Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 5

2026-03-03 00:54:52
Ngũ Uẩn Giảng Giải 5

Thích Minh Thành

Ngày 24 tháng 10 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Định nghĩa ngũ uẩn PAGEREF _Toc121062412 \h 1

II. Xúc PAGEREF _Toc121062413 \h 5

III. Ý thức và pháp tưởng PAGEREF _Toc121062414 \h 10

I. Định nghĩa ngũ uẩn

Chúng ta sẽ đi thật chậm, không đi vội để nắm thật vững chắc những trí tuệ này để thực tập trong suốt cuộc đời tu của chúng ta.

Trước khi tiếp tục bài, chúng ta đọc thuộc lòng định nghĩa số 1.

Thân người là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức.

Định nghĩa ngũ uẩn số 2:

Thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại là sắc, cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là thọ, hình bóng thô tế trong tâm là tưởng, suy nghĩ nói thầm trong tâm là hành, rõ biết trong ngoài sáu trần là thức.

Sắc là thân tứ đại này và cảnh vật ở bên ngoài do tứ đại tạo thành. Thọ là những cảm giác, cảm xúc trong thân tâm. Cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thoải mái được gọi là lạc thọ. Cảm giác khó chịu, bức xúc, bức rứt được gọi là khổ thọ.

Khi chúng ta nghe tiếng rú vừa rồi thì cảm thọ của chúng ta như thế nào? Cảm giác khó chịu. Chúng ta phải nhận diện cảm thọ, đừng chạy theo âm thanh đó mà quay trở lại xem cảm thọ của mình như thế nào, đó là chúng ta bước đầu tiên tập sự hướng nội, nhận diện cảm giác của mình. Thói quen của chúng sanh là thói quen hướng ngoại, còn thói quen của các bậc Thánh đệ tử, các bậc hiền thánh là hướng nội.

Vậy nên bất cứ chuyện gì đối với phàm phu chúng sanh là họ nhìn ra ngoài, chạy theo sắc, thanh, hương, vị, xúc, chạy theo những hình tướng, những màu sắc, chạy theo những âm thanh, những mùi, vị, những sự tiếp xúc. Xúc ở đây rất nhiều, có đến sáu xúc. Ví dụ cái micro này cũng giống như sự tu học của chúng ta, chúng ta không có sửa soạn, chuẩn bị, không coi sóc nó thường thì nó bị hư bất thình lình những lúc quan trọng. Tâm mình cũng vậy, tức là một người cẩn thận thì trước giờ học phải kiểm tra, kiểm soát, không để ý, không để tâm thì bất cứ cái gì cũng có thể trục trặc bất ngờ, đột ngột. Cái này cũng là bài học cho chúng ta thấy.

Ví dụ trước giờ học của Minh Thành, các thầy các cô có chuẩn bị bài không? Chuẩn bị bài trước đó gọi là tiền phương tiện, sự sửa soạn, sự chuẩn bị, giống như mình nấu một buổi ăn, không phải tự nhiên mình vào bếp nấu được. Mình phải xem cần phải mua cái gì, mình phải đi ra mua, nhiều khi thiếu sót thì mình phải đi ra thêm một lần chợ thứ hai, tức là tất cả mọi thứ đều có sự sửa soạn và chuẩn bị, nếu mình chuẩn bị không kĩ, sửa soạn không kĩ thì tới lúc quan trọng thì mình sẽ rối rắm, thiếu thốn, sẽ không đầy đủ phương tiện.

Như vậy thì khéo học là gì chúng ta cũng học được, cái gì chúng ta cũng để tâm học được. Trong sách vở của các chư tổ có câu “Vĩnh cư học địa” là mãi ở nơi học vị của người học trò. Vĩnh là vĩnh viễn, cư là cư trú, học địa là địa vị của người học trò. Một người cầu học pháp, học đạo thì phải để tâm mình là một người học trò thì người đó mới học được thật nhiều những pháp. Nếu mình học với bản ngã, với định kiến, kiến chấp học, với một sở chi trướng, tức là mình cho rằng mình thấy, mình biết, mình hiểu, mình hay, mình giỏi, mình tài, mình thông suốt mà mình học với thái độ của cái ta, cái tôi, cái bản ngã, hoặc là những bằng cấp, học vị, kiến thức mà mình đã có được thì mình học mãi mãi cũng là học của phàm phu, không học tới Thánh trí huệ được.

Vậy nên bước quan trọng nhất của người học là tâm khiêm cung là quyết định của sự tu học, thành bại là ở đó. Nếu mình đem một tâm “Tôi là học đại học, tôi là thạc sĩ, tôi là tiến sĩ, tôi ở trong chùa lâu năm, từ nhỏ tới lớn, tôi là biết cái này cái kia cái nọ” thì tâm đó, xuất phát điểm của nó là bản ngã nên thành công của nó cũng chỉ là đại ngã, không học tới vô ngã được. Chỗ đó là chỗ chúng ta để ý.

Nãy giờ chúng ta thấy hai pháp: Một cái là phải sửa soạn, chuẩn bị, ví dụ như trước buổi học mình phải coi bài, phải nghiền ngẫm, phải quán chiếu. Khi tới buổi học đó thì mình sẽ thu thập pháp đó rất nhanh, rất mau, mình hiểu thì nó sẽ thuận lợi trong hiểu biết của mình. Nếu mình bỏ dở thì tới ngày đó mới mở bài lên thì mình là mình, bài là bài, không dính dáng gì, kêu hỏi bài mà mình không nhớ gì thì cái học đó mình học hoài cũng không thông.

Chúng ta trở lại, sắc là thân tứ đại này và cảnh vật ở bên ngoài do tứ đại tạo thành, thọ là những cảm giác, cảm xúc ở trong thân tâm, cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thoải mái được gọi là lạc thọ, cảm giác khó chịu, bức xúc, bứt rứt được gọi là khổ thọ, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu, thường thường, trung trung được gọi là thọ không khổ, không lạc. Tưởng là những hình bóng, bóng dáng, ẩn ẩn, hiện hiện, chập chờn trong tâm. Đó chính là bóng dáng của sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.

Pháp ở trong trường hợp này là thọ, tưởng, hành, những bóng dáng này ẩn hiện trong tâm, chập chờn trong tâm, đó gọi là tưởng. Trong kinh Nikāya nói nhận rõ nên gọi là tưởng, khi nào thực hành, thấy biết rạch ròi và phân biệt rõ ràng về ngũ uẩn thì chúng ta mới có thể hiểu được chữ nhận rõ này. Ví như có người nhớ tối hôm qua mình ăn mì gói, chiều nay hình ảnh của tô mì gói ăn lúc tối đó hiện khởi trong tâm thì sự hiện khởi trong tâm hình ảnh của tô mì gói đó được gọi là nhận rõ cái mình đã ăn chiều hôm qua. Sự nhận rõ này hay hình bóng tô mì gói đó được gọi là tưởng. Nếu chưa nhìn thấy trọn vẹn về ngũ uẩn thì chúng ta hãy tạm xem tưởng là những hình bóng ngoại trần và nội trần ẩn hiện ở trong tâm.

Giờ chúng ta nhớ lại hình bóng khi nãy từ chùa mình đi qua đây, thì đó là cái gì uẩn? Hay mình nhớ lại tuần trước mình có dự một buổi lễ nào đó thì hình bóng của buổi lễ đó là gì? Trong buổi lễ đó mình nghe hay đọc, phát biểu âm thanh của bài đọc đó, âm thanh của những lời phát biểu ấn tượng đó thì đó là gì? Là thanh tưởng. Hình bóng của những người dự buổi lễ, khung cảnh buổi lễ đó là gì tưởng? Hình ảnh của buổi lễ đó là gì tưởng?

… trình bày trong buổi lễ đó và mình hồi tưởng lại thì âm thanh đó gọi là gì? … 18:30 hay gì đó thì mình nhớ lại hương, vị đó thì gọi là gì? Mình hồi tưởng lại mùi…19:12 Chúng ta học kinh Nikāya chúng ta sẽ thấy là có hết, rõ hết từng khía cạnh ở trong thân tâm của mình, Đức Phật trình bày sự chứng ngộ của Ngài từng chút một. Mình học điều này rồi thì tất cả trong thân tâm của mình không có một cái nào mà mình không thấy không biết.

Mình sẽ phân biệt được tất cả mọi khía cạnh, góc độ trong và ngoài các pháp. Khi mình hồi tưởng lại mùi thơm của món ăn, mùi hấp dẫn của tô bún huế đó là hương tưởng. Hoặc là có người đi ngang mình và có một mùi thơm, giờ mình nhớ lại mùi thơm của người đó thì gọi là hương tưởng. Hoặc một ngày mình đi vào toilet và mình thấy “tàn dư” khủng khiếp còn sót lại thì đó là hương tưởng, sắc tưởng.

Chúng ta thấy trong kinh Nikāya trình bày những trí tuệ này, đó giờ mình học là chưa học được những cái này. Đó là sắc tưởng, hương tưởng, vị tưởng, tiếp đến là xúc tưởng.

Ví như có người đem cho mình một ly cà phê sữa hay một ly nước cam vắt, và nước đá rất lạnh, lúc đó mình cầm ly lên thì thấy “Ôi lạnh quá!” hay cầm cái tô thì “Ôi nóng quá!” Sau đó mình mới hồi tưởng lại lúc lạnh quá hay nóng quá của tay mình thì lúc đó là gì tưởng?

Chúng ta đã rõ những pháp này chưa? Khi chúng ta đã học và đi qua rồi thì sau này chúng ta sẽ không giải thích lùi trở lại nữa.

Giờ mình ngồi ở đây, mình nhớ về chùa ở quê thì hình bóng chùa ở dưới quê mình thì đó gọi là gì? Sắc tưởng. Mình nhớ tiếng lao xao của hàng trúc, tiếng ểnh ương kêu, nhớ tiếng gà gáy sáng ở quê, nhớ những tiếng xe honda chạy ngang chùa mình mỗi buổi sáng. Khi mình hồi tưởng lại những âm thanh đó thì gọi là thanh tưởng.

Mình nhớ những mùi của cỏ, mùi thơm ở quê hoặc ở trên núi khi phát cỏ, mình đi ra chỗ phát cỏ đó thì có nghe được mùi thơm của cỏ không? Khi mình hồi tưởng lại mùi thơm của cỏ đó thì đó gọi là hương tưởng. Hoặc ở quê mình có làm những hủ tương, các chùa ở trên núi thường có làm tương, như ở Châu Đốc, thì khi mình mở hủ tương ra thì mùi rất “nồng nàn”. Nên khi mình nhớ lại mùi của hủ tương hay hủ chao đó thì đó gọi là hương tưởng. Khi nào mà món gì để vào lưỡi nếm và mình nhớ lại vị đó thì đó mới gọi là vị tưởng.

Sau khi mình chấm chấm một ít để vào hay cuốn một gỏi cuốn hay mình chấm vào tương thì mình cắn một cái thì vị của nó và giờ mình ngồi ở đây và nhớ lại mùi, vị của nó khi mình được ngửi, được nếm thì đó là hương và vị tưởng.

II. Xúc

Tiếp theo là chỉ cần đưa một món đồ chạm trúng tay, về là thọ, tưởng, hành vận hành, hình bóng của người đó là tưởng, suy nghĩ về người đó là hành, cảm giác dễ chịu hay khó chịu? Chúng ta thấy thật dễ sợ, xúc là sanh ra thọ, tưởng, hành. Đây là định lý, chứng ngộ của Đức Phật. Xúc sanh ra thọ, tưởng, hành, xúc sanh ra dục, xúc sanh ra nghiệp.

Ví dụ như đưa món đồ chạm ngón tay, đó là thân xúc. Sáu xúc gồm có: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc.

Khi tay chạm vào món đồ thì đó là thân xúc, khi xúc như vậy là nó có cảm giác, khi trở về có hình bóng, khi trở về sẽ suy nghĩ. Như vậy thì suy nghĩ gì? Thọ, tưởng, hành này sanh ra dục, nếu là đối tượng mà mình yêu thích, nếu như mình xúc với đối tượng mà mình không yêu thích thì lúc đó sanh ra sân, bực bội, khó chịu. Vậy nên sự tiếp xúc này sanh ra cảm giác, sanh ra các hình bóng trong tâm, sanh ra những suy nghĩ về đối tượng mà mình tiếp xúc. Sự tiếp xúc này sanh ra sự ham muốn.

Ví dụ, giờ mình nhìn thấy chậu lan này rất đẹp, là nhãn xúc, khi tiếp xúc thì sanh ra cảm giác dễ chịu. Khi trong tâm mình có hình bóng của chậu lan đẹp đó khi về chùa, khi mình nhớ lại thì đó là tưởng, mình còn nghĩ “Không biết chậu lan đó là lan gì? Mua ở đâu? Bao nhiêu tiền?” thì suy nghĩ đó là gì? Nếu chậu lan đó đẹp thì mình có muốn không?

Chúng ta thấy tâm mình nó vận hành không? Sự tiếp xúc đó sanh ra nghiệp, là thói quen của mình, nếu như người đó thích hoa thì gọi là mình đã tập quen trong cảm thọ mình có sở thích đó, sở thích là cái mà mình yêu thích. Nếu như mình đã quen với cái đó rồi và mình xúc với cái đó thì thế nào nghiệp sẽ sanh, sức mạnh của thói quen sẽ sanh khởi.

Chính vì vậy, xúc khủng khiếp nhất, nên Đức Thế Tôn, hay các bậc Thánh tăng, hay những bậc Tỳ-kheo thời Đức Phật là các Ngài rất ngăn chặn sáu xúc. Chúng ta bây giờ tại sao tu hành không đắc đạo, không chứng quả, không thành tựu là chúng ta không nhiếp phục, chế ngự, thâu nhiếp sáu căn, không ngăn chặn xúc và cũng không biết đó là xúc vì mình không học kĩ nên không biết. Nên nhiều khi mình học ở trên trời, mình học toàn những tư tưởng nói …31:44 nhưng những căn bản mình không nắm vững những pháp hành nên tuy là hiểu nhưng thực tế thì không có, không ứng dụng được. Vì chúng ta không thành tựu được trí tuệ căn bản trong pháp hành. Vậy nên, khi tiếp xúc rất quan trọng, trong sáu xúc của mình, nếu mình không tu tập thì xúc là mình dính ngay.

Nên trong sự tu của mình phải cẩn thận, gọi là hộ trì sáu căn, phòng hộ sáu căn, thu thúc lục ăn thanh tịnh giới.

Giới của mình là giới thu thúc lục căn thanh tịnh, không chỉ thu thúc mà còn phòng hộ, phải có bảo vệ.

Trong Tương Ưng Sáu Xứ, Đức Phật nói:

“2) -- Có sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?

3-5) Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ... Tai... Mũi...

6-7) ... Lưỡi... Thân...

8) Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

9) Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

10) Có sáu xúc này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc. Thế nào là sáu?

11-13) Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc... Tai... Mũi...

14-15) ... Lưỡi... Thân...

16) Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.

17) Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tương Ưng Sáu Xứ - Phẩm Từ Bỏ - Bài kinh Thâu nhiếp)

Lành thay, phòng hộ mắt, lành thay, phòng hộ tai, lành thay, phòng hộ mũi, lành thay, phòng hộ lưỡi, lành thay, phòng hộ thân, lành thay, phòng hộ ý, lành thay, phòng tất cả. Phòng hộ được tất cả thì sẽ thoát khỏi khổ đau.

Nên trong sự tu theo tinh thần nguyên chất của Đức Phật dạy rất kỹ, từ những cái rất căn bản. Không phải mình nói:

“Kiến sắc, phi can sắc,

Văn thinh bất thị thinh,

Sắc thinh vô quái ngại,

Thân đáo pháp vương thành.”

Nghe qua đã nhưng đó là nói dối, làm sao mình thấy sắc mà mình không dính với sắc được? Đó là cảnh giới của bậc A-la-hán, cảnh giới của bậc tâm bất động giải thoát. Mình nói là thấy sắc không dính sắc, nghe tiếng không vướng tiếng, sắc thân đều vô quái ngại, tự thân đến thành của pháp vương. Nghe qua đã, oai không, sướng không? Nhưng chỉ là sướng ở cái miệng, làm sao tu?

Nên chính cái học đó là cái học thất bại từ đầu, vì cảnh giới là của bậc Thánh, bậc chí thánh, tức là quả thánh tối cao. Nhưng mình chưa học, như chưa tập bò đã học bay, đã học chạy. Vậy nên chỗ đó chúng ta nên để ý, một người xuất gia là rất quan trọng trong mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Chỉ cần nhìn một người là biết người đó có tu tập hay không. Theo tinh thần Nikāya thì chỉ cần nhìn, ánh nhìn, bước đi của mình, cử chỉ, hành động của mình, cách nói chuyện của mình mà không có phòng hộ, bảo vệ, thu nhiếp, giữ gìn. Vỏ ngoài của phạm hạnh là không có, cây không có vỏ thì làm sao có lõi.

Vậy nên tu học theo tinh thần Đức Phật dạy rất tỉ mỉ, từng chi tiết, rất nhỏ nhiệm mới có thể siêu phàm nhập thánh, mới có thể từ kẻ vô văn phàm phu trở thành bậc Đa văn Thánh đệ tử, trở thành bậc chúng trung tôn, trở thành vô thượng phước điền của chư thiên và loài người. Không phải là chuyện đơn giản mà mới cạo đầu đã nói là “Tôi là nhân thiên sư phạm” Học như vậy rất nguy hiểm. Nhân thiên sư là thầy của Trời, người ý chỉ các bậc Thánh và Đức Thế Tôn, còn người mới xuất gia thì không được gọi là thiên nhân sư. Nên có nhiều lúc dùng lộn xộn, đó là Chánh pháp bị nhiễu loạn.

Nên qua đó để nhận diện cho chúng ta thấy được là tưởng và xúc. Mình đang nói về sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng. Ví dụ mình đi trên xe đông người, ngồi chật, đang ngồi gần một người là đối tượng có thể làm cho mình sanh khởi lên tham ái, tham dục thì đó là thân xúc. Trong khi tiếp xúc như vậy mình sanh khởi lên lạc thọ, dục sanh, ái sanh. Sau khi mình trở về là hình bóng người đó, cảm giác đó, những suy nghĩ đó sanh khởi. Đó là xúc sanh thọ, tưởng, hành; xúc sanh dục, xúc sanh nghiệp là đó.

Vậy nên, trong sự tu tập nhận diện ngũ uẩn này chúng ta nhìn ra được tất cả các pháp, từ chỗ đó chúng ta ngay cả xúc, thọ đó là mình đã nhiếp phục, chế ngự, mình không cho nó sanh khởi lên lạc thọ, mình không cho nó sanh khởi lên dục ái. Mình phải tác ý, ngăn chặn, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch. Như vậy thì trở về thọ, tưởng, hành không có hoặc có rất ít, mình diệt rất nhanh. Còn nếu mình không biết thì nó đi tuốt luôn. Nên thân xúc, xúc tưởng, xúc tư là hồi tưởng lại những sự tiếp xúc;

Sự tiếp xúc của con mắt, sự tiếp xúc của lỗ tai, sự tiếp xúc của lỗ mũi, sự tiếp xúc của lưỡi, sự tiếp xúc của thân. Đó là chúng ta còn dễ hiểu, tiếp theo là sự tiếp xúc của ý, điều này rất vi tế, tế nhị.

Thế nào là ý xúc? Sự tiếp xúc của ý. Pháp trần là thọ, tưởng, hành. Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng đến pháp tưởng. Ví dụ mình đang ngồi một mình ở trong phòng hay ngoài vườn, mình không thấy người nào hết, không có ai đó hết nhưng trong tâm mình đang có hình bóng của người nào đó, hoặc là người đó là người mình giận lúc sáng. Hình bóng của người đó hiện lại một cảm thọ bực bội, khó chịu và những suy nghĩ liên hệ đến người mà mình giận đó thì đó là pháp tưởng. Pháp này là thọ, tưởng, hành.

Khi mình ngồi một mình ở trong phòng, nhưng mình nhớ lại người lúc sáng này chỉ trích, nói nặng nhẹ mình, thì khi mình nhớ lại hình bóng của người đó hiện ra, cảm giác khó chịu có sanh khởi không? Và mình có suy nghĩ người đó có hành xử với mình như vậy, nói nặng nhẹ mình như vậy, thì mình suy nghĩ về đó. Cảm giác khó chịu đó là thọ, hình bóng của người đó là tưởng. Khi mình nhìn vào trong tâm, mình thấy hình bóng, cảm giác, thấy rõ được suy nghĩ đó thì thọ, tưởng, hành trong tâm ngay lúc đó gọi là pháp tưởng.

Đây là điều chúng ta đang làm hằng ngày, hằng giờ mà chúng ta không biết. Đó là pháp tưởng. Bây giờ mình ngồi một mình, mình ở một mình, mình nhớ lại người mà mình thương, ví dụ như ba mẹ, thì hình bóng của ba hay mẹ đó là tưởng, cảm giác thân thương, ấm áp, ngọt ngào đó là thọ, những suy nghĩ “Không biết giờ mẹ khỏe không, ba hết bệnh hay đang làm gì?” thì suy nghĩ đó là hành. Như vậy, thọ, tưởng, hành đó là pháp tưởng.

Đó là mình đóng lại, mình không đối diện nhưng ở trong sanh khởi lên những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ hồi tưởng lại thì đó là pháp tưởng. Những pháp này rất quan trọng, là Thánh trí huệ, những định lí mà Đức Phật đã chứng ngộ. Chúng ta phải nắm thật vững, sau này khi mình ngồi thiền, khi mình quán tâm của mình thì lúc đó mình mới biết chính xác được đó là cái gì. Nếu không, khi mình ngồi đối diện lại là một bóng đêm, là mình tu trong vô minh, tu trong mù mờ, trong sự không thấy không biết rõ ràng các pháp trong thân tâm của mình. Nên mình không có khả năng nhìn ra được hang ổ, sào huyệt của tham, sân, si. Mình không có khả năng nhiếp phục, chế ngự các ác, bất thiện pháp. Mình không có khả năng tẩy sạch, diệt tận, những mầm móng, nguyên nhân của đau khổ, của chính mình, đó là Khổ Tập Thánh Đế.

III. Ý thức và pháp tưởng

Sư thầy số 1 trình pháp:

Kính lễ thầy cùng quý thầy quý cô.

Cho con hỏi ý thức và pháp tưởng giống nhau và khác nhau ở điểm nào thưa thầy. Con chưa rõ điều đó.

Sư phụ giảng giải:

Pháp tưởng là mình hồi tưởng lại thọ, tưởng, hành. Ý thức là biết được thọ, tưởng, hành đó.

Khi trong tâm mình có hình bóng của người mình tức giận thì lúc đó trong tâm mình có biết được trong tâm mình có hình bóng của người mình tức giận đó không? Khi trong tâm mình có cảm giác khó chịu về người đó thì mình có biết là có cảm giác khó chịu không? Khi trong tâm mình có suy nghĩ về người mà mình khó chịu thì mình có biết là mình có suy nghĩ về người mình khó chịu không? Biết đó là thức, thức biết được thọ, tưởng, hành. Đây là định nghĩa ngũ uẩn số hai – thức rõ biết được thọ, tưởng, hành.

Thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại là sắc, cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu không khó chịu là thọ, không gian thô tế trong tâm là tưởng, suy nghĩ nói thầm trong tâm là hành, rõ biết trong ngoài sáu trần là thức.

Rõ biết trong ngoài sáu trần là thức, vậy pháp trần là thọ, tưởng, hành, rõ biết thọ, tưởng, hành đó là thức.

Sáu trần là sắc trần, thanh trần, hương trần, vị trần, xúc trần, pháp trần. Rõ biết pháp trần là thức, rõ biết cả sáu trần. Nhưng mình đang học pháp trần, pháp tưởng nên pháp trần đó chính là thọ, tưởng, hành, chữ pháp trong trường hợp này là thọ, tưởng, hành. Rõ biết được pháp trần, pháp tưởng là thức.

Tóm tắt sáu thức: rõ biết thân người, cảnh vật là nhãn thức, rõ biết lời nói trong tâm là nhĩ thức, rõ biết mùi hương thơm, thối là tỷ thức, rõ biết vị ngọt, chua, chát là thiệt thức, rõ biết đụng chạm, …53:38 là thân thức, rõ biết thọ, tưởng, hành là ý thức.

Chúng ta cần học thuộc các định nghĩa trên, khi mình không học thuộc thì sau này mình sẽ không biết gì. Vì nó không giống với các trước nay mình học là chung chung, cái này cái nào ra cái nấy, mỗi cái là định lý chứng ngộ của Đức Phật, không lẫn lộn. Giống như hoa lan là hoa lan, hoa sen là hoa sen, cái chuông là cái chuông, cái bàn là cái bàn, không lẫn lộn được. Đó là pháp thế gian như vậy, huống chi Thánh trí tuệ của Đức Phật chứng ngộ. Mình không nói lung tung được. Nếu mình học lung tung, lộn xộn thì mình tu không đạt được Chánh trí, Chánh giải thoát. Mỗi người nói một kiểu, không y cứ vào Thánh điển Nikāya của Đức Phật, muốn nói ra sao nói và cuối cùng là Chánh pháp bị mai một.

Nên ở đây chúng ta học tất cả đều lấy Đức Thế Tôn làm căn bản, tất cả pháp lấy Thế Tôn làm cội gốc. Tất cả pháp lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, tất cả lời dạy chúng ta học ở đây là chỉ y cứ một mình lời dạy của Đức Phật trong kinh Nikāya và các bậc Thánh chúng được Đức Phật xác chứng lời nói đó là đúng. Ngoài ra là không học tất cả sách khác. Vì mình học với phàm phu thì làm sao mình thành được Thánh trí?

Như vậy chúng ta đã học được sáu tưởng: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng.

Về sáu thọ, thọ do nhãn xúc sanh, khi con mắt mình tiếp xúc thì sanh ra cảm giác, tai mình nghe tiếng sanh ra cảm giác, mũi ngửi mùi sanh ra cảm giác, lưỡi nếm vị sanh ra cảm giác, thân tiếp xúc sanh ra cảm giác. Ý của mình nhận thức được pháp bên trong là thọ, tưởng, hành sẽ sanh ra cảm giác. Đó là sáu thọ.

Hành là ý hành, là những hành trong ngũ uẩn. Như chúng ta đã nói, thân hành, khẩu hành, ý hành. Là những suy nghĩ, tư duy, lời nói thầm hay những thầm ý trong tâm, cần phải phân biệt rõ tưởng và hành. Hành là lời nói lầm thầm trong tâm, tưởng là không có nói thầm mà chỉ là những hình bóng ẩn hiện trong tâm. Những lời nói lầm thầm, suy nghĩ là hành, còn những hình bóng là tưởng.

Ví dụ, khi mình mở tivi lên, trên đó có hình ảnh và âm thanh. Hình ảnh đó ví dụ cho tưởng trong tâm mình. Âm thanh đó là hành. Mình cần xác định rõ để nhận diện nó.

Thức là sự rõ biết, sự hay biết, sự biết. Thức trong kinh Nikāya là rõ biết nên gọi là thức. Sáu sự rõ biết này được giải thích rõ ở phần sau.

Về sáu thức:

Chúng sanh sống với thân ngũ uẩn và hành xử theo những đòi hỏi, những dính mắc của ngũ uẩn. Khi ngũ uẩn thương thì gọi là “Tôi thương”, khi ngũ uẩn ghét thì gọi là tôi ghét. Nhưng cái gì thương, cái gì ghét, cái gì được thương, cái gì được ghét, đó chính là ngũ uẩn thương, ngũ uẩn ghét ngũ uẩn.

Khi một cảm giác khởi lên một cách dễ chịu thì đi kèm theo đó là một tưởng dễ chịu và một suy nghĩ, nói thầm là thích, là ưa, mến.

Khi một cảm giác khởi lên một cách khó chịu, bực bội, bực tức, bức xúc, thì đi kèm theo đó là một tưởng khó chịu và một suy nghĩ nói thầm là ghét, không thích. Như vậy, cái gọi là thích, ghét trong cuộc sống này và trong mỗi chúng sanh chính là hai chiều hướng vận hành khác nhau của thọ, tưởng và hành.

Từ những sự thương, ghét này của thọ, tưởng, hành đưa đến những thứ được gọi là tham, sân, si. Nếu ưa mến thì sanh ra tham ái, tham muốn, muốn nắm giữ, muốn cất giữ. Nếu ghét bỏ thì sanh ra xa lánh, chán ghét, muốn đẩy đi, muốn đuổi đi, muốn đập phá, muốn tàn phá, muốn hủy hoại, muốn phá hoại. Nếu không thấy ưa, ghét gì, nhưng vẫn không nhìn rõ được nội tâm, không thấy rõ ngũ uẩn trong trạng thái không ưa ghét này rồi lầm lũi sống trong sự không thấy biết này, đây gọi là vô minh và tâm si.

Do vậy, cuộc sống này là cuộc sống của ngũ uẩn, cuộc sống của tâm si mê, tâm vô minh đối với ngũ uẩn. Cái gọi là tham, sân, si cũng chính là những tham lam, sân hận và si mê đối với những sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp của tâm bị vô minh, tâm của thọ, tưởng, hành, thức hoạt động trong vô minh, dẫn dắt và chi phối.

Chúng ta sống với một thân ngũ uẩn và hành xử theo những đòi hỏi, dính mắc của thân ngũ uẩn. Khi ngũ uẩn nói thương thì mình liền nói là “Tôi thương!”, khi ngũ uẩn nói ghét thì mình nói là “Tôi ghét”. Nhưng mình không biết rằng không có cái tôi, chỉ là những cảm giác, hình bóng suy nghĩ, nhận thức mà không có cái tôi, không có chủ thể, tự ngã, bản ngã trong năm uẩn mà chỉ là sự vận hành của sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Nếu như nó sanh khởi lên một cảm giác dễ chịu thì đi kèm theo đó là một tưởng dễ chịu và một suy nghĩ lầm thầm là thích, khoái, mến, ưa, mến. Chúng ta thấy bây giờ được người ta vỗ tay, tán thưởng, tuyên dương, nâng lên thì sanh khởi lên cảm giác dễ chịu. Và trong cảm giác dễ chịu đó thì có thích, khoái, ưa mến. Như vậy chỉ là những cảm giác, suy nghĩ khoái, thích “Thích người này quá! Người này nói chuyện dễ thương quá! Gương mặt người này sao dễ mến quá! Đẹp!” Kế đến là những suy nghĩ về người đó, như vậy đó là sự vận hành của thọ, tưởng, hành.

Nếu như mới gặp người đó lần đầu, họ chê trách mình, chỉ trích mình, nói nặng, nói nhẹ mình thì mình sanh khởi cảm giác khó chịu, bực bội, bực tức, sân lên và kèm theo suy nghĩ cũng giống vậy, kèm theo tưởng cũng là sân hận. Như vậy nó vận hành là của thọ, tưởng, hành, thức, không có cái tôi nào sân mà chỉ có những cảm giác sân, hình bóng sân, suy nghĩ sân.

Bây giờ nó đang có cảm giác bực bội, có hình bóng ghét, khó chịu, đang có những suy nghĩ bực tức là trong ngũ uẩn đang có một pháp sân sanh khởi trong thọ, tưởng, hành, thức.

Chúng ta thường nhận diện ngũ uẩn sẽ thấy không có cái tôi mà chỉ có năm nhóm này đang hoạt động, cảm giác đang hoạt động, hình bóng đang chập chờn, ám ảnh, ẩn hiện trong đó, những hình bóng khó chịu, những suy nghĩ bực bội, tức giận, tìm cách để trả đũa, để hả dạ. Phải làm sao để nó sanh khởi những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ như vậy.

Đó là sự khó chịu, bực bội của ngũ uẩn, không có cái tôi, mình phải tập nhận diện ngũ uẩn để mình thấy năm nhóm đó đang hoạt động. Từng nhóm riêng hết. Bây giờ, khi mình chưa học ngũ uẩn khi mình chưa biết nhận diện ngũ uẩn, chưa có trí tuệ về ngũ uẩn thì năm cái này như là một nắm tay, đụng vào là biết, đây là cái tôi, cái ta, cái bản ngã, đây là mình, là ta, là tôi.

Nhưng mình học trí huệ về ngũ uẩn rồi thì thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức riêng biệt, đang vận hành thì mình mở nó ra, mình không cho nó dính chùm lại nữa. Đó là bản ngã, tự ngã, là một cái tôi, cái ta, là sự nhận lầm, cho rằng có một cái tôi trong đó, như một cái tay nắm lại, dính chặt lại năm uẩn này gọi là năm thủ uẩn, là sự nắm chặt. Thủ là nắm chặt, là nắm chặt trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nó sanh ra một ảo tưởng về tự ngã.

Đó là sự nắm chặt và sự chấp thủ vào trong năm uẩn, khi mình học về ngũ uẩn, mình nhận diện về ngũ uẩn, có trí tuệ về ngũ uẩn thì mình nhìn ra được sắc, thọ, tưởng, hành, thức, năm nhóm, năm tổ hợp. Không có một chủ thể trong đó, một cốt lõi, một người làm chủ trong đó. Nhóm thứ nhất là nhóm sắc, là những nhóm đất, nước, gió, lửa. Nhóm thứ hai là những nhóm cảm giác, lúc thì dễ chịu, lúc thì khó chịu, lúc thì thường thường. Nhóm thứ ba là những hình bóng, hết hình này tới hình kia, hết hình kia tới hình nọ, hết tưởng này tới tưởng khác. Nhóm thứ tư là hành, hết suy nghĩ này tới suy nghĩ khác… đây là sự nhóm họp, tập hợp các suy nghĩ.

Nếu nó tiếp xúc với một con người hay cảnh dễ chịu thì tham, dục, ái, muốn nắm giữ, muốn chiếm hữu. Nếu nó tiếp xúc mà một đối tượng mà nó nghịch ý, phật lòng, bực bội thì lúc đó nó sân lên, khó chịu, bức xúc, thiêu đốt, nhiệt não, đốt cháy, phừng phực, phẫn nộ lên, nó cũng là cảm giác. Nếu như nó tiếp xúc không thương cũng không ghét, không thích, thường thường thì si. Vì nó nghĩ rằng “Tôi giờ tôi thường thường, tôi không thấy có gì vui hay có gì mà tôi buồn.” Đó là tôi đang si, vô minh. Vì không có một cái tôi, chỉ có một cảm thọ hay suy nghĩ không khổ, không vui đang có mặt, đang sanh khởi.

Nhóm thứ năm là nhóm rõ biết thân người, cảnh vật là nhãn thức, rõ biết lời nói trong tâm là nhĩ thức, rõ biết mùi hương thơm, thối là tỷ thức, rõ biết vị ngọt, chua, chát là thiệt thức, rõ biết đụng chạm người vật là thân thức, rõ biết thọ, tưởng, hành là ý thức.

Đây là nhóm của sáu sự rõ biết. Biết của chúng ta là rời rạc, không phải một cái, vì mình vô minh nên mình tưởng là mình chỉ có một cái biết. Nhưng là sáu cái biết. Những cái biết này là duyên sanh, vô thường, giới hạn. Ví dụ vách tường bên kia mình không biết gì. Ví như có người ngồi trong toilet, mình không biết, nếu như mình biết thì đã chạy khỏi. Nên thức của mình là duyên sanh, rất giới hạn, chỉ cần một tờ giấy mỏng thì không thấy gì. Nhưng khi thấy thì lại sân si, khó chịu, nhưng khi không thấy thì thôi. Vậy nên nếu người ta đứng chửi ở ngoài đường thì không có sân gì, không biết gì nhưng nếu người ta đi vào chửi và trong tầm mình có thể thấy, nghe được là mình sân si.

Nên biết của mình cũng là duyên sanh, vô thường, cũng là không đúng sự thật, biết của mình là biết trong vô minh. Nên tất cả mọi cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết của mình là cái biết trong vô minh, tham ái, biết của chấp thủ, không phải là biết của Thánh trí huệ.

Dù cho mình có thấy tận mắt nhưng cũng là sai. Đây là điều sâu sắc nên từ từ chúng ra sẽ học, để chúng ta phá được sự chấp thủ ở trong năm uẩn này.

Nên sáu biết, giờ mắt bị hư, không thấy đường nữa, những rõ biết về người, cảnh vật không còn, hay tai bị hư, điếc thì rõ biết về âm thanh không còn. Chỉ còn lại bốn cái. Nếu như thân bị liệt hết, không có cảm giác hay có nhận thức cổ đi lên, còn từ cổ xuống dưới không còn cảm giác, tri giác nữa, như những người bị bệnh như người thực vật thì thân thức không còn hoạt động, không có đủ duyên để biểu hiện ra nhận thức của thân nữa.

Nên cái biết của chúng ta là biết phụ thuộc, lắp ráp, kết hợp, nương dựa, không phải là một biết trọn vẹn. Biết này có điều kiện, khi chúng ta học duyên sanh pháp sẽ biết, biết này rất giới hạn, điều kiện.

Nhóm thứ năm là nhóm của sáu sự rõ biết này, nhưng vì mình không thành tựu trí tuệ của bậc Chánh đẳng chánh giác nên mình nhập chung sáu cái này lại “Tôi biết! Tôi thấy! Tôi biết đừng tưởng là tôi không biết!” Sau đó chạy quá tốc độ, say xỉn, cảnh sát giao thông thổi lại thì nói “Biết tôi là ai không?” thì còn bị phạt nặng hơn.

Nên khi mình học cái này rồi thì mới biết được là chỉ có năm nhóm hoạt động trong vô minh, tham ái, chấp thủ, nắm giữ, ảo tưởng về một tự ngã, không có một cái tôi nào mà chỉ có sự sanh khởi, vận hành, hoạt động của sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Chúng ta phải học thật kĩ các định nghĩa, định lý, học thuộc lào như chú Vãng sanh, chú Đại bi. Khi chúng ta thực tập nhận diện quán chiếu thì mới chính xác, còn không thì sau này mình sẽ không biết gì, lộn xộn lên.