Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Vạn Linh Pháp Thoại 3 -Thánh Đạo Tối Thượng

2026-03-03 00:54:51
THÁNH ĐẠO TỐI THƯỢNG

Thích Minh Thành

Mình học Phật có ba pháp: Pháp học; pháp hành; pháp thành. Mình nghe xong rồi để đó không hành thì học hoài không bao giờ có thể tốt nghiệp được. Sau khi nghe thì mình phải suy nghĩ, phải nghiền ngẫm, phát xét nét, Đức Phật gọi là tư sát. Tư là suy tư, tư duy, sát là quán sát những điều đã nghe, đã học. Phiền não trong nhà cứ buồn thương, giận ghét hoài thì mọi người mới thoát ra để lên Núi Cấm – chùa Vạn Linh, hiện tại quý vị đang thoát ra khỏi căn nhà nhỏ, bây giở chỉ còn thoát khỏi căn nhà phiền não bên trong nữa là thành tựu. Lâu lâu mình có buồn người ngủ kế bên ngáy to quá không? Lâu lâu có phiền khi tới giờ ngủ mà nói chuyện hoài không? Đó là mình chưa thoát khỏi căn nhà phiền não đó, ngay lúc đó mình lo nhiếp tâm mình chứ không lo giận đối tượng kia thì lúc đó mới là người tu giỏi, còn người tu mà suốt ngày nhìn thấy người khác sai là người tu dở, tu giỏi là lúc nào cũng thấy tâm mình dở quá, yếu quá, chỉ mới tiếng ngáy mà không chịu nổi rồi mai đây tiếng chửi thì làm sao chịu nổi, mới tiếng nói thôi đã không chịu nổi rồi sau này sanh tử, bệnh tật đến thì làm sao bình an, mình quán chiếu như vậy gọi là Như lý tác ý, tức là xét nét theo chánh pháp. Trên con đường tu tập thì Như lý tác ý này quyết định tất cả, tức là cái suy xét đúng chánh pháp, đúng lẽ thật sẽ dẫn cái tâm của mình, còn đại đa số là nghĩ sai, gọi là tà tư duy. Mình nghĩ sai cho nên cái tâm mình bị phiền não, nghĩ đúng sẽ không có phiền não. Hồi xưa mình ở nhà thấy vợ chồng gây gổ, có khi đánh lộn, bao nhiêu những chuyện không vui xảy ra trong cuộc sống, thậm chí những người xung quanh đối xử không tốt nên phát tâm xuất gia đi tu. Mọi người nghĩ khi đi tu như vậy là do những người kia có lỗi quá nên mình mới đi hay là mình phải cám ơn họ vì nhờ có họ nên mình mới đi tu? Giống như bàn tay úp ngửa, nhìn theo cái thường tình thì trách móc người ta, nếu nhìn bằng chánh tư duy, suy nghĩ theo chánh pháp thì mình cảm ơn họ, nhờ những người đó mà hôm nay mình ngồi trong chùa. Nhờ thấy những cảnh khổ đó nên mới chán ngán, nên sự suy tư rất quan trọng.

Hôm nay chúng ta sẽ đi trên con đường mà tất cả bậc hiền thánh của chư Phật đã đi, con đường đó được gọi là thánh đạo hoặc là Phật đạo, trong câu hồi hướng của chúng ta có đoạn "nguyện đem công đức này…. trọn thành Phật đạo", từ Phật đạo từ trong đây mà ra. Phật đạo hay thánh đạo đều là Bát Chánh Đạo, vì tất cả chư Phật phải đi qua con đường này mới thành Phật, tất cả chư vị Bồ tát và tất cả hiền thánh Tăng đều phải đi trên con đường này. Đi sai đường gọi là tà đạo, chánh đạo là đi đúng đường. Mình đi đúng theo con đường chánh đạo thì sẽ đến đúng chỗ. Con đường này là con đường mà những bậc tiên hiền cổ thánh đã đi qua, con đường mà các đức Như Lai trong quá khứ, hiện tại và tương lai đã đi qua. Vì vậy tu pháp môn nào thì tu, dù là niệm Phật, trì trú, tụng kinh hay ngồi thiền thì cũng phải đi con đường này mới thành công, cho nên chánh kiến rất quan trọng chứ không phải niệm Phật là đủ. Thất tình hay bị mất trộm hay li dị chồng cũng kêu niệm Phật là không đúng, khi niệm Phật phải có sự hiểu biết, phải có trí huệ. Hòa Thượng đạo sư của chúng ta ngoài việc niệm Phật, ngài còn dịch kinh, lãnh đạo giáo hội, kiến lập đạo tràng… cho nên mình phải hiểu chính xác về con đường thực tập tu hành của mình, còn nếu hiểu sai thì mình đi không đúng nên không đạt được kết quả rốt ráo trọn vẹn. Trong kinh Đức Phật ví dụ có một người đi sâu vào rừng thì thấy một con đường mòn, một lối mòn bị bỏ hoang. Khi người này men theo con đường này bỗng nhiên phát hiện ra một cung điện, trong đó có hồ nước, có thành trì, có hoàng cung cổ xưa vĩ đại vô cùng đẹp. Hoàng thành này bị lãng quên từ rất lâu, khi phát hiện ra thì người này trở về nói cho vua hay, nói cho người dân biết. Người này chính là Đức Phật, gọi là con đường cổ xưa, bất cứ ai muốn đến ngôi thành trì này phải đi qua con đường này, không thể có con đường nào khác. Cuốn sách Đường Xưa Mây Trắng của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh chính là lấy ý tưởng trong bài kinh này, như vậy ngôi thành trì đó chính là thành trì Niết-bàn, thành trì của sự giác ngộ, muốn đi qua con đường đó thì phải qua tám phương pháp này, gọi là Bát Chánh Đạo (Bát Thánh Đạo) là con đường Tám Đúng, tám phương pháp chân chánh, đúng đắn để giúp mình đạt được mục tiêu cứu chánh giác ngộ giải thoát.

Này Subhadda, năm hai mươi chín,

Ta xuất gia hướng tìm chân thiện đạo.

Trải năm mươi năm với thêm một năm

Từ khi xuất gia, này Subhadda,

Ta là du sĩ tu Trí, tu Ðức.

(Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Thứ nhất là thấy đúng (chánh kiến), thấy chính xác. Cái thấy đúng này không phải là cái thấy đúng của người bình thường mà là sự thấy đúng của bậc thánh nhân, bậc Chánh Đẳng Giác, của Như Lai, Thế Tôn. Đức Phật tuyên bố ngoài Bát Chánh Đạo ra không có thánh quả thứ nhất, không có thánh quả thứ hai, không có thánh quả thứ ba, không có thánh quả thứ tư.

Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Thánh đạo, thời ở đây không có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng không có đệ nhị Sa-môn, cũng không có đệ tam Sa-môn, cũng không có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda trong pháp luật nào có Bát Thánh đạo, thời ở đây có đệ nhất Sa-môn, cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, ở đấy cũng có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda, chính trong pháp luật này có Bát Thánh Ðạo, thời này Subhadda, ở đây có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, cũng có đệ tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn.

Này Subhadda, nếu những vị Tỳ-kheo này sống chơn chánh, thời đời này không vắng những vị A-la-hán (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Ngoài Bát Thánh Đạo ra không có thánh quả vì không đi trên con đường này thì làm gì đến được thành trì đó, cho nên có thánh đạo mới có thánh quả, không có thánh đạo thì không có thánh quả, không có con đường đó thì làm sao đến được thành trì, không đi trên đạo lộ thì làm sao đến hoàng cung đó. Vì vậy cái thấy đúng ở đây không phải là cái thấy đúng bình thường, Bát Thánh Đạo là phương pháp, con đường mà Như Lai, Chánh Đẳng Giác đã đi qua, mà Như Lai, Chánh Đẳng Giác chính là Bổn sư Thích-ca Mâu-ni của chúng ta. Mọi người có biết Phật Thích-ca Mâu-ni tu bao nhiêu lâu mới thành Phật không? Quý vị có biết Phật tu bao lâu mới phát hiện ra Bát Thánh Đạo này không? Ngài phải trải qua 4 đại A-tăng kì và 100 ngàn đại kiếp. Mọi người có kiếp một tiểu kiếp là bao lâu không? Chính là đem hết 5 non 7 núi Thất Sơn ở đây nghiền thành cát bụi, 100 năm lấy một hạt bụi ra mới thành một tiểu kiếp. Gấp 20 lần kiếp nhỏ đó mới gọi là kiếp trung, gấp 20 lần kiếp trung mới là đại kiếp, mà 100 ngàn lần như vậy là con số không thể đo đếm được. Có người nghĩ tu đơn giản thôi chứ cái này khó tu lắm thì đây là vô minh thậm tệ, cho nên tu hoài không là thành công là vậy, Đức Phật trải qua khoảng thời gian không thể đếm, không thể dùng con số để diễn tả mới thành bậc toàn giác, không biết dùng bao nhiêu con số 0 mới tính ra một A-tăng kì, mà Phật trải qua 4 đại A-tăng kì và 100 ngàn đại kiếp thì Đức Phật mới phát hiện ra Bát Thánh Đạo này, mình lạy cha mẹ có ba lạy thôi, một là lúc đi xuất gia, hai là lúc xuất giá, ba là lên bàn thờ còn mình lạy Phật là lạy hoài mà không hết ân đức vì Phật phát minh ra một điều mà khắp tam thiên đại thiên thế giới này không ai thấy được, cho nên mình mới quy y pháp là tối thượng, vì vậy mà Phật – pháp – tăng là vô thượng phước điền, ruộng phước vô thượng của tam giới, mình càng hiểu Phật và càng thấu được pháp thì lòng tu đúng sẽ đi đến cùng cực. Mình không hiểu Phật nên cứ nghĩ Phật như vị thần linh nên cầu xin cho hết bệnh, cầu cho có tiền, cầu cho làm ăn được… Nhiều khi vào cúng có nải chuối, thắp có nén nhang mà vào cầu có câu có kệ, có dây có nhợ, nhất là ngoài miền Bắc là thuộc làu làu mà Minh Thành nghe còn phải thấy nể, tu mấy chục năm nhưng không biết cầu nhiều. Phải nhớ Đức Phật là người chỉ cho mình con đường và mình phải đi đúng con đường đó thì mình sẽ đến nơi. Mình tin là tin vào con đường này và làm theo chứ không phải tin theo kiểu mê tín, đây là chỗ quan trọng. Minh Thành nhấn mạnh lần nữa thấy đúng ở đây là cái thấy của bậc thánh nhân chứ không phải cái thấy đúng của người thường, còn mình đem cái thấy đúng bình thường nói là sai hết, không có đúng gì hết. "Thưa thầy con thấy đó là cái chuông mà", không đúng, "thưa thầy đó là cái ly", không đúng, tất cả những cái đó chỉ là sắc pháp, là tứ đại không hơn không kém, cái nhà 100 tầng với một cái nhà lá xập xệ đều là sắc pháp, cho dù mình là người xuất gia nhưng còn yêu thích sắc pháp thì vẫn còn luân hồi sanh tử dài dài, không thể khác được. Phải thấy cho rõ đó là sắc pháp, đây là thánh tri kiến xuất thế gian. Trong chánh tri kiến chia làm hai loại: Chánh kiến hữu lậu và chánh kiến vô lậu.

Chánh kiến hữu lậu là cái hiểu biết thiện ác, tội phước, nhân quả, nghiệp báo. Đây là cái thấy đúng thông thường của phước báo người trời. Chánh kiến này nhiều người đời có như sợ cái đó vì có tội, cái này làm phước, cái kia là ác, cái này là thiện, nhân quả nghiệp báo phải chú trọng.

Hôm qua đến nay không có cái gì là Minh Thành nói mà Minh Thành chỉ lập lại cái pháp mà Đức Phật đã dạy thôi chứ bản thân Minh Thành không thể tự nói pháp được, chỗ này quý vị phải hiểu cho rõ. Bậc Chánh Đẳng Giác mới có đủ khả năng diễn nói diệu pháp, mình là những người đệ tử thì phải học theo cái đó rồi y theo đó thực hành mới có kết quả, mình không thể nói "con nghĩ" mà là "con nghe trong kinh", phải nói lại y theo trong kinh thì tu tập mới thành tựu theo Đức Phật dạy.

Chánh kiến vô lậu xuất thế: Tự thân này mà cho nó là mình, là tôi, là của tôi thì đây là vô minh, còn khi thấy rõ thân tâm này là năm uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Đầu tiên phải thành tựu được trí năm uẩn, thứ hai phải biết từ đâu năm uẩn sanh, thứ ba phải biết từ đâu năm uẩn diệt, thứ tư phải biết con đường chấm dứt sự tiếp nối luân hồi của năm uẩn. Đây là tứ thánh trí về năm uẩn cũng là bốn thánh trí trong Tứ Diệu Đế. Thứ nhất phải biết năm uẩn là gì, thứ hai năm uẩn sanh, thứ ba năm uẩn diệt, thứ tư là năm uẩn diệt đạo tức là con đường chấm dứt luân hồi sanh tử của năm uẩn. Đây gọi là chánh tri kiến xuất thế gian vì chánh tri kiến hữu lậu là mình còn tiếp tục đầu tư vào năm uẩn để tiếp tục luân hồi. Ví dụ khi làm từ thiện hay có làm gì tốt lành thì mình đều nghĩ mình làm cho mình, làm cái này phước lắm để mình hưởng, cái đó là đang đầu tư cho sắc uẩn trong tương lai. Đây là chỗ cực kì thâm sâu của chánh tri kiến xuất thế gian, chính là mình phải thấy tự thân, tự tâm mình là năm uẩn chứ không phải mình, đây mới là trí huệ chân chánh của Đức Thế Tôn, điều Đức Thế Tôn muốn nói chính là nói cái pháp này, phải thấy rõ sắc là sắc, cảm giác chỉ là cảm giác, tưởng là những hình bóng trong nội tâm chỉ là tưởng, những suy nghĩ là suy nghĩ chứ không phải mình nghĩ, sự rõ biết là rõ biết. Năm nhóm này nhập lại mới thành nắm tay, mở ra thì thành năm nhóm riêng lẻ, như vậy thấy rõ năm uẩn là năm uẩn chứ không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi thì cái thấy này mới đúng chánh tri kiến, thấy đúng theo trí huệ thâm sâu của Phật giáo và cái thấy này đưa mình ra khỏi luân hồi, chấm dứt sanh tử. Minh Thành chỉ mới nói đến sắc uẩn, nhưng tu kĩ thì bao nhiêu đó cũng đủ cho mọi người chấm dứt tham sân si, thoát khỏi luân hồi.

Hôm nay Minh Thành sẽ giới thiệu về thọ uẩn, là cảm giác. Chiều nào mọi người cũng lên chánh điện tụng "chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách", khi trở ra cởi bỏ áo tràng thì mình đọc là "áo tràng tức thị không, không tức áo tràng, áo tràng chẳng khác không", mình phải đọc lên chứ cởi bỏ áo tràng rồi mình thấy áo tràng là thật thứ không thấy áo tràng là không, lúc đó là tức thị có chứ không phải là tức thị không, cho nên đọc Tâm kinh Bát Nhã thì phải thực hành, khi có trí huệ của Phật rồi mình sẽ thấy rất tuyệt vời, đây mới là lối tắt trong lối tắt. Đức Phật nói có ba loại cảm giác: Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không khó chịu không dễ chịu.

Này các Tỳ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba?

Lạc thọ,

Khổ thọ,

Bất khổ bất lạc thọ.

Ðây, này các Tỳ-kheo, là ba thọ. (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, 1. I. Thiền Ðịnh)

Cảm giác dễ chịu là vui sướng, thích thú. Cảm giác khó chịu là khổ. Cảm giác không dễ chịu không khó chịu là không vui không khổ. Các Phật tử thường nói tu là đoạn diệt tam độc tham sân si nhưng có ai biết tham sân si ở đâu không? Đức Phật dạy mình phải trú trong cảm giác toàn thân, tức là mình phải thường xuyên nhìn lại cảm giác của mình xem lúc đó mình có cảm giác gì trong ba loại cảm giác đã nói ở trên. Khi mình nổi nóng lên thì lúc đó cảm giác của mình ra sao? Đầu tiên là nóng lên chỗ lồng ngực, mình kết hợp quán cái đó là hỏa đại, lửa trong người hực lên gò má làm mặt đỏ, mắt đỏ, tai đỏ, miệng thì giựt lên sau đó phát ra lời nói, nếu không khéo là phát ra những lời nói độc địa như dao găm, mũi tên… Đức Phật ví dụ tâm sân giống như con rắn.

Này các Tỳ-kheo, có bốn loại rắn. Thế nào là bốn?

Loại rắn có nọc độc, nhưng không ác độc;

Loại ác độc nhưng không nọc độc;

Loại có nọc độc và ác độc;

Loại không có nọc độc, không có ác độc.

Này các Tỳ-kheo, có bốn loại rắn độc này.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, có bốn hạng người được ví dụ với các loại rắn này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?

Hạng người có nọc độc nhưng không ác độc;

Hạng người ác độc nhưng không nọc độc;

Hạng người có nọc độc, có ác độc;

Hạng người không có nọc độc, không có ác độc. (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XI. Phẩm Mây Mưa, (X) (110) Các Con Rắn)

Khi cảm giác của mình bị biến động thì lúc đó mình sẽ thấy sân sanh khởi nếu mình thường quán chiếu cảm giác, còn không thì mình chỉ biết lúc đó mình đang giận, đang tức chứ không biết đó chỉ là cảm giác, như vậy mình đang chấp nhận cảm giác đó là mình, lúc đó mình đang vô minh. Chính vì đang vô minh, si mê nên mới nhận cái sân đó là mình, rồi mình chấp nhận, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển rộng lớn ra có thể đốt cháy hết tất cả. Cho nên sự tu tập để nhận diện được cảm giác này là quan trọng cực kì, nếu ai không nhìn lại cảm giác thì người đó không nhiếp phục được phiền não vì tham sân si trú trong cảm giác, căn cứ địa của phiền não chính là cảm giác. Khi tham lên thì có cảm giác không muốn rời xa, bịn rịn, lưu luyến, người đã đi xa nhưng vẫn đứng ngóng theo, thích món đồ đó mà không có tiền mua thì cứ đứng nhìn không muốn đi, lúc đó mình phải nhìn cảm giác trong thân tâm bị biến động. Khi si sanh khởi thì lúc đó người đờ đẫn, tụng kinh niệm Phật một lúc mà buồn ngủ thì lúc đó mình bị hôn trầm, si mê, vô minh. Những cái này trú trong cảm giác, khi nó xuất hiện là phải nhận ra nó rồi nhiếp phục, trị nó chứ không để nó xâm chiến thân tâm, lúc đó phải quán chiếu "già bệnh tới nơi rồi còn lo ngủ", "ngủ 60 năm rồi còn chưa đã hay sao?". Phép quán này gọi là Như lý tác ý, mình la mắng, quở trách chính mình vì cảm giác chỉ là một pháp chứ nó không phải là mình. Tại vì mình vô minh, si mê nên mình ngộ nhận cảm giác là mình nên từ đó mình mới khổ, Đức Phật dùng từ 'ngũ thủ uẩn', mình chết ngay chữ thủ. Thủ là nắm chặt, bám chặt vào đó, cho nó là mình. Sắc thủ uẩn là mình nắm chặt vào sắc, cho mấy chục kí lô này là tôi, hôm nay được khen trẻ đẹp thì thấy mừng, còn bị chê là buồn tủi, không muốn gặp người đó nữa, mình bám chặt vào cái sắc này cho đây là tôi nên ai nói hay làm gì đụng đến thân này là mình bực mình, tức tối lên. Vấn đề ở đây là do mình không có chánh tri kiến nên mình không biết đây chỉ là sắc thôi chứ không phải mình. Quý vị thực tập cái này là quý vị đang đi trên con đường của thánh đạo vì phàm phu suốt đời cũng chưa từng nghe chánh pháp, chưa từng được biết chánh pháp là gì, mình phải tập tách ra khỏi sắc uẩn từ từ để sắc uẩn chỉ là sắc uẩn chứ không phải là mình, cho nên trong kinh Pháp Cú đã nói:

Con tôi, tài sản tôi,

Người ngu sanh ưu não,

Tự ta, ta không có,

Con đâu, tài sản đâu.

(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 62)

Một khi quán chiếu được điều này thì sẽ thấy an lạc, nhẹ nhàng, thảnh thơi, bước một bước sẽ vào tịnh độ cực lạc trong bất kì chỗ nào. Còn khi bám chặt vào thọ thủ uẩn, sắc thủ uẩn là phựt lửa liền, đụng vào là sân hận bùng phát. Tin tức thời sự đưa tin mỗi ngày đều có đánh nhau, chém nhau, cướp giật… nuôi dưỡng sự sân hận này không những làm khổ mình mà còn khổ gia đình, khổ xã hội chứ không được lợi ích gì. Khi mình nổi sân lên là mình khổ trước, khó chịu trước, người hứng cơn sân của mình cũng không được khỏe, mình khổ thì người kia não, người xung quanh bị dính hơi độc của mình. Mình phải quán chiếu sự nguy hiển và tác hại của cơn giận thì mới nhiếp phục được nó, còn bây giờ mình cứ nghĩ tôi đang giận, tôi đang thương, tôi đang ghét thì làm sao mình thoát khỏi nó, vô tình mình lại đồng hóa mình và cảm giác làm một, chính vì lý do này mà suốt đời mình cứ đi tìm cảm giác rồi khổ đau với nó. Khi đói bụng có cảm giác khó chịu đến khi ăn vào thì cảm giác khó chịu đó mất đi mà thay vào đó là cảm giác thỏa mãn, đây là lý do mình hay nói cảm giác vô thường, nó thay đổi, biến động liên tục chứ không phải như vậy hoài mà mình cứ tưởng cảm giác đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi rồi mình nắm chặt vào cảm giác nên mình khổ. Khi có cảm giác bực mình thì mình hãy quán chiếu "hôm nay mình có cảm giác bực mình, cảm giác này vô thường". Ví dụ mình thích nấu nướng, mọi người ăn ngon là mình no luôn, còn dư chút ít mình ăn cũng được. Mình vào bếp nấu 3-4 tiếng, vừa nóng nực do lửa rồi làm mệt mà mình không thấy bực mình vì mình thích. Còn mình không thích mà bắt mình vào nấu, làm cực, rồi nóng nực và bực mình nữa thì cuối cùng cãi nhau, cự lộn. Trong cảm giác dễ chịu có tham trú ẩn, khi nghe ai khen mình tu hay, tu giỏi là mình có cảm giác lâng lâng, khoan khoái, mình thích thú nên có tham trong đó, mình thọ cảm giác đó, tiếp nhận cảm giác đó, trở về ngồi thiền mà nhớ lại lời khen đó rồi tự cười một mình, nếu tại thời điểm đó vừa thiền vừa cười mà cảm xúc mạnh là có nguy cơ bị ảnh hưởng tâm lý. Cho nên những người có vấn đề thần kinh là do họ sống với những cái tưởng, những cái thọ, những cái hành trong nội tâm quá nhiều mà họ không làm chủ được nó. Trong cảm giác dễ chịu có tham trú ẩn, trong cảm giác khó chịu có sân trú ẩn, không cảm giác không khó chịu không dễ chịu có si trú ẩn, cho nên không tu tập trí huệ để quán chiếu ngũ uẩn, quán chiếu vô thường, khổ, vô ngã để lìa tham, không học bảy cách quán mà Phật đã dạy, không thường trực nhìn thấy sự thật của sắc thân, của cảm giác này thì mọi người sẽ bị dính mắc với tham sân si trong ba loại cảm giác này, và mình chấp nhận cảm giác đó là mình thì mình sẽ không bao giờ hết khổ, vì mình đã nhận giặc làm con, nhận kẻ thù làm bạn thì nó sẽ phá banh hết tất cả. Vì thế cảm giác là pháp duyên sanh, nó sanh diệt liên tục, mình đang buồn mà có ai chọc cười là mình cười lên, mới khóc đó rồi lại cười đó, hết chuyện cười rồi buồn lại. Đó là mình chạy theo cảm giác mà cảm giác này là duyên sanh pháp, nó không có thật nhưng mình nhận cảm giác này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, vì thế đây là sự lầm to, và chính điều này mà mình khổ không có ngày dừng lại. Khi lễ Phật mình phải thấy rõ được cảm giác ngay lúc đó chứ không phải mình niệm trong trạng thái si mê, vô minh, phải sáng tỏ lên, phải biết mình đang có cảm giác gì, phải tỉnh táo và trí huệ phải sáng suốt. Thọ sanh, thọ diệt và thọ diệt đạo, vị ngọt của thọ, sự nguy hại của thọ và sự xuất ly của thọ. Bảy trí về thọ này trong năm uẩn giống y như nhau, chỉ cần nắm một cái thôi thì tất cả còn lại đều giống nhau.

Làm sao để thọ sanh? Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi, tức là do có sự tiếp xúc nên mới phát sanh ra cảm giác, khi mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý tiếp xúc sẽ sanh ra 6 loại cảm giác.

Có ba thọ này, này Ananda, lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Ananda, đây gọi là các thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, 15. V. Thuộc Sở Hữu)

Khi mình nghe lời khen là thọ do nhĩ xúc sanh, tức là cảm giác do có tiếng nói, do có lỗ tai, do có sự rõ biết âm thanh, ba cái căn – trần – thức giao thoa với nhau tạo thành sự tiếp xúc, từ sự tiếp xúc này sanh ra cảm giác và mình dễ dàng rơi vào ba loại cảm giác đã nói ở trên. Cho nên khi niệm Phật phải có chánh niệm tỉnh giác xem hiện tại trong tâm có tham không, nếu có tham phải dùng tưởng vô thường, tưởng khổ, tưởng bất tịnh, tưởng chín lỗ chảy ra những thứ dơ bẩn, tưởng chín giai đoạn của một tử thi để trị nó. Còn khi có sân thì Phật nói mình phải tập cái tâm cảm thông, tâm từ bi, tập mở rộng tình thương thương mình, thương người ta để trị cái sân. Còn khi có si thì tự mình tập tinh tấn, mãnh liệt, mạnh mẽ, không để cho trì trệ để chìm vào chỗ lờ mờ, không tỉnh táo. Khi mình phá được tham sân si ngay khi ngồi thiền, niệm Phật thì trí huệ được sáng tỏ thì lúc đó quý vị đang thành tựu trí tuệ của Phật pháp là niệm – định – tuệ. Chứ không phải ngồi đó niệm rồi đờ dẫn, nửa tỉnh nửa mê, ngồi một tiếng mà hơn 30 phút là bị vọng tưởng, còn lại 25 phút là hôn trầm, 5 phút cuối cùng là si, lờ mờ vậy mà tính là mình tu được một tiếng. Phải phá được tham sân si trong lúc niệm Phật hoặc ngồi thiền, trí huệ phải sáng tỏ thấy rõ bản chất thực sự của tứ đại, của sắc uẩn, thấy rõ những cảm giác vô thường thì cái niệm Phật này mới tính được. Cố Hòa Thượng đạo sư của chúng ta niệm Phật trên tinh thần của Bát Chánh Đạo.

Khi tiếp xúc thì thọ mới tập khởi, còn khi không tiếp xúc thì thọ không sanh. Mình mở tivi xem phim tình cảm thì mới sanh cảm giác, còn tắt tivi đi thì làm gì có cảm giác chạy theo những cảm phim đó. Khi đi ra chợ có cảm giác khác, còn đi vào chùa thì cảm giác khác, lên trước bàn Phật tụng kinh có cảm giác khác cho nên khi tiếp xúc sẽ phát sanh ra cảm giác.

Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Con đường Thánh đạo Tám ngành là con đường đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến... chánh định. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, 15. V. Thuộc Sở Hữu)

Nếu mình lựa chọn tiếp xúc với thiện pháp, tiếp xúc với trí huệ, tiếp xúc với giáo pháp thì cái thọ sẽ phát sanh theo chiều thánh thiện, trí huệ, còn khi mình tiếp xúc với cái xấu, bất thiện thì cái thọ sẽ phát triển theo chiều ô nhiễm. Cho nên mình về chùa tu để tiếp xúc với cái tịnh, mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý lúc nào cũng tiếp xúc với thanh tịnh, ba nghiệp được thanh tịnh thì mình sẽ về cõi tịnh, còn mình tiếp xúc với cái nhiễm thì mình ở trong cõi nhiễm, chỉ có lìa cái nhiễm mới đắc tịnh.

Do duyên thọ khởi lên lạc hỷ nào, đấy là vị ngọt của thọ. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, 15. V. Thuộc Sở Hữu)

Tức là ở trong cảm giác đó mà mình yêu thích, thích thú thì chỗ đó gọi là vị ngọt của cảm giác. Từ nhỏ đến lớn mình chết với vị ngọt này vô số lần mà mình cứ đi tìm cảm giác mãi thôi. Sở dĩ mình không giữ giới được do đi tìm cảm giác, không ăn chay được do bị cảm giác của lưỡi lôi kéo, mình không làm chủ được cái lưỡi do không biết cảm giác là vô thường, "thưa thầy, một tháng con ăn chay có hai ngày: Ngày rằm với ngày 29 hoặc 30 mà có khi con còn quên, ăn có nửa buổi sáng chiều quên lại ăn mặn nên con ăn mặn luôn". Tại sao lại có trộm cướp? Tại sao lại tà dâm? Tại sao lại nói dối? Tại sao uống rượu? Tất cả những cái này đều chạy theo cảm giác, cho nên giới của Đức Phật giúp cho mình bình an, hạnh phúc, để làm chủ được cảm giác, bình thường mình làm chủ được cảm giác thì đến lúc chuẩn bị lâm chung mình mới có được chánh niệm hiện thiền. Bình thường mình không có định, không có chánh niệm, không làm chủ được cảm giác thì lúc ra đi sẽ đau đớn cùng cực. Mọi người nhìn thấy ngoài đời những người bệnh ung thư thời kì cuối hay những cảnh nằm bán thân bất toại, đi tiêu tiểu một chỗ, đau đớn quằn quại thì làm sao mình chịu nổi những cảm giác này nếu bình thường mình không chịu quán chiếu, không chịu tu tập? Cho nên trí huệ thâm sâu của Đức Phật dạy mình lúc còn trẻ, còn khỏe, còn minh mẫn mà không chịu tu thì đến lúc đó làm sao tu được nữa.

Sự vô thường, khổ, biến hoại của thọ là sự nguy hiểm của thọ. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, 15. V. Thuộc Sở Hữu)

Sự nguy hại của cảm giác nó là vô thường, nó là khổ, chịu sự biến hoại. Vị ngọt của nó chỉ có một chút xíu nhưng cái nguy hiểm và tác hại của nó là không thể lường được. Những đứa trẻ mê game mà bây giờ cái mê game này chính thức trở thành một chứng bệnh. Mê đến độ ngồi từ ngày này qua ngày kia, thậm chí không ăn không ngủ, cái đó chỉ là cảm giác, bị đắm chìm trong vòng xoáy cảm giác không đi ra được. Bây giờ là thuốc phiện, cỏ Mỹ, những chất này đều khống chế cảm giác của mình cho nên tu là để có trí huệ, có chánh niệm để tách cảm giác ra, để cảm giác chỉ là cảm giác chứ nó không phải là mình, hiện tại mình có cảm giác vui thì biết là đang có cảm giác vui, có cảm giác khổ thì biết là có cảm giác khổ, có cảm giác không vui không khổ thì biết là đang có cảm giác không vui không khổ và cảm giác đó không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải là tự ngã của tôi, cảm giác chỉ là cảm giác. Đó là mọi người đang đi trong thánh đạo, thánh trí để chuẩn bị đến thánh quả. Mọi người hãy thực tập chứ đừng nghĩ là khó, các ngài thực tập 100% thì thành thánh, thành Phật, còn mình thực tập chỉ có 50% thì mình thành tiên, mình được tấm thân thanh tịnh, còn giờ mình cứ nghĩ khó quá không làm thì suốt đời là phàm phu, làm ăn bây giờ khó quá nên khỏi làm rồi khỏi ăn luôn hay sao? Có ngành nghề nào trên thế gian này mà khỏe không? Không có gì trên đời này mà dễ dàng, chỉ việc tham dự một khóa tu cũng là cả một vấn đề, phải sắp xếp nhà cửa, công việc, con cái, rồi đi xe lên chùa, vào đây lại ăn không được, ngủ không quen, phải thức khuya dậy sớm, ăn chay rát ruột cạo đầu thì rát da…Giờ này ở nhà nằm võng, uống café, xem ti vi sung sướng vậy mà vào đây phải ngồi ngay thẳng nghe pháp, tê mỏi cũng không dám nhúc nhích, sợ bị rầy nên ráng kiềm lại. Mình phải chiến đấu với cảm giác như vậy đó, mình tu tập là tu ngay chỗ cảm giác này còn mình buông thả cảm giác là không có tu, phải kiểm soát và nhìn thấy rõ bản chất của cảm giác là vô thường, là khổ, là chịu sự biến hoại. Khổ là sự bất toại nguyện, cảm giác này không bao giờ thỏa mãn được, một người vô gia cư lang thang ngoài đường có khổ không? Một người có nhà che vài tấm tôn có khổ không? Quý vị có nhà tường có khổ không? Ông giàu nhất Việt Nam này có khổ không? Rồi ông giàu nhất thế giới có khổ không, có phải lo nghĩ nhiều không? Cái tâm tham của mình không bao giờ được thỏa mãn, chính cái này làm cho mình khổ chứ không phải vật chất bên ngoài là khổ mình. Không có chánh tri kiến nên nhìn sai, từ đó đi tìm sai địa chỉ, đi tìm cực lạc mà cứ sai hướng đi tìm cực khổ. Cực lạc là phải xả bỏ, phải thấy rõ bản chất là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại nên buông xả nó thì mới thành tựu, cái miệng nói tìm cực lạc còn hành vi, cuộc sống tâm ý lại hướng vào dục lạc thì làm sao thành tựu? Cái pháp không tương ưng khế hợp nên tu không thành tựu, chỗ này cực kì thâm sâu của trí huệ Phật pháp, phải thấy được chỗ này mới thành tựu chánh tri kiến, mới thể nhập được thánh trí vào dòng pháp, chính thức bước vào bốn đôi tám chúng, là đệ tử hiền thánh Tăng của Phật.

Sự nhiếp phục dục và tham (chandaràga) đối với thọ, sự đoạn tận dục và tham là sự xuất ly của thọ. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, 15. V. Thuộc Sở Hữu)

Mình không còn ham muốn những cảm giác đó nữa, mình nhiếp phục từ từ. Đương nhiên khi ăn ngon thì biết đồ ngon chứ không phải mình là khúc cây không biết gì hết, có ăn cũng được mà không có thì thôi chứ không đòi hỏi, đây là chỗ mình tu chứ không phải tu là trở thành khúc cây, sỏi đá. Khi Đức Phật bước vào hoàng cung của vua Ba-tư-nặc, vua đã hơn 70 tuổi mà lạy dưới chân của Phật, nâng cái chân của Phật để trên trán vua. Phật ngồi trên ghế bằng vàng nạm ngọc, ăn sơn hào hải vị mà tâm không bị tham đắm trong đó, có lúc Phật không có gì ăn chỉ có uống nước, có lần Phật ăn lúa để cho ngựa ăn gọi là mã mạch suốt ba tháng trời mà tâm Đức Phật không có khổ, như vậy Đức Phật vẫn có cảm giác nhưng trong cảm giác đó không khởi lên tham sân si theo cảm giác đó, cũng như quý vị ngồi đây tê chân nhưng vì pháp thì "thôi cũng kệ, ráng tu đi chứ gần chết rồi còn lo gì nữa". Mọi người có chánh tư duy, có Như lý tác ý đúng thì tự nhiên cái khổ không ảnh hưởng nhiều đến quý vị, có nhiều người kêu ngồi một chút là lắc đầu "tôi bệnh, đau lắm ngồi không được đâu", ngồi xem cải lương hay hài kịch thì được chứ ngồi nghe pháp thì từ chối, ngồi xe mấy tiếng đi chơi thì được còn ngồi nghe pháp thì nào là bệnh, nào là ngồi không nổi, rồi là tê nhức. Tất cả chỉ là cảm giác, phải nhiếp phục dục và tham trong cảm giác, phải đoạn tận dục và tham trong cảm giác thì sẽ giải thoát. Thấy được tham trong cảm giác thì nhiếp phục từ từ, lúc đầu mình thua nó nhưng từ từ rồi mình sẽ làm được, khi đã làm được thì bước vào hiền thánh, còn đánh nó mà toàn thắng là trở thành A-la-hán, vô sanh, chấm dứt hết sanh tử phiền não.

Bài pháp hôm nay nhắc lại con đường Đức Phật đã đi, con đường xưa mà các bậc hiền thánh đã đi, con đường này ngày nay chúng ta đang đi và những chúng sanh sau này tu tập sẽ đi. Con đường đó dẫn tới thành trì Niết-bàn, đưa đến bến bờ giác ngộ của giải thoát, con đường đó giúp mình thấy được chính xác bằng trí tuệ, thấy đúng, nghĩ đúng, sống đúng, nói đúng, thiền đúng, làm đúng, quán đúng, định đúng. Con đường đó là con đường tuyệt vời vi diệu mà Đức Phật vô lượng kiếp mới cống hiến cho mình. Mong rằng tất cả quý vị hãy đi trên con đường xưa mây trắng mà Đức Phật đã đi, đừng đi đường nay mây đen mà chúng sanh đã khổ.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.