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó xem nó có tương ưng với dục, tham, ái không, xem nó có yêu thích tự thể này không, có nhận những cái đó là mình không, nó có muốn phô trương tự ngã không, có muốn hơn người không. Cần phải soi rọi những suy nghĩ đó để chiến đấu với nó, bắn nó, diệt tận đó, đó là công trình tu tập của chúng ta không phải chỉ trong giờ thiền mà trong cả mọi lúc mọi nơi.
Khi chúng ta thường nhận diện ngũ uẩn thường xuyên và liên tục thì từ từ chúng ta sẽ thành tựu một loại trí tuệ thâm sâu, tách mình ra khỏi ngũ uẩn. Mình không còn bị ngũ uẩn xâm chiếm, áp đảo mà từ từ mình sẽ làm chủ lại ngũ uẩn, đó là các bậc Thánh đức trong hàng Thánh đệ tử của Đức Phật, còn tất cả hữu tình phàm phu chúng ta dù cho hình tướng là gì đi nữa thì vẫn là nạn nhân của ngũ uẩn, nếu chưa thành tựu chánh tri kiến thì sẽ bị thân xác này, những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, nhận thức nhấn chìm, làm chủ, sai khiến và làm nô lệ cho dục tham. Chúng ta đi sâu vào trong kinh tạng Nikāya thì chúng ta sẽ thường trú trong cảm giác tàm quý, xấu hổ và một cảm giác thấp kém, hạ liệt, khi đã thật sự thấy được pháp thì mình mới thấy tâm mình là tâm ô nhiễm, tâm cấu bẩn, đầy rẫy dục, tham, ái, si mê, vô minh và bản ngã.
Còn khi chưa đi vào dòng pháp, chưa thành tựu chánh tri kiến, chưa thành tựu cái thấy biết một cách chân chánh về thân tâm thì lúc nào mình cũng nghĩ bản thân tốt đẹp rồi, giỏi giang rồi, đó là cái thấy của vô văn phàm phu, còn cái thấy của các bậc Thánh là thấy thân này là một cái nùi giẻ rách, là tấm chùi chân, thân này là một ung nhọt, là một đống khổ, năm thủ uẩn này là năm đống khổ lớn. Các ngài nhìn vào thân này chỉ thấy tủi hổ, xấu hổ, ê chề, thấy gớm ghê, nhàm chán, không ưa thích, không nắm giữ, không say mê trong này, không ham thích, không cho đó là tự ngã, các ngài nhìn thấy đây là nguyên nhân của khổ.
Hôm nay con xin trình bày và chia sẻ đến quý thầy phương pháp ngồi thiền theo tinh thần kinh Tứ Niệm Xứ trong kinh tạng Nikāya. Ba pháp này không phải chỉ khi ngồi thiền mới thực hiện mà bất cứ lúc nào, ở đâu đều thực hiện được ba pháp này, khi đi cũng thực hành ba pháp, khi đứng cũng thực hành ba pháp, khi làm việc cũng thực hành ba pháp và đây là phương pháp thực tập rất quan trọng của pháp hành kinh tạng Nikāya. Con mong rằng quý thầy nhớ thật kĩ, ghi chép thật đầy đủ và thực hành rồi sẽ thấy sự hiệu quả khác biệt rất nhiều với khi chưa thực hành.
Trước nay chúng ta đã học những trí tuệ căn bản rất quan trọng, những cái này rất quan trọng nên con mong quý thầy phải thuộc lòng duyên sanh pháp về pháp học, pháp hành, sau này sẽ đem lại lợi lạc vô cùng lớn trong con đường tu học cho tự thân mình và cho những người có duyên với mình. Mình cần thực tập duyên sanh pháp khi căn, trần, thức, xúc, thọ sanh khởi và nhất là phần nhận diện ngũ uẩn là cực kì quan trọng, nhận diện cảm thọ, mình phải biết tất cả những cái này chứ đừng để nhập cuộc chung với nó rồi dính chùm vào chung thành một cái tôi thì mình sẽ không thể tách ra khỏi nó được. Cần thường xuyên nhận diện để tháo gỡ nó ra chứ đừng để dính chùm, dính chặt vào đó, cái đó gọi là năm thủ uẩn.
Khi đã nắm vững được duyên sanh pháp thì chúng ta sẽ thấy rõ được những cái buồn giận, thương ghét trong cuộc sống này chỉ là những pháp duyên sanh thôi. Mình nghe tiếng chuông hay tiếng kêu, lời khen, lời chỉ trích cũng như nhau, khi nghe tiếng chuông có vị thì hoan hỉ, có vị thì giật mình, có vị sẽ có cảm giác khó chịu, đó là do thọ do nhĩ xúc sanh nhưng người ở ngoài cổng thiền viện không nghe tiếng chuông nhỏ này thì không khởi những cảm thọ đó.
Cho nên những cảm thọ mình có chỉ là duyên sanh pháp thôi, nếu ở ngoài giới vức mà tai có thể cảm nhận được âm thanh thì không thể nhận thức được cho nên nhận thức cũng là duyên sanh, là giới hạn, nó có giới vực vì vậy cái thức này là vô thường, là duyên sanh, cái thấy, cái nghe của mình cũng là duyên sanh, không có thật. Nhưng vì vô minh, chấp thủ của chúng sanh nên khi thấy hoặc nghe, cảm thọ cái gì đều cho là thật nên họ đau khổ.
Có chàng rể rất đàng hoàng, hiền lành trong xóm ai cũng thương, hôm nọ chàng rể này nhậu với bạn thì cha vợ không hài lòng nên có lời mắng chửi. Cậu này có nói lại vài câu thì bị cha vợ đánh vài bạt tai, sau đó người con rể đi về thì bị cha vợ chửi liên tục nên anh này nổi nóng lấy xe về nhà ba mẹ ngủ, khi dẫn xe ra thì người cha vẫn chửi, khi mở cốp xe ra thấy con dao thì người con rể này lấy dao đâm vào người cha vợ làm người cha chết tại chỗ.
Vụ án xảy ra làm cả làng xóm bàng hoàng vì người con rể này vô cùng hiền lành, thường giúp đỡ mọi người, bây giờ rượu vào lời ra, cộng thêm bị đánh nữa, dù đã ráng kiềm chế nhưng không may khi mở cốp xe lại có con dao trong đó nên xảy ra án mạng. Nếu lúc đó không có con dao trong cốp thì có xảy ra án mạng không? Nếu không mở cốp ra thì có thể không xảy ra án mạng cho nên các pháp đó là duyên sanh, xúc sanh ra thọ; tưởng; hành, tiếp xúc rồi sanh suy nghĩ "lấy dao ra xử vì cứ chửi hoài", những hình bóng, tưởng là nhào vào lấy dao đâm, những cảm giác thúc giục bên trong tâm và người này hoàn toàn bị sự nhiệt não, nóng bức, phẫn nộ xâm chiếm, áp đảo hoàn toàn, người này nghe theo những cái thọ; tưởng; hành đó rồi xảy ra chuyện đau lòng.
Tất cả đời sống này, tất cả thế gian này, tất cả địa cầu này chỉ lòng vòng trong những hình bóng, nghĩ tưởng này, lòng vòng trong tham, sân, si, ham muốn, thúc giục, tức tối, bản ngã. Chính cái này là nguồn cơn của những sự đau khổ, nước mắt và máu, sự chết chóc, hủy diệt, chiến tranh trên khắp địa cầu này. Nếu lúc đó mở cốp xe ra mà trong đó là hoa sen hoặc bức hình Quán Thế Âm Bồ-tát, nếu trong đó là pháp khí của nhà Phật sẽ có kết cục khác rất nhiều. Thánh trí ngũ uẩn sẽ giải mã tất cả những bí mật trên thế gian này, tất cả những nỗi khổ niềm đau, những tham, sân, si trên cuộc đời này sẽ được Thánh trí ngũ uẩn giải mã, không có gì là bí mật cả, kể cả những điều sâu kín nhất.
Trong câu chuyện vừa rồi có thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do ý xúc sanh cộng rồi rượu làm chất xúc tác, cho nên có rất nhiều pháp kết hợp nhau tấn công người con rể, nó bày trận trong tâm. Một người phàm phu không thể thấy biết được các pháp đang vận hành, đốt cháy, xâm chiếm và áp đảo, nó hủy hoại chính tự thân người đó và những người thân thương của người đó cho nên Thế Tôn đã nói:
"Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ" (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Nếu mình không thấy biết về ngũ uẩn, không thấy biết về duyên sanh pháp thì làm sao biết được thật sự cái gì là khổ, nguyên nhân tại sao khổ? Mình sẽ không thể thấy được tận tường./.