Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

làm sao chấm dứt luân hồi.docx (2)

2026-03-03 00:54:51
LÀM SAO CHẤM DỨT LUÂN HỒI?

-Thích Minh Thành-

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Dục tầm cầu PAGEREF _Toc72917699 \h 1

II.Sân tầm cầu PAGEREF _Toc72917700 \h 4

III.Hại tầm cầu PAGEREF _Toc72917701 \h 6

IV.Xuất ly tầm cầu, vô sân tầm cầu và bất hại tầm cầu PAGEREF _Toc72917702 \h 8

V.Đặt tâm đúng hướng PAGEREF _Toc72917703 \h 11

Dục tầm cầu

Tựa đề nói gọn là "Mau diệt tưởng bất chánh mong dứt hết lậu hoặc". Bài học hôm nay nằm trong Tương Ưng Bộ Kinh, tập 2, trang 263, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm thứ hai, bài kinh “Có Nhân”. Nếu nói đủ thì tựa đề dài lắm "Hãy mau chóng đoạn diệt tưởng bất chánh". Cho nên, nói ngắn gọn là "Mau diệt tưởng bất chánh". Đây là phần thứ nhất.

Trú ở Sàvatthi.

Này các Tỷ-kheo, có nhân, dục tầm sanh khởi, không phải không nhân. Có nhân, sân tầm sanh khởi, không phải không nhân. Có nhân, hại tầm sanh khởi, không phải không nhân.

Giải thích cho dễ hiểu, câu này có nghĩa là tâm mình hướng tới sự tham dục – dục tầm là đều có nguyên do. Tâm sanh khởi lên sự hướng tới dục là có nguyên do, có lý do, không phải là không có nguyên do. Tại vì mình không chánh niệm tỉnh giác, không biết định, tuệ nên mình không biết nguyên do đó. Tâm hướng tới sự nóng giận, sự sân hận; hướng tới sự hại người, hại vật là có nguyên do, không phải không có nguyên do. Như vậy, thế nào là nguyên do?

Do duyên dục giới, dục tưởng sanh khởi.

Do duyên dục tưởng, dục tư duy sanh khởi.

Do duyên dục tư duy, dục dục sanh khởi.

Do duyên dục dục, dục nhiệt tình sanh khởi.

Do duyên dục nhiệt tình, dục tầm cầu sanh khởi.

Này các Tỷ-kheo, do tầm cầu dục tầm cầu, kẻ vô văn phàm phu thực hành tà hạnh theo ba xứ: thân, ngữ, ý.

"Do duyên dục giới, dục tưởng sanh khởi". Cái này có nguyên nhân sâu xa, hôm qua chúng ta học, tâm mình duyên với cõi dục, với thế giới dục, với quốc độ của dục vọng, cho nên, trong kinh có một pháp môn tu là “Tưởng nhàm chán đối với tất cả thế giới”. Sau này học kỹ Tam giới mình sẽ biết dục giới, sắc giới, vô sắc giới có gì. Nói gọn, tưởng nhàm chán với tất cả thế giới là mình không có duyên với dục giới. Tất cả những cái tưởng của mình là tưởng những cái đã thấy, đã nghe, đã ngửi, nếm, xúc, biết, chứ không thể tưởng một cái mà mình không biết. Như vậy, dục tưởng này sanh là do nó duyên nơi dục giới – thế giới của dục. Nó ham muốn những cái trong cuộc đời này, trong thế gian này. Do duyên vào đó nên dục tưởng sanh khởi.

"Do duyên dục tưởng nên dục tư duy sanh khởi". Tưởng là những hình bóng. Tâm mình hiện lên những hình bóng, những âm thanh, những hình sắc của tham dục. Do nó duyên vào những hình bóng, những tham dục đó nên dục tư duy sanh khởi. Dục tư duy là hành uẩn, còn hình bóng lúc nãy là tưởng uẩn. Chúng ta thấy rất rõ, cứ có tưởng thì hành đi theo nên dục tư duy sanh khởi, lúc đó suy nghĩ hết cái này đến cái kia, có những lời nói thì thầm liên hệ đến dục.

"Do duyên dục tư duy nên dục dục sanh khởi". Tức là cái dục này chồng lên cái dục kia. Tâm không dừng lại chỗ muốn đó, lúc đầu thì thích tiếp xúc, thích gặp gỡ, sau đó dục dục tăng thêm, nó muốn cái này, rồi muốn thêm cái kia, muốn tiếp xúc nhiều. Ban đầu chỉ gặp, rồi ăn uống, đi chơi, nói chuyện như ngoài đời, rồi tới xúc chạm, đụng chạm. Đi vào cái xúc, rồi dục dục sanh khởi. Tu quán chiếu điều này tuyệt vời lắm, đây là sự vận hành của dục ái, bậc Chánh Đẳng Giác mới thấy được cái này, chứ chúng ta đâu thấy tâm mình.

Dục dục sanh khởi là muốn cái này rồi muốn cái kia, muốn cái kia rồi muốn cái kia nữa, bình phương lên, nó tăng thêm, chồng chất lên thêm, giống như là khổ khổ. Nào là dục ăn uống, dục ngủ nghỉ, dục tiếng khen, dục về tiền, về sắc,... từ dục này qua dục kia, qua dục nọ. Chỉ riêng ai dục thôi là khổ vô cùng. Một cái dục thôi thì chúng sanh khổ như vậy rồi, đừng nói chi đến những dục khác. Nói cho đủ là có sáu dục, sáu tham muốn: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Yêu thích sắc; yêu thích âm thanh; yêu thích mùi; yêu thích vị; yêu thích xúc chạm; yêu thích những suy tưởng, suy tư, cảm giác, cảm thọ – pháp. Vì yêu thích nên chúng ta mới có suy nghĩ, không chịu bỏ. Mình nghĩ "làm sao mà tôi yêu thích suy nghĩ được", nhưng yêu thích thì mới suy nghĩ, cho nên có pháp ái. Pháp bao gồm thọ, tưởng, hành, thức. Thọ, tưởng, hành vận động là có những cảm giác, hình bóng, những suy nghĩ, nhận thức. Mình có yêu thích nhận thức, suy nghĩ của mình không? Nói gọn là tham, ái, trong hành dắt dẫn thì dục tư duy sanh khởi. Dục tư duy sanh khởi thì dục dục sanh khởi, nghĩ ngợi về điều đó không ra được.

"Duyên dục dục nên dục nhiệt tình sanh khởi". “Nhiệt tình” là nóng bức, mạnh mẽ, lao tới, đẩy mình tới. Có người nhiệt tình, hăng hái lắm nhưng là hăng hái dục. Nhiệt là nồng nhiệt, cuồng nhiệt, mạnh mẽ, thậm chí điên cuồng ở trong đó, không ra được. Tất cả chúng sanh đều bị điều này, quay cuồng trong đó. Dục thôi là mệt rồi, lại còn thêm những thứ hỗ trợ, uống thuốc vô nên không dừng lại được. Có câu "lực bất tòng tâm", sức bao nhiêu đó mà tâm muốn hơn nữa, nên cái dục không bao giờ thỏa mãn. Đức Phật nói các pháp không thỏa mãn, gồm: ăn uống không thỏa mãn, ngủ nghỉ không thỏa mãn và dâm dục không bao giờ thỏa mãn. Những pháp đó là pháp không bao giờ thỏa mãn. Cho nên, càng chạy theo dục nhiệt tình thì mình càng điên cuồng, quay cuồng ở trong đó.

Nhất là trong thế giới hiện đại bây giờ, nhìn thực trạng thấy khủng khiếp lắm. Có những người rất đẹp, nổi tiếng nhưng vẫn chưa chịu, vẫn phẫu thuật thẩm mỹ, trở về không dám gặp ai nữa. Dù đã đẹp, được nhiều người ngưỡng mộ nhưng vẫn không chịu, đi phẫu thuật dao kéo, muốn đẹp hơn nữa. Chính điều đó đi đến cái khổ. Có những người địa vị quyền thế, nhưng họ vẫn không hài lòng điều đó, họ muốn nữa, muốn thêm nữa, muốn kéo dài ra, nắm chặt hơn nữa. Đó là dục nhiệt tình, cái dục này rộng lắm. Sự tham tiền tới mức độ nào là đỉnh? Câu trả lời là không có đỉnh, không có đáy. Tham sắc tới mức độ nào là đỉnh? Các ông vua ngày xưa, tam cung lục viện, hàng trăm hàng ngàn thể nữ, cung nữ... cũng không thấy thỏa mãn. Trong vòng luân hồi này, những điều đó chính chúng ta đã biết bao lần đã đi qua nhưng mình cũng không thỏa mãn, cứ khao khát ở bên trong, ở đây, mình dùng từ khát ái.

Cho nên, "Do duyên dục nhiệt tình nên dục tầm cầu sanh khởi". Tầm cầu là tìm kiếm. Do bên trong khao khát, nóng bỏng, cuồng nhiệt, quay cuồng nên nó đi tìm hoài, không chịu ngừng. Chưa có nên tìm thì không nói làm gì, có khi có rồi nhưng vẫn tìm thêm. Như vậy, có thêm rồi cũng muốn tìm thêm nữa thì đó là dục tìm cầu, dục tầm cầu sanh khởi nên cứ tìm kiếm hoài. Không chỉ gười trong đạo, người ngoài đời cũng phải quán chiếu. Có những người lo làm ăn vì nghèo khổ, muốn kiếm thêm thì không nói gì, nhưng kể cả những người lành lạc, giàu có, lớn tuổi, lên tới hàng 70 cũng không buông ra được, cứ muốn mở rộng, muốn làm nữa. Dục tầm cầu, mong muốn bên trong đẩy chúng ta phải đi tìm kiếm.

"Do tầm cầu dục tầm cầu, kẻ vô danh phàm phu thực hành tà hạnh theo ba nơi: thân, miệng, ý". “Tầm cầu dục tầm cầu” tức là mình tìm cầu sự ham muốn tìm cầu. Cái này chồng chất lên cái kia, cái kia chồng chất lên cái nọ. Tìm cầu ham muốn sự tìm cầu, tìm cầu chưa đủ mà nó tăng thêm một cái tìm cầu cái để tìm cầu nữa. Chẳng hạn, ăn tất cả nhà hàng nổi tiếng ở nhà hàng Sài Gòn thôi chưa đủ, còn muốn ăn thêm ở ngoài Hà Nội, tìm thêm các nhà hàng ngon, ra nước ngoài, qua Hàn Quốc, qua Mỹ, Nhật ăn. Như vậy, kẻ vô văn phàm phu, kẻ không học Chánh Pháp sẽ thực hành tà hạnh, những hành động sai quấy, không chân chánh từ nơi thân, miệng, ý. Ý là tà tư duy; lời nói là tà ngữ; hành động là tà nghiệp – chúng không đi vào chân chánh, vì động lực của nó là dục, là sự tham muốn.

Sân tầm cầu

Sân cũng vậy, tâm hướng về sự sân hận, nóng giận là "Do duyên sân giới, sân tưởng sanh khởi." Tức là tâm mình duyên theo phạm vi của dục, cõi giới của dục. Những cái gì thuộc về dục thì gọi là dục giới, tâm mình chỉ duyên theo mấy đối tượng dục đó, không ra khỏi phạm vi, giới vực, cõi giới đó. Giống như trong giới doanh nhân, giới trí thức, giới học giả.., chữ "giới" này là như vậy, chứ không phải rộng giống như mình nói về Tam giới.

"Do duyên sân giới sân tưởng sanh khởi. Do duyên sân tưởng sân tư duy sanh khởi." Tâm mình duyên vào những phạm vi, giới vực, cõi giới của sân, của nóng giận thì lúc đó sân tưởng sẽ sanh khởi. Tâm duyên theo, liên hệ, bám víu, vin theo những cái sân hận, giận bực. Khi duyên theo những cái đó thì sân tưởng sân khởi, những hình bóng sân hiện ra. Những hình bóng về sân hiện ra thì tư duy, suy nghĩ về sân xuất hiện. Những tư duy, suy nghĩ về sân sanh khởi lên thì sao?

"Do duyên sân tư duy nên sân dục sanh khởi". Khi đó, mình muốn biểu hiện cái sân ra, muốn nói ra, muốn làm. Cho nên, chữ ái dục trong Phật giáo là gồm cả tham, sân, si, không phải ái dục chỉ có tham thôi. Chữ ái dục bao gồm cả tham, sân, si. Tại vì trong sân có tham, có dục ở trong đó, còn lúc mình nóng giận, mình có muốn nói ra không? Khi đó, dục rất mạnh, nó thúc đẩy bên trong phải nói ra để biểu hiện cái sân, phải làm cho đã cái nư. Do duyên những giới vực về sân hận thì những tư tưởng sân khởi lên, những tưởng sân khởi lên thì những suy nghĩ về sân xuất hiện. Khi những suy nghĩ về sân xuất hiện thì sự ham muốn về sân hận có mặt. Suy nghĩ rồi thúc đẩy cho cái sân biểu hiện ra. Sân dục là sự ham muốn về sân hận.

"Do duyên sân tư duy nên sân dục sanh khởi". Khi đó sẽ suy nghĩ "bực quá, tức quá, bây giờ phải làm sao mới được". Cho nên phải học bài này thật kỹ để trị tâm bệnh của mình. Đây gọi là “Hãy mau chóng đoạn diệt tưởng bất chánh” và đây là những tư tưởng bất chánh.

“Do duyên sân dục (tức là do duyên sự ham muốn về sân) nên sân nhiệt tình sanh khởi”. Ham muốn về sân thì đương nhiên phải nhiệt tình. Như người ham ăn, rất nhiệt tình gắp, nhiệt tình lùa, nhiệt tình húp. Người ham muốn đi chơi thì lúc đi chơi họ rất nhiệt tình, sân cũng giống vậy. Cho nên, do duyên vào tâm ham muốn về sân nên sân nhiệt tình sanh khởi, nóng bỏng, đốt cháy. Tâm cuồng nhiệt ở trong sân, điên cuồng trong sân... lúc đó nó vận hành siêu tốc. Mình nói chậm vậy nhưng cái tâm vận hành rất nhanh. Lúc đó, thọ, tưởng, hành, thức của người này như thế nào? Có cảm giác khó chịu, khổ thọ. Sân sanh khởi lên, những hình bóng trong tâm hiện ra để thực hiện cái sân. Những suy nghĩ nói thầm, thúc đẩy bên trong. Cái thức lúc đó chỉ rõ biết những cảm giác sân, những hình bóng, những suy nghĩ sân... và nó thúc đẩy sân nhiệt tình.

"Do duyên sân nhiệt tình nên sân tầm cầu sanh khởi". Sân tầm cầu là sự tìm cầu mọi cái để sân. Khi nhiệt tình thì sẽ tìm kiếm, moi móc, ghét người đó thì nhìn thấy chỗ nào cũng ghét. Đi cũng ghét, đứng, nói chuyện thấy cũng ghét, ăn cũng thấy ghét. Sân tầm cầu là sự tìm kiếm về sân hận. Ngồi lại, moi móc những gì từ trước giờ, nhớ ra, tổng kết hết, rồi hận nhau, có khi sống chung với nhau, khi ly dị, thậm chí giết hại lẫn nhau, đó là sân tầm cầu sanh khởi.

"Này các Tỷ-kheo, do tầm cầu sân tầm cầu, kẻ vô văn phàm phu thực hành tà hạnh theo ba xứ: thân, ngữ, ý". Bên ngoài chúng ta tìm chỗ để kiếm tiền, tâm tìm chỗ để sân hận, chỗ này rất là thâm sâu. Cái sân này là cái hại, từ sân đưa đến hại.

Hại tầm cầu

Sân khác, nóng giận khác, bực bội khác, mà hại lại là khác, hại chính là ác tâm. “Này các Tỷ-kheo, do duyên hại giới, hại tưởng sanh khởi... hại tư duy... hại dục... hại nhiệt tình... hại tầm cầu sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, do tầm cầu hại tầm cầu, kẻ vô văn phàm phu thực hành tà hạnh theo ba xứ: thân, ngữ, ý”.

Lúc duyên vào hại giới thì hại tưởng sanh. Khi quán chiếu lại tư tưởng, mình thấy ghê gớm hại tưởng. Cái hại tưởng này sanh là làm hại người ta. Trong cuộc đời, ngay cả những bậc tu hành, thậm chí những bậc Thánh tăng, cho đến Đức Thế Tôn mà vẫn còn bị hại. Nhân quả, nghiệp báo rất đáng sợ.

Khi Đề Bà Đạt Đa xin Đức Phật giao Tăng đoàn cho ông lãnh đạo, Đức Thế Tôn nói: "Tăng đoàn của ta, ngay cả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên ta còn chưa giao, làm sao ta giao Tăng đoàn cho ông." Từ lúc đó về sau, ông ấy duyên với hại giới, sanh lên hại tưởng, hại tư duy, hại dục, hại nhiệt tình, hại tầm cầu. Hết việc này đến việc khác, ông ấy tìm cách hại Đức Phật, xô đá lăn xuống khiến Đức Phật chảy máu chân; cho voi dữ uống rượu say để hại Đức Phật; các ngoại đạo cho một cô gái đi tới lui chùa và giết cô chôn trong chùa, vu khống cho Đức Phật; cho một cô gái độn bụng bầu hại Phật... Tất cả những thứ đó là từ chỗ hại giới gồm: hại tưởng, hại tư duy, những suy nghĩ, những ham muốn về hại, nhiệt tình trong cái hại, rồi tầm cầu, tìm kiếm mọi cái để hại. Cuối cùng là tầm cầu hại tầm cầu, đi tìm kiếm những sự hãm hại, ác hại. Cho nên, cuối cùng biểu hiện ra lời nói, hành động, rồi nghiệp quả phải chịu là Đề Bà Đạt Đa phải bị đọa địa ngục.

Khi đó Ngài Xá Lợi Phất đang ngồi, Mục Kiền Liên từ xa đi tới, nhìn thấy Dạ xoa và Phi nhân. Phi nhân nói: “ta muốn đấm đầu cái ông Sa-môn đầu trọc đó”, vị kia nói đừng có đấm. Phi Nhân nói: “không, ta nhứt định ta muốn đấm”, vị này ngăn cản không được. Phi Nhân đấm lên đầu ngài Xá Lợi Phất. Sau đó vị này bỏ đi, ngài Mục Kiền Liên đi tới, thấy sự việc đó, hỏi: “sư huynh có sao không, thấy khỏe không?”. Ngài Xá Lợi Phất nói: “ta khỏe, không có gì hết, chỉ cái đầu hơi ê ê thôi”. Lúc đó Ngài Xá Lợi Phất nhập diệt thọ, tưởng, định, cú đấm đó trong kinh nói là núi Tu-di cũng vỡ và Dạ xoa bị đọa trong địa ngục ngay lập tức.

Cho nên, khi duyên hại giới, hại tưởng, hại tư duy, hại dục, hại nhiệt tình, hại tầm cầu phát sanh trong tâm, mình phải thấy được để mau chóng đoạn diệt tưởng bất chánh.

Ví như, này các Tỷ-kheo, có người ném bó đuốc bằng cỏ cháy đỏ vào một rừng cỏ khô. Nếu người ấy không dập tắt gấp với tay và chân; như vậy, này các Tỷ-kheo, các sanh loại sống nương vào cỏ và củi sẽ gặp bất hạnh và tai họa.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Sa-môn hay Bà-lamôn nào, đối với tưởng bất chánh khởi lên, không gấp từ bỏ, nhiếp phục, chấm dứt, tiêu diệt; vị ấy ngay trong hiện tại trú trong đau khổ, với phiền lao, với sầu não, với nhiệt não; và sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào ác thú.

Ví dụ rất rõ, ném bó đuốc cháy đỏ vào một rừng cây khô, cỏ khô, nếu không dập tắt gấp bằng tay hay bằng chân thì những loài sống nương vào cỏ và củi sẽ gặp bất hạnh và tai họa, sẽ lan ra và cháy hết. Cũng vậy, người tu nào đối với tư tưởng bất chánh khởi lên mà không gấp từ bỏ, nhiếp phục, chấm dứt, tiêu diệt thì vị đó ngay trong hiện tại sẽ ở trong đau khổ, phiền não, đau khổ, sầu não, nhiệt não.

Những tư tưởng vừa nói, cái tham, sân, hại khởi lên thì đương nhiên là trú ở trong đau khổ, sầu não, nóng bức, sân hận.., chỉ muốn hại người ta, lúc đó làm sao mình mát mẻ được. Vì vậy, ngay hiện tại là khổ đau và sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào ác thú, đường ác.

Xuất ly tầm cầu, vô sân tầm cầu và bất hại tầm cầu

Này các Tỷ-kheo, có nhân, xuất ly tầm sanh khởi, không phải không nhân. Có nhân, vô sân tầm sanh khởi, không phải không nhân. Có nhân, bất hại tầm sanh khởi, không phải không nhân.

Có lý do để sanh khởi ra tâm thoát ra, chứ không phải ngồi không nghĩ gì hết mà được. Có nguyên do, có lý do làm sanh khởi cái tâm đi ra khỏi. Có nguyên do, có lý do làm cho tâm hướng về chỗ không nóng giận, không sân hận. Có nhân làm cho tâm hướng về sự bất hại, không muốn hại ai.

Nhân đó là gì? "Này các Tỷ-kheo, do duyên xuất ly giới, xuất ly tưởng sanh khởi." Xuất ly là tâm mình duyên tới sự đi ra khỏi, xa lìa nó, đừng ở trong đó, muốn đi ra, không muốn ở trong đó nữa; thoát, vượt ra, giải thoát và đi ra khỏi, không ở trong nó nữa. Mình duyên với sự xuất ly đó thì những tưởng xuất ly sẽ sanh khởi. Tưởng muốn thoát ra sanh khởi thì những suy nghĩ xuất ly sanh khởi.

Do duyên xuất ly giới, xuất ly tưởng sanh khởi.

Do duyên xuất ly tưởng, xuất ly tư duy sanh khởi.

Do duyên xuất ly tư duy, xuất ly dục (chanda) sanh khởi.

Do duyên xuất ly dục, xuất ly nhiệt tình sanh khởi.

Do duyên xuất ly nhiệt tình, xuất ly tầm cầu sanh khởi.

Này các Tỷ-kheo, do tầm cầu xuất ly tầm cầu, vị Đa văn Thánh đệ tử thực hành chánh hạnh theo ba xứ: thân, ngữ, ý.

Chúng ta đang học hạnh viễn ly, hạnh xuất ly, con đường xuất ly; sự nguy hiểm của tham, của dục, vị ngọt của dục và sự xuất ly khỏi dục. Do duyên sự xuất ly giới nên có ra những tưởng xuất ly, suy nghĩ về ra khỏi, từ đó mình sẽ có sự mong muốn ra khỏi, như vậy, mình có sự nhiệt tình ra khỏi. Tức là khi mong muốn, tâm mình nhiệt tình, nóng bỏng, mạnh mẽ lên để ra khỏi, chứ không phải nhiệt tình, nóng bỏng để đi vào. Đây là chiều hướng của tâm: một hướng là đi vào; còn một hướng là đi ra, hướng ra, thoát ra. Cho nên, giáo pháp của đạo Phật mới gọi là pháp giải thoát, con đường giải thoát, con đường chấm dứt khổ đau.

"Do duyên xuất ly nhiệt tình, xuất ly tầm cầu sanh khởi". Do nhiệt tình, nồng nhiệt, mạnh mẽ, hăng hái, tinh tấn, nhiệt tâm, tinh cần, nỗ lực, gắng sức thì sẽ xuất ly tầm cầu. Sự nhiệt tình đó sẽ làm mình tìm cầu sự đi ra khỏi. Mình nhiệt tình, muốn ra thì sẽ tìm đủ mọi cách để ra. Ví dụ, nếu bị nhốt trong một căn phòng, mình sẽ nói: "thôi kệ, ở đây cũng được"; hoặc "không muốn bị nhốt, muốn thoát ra thôi". Khi muốn mạnh lên, mình sẽ cạy cửa, đập, đào tường, khoét vách, đào hầm... tìm mọi cách để đi ra, cái đó gọi là “Do duyên xuất ly nhiệt tình nên xuất ly tầm cầu sanh khởi”.

Nhờ nhiệt tình với sự đi ra đó, mình sẽ tìm kiếm mọi cách để đi ra. "Các vị Đa văn Thánh đệ tử thực hành chánh hạnh, có ba chỗ thân, miệng ý". Khi mình tìm cách đi ra thì tự nhiên thân, miệng, ý của mình cũng tìm cách đi ra, chứ không tìm cách đi vô, không nghĩ là đi vào hay ở đó nữa; làm mọi cách để được đi ra khỏi cái dục đó; nghĩ, nói, làm như thế nào để đi ra khỏi cái dục đó.

Do duyên vô sân giới nên vô sân tưởng sanh khởi, vô sân tư duy sân khởi vô sân dục , vô sân nhiệt tình, vô sân tầm cầu. Do tầm cầu vô sân tầm cầu cho nên vị Đa văn Thánh đệ tử thực hành chánh hạnh ở thân, miệng, ý.

Lúc nãy là đi vào sân, bây giờ ngược lại là không sân, không giận, do duyên vào chỗ không giận đó nên cái tưởng không giận sanh khởi. Do mình duyên vô những cái tưởng không giận nên những tư duy, những suy nghĩ về không giận xuất hiện. Suy nghĩ về những tư tưởng không giận thì sanh khởi tâm mong muốn không sân giận. Do duyên sự mong muốn không sân giận nên tâm nhiệt tình đối với sự không sân hận sanh khởi. Do duyên vô sân nhiệt tình, vô sân tầm cầu sanh khởi, nên mình nhiệt tình đối với sự không sân hận, vì mình biết sân hận là khổ đau, thì sự tìm cầu đến vô sân sanh khởi. Mình không muốn sân một cách mạnh mẽ, không muốn nóng giận, muốn chấm dứt, mình sẽ tìm mọi cách để không sân giận.

Cho nên phải Như Lý Tác Ý, quán chiếu, làm mọi cách để nhận ra cảm thọ, cảm giác sân hận, cảm giác khó chịu. Bằng mọi cách, nhận ra tham, dục sanh khởi, nhiệt tình thì mình tầm cầu, tìm cách dập tắt, đi ra khỏi nó. Mình "tầm cầu vô sân tầm cầu", là đi tìm cái tìm không sân, tìm sự đi kiếm cái chỗ không sân. Lúc nãy là tìm, đi kiếm tìm, bây giờ là mình tìm, nhưng là tìm sự không đeo đuổi, đam mê theo cái tìm đó nữa. Đi tìm cái chỗ để tham, ở trong tâm đã tham rồi, lại đi tìm chỗ để tham thêm, để phát huy cái tham. Bây giờ, mình phải đi tìm cái chỗ không có tham, không có sân, không có hại... mình hướng tâm đi tìm chỗ đó.

Này các Tỷ-kheo, do duyên bất hại giới, bất hại tưởng sanh khởi. Do duyên bất hại tưởng, bất hại tư duy sanh khởi. Do duyên bất hại tư duy, bất hại dục sanh khởi. Do duyên bất hại dục, bất hại nhiệt tình sanh khởi. Do duyên bất hại nhiệt tình, bất hại tầm cầu sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, do duyên tầm cầu bất hại tầm cầu, vị Đa văn Thánh đệ tử thực hành chánh hạnh theo ba xứ: thân, ngữ, ý.

Ví như, này các Tỷ-kheo, có người ném một bó đuốc bằng cỏ cháy đỏ vào một rừng cỏ khô. Người ấy với tay và chân gấp dập tắt bó đuốc ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các sanh loại sống nương vào cỏ và củi sẽ không gặp bất hạnh và tai họa.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đối với tưởng bất chánh khởi lên, gấp từ bỏ, nhiếp phục, chấm dứt, tiêu diệt; vị ấy ngay trong hiện tại trú trong an lạc, không có phiền lao, không có sầu não, không có nhiệt não; sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào thiện thú. (Tương Ưng Bộ Kinh 2, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm thứ hai, bài kinh Có Nhân)

Đặt tâm đúng hướng

Điểm quan trọng, mấu chốt, cốt lõi trong bài kinh hôm nay là sự hướng tâm, gọi là Tầm. Nếu người tu đặt tâm lệch hướng thì không đi ra khỏi phiền não, khổ đau được. Đặt tâm mình đúng hướng là hướng thoát ra, hướng đi ra, hướng xuất ly chứ không phải đặt tâm mình hướng đi vào, tức là vào vòng sanh tử, tham ái, sân hận, ác hại. Cho nên sự hướng tâm rất quan trọng, giống như tài xế, trên xe có bao nhiêu đồ, bao nhiêu người thì sự hướng tâm giống như người tài xế, sẽ điều khiển hết tất cả hướng đi của người đó.

Vậy, sự hướng tâm của người tu chúng ta là hướng về cái nào? Chữ “Phật giáo nhập thế” là dùng từ không chính xác. Phật giáo là chấm dứt phiền não của thế gian, đem lại sự an lạc cho nhân loại, chư Thiên và loài Người. Chúng ta phải nhìn kỹ trong sự tu tập của mình, xem tâm mình hướng về hướng nào. Nếu hướng đó sai thì phải chỉnh lại. Hướng người tu là hướng xuất ly, hướng viễn ly, hướng nhàm chán đối với các dục, nhàm chán đối với tâm hướng về sân, hướng về hại, lìa tham và đoạn diệt. Mình phải đi ra khỏi nó, không cho nó hướng vào vô minh, tham ái, chấp thủ, bản ngã, ta đây, dính mắc, trói trăn và ràng buộc. Chúng ta phải hướng tới sự xuất ly, chính hướng đó điều khiển tất cả và mình sẽ thoát ra. Còn nếu đặt hướng tâm sai thì mình không thể giải thoát được.

Như vậy, sự đau khổ hay hạnh phúc, an lạc là do sự hướng tâm đúng hay sai của mình. Nếu mình hướng tâm đúng, thoát ra, mình sẽ an lạc trong hiện tại và được tốt đẹp trong tương lai./.