Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

(PLTCĐ 3) Thắng Tri Tham - Giáo Pháp Ly Tham Tối Thượng

2026-03-03 00:54:52
Nikāya Giảng Giải (PLTCĐ 3)

Thắng Tri Tham

Giáo Pháp Ly Tham Tối Thượng

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhiếp phục dục tham PAGEREF _Toc214183760 \h 1

II. Thắng tri tham ái PAGEREF _Toc214183761 \h 3

III. Chia sẻ, trình pháp PAGEREF _Toc214183762 \h 13

I. Nhiếp phục dục tham

Kính thưa chư tôn và chư hiền, chúng ta tiếp tục chia sẻ về kinh tạng Nikāya phân loại theo chủ đề một cách tổng quát, chúng ta chiêm nghiệm về chữ tham này nó rất là sâu sắc, rất là thâm sâu và rất là rộng lớn. Trong sự tu học của chúng ta ngày xưa khi bậc đạo sư còn tại thế ngài dạy con toàn bộ sự tu hành này là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, nếu không làm được cái đó thì tu hành cái gì. Toàn bộ sự tu hành là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, nếu không làm được cái đó thì tu cái gì? Ngài quở trách con, bây giờ con chiêm nghiệm lại mới thấy nếu mình tu theo lời nguyên chất của Đức Phật dạy hết sức là gần gũi, thực tế, cụ thể mà mình có thể làm được ở trong đời sống thường nhật của mình chứ không có cái gì xa xôi. Thí dụ như giới sát sanh, mình nhìn sâu trong đó là nhiếp phục cái tham ăn, chúng ta xét sâu rồi chúng ta sẽ thấy cái giới trộm cắp là nhiếp phục cái tham đồ, tham tiền, cái giới dâm dục, cái giới tà dâm là nhiếp phục cái tham dục, sâu sắc vô trong mình xét vào sẽ thấy cái giới từ bỏ nói những lời dối trá là nhiếp phục cái tham nói, từ bỏ nó lời phù phiếm. Chúng ta thấy nó sâu sắc đến vậy, cái giới từ bỏ ống rượu cũng là nhiếp phục cái tham của miệng thôi chứ có gì đâu.

Thành ra mình thấy năm giới đó là nhiếp phục dục tham, hoặc có rộng ra tám giới, mười giới hay là mấy trăm giới của Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni là cũng vậy hết, những cái giới lớn của các vị xuất gia đó, Ba-la-di, những cái giới đầu tiên cũng là nhiếp phục những cái ái dục, nhiếp phục cái tham tiền, dâm vọng. Thành ra mình chiêm nghiệm cái này mới thấy tu mà mình không nhận diện ra được cái tham, cái dục, cái ái của mình thì làm sao tu? Mình không có để tâm nhiếp phục, chế ngự thì làm sao mà mình tu? Mình tu cái gì? Nếu mình không có nhận diện, không có nhìn ra được những cái ham, những cái thích, những cái khoái, những cái muốn, những cái thúc giục, thèm khát, khao khát, đói khát ở bên trong mình, không nhìn ra được thì làm sao mình tu? Nếu như mình nhìn ra được nhưng không có một cái khả năng nhiếp phục, chế ngự thì tu cái gì?

Cái lòng tham này không có đáy, chúng ta nhớ ông bà xưa, túi khôn nhân loại nói cho chúng ta thấy là túi tham không đáy, mà tham thì thâm, lòng tham không bao giờ thỏa mãn hết. Chúng ta nhìn thấy hiện tại trong ngoài, trên dưới, trước sau đầy rẫy những cái bất thiện pháp là đều từ cái lòng tham này. Tại sao lừa đảo người ta là tại vì tham, tại sao dối gạt người ta là tại vì tham, tại sao mưu mô, mưu sĩ là tại vì tham, chúng ta xét thì chúng ta thấy nó rất là sâu, nó rất là rộng cho nên tại sao chúng ta cần cái sự thiền quán nhiều là vậy đó. Từ từ chúng ta mới thành tụ được một cái trí tuệ để nhìn ra được bộ mặt thật sự của những cái lậu hoặc, chúng ta cần có những cái sự học, nghe, hiểu, suy tư, chiêm nghiệm, nhận diện, như lý giác sát, tỉnh giác quán sát một cách đúng sự thật về bản chất của cái ngũ uẩn này, của cái cảm thọ này, của những cái dục, tham, ái này, những cái khoan khoái, ham muốn, thích thú, thèm khát, khao khát, đói khát.

Chính nó là cái thứ làm cho mình khổ đau, nó mới là cái sợi dây giật con rối, còn con rối là cái thân này vô tri, nó có biết gì đâu nhưng mà nó có buộc sợ dây ở sau bức màn, có những cái thế lực vô hình ở phía sau giật dây, nó điều khiển thế nào thì con rối làm y như vậy. Như vậy đời sống của chúng sanh là một đời sống thiếu thốn, khát khao, nô lệ cho tham dục, một cái đời sống bị điều khiển hoàn toàn, toàn bộ là từ những cái tham dục. Bây giờ mình sát sanh, tham ăn, trộm cắp là tham tiền, tham đồ. Tà dâm, dâm dục là mình tham ái, tham dục. Nói lời phù phiếm, nói lời đâm thọt, nói những lời ác độc này kia là cũng từ cái tham mà không được rồi nó sân, chúng ta thấy không, thật ra cái sân nó chỉ là một cái mặt phản diện của tham thôi, từ tham mà nó có ra. Tức là nó không được thì nó bực bội lên, tức giận lên, chúng ta nhìn sâu sắc cho chúng ta mới thấy được, tham uống rượu, nhậu nhẹt này kia, xì ke, ma túy thì cũng vậy thôi, một cách ăn vi tế hơn thôi, cách hưởng thụ cái cảm giác khoái cảm.

Cho nên toàn bộ sự tu hành là nhiếp phục dục tham, chế phục dục tham và đoạn tận dục tham. Hằng ngày mình không nhận diện ngũ uẩn, mình không đọc các cái suy tư, các cái cảm thọ, các cái hình bóng, các cái sự thúc giục ở bên trong, những cái ám ảnh ở bên trong, những cái thi vi vận hành của mình là mình không có nhìn thấy thì làm sao mình nhiếp phục, làm sao mình chế ngự, làm sao mình đoạn tận cho nên mình tu hoài cũng vậy không thay đổi gì hết. Vì vậy Thế Tôn mới nói trong kinh có năm xan tham.

"Năm xan tham: Xan tham đối với trú xứ, xan tham đối với gia đình, xan tham đối với các vật thâu hoạch, xan tham đối với sắc, xan tham đối với pháp" (Trường Bộ Kinh, 33. Kinh Phúng tụng)

Cái tâm mê này là nó ngu dữ lắm, nó ngu si dữ lắm, nó hôn mê, nó bị chụp thuốc mê, nó đam mê, nó ngu mê, nó si mê, nó ở cái chỗ nào là nó mê chỗ đó. Ở cái nhà thì nó mê cái nhà, nó tham cái nhà, vô cái tịnh thất thì nó tham cái thất, nó mê cái thất, vô cái chùa thì nó tham cái chùa, nó mê cái chùa, đó là xan tham trú xứ nhưng mà vì mình không có nhận diện được. Mình không có tuệ tri nó được, mình chỉ biết bằng tưởng tri, thức tri, không có liễu tri, không có thắng tri, không có tuệ tri, thắng tri, nói đơn giản là một cái sự biết thù thắng của trí tuệ bậc Chánh Đẳng Chánh Giác truyền trao, liễu tri là một cái biết thấu đáo, trọn vẹn, rốt ráo, tuệ tri là cái biết bằng thánh trí, một cái biết thù thắng, một biết thấu đáo và một cái biết bằng thánh trí.

Mình không có được học hỏi, không có được hướng dẫn, không có được mài dũa cho nó sắc bén cái trí tuệ để mình nhận diện và mình chém nó, chặt nó, bằm nó thì nó vẫn sống ở trong con người của mình, nó hoành hành bá đạo, nó xâm chiếm, áp đảo, nó điều khiển, nó chi phối, nó dẫn dắt, nó lôi mình đi thì hằng ngày mình sống không có cái tuệ tri, không có cái sự quán niệm, không có sự chánh niệm tỉnh giác thì mình là chỉ là con rối để cho cái dục tham điều khiển, nó chỉ huy, nó làm ông chủ. Ông chủ thật sự của mình là nó, nó làm chủ mình từ vô thỉ kiếp cho đến nay cho nên ở chỗ ở thì tham chỗ ở, sanh vô gia đình nào là tham gia đình đấy, sanh vô gia đình của con giòi thì nó cũng luyến ái, dục ái, nó khoan khoái trong cái thân giòi đó, sanh vô gia đình chó thì nó cũng luyến ái, nó đam mê, nó thích thú, nó chấp thủ vô trong gia đình chó, sanh do gia đình mèo thì nó cũng tham đắm, tham ái, tham dục ở trong gia đình như con mèo. Sanh trong gia đình ma cũng chấp thủ, nó cũng tham đắm, nó cũng ái luyến vô trong cái gia đình của ma đó, cô hồn, ngạ quỷ, sanh vào trong cái gia đình đói rách, tật nguyền cũng bám vô, cũng chấp vô, cũng dính vô, cũng buộc vô, cũng cột vô rồi sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh trong cái gia đình giờ có quyền uy, có thế lực thì mặc tình, nếu không có cái tu tập các thiện pháp là dương dương tự đắc, cống cao ngã mạn, gọi là "mục hạ vô nhân" trong mắt không có người, nói trên đầu trên cổ người ta rồi tạo ra bao nhiêu ác nghiệp.

II. Thắng tri tham ái

Mình thấy cái tâm mê này nó khủng khiếp lắm, khủng khiếp dữ lắm, đi vô chùa rồi cái tâm mê cũng xan tham trong gia đình, thúc, bác, đệ, huynh, cô, dì, tỷ, muội, sư ông, sư bà, sư cô, sư chú, sư bác, sư chị, sư em… đó là xan tham gia đình. Chúng ta thấy trong Nikāya gọi là các bậc đồng phạm hạnh, hiền giả, tôn giả, bậc hiền trí cho nên cái gì ở ngoài Nikāya mình không có thọ trì, không cần phải học gì hết, không cần bắt trước theo hết. Mình chỉ lấy cái chuẩn của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác làm cái khuôn mẫu, làm cái khuôn phép, nhân thiên sư phạm. Nó trá hình ghê gớm, xan tham lợi dưỡng thì cái này khỏi nói rồi, dịp nào quý thầy mở cho đại chúng nghe con có chia sẻ phần Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, ngài Ca-diếp quở trách rất nhiều cái lợi dưỡng này, thật là đắng cay, thật là ác độc, thật là chướng ngại pháp giống như con cá bị mắc vô lưỡi câu rồi bị hấp, bị chiên, bị luộc, bị kho tộ.

"-- Khổ lụy, này các Tỳ-kheo, là các lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đạt vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.

Ví như, này các Tỳ-kheo, một người câu cá quăng một lưỡi câu ngắn có mồi thịt vào trong một hồ nước sâu, và một con cá có mắt thấy mồi thịt nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con cá đã nuốt lưỡi câu ấy bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị người câu cá muốn làm gì thì làm.

Người câu cá, này các Tỳ-kheo, chỉ cho ma, lưỡi câu, này các Tỳ-kheo, chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng" (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Lưỡi Câu)

Cả cuộc đời dính vô một cái chùa, dính vô một cái lợi dưỡng cung kính, lợi đắc rồi là nó chết, nó cắn vô cái lưỡi câu, cái miếng mồi trong cái lưỡi câu, nó giãy giụa trong đó cho tới chết thôi, chờ ngày đem lên làm cái món kho tộ, món chiên, món xào, món luộc, món hấp gì đó, cho nên phải để ý cái tham nó ác, nó thâm, nó sâu, nó rộng, tất cả mọi ngõ ngách trong thân tâm của mình. Tham dung sắc là tu rồi chứ lâu lâu nhìn gương thấy cái mặt mình là cũng ái ái, luyến luyến trong đó cho nên bậc đạo sư dạy pháp tu lột cái da mặt ra cho nó hiện cái đầu lâu ra, sau đó là chẻ cái đầu lâu ra, cắt ngay cái não ra, phải tu như vậy đó, thánh trí tuệ đó, niệm thân, thân hành niệm hương vị của bất tử thì mới có thể liễu tri tham, tu như vậy mới có thể thắng tri tham.

"- Này các Tỳ-kheo, để thắng tri tham, chín pháp cần phải tu tập. Thế nào là chín?

Tưởng bất tịnh, tưởng chết, tưởng yểm ly đối với các món ăn, tưởng không vui thích đối với tất cả thế giới, tưởng vô thường, tưởng khổ trên vô thường, tưởng vô ngã trên khổ, tưởng đoạn tận, tưởng ly tham.

Này các Tỳ-kheo, để thắng tri tham, chín pháp này cần phải tu tập" (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, X. Phẩm Tham, (I). Thắng Tri Tham)

Nhớ hoài những cái đó thì mới có thể liễu tri tham, thắng tri tham, lời thánh trí của Đức Phật, cái tuệ lực của Đức Phật, cái pháp ngữ của Đức Phật dồn dập liên hoàn vậy đó, còn giờ hỏi mình tu tham còn không thì nói hết tham rồi, mình có thấy cái gì đâu, mình tu trong vô minh, tu trong vô tri, tu trong cái mù lòa.

"Ðể thắng tri tham ái, này các Tỳ-kheo, mười một pháp cần phải tu tập. Thế nào là mười một?

Thiền thứ nhất, Thiền thứ hai, Thiền thứ ba, Thiền thứ tư, Từ tâm giải thoát, Bi tâm giải thoát, Hỷ tâm giải thoát, Xả tâm giải thoát, Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ.

Ðể thắng tri tham ái, này các Tỳ-kheo, mười một pháp cần phải tu tập" (Tăng Chi Bộ, Chương XI – Mười Một, III. Phẩm Ba: Tổng Kết, (II). Tham Ái (1))

Có mười một tầng thiền về bốn vô lượng tâm để thắng tri tham, chúng ta thấy dễ sợ không? Không phải đơn giản đâu, vì hôm qua có một số vị ở ngoài đến cho nên con không có đào sâu lắm, chúng ta thấy như vậy thì cái tham này đâu phải cái chuyện ở trong con mắt của Đức Phật, ở trong cái thánh pháp này đâu phải cái chuyện đơn giản. Nãy giờ là Đức Phật đưa ra chúng ta bao nhiêu cái pháp tu, kinh Thắng Tri Tham, Tăng Chi Bộ, tập IV, chín pháp để thắng tri tham là tưởng bất tịnh, chiêm nghiệm về sự bất tịnh, chiêm nghiệm về sự chết, chiêm nghiệm về cái sự nhàm chán đối với các thức ăn, chiêm nghiệm về cái sự không vui thích đối với tất cả thế giới này, thường thường an trú trong cái vô thường tưởng, trong cái tưởng vô thường, cái tưởng khổ ở trên vô thường, cái tưởng vô ngã ở trên khổ, cái tưởng đoạn tận, tưởng ly tham.

Đó là chín pháp để thắng tri tham, tức là đi nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận tham, gọi là thắng tri là đầy đủ hết trơn và nhận ra nó nhiếp phục, đoạn tận, chế ngự, tẩy sạch, diệt tận thì gọi là thắng tri chứ không phải chỉ biết không đâu, sau khi biết cái nguy hiểm, cái tác hại của nó thì phải nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch mới gọi là thắng tri, là biết một cách thù thắng, là có thể dập tắt được nó, diệt tận được nó, trừ khử được nó, đoạn diệt được nó. Đó là lý do tại sao chúng ta cứ quán bất tịnh hoài, cứ đọc Tứ Niệm Xứ hoài, cứ lột da đầu hoài, lột da mặt hoài, cứ giải phẫu ruột, gan, phèo, phổi ra hoài, quán vậy đó là để chúng ta thắng tri tham chứ còn mình làm mấy bữa rồi mình chán, mình không làm nữa.

Mình phải làm suốt đời làm cho đến khi nào thể nhập cái trí tuệ đó, thâm nhập cái trí tuệ đó, chứng nhập cái trí tuệ đó và nhìn ra được tất cả thế giới này là không có cái gì đáng ưa thích, chỉ là cái thứ khổ đau, cái thứ vô thường, cái thứ trống rỗng, cái thứ đi đến chỗ đổ nát, chấm dứt, đoạn tận, đoạn diệt, cái thứ không đáng để cho mình tham, cái thứ chết chóc, cái thứ bệnh hoạn, thứ nhơ nhớp, bẩn thỉu, thấp hèn, tồi bại, xú uế. Mình quán cho tới lúc mình thâm nhập, mình thể nhập cái trí tuệ đó, thật sự mình thấy như vậy thì như vậy là thắng tri tham, liễu tri tham, nhiếp phục tham, đoạn tận tham, diệt tận tham, tẩy sạch tham.

"- Này các Tỳ-kheo, để thắng tri tham, chín pháp cần phải tu tập. Thế nào là chín?

Sơ Thiền, Thiền thứ hai, thiền thứ ba, Thiền thứ tư, Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Diệt thọ tưởng định.

Này các Tỳ-kheo, để thắng tri tham, chín pháp này cần phải tu tập" (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, X. Phẩm Tham, (II). Thắng Tri Tham)

Ngay cả mình tu tứ thiền hay là tứ vô lượng tâm, tứ thiền bát định thì Đức Phật nói là cái mục đích đều là để thắng tri tham hết, để thoát ra cái lòng tham này, để rời xa cái lòng tham này, để từ bỏ cái lòng tham này chứ không phải mình tu cái đó để mình tham. Chỗ này thâm sâu đó, đây là sự phân biệt giữa thánh chánh định và phàm phu định, diệt thọ tưởng định là mình chấm dứt cảm thọ tham đối với ngũ uẩn, tâm mình hướng đến sự nhàm chán, hướng đến sự ly tham, hướng đến sự chấm dứt, hướng đến sự viễn ly, xả ly, từ bỏ và tất cả sự tu học của mình là hướng tới đó, là nhắm tới đó, để nghiêng về cái ly tham, nhập vào cái ly tham, chứng vào được cái ly tham. Như vậy thì trong sinh hoạt hằng ngày của mình biết cái cách dụng công phu để cái tâm vào cái chiều hướng đó, đặt cái tâm đúng hướng vào cái chiều hướng ly tham, nhàm chán, chấm dứt, đoạn diệt, từ bỏ, thoát ra.

Dầu cho làm bất cứ cái gì thì cái làm đó không phải để chấp thủ vô cái đó, không phải để dựa vô cái đó, không phải để ỷ lại vào cái đó, mà làm cái đó để hướng đến ly tham, học bất cứ cái gì không phải chấp vô cái học đó, dựa vô cái học đó, bản ngã trong cái học đó mà học đó để đi đến chỗ ly tham. Tu bất cứ cái gì không phải ỷ lại vô cái sự tu đó, tu nhiều, tu ít, tu cao, tu thấp, tu sâu, tu cạn mà tu là để đi đến chỗ ly tham chứ không phải tu để tham trong cái tu đó, cho rằng mình hay, mình giỏi, người ta dở, khen mình che người.

Thành ra hôm nay là con giải thích cái chữ ly tham để chúng ta thấy tại sao ngày nào mình cũng chấp tay cúi đầu đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng, đó là pháp tối thượng thừa, đó là tối cao, là vô thượng, là chí thượng, là không có cái pháp nào hơn cái pháp đó.

"Dầu cho loại pháp nào, này các Tỳ-kheo, hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp, tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khát ái, sự nhổ lên tham ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham đoạn diệt, Niết-bàn. Những ai đặt lòng tin vào pháp ly tham, này các Tỳ-kheo, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng" (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IV). Các Lòng Tin)

Đó là pháp tối cao, tối thượng, vô thượng, chí thượng, không có cái gì cao hơn nữa hết, đó là pháp ly tham. Mình nhìn lại trong cái sinh hoạt hằng ngày của mình là thấy liền, đâu có phải nói cái gì cao xa, tham ăn nè, tham mặc nè, tham chỗ ở nè, tham nói nè, tham dục nè, tham làm nè, tham bài công chuyện ra làm nè, không chịu ngồi yên tu, không chịu vô học pháp mà cứ bày cái này, bày cái kia, bày cái nọ ra làm, ham công chuyện, thích công chuyện, ưa công việc, đó là pháp thối đọa của người xuất gia đó. Chẳng qua là con nhìn thấy có khi để chúng ta tu riết luôn thì chịu chưa nổi cho nên con mới có cho làm chút đỉnh cho nó có vận động nhất cái tuổi trẻ, nhưng mà mình phải biết cái đó là cái phương tiện, vì mình chưa làm được cái kia cho nên phải làm cái này chứ không phải lấy cái này làm cứu cánh, cái kia mới là cứu cánh.

Cái mà thật sự chúng ta hướng tới là tối ngày chúng ta chỉ im lặng của bậc thánh, nghe và thảo luận thánh pháp thôi. Chỉ có hai công việc thiền định và tuệ quán, văn-tư-tu, ngoài ra không có công chuyện gì đáng làm nữa hết, đó là bổng phận người xuất gia, chúng ta đoạn tận cái tham này, ly cái tham này, diệt cái tham này, sạch hết cái tham này vậy là xong, bậc đáng được chấp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, rộng phước vô thượng của chư thiên và loài người ở trên đời này.

Thiên nhơn chi Đạo sư,

Tứ sanh chi Từ phụ,

Đó là cái bậc ly tham, là đáng để cho vua trời đảnh lẽ dưới chân luôn chứ không phải là loài người không đâu. Nếu muốn như vậy là mình phải thắng tri, phải liễu tri, phải tuệ tri chứ không phải là tưởng tri với thức tri, mình biết ở trên tưởng tượng. Mình tưởng tượng là bây giờ mình cũng hết tham rồi, mình ít tham rồi, không phải, phải dùng cái thánh trí ngũ uẩn đọc được hết những cái suy nghĩ, những cái cảm thọ, những cái hình bóng ở trong tâm, những cái nhận thức. Phải đọc, phải theo dõi, phải rà soát, phải quan sát nó một cách sát sao, khích khao, miên mật liên tục, không gián đoạn, Đức Thế Tôn dùng cái từ là thiền định không gián đoạn, vô gián định, cái này sau khi mình đã nắm được cái pháp rồi thì cái này là do tự mình làm chứ không ai làm giùm mình được hết, Phật cũng không làm giùm được, các bậc thánh không làm giùm mình được.

Như chúng ta thấy tứ thiền bát định là thiền thứ nhất, thiền thứ hai, thiền thứ ba, thiền thứ tư là tứ thiền. Bốn tâm vô lượng là từ tâm giải thoát, bi tâm giải thoát, hỷ tâm giải thoát, xả tâm giải thoát là tứ vô lượng tâm cộng với tứ thiền là tám pháp rồi, ngoài ra còn không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ là mười một pháp, có chỗ cộng thêm diệt thọ tưởng định là mười hai pháp. Tất cả cái pháp này là để ly tham, đó là ý nghĩa chữ giáo pháp ly tham tối thượng mà mình đảnh lễ mỗi ngày. Khi mình niệm cái chữ đó lên rồi mình có thấy được cái ý nghĩa trong đó không? Hay là mình chỉ niệm cho có niệm vậy thôi, đọc cho có đọc ngoài miệng thôi.

"Để liễu tri sân... si, phẫn nộ, hiềm hận, giả dối, não hại, tật đố, xan tham, man trá, phản bội, ngoan cố, bồng bột, mạn, tăng thượng mạn, kiêu, phóng dật... để thắng tri... để liễu tri... để diệt tận...để đoạn diệt... để trừ diệt... để ly tham... để đoạn diệt... để trừ khử... để từ bỏ, chín pháp này cần phải tu tập" (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, X. Phẩm Tham, (III). Liễu Tri Tham)

Chín pháp này tức là tứ thiền bát định cộng với diệt thọ tưởng định là chín pháp. Chính pháp này tức là tưởng về bất tịnh, tưởng về chết, tưởng về sự nhàm chán đối với các thức ăn, tưởng về sự không vui thích đối với tất cả thế giới, tưởng vô thường, tưởng khổ trên vô thường, tưởng vô ngã trên khổ, tưởng đoạn tận, tưởng ly tham. Những cái bài này là con có giảng rồi, có giải thích rồi, chúng ta nghe lại mười pháp quán tưởng trị bệnh, con có giải thích từng bài theo lời giải của Đức Phật, chính Đức Phật giải thích.

"Để thắng tri tham ái, này các Tỳ-kheo, để liễu tri, để liễu diệt, để đoạn tận, để hoại diệt, để hủy diệt, để ly tham, để đoạn diệt... để xả ly, để từ bỏ... mười một pháp cần phải tu tập" (Tăng Chi Bộ, Chương XI – Mười Một, III. Phẩm Ba: Tổng Kết, (II). Tham Ái (1))

Mười một pháp này là mười một cửa vào bất tử, mười một pháp này đứng ở trên nền tảng của thánh trí ngũ uẩn tu tập thì gọi là cửa vào bất tử, còn mười một pháp này này mà không thấy ngũ uẩn, không có chánh kiến thì mười một pháp này chưa phải, chỉ sanh lên thiên giới thôi. Cho nên cái sự đặc biệt của chúng ta là học được cái chánh kiến, thấy được thân tâm của mình, thấy được tham, sân, si, lậu hoặc, thấy được cái cấu uế, cấu bẩn của tâm, sự xảo trá, quỷ quyệt của tâm, cái đó là cái thánh tri kiến, cái biết của bậc thánh, cái thấy của bậc thánh, cái hiểu của bậc thánh, cái nhìn của bậc thánh. Tuyệt vời lắm cho nên mình biết cái này rồi mình nỗ lực, mình dồn sức vô rồi tự mình làm lợi cho mình, tự mình đem lại cái ân đức cho mình, tự mình đem lại phước báo, công đức, trí tuệ cho mình, tự mình giải thoát mình, tự mình độ mình, tự mình cứu mình, không ai cứu mình được hết. Sau khi mình đã học, đã biết, đã hiểu, đã thấy, đã nắm được cái phương pháp rồi thì tự mình phải nỗ lực, dồn sức ngày đêm vô, đừng để cho mấy cái chuyện tào lao, vô ích, vô nghĩa, vô giá trị, vô tích sự đó làm mất hết cái thời giờ, mất hết cái tâm tư, cái tâm lực của mình.

Mình đặt cái tâm sai hướng là uổng lắm, cái thời đại này mà mình gặp thánh pháp, mình ở được cái môi trường thù thắng, tối thượng như vầy, có đại chúng hiền thiện, tinh ba như vậy, hòa kính như vậy mà mình không nỗ lực tu là cái lỗi đó là do ai? Mình phải thấy mình thay đổi hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, phải thay đổi lớn, thay đổi nhiều, thay đổi nhanh, thay đổi lẹ, thay đổi mau, phải hướng thượng, phải tăng thượng, phải càng ngày càng cao thượng ở trong cái thánh pháp. Chúng ta nhìn và tổng quát hết rồi chúng ta mới thấy thật sự Đức Phật chỉ dạy cái ly tham, từ bỏ thôi chứ không có gì hết chứ không phải là lấy được thêm vô đâu. Thật sự những cái buổi này là con nói tổng quát về đại tạng Nikāya phân loại theo chủ đề là con nói tổng quát, chưa có thời gian để mình học từng chi tiết, trong đây là năm trăm cái đề tài là không biết còn sống để mà nói không.

Con nói cái tổng cương lĩnh, cái lõi cây, nắm được gốc rễ, đại cương tổng quá, cái nét chung, cái tổng cương lĩnh mình nắm được, từ cái chỗ nắm này mình có cái chìa khóa đi vào kinh đọc rồi là hiểu rõ ra, sáng rực ra hết, không có cái nào khó hiểu hết, minh minh bạch bạch, tỏ tỏ tường tường, trong trong sáng sáng, rõ rõ ràng ràng. Pháp trong lòng bàn tay.

"Này Hiền giả, cái này có khả năng giải thoát sân tâm, tức là từ tâm giải thoát.

Này Hiền giả, cái này có khả năng giải thoát hại tâm, tức là bi tâm giải thoát.

Này Hiền giả, cái này có khả năng giải thoát bất lạc tâm, tức là hỷ tâm giải thoát.

Này Hiền giả, cái này có khả năng giải thoát tham tâm, tức là xả tâm giải thoát.

Này Hiền giả, cái này có khả năng giải thoát tất cả tướng, tức là vô tướng tâm giải thoát.

Này Hiền giả, cái này có khả năng giải thoát mũi tên nghi hoặc do dự, tức là sự nhổ lên kiêu mạn "Tôi là".

Này các Tỳ-kheo, đây là sáu pháp xuất ly giới." (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (III). Xuất Ly Giới)

Chúng ta thấy Đức Phật nói cái gì hoàn toàn giải thoát, rất là đơn giản, bỏ sát sanh không còn sát sanh nữa thì đó là hoàn toàn giải thoát, bỏ nói dối không còn nói dối nữa thì cái đó là hoàn toàn giải thoát nói dối, bỏ cái sự lười biếng, giải đãi, mình có tinh tấn, như vậy là hoàn toàn giải thoát đối với cái lười biếng, giải đãi. Chúng ta thấy tuyệt vời, tuyệt diệu không chứ đâu phải là cái gì đâu, từng cái phần giải thoát rồi nó đi đến toàn phần giải thoát, mình coi lại coi trong con người mình nó có những cái gì, ác bất thiện pháp, cấu nhiễm thì nhận diện nó rồi mình quán chiếu về sự nguy hiểm và tác hại của nó, cái hậu quả của nó là đưa đến cái chỗ nào, mình thấy rõ được cái sự nguy hiểm, tác hại của nó rồi mình hướng đến sự xuất ly, sự từ bỏ, thì từ bỏ là ly tham, là viễn ly, là đoạn diệt, là chấm dứt khỏi nó thì đó là giải thoát hoàn toàn.

Mình tưởng đâu giải thoát hoàn toàn là tới cái lúc mình chết thì không phải, đối với cái giận mình quán sát cái nguy hiểm, tác hại, cái hậu quả nó đưa đến, cái khổ đau nó đưa đến, mình từ bỏ nó một cách hoàn toàn thì lúc đó là mình giải thoát hoàn toàn khỏi nó. Đối với tham, đối với ái, mình thấy sự nguy hiểm, sự tác hại, sự hệ lụy, cái hậu quả nó đưa đến, cái đau khổ ở phía sau mà nó đem lại cho mình rồi mình từ bỏ, mình chấm dứt, mình đoạn diệt, mình xả ly, mình viễn ly, mình xuất ly thì ngay chỗ đó là mình giải thoát hoàn toàn cái tham ái đó. Đó là hoàn toàn giải thoát được Đức Phật định nghĩa trong bài kinh Đoạn Giảm quá tuyệt vời luôn nên phải nghiệm cái bài kinh đó pháp đàm cái bài kinh đó, viết bài về bài kinh đó để cho nó ăn sâu vào trong lòng mình.

Cái sự tu là nó từng cái nhỏ như vậy rồi đi tới những cái vừa, từ cái vừa nó đi đến cái lớn, rồi từ cái lớn đi đến cái đại viên mãn hoàn toàn giải thoát. Đối với cái tham này là giảm bớt cái tham ăn, giảm bớt cái tham đồ, tham tiền, nhiếp phục, chế ngự cái tham dục, giảm bớt, nhiếp phục, chế ngự cái tham nói, tham chơi, buông lung phóng dật, thả lỏng các căn, nhiếp phục, chế ngự cái tham trú xứ, trong gia đình, cái tình thân. Nhiều khi đi tu rồi kết thân với người này người kia, cha mẹ thì bỏ, ông bà, cô bác thì bỏ mà ra kết thân với người dưng, thân pháp để đoạn tận tham, sân, si thì tốt nhưng không, chỉ là một sự trá hình của tham ái, lúc nào cũng kè một bên. Đó là sống có người thứ hai là nói mặt thô, nói mặt tế là dù cho mình có ở một mình mà trong tâm còn tham ái thì Đức Phật nói vẫn là sống với người thứ hai.

"-- 'Sống một mình! Sống một mình!', bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là sống một mình? Và cho đến như thế nào là sống có người thứ hai?

-- Này Migajàla, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỳ-kheo hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc ấy; do vị ấy hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc ấy nên hỷ (nandi) khởi lên. Do hỷ có mặt nên dục tham (sàràgo) có mặt. Do dục tham có mặt nên triền phược có mặt. Bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên Tỳ-kheo được gọi là người sống có người thứ hai.

... có những tiếng do tai nhận thức... có những hương do mũi nhận thức... có những vị do lưỡi nhận thức... có những xúc do thân nhận thức...

Này Migajàla, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỳ-kheo hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến pháp ấy; do vị ấy hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến pháp ấy nên hỷ khởi lên. Do hỷ có mặt nên dục tham có mặt. Do dục tham có mặt nên triền phược có mặt. Bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên Tỳ-kheo được gọi là người sống có người thứ hai.

Tỳ-kheo sống như vậy, này Migajàla, dầu cho đến ở các trú xứ xa vắng, các khóm rừng, các khu rừng, ít tiếng động, ít ồn ào, khỏi hơi thở quần chúng (vijanavàtàni), vắng người, thích hợp với tịnh; dầu vậy, vẫn được gọi là sống với người thứ hai.

Vì sao? Vì rằng ái, người thứ hai, chưa được đoạn tận cho nên được gọi là sống có người thứ hai." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, II. Phẩm Migajàla, I. Bởi Migajàla)

Phải nhận diện ra được những cái đó, mình tu không có thân với ai, sơ với ai hết, không có hợp ý tôi thì chơi, còn không hợp là tôi không chơi, cái tâm mình phải bình đẳng, cái người hợp ý mình thì mình cũng không có tham đắm vô đó, cái người không hợp với mình thì mình cũng có sân hận. Mình tu với mục đích ly tham chứ đâu phải là tham đâu, mà mình thấy người hợp ý với mình là mình tham ái, là kết bạn, kết nhóm, nhiều khi nhóm này không chơi với nhóm kia, nhóm kia thì không hợp với nhóm này. Như vậy đâu phải người tu, phải thấy rõ những cái vi tế, mình đi từ cái sâu tới cái cạn, từ cái rộng tới cái hẹp, từ cái cao đến cái thấp để cho mình thấy được mọi khía cạnh, gốc độ, phương diện của cái tâm tham trong cái đời sống, sinh hoạt thường nhật của mình.

Ngoài ra còn tham công tiếc việc, cứ thích làm cái này, làm cái kia, làm cái nọ, không chịu để thời giờ tu học, không để thời giờ để nghe pháp, không để thời giờ để thiền định, không để thời giờ để tư duy, quán chiếu, cứ thích làm cái này, làm cái kia, làm cái nọ. Nếu mà cái việc cần thiết thì mình làm, còn không cần thiết đừng có bày ra, đừng có trong chỗ vô sự mà sanh sự, trong chỗ vô phiền mà sanh phiền, trong chỗ không có chuyện mà đi kiếm chuyện, kiếm chuyện xong thì chuyện kiếm rồi nhiều chuyện, nhiều phiền, nhiều não, nhiều sầu bi không tu được. Bị mất đi cái mục tiêu vô thượng an lạc, an ổn khỏi các khổ ách. Dần dần phai nhòa, dần dần lãng quên, dần dần không còn chí hướng cao thượng gì nữa hết, tu riết khỏi nói kinh, nói pháp gì nữa, nói pháp nghe ngán, chán quá, nói chuyện đời rồi xong thối đọa luôn rồi, xuống vực sâu luôn.

Cho nên con không biết là quý vị tu cái gì mà hễ con thấy quý vị hoan hỉ trong cái pháp, hoan hỉ trong cái ngồi thiền là con lạy, con hạnh phúc lắm, vui lắm. Cứ mỗi ngày tu tám tiếng cho con, giữ điều như vậy suốt ngày, ngày nào cũng vậy cho tới chết, mình nói cái hình thức ở ngoài thôi mà như vậy cũng rất tốt, còn cái nội dung nữa thì như nãy giờ mình đã học, hướng tới cái mục tiêu đó. Chúng ta thấy lời di huấn của bậc đạo sư trước khi nhập diệt là phải theo thời khóa, điều đặn tu hành, đừng có đòi cái gì cao siêu, dữ dằn, phải kiên trì, bền chí, điều đặn tu học theo cái chánh kiến này, phá thân kiến, diệt dục, diệt ngã, tu tập tứ vô lượng tâm, bốn cái thánh hạnh, thành thật những cái đức hạnh vi diệu nhỏ nhiệm, cái đời sống mình sống theo pháp chân chánh.

Như vậy mà tới chết thì mình phải đi vào dòng chảy của trí tuệ, dòng chảy của ly tham, của viễn ly, của xả ly, của đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, thoát ra. Quá ư là hạnh phúc, quá ư là tối thượng, được như vậy mà không tu học được nữa thì không biết là như thế nào, không còn chỗ nào để nói. Chúng ta có chiêm nghiệm gì về cái phần ly tham này không ạ? Nãy giờ là con Giải thích hai chữ ly tham thôi đó, nhận diện nó thấy, sự nguy hiểm và tác hại của nó rồi cái sự xuất ly, xả ly đối với nó.

III. Chia sẻ, trình pháp

Sư cô 1: Con chân thành cúi đầu kính lễ lên Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con chân thành kính lễ lên giáo pháp ly tham tối thượng, con xin chân thành kính lễ trên bốn đôi tám chúng hiền thánh Tăng, con kính lễ lên bậc đạo sư tôn kính, con kính lễ trên sư phụ tôn kính, con xin kính lễ lên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Kính trên sư phụ, những bài pháp sư phù chia sẻ vài bữa nay và hôm nay giảng dạy cho chúng con đi sâu vào chiêm nghiệm về đề tài ly tham cũng chính là con đường Đức Phật dìu dắt, dạy dỗ chúng sanh thoát khỏi khổ là cái bước đầu tiên. Con nhìn thấy rằng cái thọ con rất là hạnh phúc, mình đang đi trên con đường và đang đi đạo lộ chính bậc đạo sư, thầy của trời người dẫn dắt và được sư phụ truyền trao, dạy dỗ từng chút một.

Nhiều khi trước đây con không có được tỏ rõ nhưng mà con cũng rất là tâm đắc và rất là tôn kính, bởi vì muốn thoát khổ, con đường không ngoài nào khác phải ly tham. Tất cả những sự tham đắm mà mình không biết trong đó cái cốt lõi là tự cho là tôi, là của tôi, cái gì cũng đặt cái chữ tôi vào thì nó sẽ còn sẽ còn mọc rễ, phải lìa xa gia đình, lìa xa cái nhà, cái vật chất để vào chùa thì lại dính mắt ở chùa. Dính mắt cũng vì cái chữ cái ngã và cái từ tôi và của tôi trong đó, sự chấp thủ chính là sự chấp thủ uẩn này, không rời xa được. Đức Phật dạy cho ngài thánh mẫu của Đức Phật rằng thấy tham đâu chặt đó, thấy ái đau chặt đó, chính những cái ái và lý do có cái ái xuất hiện cũng là cái tham.

Hằng ngày trong cuộc sống ở trong chùa con cũng đã nhìn thấy mình đã lìa tham ở ngoài mà vào đây mình còn dính mắt, nó không có rời xa vì lý do mình không nhìn thấy nhưng được sư phụ chỉ bày con đã nhìn thấy rồi, con cũng đã cơ hội, cơ duyên đọc được những các pháp tưởng của Đức Phật dạy, nó rất là gần gũi, thường xuyên ở trong các tưởng này.

"Có năm tưởng này, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, đưa đến cứu cánh bất tử. Thế nào là năm?

Tưởng bất tịnh, tưởng chết, tưởng nguy hại, tưởng ghê tởm các món ăn, tưởng không có hân hoan đối với tất cả thế giới.

Năm tưởng này, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, đưa đến cứu cánh bất tử" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, VII. Phẩm Tưởng, (I) Các Tưởng (1))

Mỗi một việc, mỗi một sự việc xảy ra hằng ngày trong đời sống sinh hoạt thì con cũng cố gắng đi sát vào lời dạy của Đức Phật. Nếu rời xa lời dạy Đức Phật tức là rời xa pháp, lập tức ngay tại đó mình đã mê và trở lại dòng khổ đau, cái tưởng vô thường không có cái ngày giờ sau đó mà ngay bây giờ mình có thể đột quỵ, những cái sự vật xung quanh mình cũng có thể biến đổi, trong con người mình không phải biến đổi từng giờ, từng ngày nhưng mà ngay lập tức mình nghĩ rằng có còn sống đến giây phút sau không thì lúc đó là đang ở trong pháp. Con cũng nghĩ rằng như vậy thì cái sự lìa tham của mình, sự dính mắt của mình nó giảm đi rất là nhiều và sự thực tập trong đời sống Đức Phật dạy là ghê tởm các món ăn tưởng. Trước đây con nghĩ rằng cái món ăn nó bổ, nó ngon như vậy, tại sao lại tưởng cái món ăn ghê tởm, sau khi được học sâu sắc những món ăn này nó là duyên sanh cho cái tái sanh của cái sắc này, mà sắc này đã muốn lìa xa, muốn ghê tởm, là ung nhọt, là sự giòi bò, là mũi tên, sự đau khổ thì mình phải nghĩ rằng những món ăn này nó đưa vào cái chỗ dơ bẩn, món ăn này cũng phải là dơ bẩn, dơ bẩn vì nó làm cho sắc này đi tái sanh.

Tưởng không hoan hỉ tất cả thế giới vì thế giới này đau khổ rất là nhiều, chiến tranh, hoạn nạn và những cái ở ngoài kia chỉ là tạm thời. Người ta không nhìn thấy sâu sắc về cái đau khổ, cái sung sướng cái của người ta là một cái tạm thời, là một sự hơn thua, sự tranh giành, sự đấu đá mà trong đó hậu quả lại là sự đau khổ. Đau khổ vì trong luân hồi sinh tử của khổ, hoan hỉ cái gì ngoài đó, kể cả tất cả thế giới của Đức Phật dạy rằng không hoan hỉ thì cái khó của mình hiện tại, cái đạt của mình hiện tại, cái được của mình hiện tại cũng hoan hỉ, vì sao. Tức là tất cả những cái được của mình khi mình nghĩ đến là để ly tham, để xa lìa, để chấm dứt khổ đau và quan trọng hơn hết là chấm dứt cái tái sanh, chấm dứt luân hồi sinh tử, đi vào bất tử. Đây là một phần những cảm nghĩ, những suy nghĩ, những cái cảm thọ của con trong bài pháp hôm nay, con kính tri ân xin sư phụ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Thầy Thiện Huệ: Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình, cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này, chư vị nghe hiểu được âm thanh này cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này. Mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài. Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện sự an lạc, bình an, trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.

./.