Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tâm Sự Với Người Xuất Gia - Yếu Chỉ Tu Hành

2026-03-03 00:52:24
Kinh NIKAYA Giảng Giải

Tâm Sự Với Người Xuất Gia

Yếu Chỉ Tu Hành

Thích Minh Thành

Ngày 25-02-2019

Kính thưa đại chúng

Trong những ngày tết Minh Thành hưởng được niềm vui siêu nhiên ở trên rừng.

Lên trên núi, lên đỉnh núi ở một mình là mình nếm được hương vị độc cư thiền tịnh, hương vị của viễn ly, hương vị của xuất ly. Bỏ thế vật, thế sự, thế lợi của thế gian. Nếu mà chúng ta không thấy rõ được mục đích của đời sống phạm hạnh. Mình không có tu tập bát chánh đạo, thất giác chi, tứ niệm xứ liên hệ đến li tham, liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến đoạn tận, không có hướng đến từ bỏ. Thì đời sống mình sẽ quay cuồng trong thế sự, thế lợi, thế vật.

Nhìn xem đời sống người xuất gia mình bây giờ, nếu mình được học trong tạng Nikaya bây giờ thì thời bây giờ rất là xa đối với đời sống xuất gia thời Đức Phật. Cho nên chúng ta cách nhau là hai mươi sáu thế kỷ, ta không thể giống y hệt được, điều đó là đương nhiên. Nhưng cái tinh thần, cái cốt lõi của đời sống xuất gia mình phải nắm thật là vững. Cái đặc chất của đời sống xuất gia là gì? Cái đặc thù của người xuất gia là gì? Cái bản sắc người xuất gia là gì? Rồi cái mục đích của người xuất gia là gì? Mình phải nắm được những điểm này thì mình mới liên hệ đến mục đích, liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn tận hướng đến từ bỏ. Đây là những định lý, đây là những mục tiêu, là chỗ hướng đến của người xuất gia. Còn không chúng ta sẽ bị thế sự lôi cuốn vào những việc của sinh hoạt thường nhật, hằng ngày. Mình sẽ bị những thế lợi nó làm cho tâm của mình được giao động, suy nghĩ, lo lắng, tính toán và sợ hãi. Dù cho hình thức của mình là một người đã xuất gia, nhưng tâm của mình không lìa bỏ thế lợi. Những lợi ích thông thường của thế gian. Mình không từ bỏ thế giật, những vật chất phù phiếm của cuộc đời này, không có giá trị gì hết đối với người xuất gia, nếu mà người đó tu chân chánh.

Huynh đệ nhìn hằng ngày mình đang làm cái gì? Những ngày tết xanh đỏ, trắng vàng như vậy. Dòng người tấp nập như vậy, mình có giữ được cảm giác toàn thân hay không? Mình có định tâm trên thân hay không? Có an trú tâm trên tứ niệm xứ hay không? Hay mình bị những cái đó nó cuốn. Vui thay chúng ta sống không rộn giữa rộn ràng, giữa những người rộn ràng chúng ta sống không rộn ràng. Cái vui đó là cái vui của sự rời xa, sự xa lìa. Cái vui của sự xuất ly, sự thoát ly, sự viễn ly, sự ly tham, đó là cái vui của người xuất gia. Đúng như tinh thần của Đức Phật dạy. Tuyệt vời lắm, hay lắm. Mình đúng theo tinh thần Nikaya mình tu đi, mình sẽ thấy.

Quý huynh đệ chuẩn bị xem năm bài pháp ở trên rừng với tựa đề Sơn Cư Pháp Ngữ. Và bài chúc xuân của năm nay là mấy huynh đệ, mấy học trò chúc xuân Minh Thành. Chúng ta phải có sự khao khát, phải có sự trăn trở, phải có sự thao thức, khắc khỏi ở trong lòng đối với mục đích của đời sống phạm hạnh. Chúng ta không cho phép mình, sống một cách dễ vui, một cách lững lờ, qua ngày đoạn tháng ở trong cửa chùa. Chúng ta phải dùng tất cả tâm lực, trí lực, sức lực, nguyện lực làm sao để đạt cho được mục đích. Dù cho đạp đổ tất cả, đó là tinh tấn niệm định hệ, từ ngũ căn biến thành ngũ lực. Chúng ta phải kết hợp tứ chánh cần và tứ như ý túc. Chứ không phải học xong bát chánh đạo xong xếp sách để đó. Làm cho sự ham muốn giác ngộ nó phát huy đến tột độ, cùng cực, đó gọi là dục như ý túc. Phải tham muốn, phải thao thức, phải mạnh mẽ, phải quyết liệt, phải nhiệt tâm tinh cần, phải nóng bỏng, phải tha thiết mong cầu chứng ngộ. Chứng đắc những điều chưa chứng đắc, chứng ngộ những điều chưa chứng ngộ, chứng đạt những điều chưa chứng đạt. Phải muốn, cái muốn này phải phát huy đến tột độ, đó gọi là dục như ý túc. Nếu trong người mình chưa có cái này thì tự tu hành mình chưa tới đâu. Phải phát huy cái ham muốn thật mãnh liệt, đó gọi là dục như ý túc. Từ cái ham muốn đó, tiếp theo là cái gì? Nó tạo thành một sức mạnh, một sự nỗ lực hết mình, đó là tinh tấn như ý túc. Mình muốn một cái gì đó mà cái muốn đó lên cự điểm rồi đó. Thì cái muốn đó đẩy mình phải làm, không thể không làm, làm cùng tận khả năng việc đáng làm nên làm, làm cùng tận khả năng. Xuất gia sống phóng đảng chỉ tăng loạn bụi đời.

Việc đáng làm, nên làm, phải làm cùng tận khả năng. Các vị cao tăng, thánh tăng ngày xưa tu hành nhịn đói là chuyện rất bình thường, nhịn đói là chuyện rất bình thường. Năm ba ngày, mười ngày thậm chí hai tuần lễ không có ăn gì hết, ngồi thiện định không. Ngồi thiền định một ngày mười mấy tiếng, quên ăn bỏ ngủ, thao thức về sự tìm cầu chứng ngộ.

Mình bây giờ sáng ăn, trưa ăn, tối ăn, đang ngồi học để đồ ăn ở dưới thì làm sao chứng ngộ. Mấy cái đó mình phải dẹp bỏ, bỏ qua một bên. Xem nhẹ cái thân này mới là xả thân cầu đạo chứ. Phải không? Bớt ăn, bớt mặc, bớt ngủ, bớt làm những việc phù phiếm vô nghĩa. Dù cho những việc ở trong chùa, việc cần thiết, có bổn phận thì mình làm, không có bày ra. Những việc không liên hệ đến mục đích ly tham, những cái gì không liên hệ đến mục đích từ bỏ, những cái gì không liên hệ đến mục đích đoạn tận tham, sân, si là không nghĩ, không nói, không làm. Cho nên từ cái dục ham muốn chứng ngộ, nó làm cho mình có một động lực, tinh tấn, chuyên cần, dũng mãnh. Cái đó là cái gì? Cái đó tâm như ý túc. Là để tâm vô, để tâm vô cái pháp mình đang tu, để tâm vô cái pháp mình đang hành, để tâm vô cái pháp mình đang học. Bằng tất cả tấm lòng của mình, bằng tất cả trái tim của mình, bằng tất cả bầu nhiệt huyết của mình.

Ví dụ: Mình đang tu thân hành niệm, tứ niệm xứ đó. Gồm có sáu phương diện để mình tu tập. Niệm hơi thở, niệm quai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trượt và niệm chín giai đoạn của một tử thi. Là mình để tâm vô sự thực hành đó, mọi lúc, mọi nơi, mọi thời, mọi chốn, mọi giờ, mọi khắc. Mình không để tâm mình đi ra ngoài sáu phương diện đó, đó gọi là tâm như ý túc. Mình thấy rằng một người thợ mộc, người hoạ sĩ, người bác sĩ mà người ta để tâm vào công việc là quên hết công việc bên ngoài, thậm chí là quên ăn bỏ ngủ. Đó gọi là tâm như ý túc. Cho nên giờ mình học pháp là giờ mình đặt hết tâm mình vô nghe pháp, không nghe những cái khác. Mình nghe cái gì mình quay qua là mình chưa đủ tâm nhu ý túc. Mình không có niệm, mình không có sự niệm thân, không có định tâm trên thân, cho nên một tác động nhỏ bên ngoài là mình theo liền. Mình không an trú niệm là mình thất niệm. Thất niệm là ý niệm của mình đi ra khỏi những để mục mình tu tập, đó gọi là thất niệm. Quý huynh đệ có nhớ thân hành niệm không?

Phải niệm, phải tu tập tứ niệm xứ. Đức Thế Tôn nói trong Đại Bát Niết Bàn ở Trong Trường Bộ. Thì ngài mới di chúc nói rằng, sau khi Như Lai việt độ, những Tỷ Kheo nào mà tu tập tứ niệm xứ là Tỷ kheo tối thượng trong hàng đệ tử của chúng ta, nếu đệ tử ấy để tâm học hỏi.

Tứ niệm xứ là tối thượng, đây là hương vị của bất tử, đây là cảnh giới của bậc thánh, thánh cư, đây là trú xứ của Đức Như Lai. Tâm mình luôn an trú trong bốn lĩnh vực đó. Hằng ngày mình coi nó an trú ở đâu? Nó có an trú trong hơi thở không? Được mấy giờ? Nó có niệm quai nghi hành động không? Mọi cự chỉ, mọi động tác của mình, nhất cử nhất động của mình có chánh niệm tỉnh giác không? Mình có thấy có biết bốn đại của mình vận hành trong thân thể thế nào không? Mình có nhìn thấy các yếu tố cấu thành cơ thể này ba mươi hai thể trượt hay không? Hay là mình nhập chung mấy cái thứ đó thành cái tôi rất là to tướng. Là sống trong vô minh và thất niệm, trong si mê. Quý huynh đệ thấy không? Phải nhìn thấy chín giai đoạn của một cái thây sau khi đã chết nó như thế nào. Ngày nào mình cũng phải tu tập như vậy. Đó là cánh cửa bất tử mở ra với mình, là người sắp sửa bước vào giới vực của bất tử.

Tư duy như ý túc, hay tẩm thẩm như ý túc. Tức là thẩm sát, tư sát, suy xét tìm đủ mọi cách nào để mình mau chóng thành tựu.

Đã tu tập như vây rồi, đã tinh tấn như vậy rồi, đã để tâm như vậy rồi mà còn tìm đủ mọi cách để hiệu quả cao nhất, nhanh nhất, hiệu quả tốt nhất. Đó gọi là thẩm như ý túc, tư duy như ý túc.

Cái này thật ra mình sử dụng hằng ngày, mấy huynh đệ vô bếp nấu cơm có đầy đủ mấy cái này hết. Có đầy đủ hết, mà mình không nhìn nhận trong nội tâm mình. Mình có muốn nấu không? Mình có muốn hôm nay nấu món gì ngon đãi trai tăng, mình có muốn không? Có không? Mình có siêng năng đi chọn món lựa cái ngon không? Mình có làm bằng tất cả tấm lòng để thầy, đại chúng thưởng thức không? Mình suy nghĩ làm thế nào để ngon nhất, khéo nhất, đẹp nhất. Đó là như ý túc, mà vận dụng vô món ăn chứ không vận dụng vô thánh quả.

Đau đớn không? Xót xa không? Mình không vận dụng thì gọi là tà tinh tấn, không phải chánh tinh tấn của bát chánh đạo. Cái tứ như ý túc đó phục vụ cho cái tôi và cái của tôi. Nó phục vụ cho những cái mình ưa thích gọi ái, dục, tham chứ nó không phục vụ cho li tham. Nó không phục vụ cho chấm dứt tham sân si, nó không đưa đến chánh trí, an tịnh, giác ngộ, Niết-bàn. Nó không phải yếu tố đưa đến giác ngộ. Cho nên mình tu mà nói ba mươi hai phẩm trà đạo mà mình quên hoài. Tại vì nó ngay trong thân thể, trong tâm niệm, trong cảm giác của mình nếu mình vận dụng. Cho nên khi vận dụng chánh tri kiến mình thấy thân này là năm uẩn. Mình tư duy như thế nào gọi chánh tư duy? Ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy, đó là chánh tư duy. Cho nên bát chánh đạo không phải là chuyện đơn giản đâu. Mà hằng ngày mình trong đó, mà mình trong bát tà đạo. Mình cũng nói tôi đang tu tập bát chánh đạo là không phải. Ở trong tư duy của mình, mình có hướng đến tư duy ly dục không? Ví dụ mình đang suy nghĩ chuyện ham muốn này nọ kia là mình tách ra, từ bỏ nó, chấm dứt nó, đoạn tận nó, đoạn diệt nó. Thì cái đó mới là chánh tư duy, ly dục tư duy.

Mình nghĩ mình tức người đó quá, mình giận người đó quá. Mà lúc đó mình biết cái này là tà tư duy. Cái bất thiện pháp, cái này là chướng ngại pháp, cái này là cấu nhiễm tâm. Làm cho mình trở thành kẻ mù, làm cho mình thành không mắt, làm cho mình si ám rồi đưa đến khổ mình và người. Mình phải tử bỏ, chấm đứt, đoạn diệt, không để cho cái sân này tồn tại trong tâm mình. Thì lúc đó là chánh tư duy, ly sân tư duy. Còn nếu tiếp tục suy nghĩ cái đó là đang tà tư duy, dù cho mình đang ngồi trước bàn Phật vẫn tà tư duy như bình thường. Cho nên sự tu tập của mình, mình phải nắm thật vững cái mục đích, mình không nắm vững là uổng lắm, uổng công trình của mình lắm.

Quý huynh đệ phải nhớ thật là kỹ hai chữ li tham. Tất cả những lời nói, hành động, ý nghĩ của mình mà đưa đến ly tham thì cái đó là đúng. Đây là chánh pháp tối thượng của Đức Thế Tôn. Dù cho mình làm thiện pháp mà cái tâm mình tham đắm ở trong đó thì cái đó cũng không phải, mình được cái tốt mà cái tốt đó trong hữu lậu của luân hồi.

Ví dụ: Một người ưa thích làm từ thiện làm hoài như vậy, không thiền định, không tư duy, không độc cư, không quán chiếu, không tu tập. Đối với bên ngoài nhìn là thiện pháp, nhưng cái thiện pháp đó không phải thiện pháp thực sự của chánh pháp, nó là thiện pháp của thế gian. Cho nên trong người đó ô nhiễm tồn chỉ, tham sân si bản ngã vẫn còn. Thậm chí là nó tăng trưởng phát triển và quãng đại, đây là sự sót xa.

Và một điều đau lòng là càng làm nhiều thì phiền não càng nhiều, bản ngã càng tăng. Cho nên toàn bộ sự tu tập của người xuất gia là gì? Là diệt tận nhiễm ô. Diệt tận mọi sự ô nhiễm bên trong nội tâm của mình.

Thánh quả thứ nhất là phát hiện, phát giác, nhìn thấy được nhiễm ô. Đó là thánh quả thứ nhất.

Dọn dẹp những cái nhiễm ô, những cái cáu bẩn, những cái hôi hám là thánh quả thứ hai.

Sau khi dọn dẹp rồi những phần tồn đọng lại còn dính, dính dơ, lâu ngày nó còn dính trong đó. Bắt đầu mình giải quyết vấn đề vệ sinh, mình dùng những bàn chải sắc, xà bông, thuốc tẩy. Đó là thánh quả thứ ba.

Và cuối cùng sạch sẽ hoàn toàn, không còn rác, không còn cáu bẩn, không còn mùi hôi. Đó là thánh quả tối cao, Alahan.

Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.

Đó là bậc chiến thắng, đó là bậc chiến sĩ, đó là bậc vô thượng sĩ, đó là bậc thánh nhân, xứng đáng cho chư thiên và nhân loại cúng dường.

Bây giờ trong nội tâm mình, mình không thấy tham dục sanh khởi như thế nào, mình không thấy tham sanh khởi như thế nào. Tham ăn, tham mặc, ham nói tất cả những cái đấy mình không thấy gì hết. Rồi cái sân nó vận hành như thế nào mình không biết gì hết. Nó sanh khởi làm sao, nó an trú làm sao, nó chấm dứt làm sao mình không biết gì hết.

Rồi cái si. Là lờ đờ, lờ mờ, vất vơ, vất vưởng như xác không có hồn. Cũng không biết gì hết. Đó là trạng thái của vô minh, đó là vô văn phàm phu, làm sao gọi là đa văn thánh đệ tử được, vì không thấy không biết.

Rồi cái bản ngã vận hành như thế nào, cái chấp thủ trong năm uẩn như thế nào hoàn toàn không biết, không biết vị ngọt của năm uẩn, không biết sự nguy hại của năm uẩn, không biết sự xuất ly của năm uẩn. Không biết sự tập khởi của năm uẩn, không biết sự đoạn tận của năm uẩn, không biết con đường đi ra khỏi. Hoàn toàn ở trong bóng đêm, như thế mà mình gọi là mình đang tu. Đây là sự đau lòng. Hoàn toàn mình nhìn nhận cái thân này là tôi, là tự ngã của tôi. Mình chưa có nhìn thấy được đây là khổ, mình chưa thấy được nguyên nhân của khổ như thế nào. Mình không thấy được con đường chấm dứt khổ đau. Mà làm sao? Mình tưới tẩm, mình vun bồi, mình làm cho cái khổ ngày càng tăng trưởng, phát triển. Đó là chánh pháp mai một, con đường của thánh đạo lu mờ, cho đến không còn ai thấy nữa hết. Các huynh đệ nhìn lại để mà thấy. Có bao giờ mình thịền quán, mình nhìn lại đây là bốn đại, đây là cái sắc thân do cha mẹ sanh, do bốn đại tác thành, do cơm cháo nuôi dưỡng, do vô thường tan hoại, tan nát, huỷ hoại. Những tư duy đó có thường thường xuất hiện trong nội tâm mình không? Hay là mình nhìn thấy đây là đẹp đẽ, đây là khả lạc, khả hỉ, khả ái, liên hệ đến dục hấp dẫn, lôi cuốn. Các huynh đệ thấy không? Cho nên cái này gọi là cái trí huệ tối thượng của bậc chánh đẳng chánh giác nói cho mình biết. Nếu mình không được nghe những lời này là không có đường đi ra khỏi luân hồi, vĩnh viễn không có lối ra. Cho nên Đức Thế Tôn mở ra cánh cửa bất tử. Về năm mới rồi mình cũng mới, bớt tất cả viêc phù phiếm vô ích, tập trung vô tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Tập trung vô công việc tăng thượng giải thoát học và tăng thượng cái tri kiến giải thoát cho chính mình. Đó mới là sự nghiệp, đó mới là mục đích của người xuất gia. Kiểm tra lại cái giới của mình, hoàn thiện, sửa đổi, cải cách, làm mới lại, làm sạch lại, làm cho đẹp lại, dập đầu mình trước Đức Phật.

Làm cho giới hạnh của mình thanh tịnh trong sạch, đó là tăng thượng giới học.

Tăng thượng tâm học là làm như thế nào để cho cái tâm mình được ly dục, được vào những trạng thái của sơ thiền, nhị thiền. Thăng hoa cái tâm mình lên, không cho nó suy nghĩ những chuyện tầm thường, nhỏ nhoi vô ích, không liên hệ tới mục đích.

Mình nghĩ lại, mấy huynh đệ thường ngồi lại nói chuyện gì. Có nói những câu chuyện về ích dục, có nói những câu chuyện về viễn ly không? Có nói những câu chuyện về bất tịnh không? Có nói những câu chuyện về nhàm chán đối với năm uẩn không? Có nói câu chuyện về dập tắt những ngọn lửa. Có nói những câu chuyện về dập tắt tất cả những ngọn lửa, sáu sứ, sáu nội sứ, sáu ngoại sứ không? Có bàn về con đường đoạn tận tham ái không?

Hay là mình toàn là hỏi, toàn là nói những chuyện bình thường của thế sự. Đó là chưa kể nói những chuyện rơi vào phiền não thị phi, cái đó chưa nói, cái đó là quá tệ, không thèm nói đến. Không liên hệ đến mục đích, Đức Phật nói khi nói chuyện là nói những chuyện liên hệ đến mục đích. Đây là những câu chuyện đưa mình đến tâm yên định giải thoát. Tăng thượng tâm học, làm cho tâm mình tu tập, tăng thượng từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỉ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm. Nâng cái tâm mình lên cao, làm cho tâm mình phát triển quản đại rộng lớn hết mười phương hư không, trong khi mình tu tập tứ vô lượng tâm. Hằng ngày mình phải trải tâm từ, mình phải tu cho tâm từ mình vững chắc, tạo thành căn cứ địa, nó làm trở thành hành trì. Ngày nào mình cũng tu tập, quán chiếu, mình tu tập, lấy bài kinh tâm từ về tụng. Vừa đọc, vừa thực tập, vừa trải tâm từ. Chứ không phải nói từ bi ở trên môi mà phải tu tập cái tâm cho đến khi nào mình trải được tâm từ đến được những người mà họ thù ghét mình. Họ quán hận mình và mình gặp họ mình đối xử được một cách bình thường và có khả năng cảm hoá được những người thù hận của mình luôn. Đó mới là cái công năng của tăng thượng tâm học. Phải trú xả vô lượng tâm bất cứ lúc nào, khi mắt thấy, tai nghe, mủi ngửi mùi, lưởi niếm vị, thân cảm xúc, ý duyên với pháp. Phải luôn luôn nhìn thấy ba khía cạnh khổ, vô thường, vô ngã của chúng. Không để cho tâm mình dính mắc tham ái, chấp thủ. Luôn luôn trú xả chánh niệm tỉnh giác.

Trú ở nơi cái xả tâm, tại vì không có cái gì trên cuộc đời đáng cho mình đeo đuổi tìm kiếm nắm bắt hết. Tất cả là một đống xương, đó là một đống thịt bầy nhầy, đó là những con dòi, đó là một tấm thân nằm dài trên miếng ván bốn người khiêng. Mỗi khi mình có tâm sân hận mình quán như vậy đó, mỗi khi nó si mê, lười biếng, nó hôn trầm mình phải quán như vậy đó. Quán như vậy đó mình mới đánh đuổi được tham, sân, si. Quán như vậy mình mới phá tung được bản ngã. Quán như vậy mình mới đạt đến minh và giải thoát.

Những phương pháp đưa mình đến minh và giải thoát thứ nhất là quán bất tịnh. Thứ hai là quán nhàm chán đối các thức ăn. Pháp thứ ba là không hoan hỉ đối với tất cả thế giới. Pháp thứ tư là quán vô thường trong tất cả các hành, tất cả các sự vận hành, tất cả hành pháp trên thế gian này mình phải quán là vô thường. Cuối cùng là khéo an trú trên cái tưởng chết. Đó là cái pháp giúp cho mình đạt đến chỗ minh thần pháp.

Khéo thực tập năm pháp này. Thứ nhất là quán bất tịnh. Ngày nào cũng phải quán, dù quán chưa quen rồi từ từ cũng quen. Bắt cái tâm mình phải trú vô cái tưởng đó, không cho nó chạy ra ngoài. Con sư tử, con cọp mà người ta còn huấn luyện được mà, tại sao mình không chịu huấn luyện tâm. Người trị thuỷ dẫn nước, người làm tên thì uốn tên, người thợ mộc thì uốn gỗ, người trí đều phục tự thân của mình.

Đều phục cái tâm của mình, huấn luyện cái tâm của mình, nhiếp phục cái tâm của mình, không cho nó chạy lung tung. Quản lí học cái gì? Quản lý học tối thượng là quán lý được tâm của mình, đó là quản lý học tối thượng. Chứ đâu phải quản lí người bên ngoài đâu. Quản lý được con mắt của mình, quản lí được cái lổ mũi, cái lưỡi, cái miệng, quản lí được cái thân và cái ý. Ai quản lí được như vậy là hạnh phúc dài lâu. Hằng ngày mình phải tập quản lí những cái đó. Chứ không phải quản lí đồ ăn trong tủ lạnh, không phải quản lí cây kiểng ở trong chùa. Mấy cái đó mình thường, nhiều người quản lí được lắm, thuê người cũng quản lí được. Mình phải quản lí được cái tâm của mình, quán lí được sáu căn, quản lí đó mới là quản lí tối thượng.

Cho nên trong bài kinh Xứng Đáng Cúng Dường, Đức Phật nói người nào mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mủi ngửi mùi, thân xúc chạm, lưỡi ngửi mùi, tâm duyên với pháp. Những vị đó mà không chạy theo mà chánh niệm tỉnh giác, trú xả thì người đó là những người đáng được cung kính, đáng được chắp tay, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Đó là quản lí học tối thượng của người xuất gia.

Không có chạy theo cái ưa thích và cái ghét bỏ. Chánh niệm tỉnh giác, trú xả. Sắc đẹp không chạy theo cái ưa thích, sắc xấu không ghét bỏ. Chánh niệm tỉnh giác, thấy được đặc tính vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh của nó. Chánh niệm tỉnh giác trú xả, đẹp hay là xấu, thương hay là ghét cũng vô thường. Hành pháp vô thường, yêu ghét cái gì ở trong đó? Có cái gì thiệt ở trong đó mà yêu ghét, yêu ghét để được cái gì? Cho nên bất tịnh quán là phải tu tập. Nhàm chán đối với thức ăn, cái này thấy như vậy mà khó tu lắm, không phải dễ đâu. Ngày nào mà mình còn ưa thích, tham đắm, khao khát, đoàn thực thì ngày đó mình không thể giải thoát.

Cho nên khi mình ăn, không phải là mình lên mình cúng dường, thanh tịnh rồi, quán rồi là ăn thoải mái là không phải. Đó là nghi thức thôi.

Khi mình lên, mình ăn, mình coi lại cảm giác của mình. Coi lại cảm giác của cái lưỡi, cái miệng của mình. Và khi mình là gắp thức ăn mình coi thái độ gắp của mình. Rồi mình để vô miệng, mình coi nó nhai như thế nào? Có dục trong đó không? Có thích thích không? Là ái không? Có tham là muốn gắp lẹ lẹ không? Mình phải thấy phải biết, khi mình ăn. Không có để cho cái ô nhiễm nó tồn chỉ, nó an trú trong cảm giác của mình.

Đó là thánh trí đó. Đó là trí tuệ của bậc đa văn thánh đệ tử đó. Nhai chưa xong là gắp tiếp tục, gắp một miếng chưa đủ, gắp năm bảy miếng vô, để trong cái chén cho nhiều lên, giống như cái chén cúng cơm vậy. Vậy là chết liền, chết ngay, chết không có chổ chôn. Chẳng những vậy ăn thích thú, rồi nói. Vậy là chết, chết ba đời chín kiếp. Vậy là bị dục, bị ái, bị tham rồi. Mà mình nói mình tu giải thoát là giải thoát cái gì? Giải thoát miếng ăn đó đó. Giải thoát miếng ăn ưa thích, thích thú cái đó, cái tham đắm cái đó.

Quý huynh đệ thấy không? Thấy tu theo đúng tinh thần của Đức Phật không?

Cho nên đi khất thực là tại sao tất cả đồ ăn trộn lại hết. Quý huynh đệ đi khất thực rồi mới thấy. Người ta đổ chè cháo vô chung trong đó, rồi cơm ở trong đó. Rồi thậm chí chè để chung với canh, mà tất cả chung một cái bát đó. Ăn như vậy để làm chi? Để phá tham ái, chấp thủ trong cái vị giác. Đó là bậc thánh nhân ăn, là bậc hiền nhân ăn, là bậc thượng sĩ ăn, là bậc đã vượt lên dục ái và tham đối với các vị ăn.

Mình chưa được như vây thì mình phải thấy xấu hổ khi mình tham ăn. Mình phải thấy tàm quý, thấy xấu hổ, thấy hổ thẹn thì như vậy nó đỡ từ từ. Chứ giờ mình ăn, mình nói cười, thích trú trong đó, thì không bao giờ phải là một người tu thật sự. Quý huynh đệ thấy không? Tại mình có thấy có biết đâu, tưởng cái đó là đúng. Cho nên trong bữa ăn đó là bữa tu rất là tuyệt vời. Tại vì lúc đó những cái dục, cái tham, cái ái bày hiện ra hết. Chỗ đó mới là chỗ tu đó, chiến thắng hay không là chỗ ở chỗ đó. Vô múp sột sột, gắp cho nhanh, là cái tướng của tham, cái tướng của dục, nó biểu hiện ra. Chiến thắng là chiến thắng chỗ đó, chứ không phải cãi lộn hay hơn người ta.

Mình phải nhờn tởm đối với thức ăn, không có gì ưa thích trong này hết. Nuốt cái ọt trong này, qua khỏi cái họng rồi xuống dưới là còn cái mùi gì? Rồi nó xuống dưới kia, nó ra cái mùi gì? Mình thấy như vậy rồi dần nhàm chán, không có ưa thích gì trong đó hết. Như vậy mới giải thoát được đoàn thực, nó không còn tham ái nữa. Ly tham là đối với tất cả sáu trần trên cuộc đời này. Không còn dính mắc, không còn dục, không còn tham, không còn ái, không còn bất cứ cái gì hết là tâm bất động giải thoát. Đó là địa vị của thánh nhân, đó là thú hướng của người xuất gia.

Trên cuộc đời này không còn bất cứ một cái gì, có thể làm cho mình tham đắm, ưa thích, khốn khổ, sầu bi hết. Đó mới là bậc thầy của trời và người, đó là đặc sắc, đặc chất, đặc thù của người xuất gia đó. Cao thượng chưa? Tuyệt vời chưa? Chứ không phải mình hiểu người xuất gia một cách thông thường đâu. Cho nên phải quán nhờm tởm, nhàm chán đối với thức ăn.

Tiếp theo là gì? Không hoan hỉ đối với tất cả thế giới.

Chỗ nào rồi cũng sanh, lão, bênh, tử. Chỗ nào rồi cũng sầu bi, khổ ưu não. Chỗ nào rồi cũng tham, sân, si, bản ngã, có cái gì đâu.

Giờ mình vô cái nhà một trăm tầng cũng ăn mặc, ngủ, ỉa. Đó là lời của Hoà Thượng hiệu trưởng đó. Mình ở trong nhà tranh vách là cũng mấy chữ đó thôi, không lẽ có cái gì khác? Có cái gì khác hơn cái đó nữa. Không có cái gì khác, có cái gì đâu. Rồi cuối cùng là một nắm xương tàn. Như vậy là ưa thích cái gì? Tất cả là sắc uẩn hết, đam me cái gì? Đam mê cái đó là đưa đến khổ, đưa đến sầu bi, khổ não, nó đưa đến bứt tốc ngất xỉu, chết và gần như là chết. Cho nên bậc đa văn thánh đệ tử, thấy vậy nhàm chán, li tham, từ bỏ, chấm dứt, đoạn tận, an tịnh thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn.

Tất cả những cái mình kinh qua, mình thấy, mình nghe, mình ăn, mình nếm …. Thì mấy cái này đến lúc mình chết thì có ý nghĩa gì không? Chẵng có ý nghĩa gì hết, không có một giá trị gì hết, rồi chết đi đâu, cái đó là vấn đề đó, cái đó là không thấy con đường. Cho nên quay lưng đối với tất cả sự loè loẹt của mọi thế giới. Quay lưng lại không có hướng về đó nữa, hướng ra chứ không hướng vô. Đi ra, đi ra, đi ra, gọi là xuất ly, ra khỏi năm uẩn. Không có tìm cầu trong đó nữa, cái đó mới là chấm dứt, chấm dứt luân hồi mà. Còn bây giờ mình học theo kiều gì? Mình dự định cho mình kiểu gì? Toàn hướng đi vô không thôi. Bằng này, cấp kia, chùa này, chùa nọ, làm cái này, làm cái kia…. Là gì? Toàn là những hướng phát triển cho cái tham. Phát triển cho cái tham mà không diệt tận cho cái ô nhiễm. Mà không khéo cái ô nhiễm đó, nó tăng tưởng quảng đại, nó phát triển trong nội tâm của mình, mà mình nói mình đang tu là không đúng. Có được đi nữa là một chút thiện pháp ở trong luân hồi thôi, thiện pháp. Mà còn trong luân hồi là không có bảo đảm, xảy chân là lọt xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Còn bậc dự lưu thánh quả rồi thì tiến thẳng đến chánh giác, tuyệt đối không đoạ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chỉ qua lại cõi nhân thiên thôi, chậm nhất là bảy lần. Là người thành tựu chánh tri kiến, thấy rõ năm uẩn. Quán vô thường đối với tất cả hành, thân hành, khẩu hành, ý hành. Những suy nghĩ trong nội tâm, mình thấy đó là vô thường. Những lời nói mình nghe, mình biết đó là vô thường. Những cái đi lại, hành động, vận động cơ thể, mình biết đó là vô thường. Rồi bao nhiêu cái thứ vàng chải trước mặt, mình hành pháp đây, mình thấy nó là vô thường, nó chỉ là tứ đại kết hợp thôi. Tứ đại và sắc do tứ đại tạo thành, chứ có cái gì đâu. Quán chiếu thâm sâu như vậy đó, tất cả các hành pháp là vô thường. Không có nhận thức được điều đó, đau khổ vô cùng. Những ngày tết người ta đốt pháo, chú kia đang đi giật mình một cái, quay lại cự lộn rồi đâm nhau. Sau đó tuyên án tử hình. Không có cái gì hết trơn, chỉ có tiếng pháo thôi mà quay lại đâm chém nhau. Không có lí do gì mà chánh đáng hết trơn. Toàn những chuyện tầm phào, tào lao mà mình để cho nó phát triển đến mức độ như vậy. Cái tham, sân, si, cái bản ngã của con người, chứ có cái đâu? Có tiếng pháo thôi mà cũng ra án mạng. Rất nhiều những chuyện mà mình thấy mình khủng khiếp luôn. Tin tức hằng ngày mình coi là báo động đạo đức suy đồi. Con người hung hăng, khủng khiếp. Và tham sân si bành trướng, nó chế ngự khắp toàn cầu thế giới, mà chúng sanh đang ngập chìm trong bóng tối của si mê. Nếu chánh pháp này không được soi rọi ra để giúp cho chúng sanh, giảm thiểu, ngừng lại tham sân si, thì thế giới sẽ đi đến chỗ huỷ diệt. Bây giờ quý huynh đệ nhìn coi, các thức ăn toàn là độc hại không, có thấy không? Tương ớt mà dòi ở trong đó, rồi tất cả trái cây là chích thuốc vô, rồi cái bún cũ hư rồi bỏ thuốc vô là tươi lại. Mình ăn, mình không biết gì, trong đó là thuốc độc không. Tất cả cái đó là gì? Cái đó là tham.

Mình coi, mình thấy rùng rợn luôn vậy đó. Thì như vậy còn không nhàm chán thức ăn, còn gắp ào ào vô, rồi xong vô bệnh viện phải không? Phải chưa?

Cẩn thận, phải cẩn thận. Nói tiếng trước, tiếng sau là rút dao ra đâm. Hai bên cải nhau rồi hoà giải rồi, hai bên bắt tay nhau, rồi nó rút cây khéo ra đâm tại chỗ. Tay này bắt, còn tay kia rút cây khéo ra đâm như vậy. Bây giờ phải sợ hãi, phải cẩn thận những người đến với mình, mình không biết họ là cái gì hết. Đừng có nghĩ ở chùa mà nó tha, đừng có nghĩ là mình là tu sĩ là nó tha. Vừa rồi có vụ án sư cô chết đó thấy không? Không phải một đâu, những cái không đăng làm sao mình biết. Cẩn thận, cẩn thận đối với cái tham sân si của chính mình và tham sân si của người khác.

Và cuối cùng là cái gì? Khéo an trú ở trên cái tưởng chết.

Đúng ra là Minh Thành nghỉ dạy để độc cư thiền định một thời gian dài, trong một năm hoặc ba năm. Minh Thành muốn chứng ngộ cái pháp, suy nghĩ đến ba ngày liên tục, suy nghĩ hoài vậy đó. Tính điện thoại về xin quý thầy trong ban giám hiệu. Bây giờ không biết còn sống được bao lâu, mình đã đi hết hai phần ba rồi. Cuộc đời người là sáu mươi mà bây giờ mình hai phần ba rồi, mình biết chắc chắn mình sống được bao nhiêu.

Mà xin thưa quý huynh đệ, cái này tâm sự chút xíu. Minh Thành đi lên, đi xuống mỗi tuần như vậy là năm trăm cây số, mỗi lần dạy là chỉ một tiếng đồng hồ thôi. Mà một ngày như vậy có ba tiếng, mà Minh Thành phải mất ba ngày đêm để về đây. Thật sự là vậy, và những lúc cái mạng sống của mình chỉ còn trong gang tấc thôi, trên con đường Minh Thành đi từ bảo lộc về đây. May mắn là Minh Thành có chú tài xế này là một người rất là thận trọng, phụ giúp cho Minh Thành mười lăm năm nay, chú này chạy rất chậm rất là kĩ. Hôm đó có cái xe tải chạy thẳng vô, mà chú này cẩn thận đi chậm, né được, rồi có hỗ lủi vô. Lúc đó mà không có chỗ lủi vô là xong rồi, lúc đó quẹo ngay xuống đường lộ. Cho nên mạng sống nó mong manh lắm, lúc nào cũng quán chiếu về cái chết. Những huynh đệ dắt xe ra khỏi chùa để đi học, phải quán chiếu rằng chưa chắc mình tới trường. Phải quán chiếu như vậy, có thể xảy ra, làm sao có thể chắc chắn được. Khi mình ra khỏi cửa trường để mình về chùa, mình không chắc chắn một trăm phần trăm là mình có thể về tới chùa. Phải có những ý niệm như vậy. Tại sao? Để rủi có tai nạn xảy ra mình có chánh niệm tỉnh giác. Còn nếu không, có những trường hợp là cô hồn vất vưởng, không đầu thai được, không biết mình chết luôn. Có rất nhiều trường hợp, không biết mình chết, không có tin mình chết. Cho nên phải khéo an trú ở trên cái tưởng chết ở bất cứ chỗ nào, bất cứ nơi đâu. Có chỗ nào mình lên đó ở mình không chết không? Trong thế gian này. Như vậy mình không có bao giờ nhớ nghĩ tới cái chết.

Ngay cả mình đứng bên cạnh một người sắp chết và một người đã chết, mình không nghĩ rằng mình chết. Cho nên cái quán, niệm tử là hay lắm. Mình quán cái này là tham sân si nó lắng dịu, nó an tịnh.

Xin chưa với quý huynh đệ là mình không còn gặp nhau được bao lâu nữa đâu. Đó là lời thật, việc thật, sự thật đó. Bất cứ lúc nào Minh Thành cũng có thể ra đi và quý huynh đệ cũng có thể ra đi. Cũng có thể Minh Thành có thể quải đải ra đi một mình vô rừng, lên núi nào đó độc cư thiền định, bất cứ lúc nào. Quý huynh đệ thấy mất tiêu rồi thì khỏi cần điện thoại, khỏi cần hỏi gì hết nha. Đó là việc nên làm, việc nên cần làm, việc phải làm. Tại vì cái giáo pháp này tự động nó có khả năng, tự động có công năng, tác dụng thực sự của nó. Người học cái này là sẽ đưa đến chỗ ly tham, chắc chắn là phải như vậy. Đó là hiệu quả của chánh pháp. Học cái này, tu theo cái này là sẽ quay cái hướng lại đi ra, còn không học là đi vô không thôi. Đây là hiệu năng của chánh pháp sẽ đi ra. Bất cứ ai ở đây có những vị ngay trong hiện tại và tương lai là những vị sơ quả, nhị quả, tam quả và tứ thánh quả. Đang ở đây, trong hiện tại và tương lai. Có những vị đang hướng dự lưu và nhập lưu, nếu học theo giáo pháp này, thực hành theo giáo pháp này. Tuyệt vời lắm, tu đi rồi sẽ thấy rất tuyệt vời. Con đường rất rõ ràng, chỉ cần tu tập là chứng ngộ. Mà mình phải mạnh mẽ dám bỏ hết tất cả những cái gì lúc trước, chuyên tâm nhứt hướng là mình sẽ thành công. Mình đừng có đứng ở ngã tư, ngã sáu, nhảy ra, nhảy lại thì mình sẽ thành công.

Chúc cho quý huynh đệ thành công để cứu cánh đời sống phạm hạnh.

Tấn Nhân, ngày 30/1/2020

Tại: Linh Quy Pháp Ấn