Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tám Đức Hạnh Thánh Hiền 2 - Kinh Các Lễ Uposatha - Tăng Chi Bộ 1

2026-03-03 00:54:52
8 Đức Hạnh Thánh Hiền 2

Kinh Các Lễ Uposatha - Tăng Chi Bộ 1

Thích Minh Thành

Ngày 06 tháng 11 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ngày trai giới PAGEREF _Toc123724105 \h 1

II. Sợ hãi PAGEREF _Toc123724106 \h 3

III. Thiên chúng và Asura chúng PAGEREF _Toc123724107 \h 9

IV. Ba loại trai giới PAGEREF _Toc123724108 \h 10

V. Thập hiệu Đức Phật PAGEREF _Toc123724109 \h 15

I. Ngày trai giới

Chúng ta sẽ biết được nguyên nhân tại sao ngày mùng 1, rằm, 29, 30, 14, 15 mà chúng ta đi chùa, sám hối, ăn chay, đó là ngày trai giới.

Trong bài kinh Bốn bậc đại vương trong Tăng Chi Bộ kinh tập 1:

- Này các Tỷ-kheo, trong ngày thứ tám của nửa tháng, các vị Đại thần cố vấn cho bốn Đại vương, đi du hành trong thế giới này để xem trong loài Người, có nhiều người có hiếu với mẹ, có hiếu với cha, có kính các Sa-môn, Bà-là-môn, có tôn trọng các vị gia trưởng, có làm lễ Uposatha, có đề cao cảnh giác, có làm các công đức.

(Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Ba Pháp – Phẩm Sứ Giả Của Trời - Bài kinh Bốn bậc đại vương)

Đó là ngày mùng 8 và 23 mỗi tháng, các vị cố vấn đại thần cho Tứ Đại Thiên Vương (là bốn vị thờ bốn góc) sẽ đi tuần trong thế giới của chúng ta xem xét trong loài người có nhiều người có hiếu thảo với cha mẹ không, có tôn kính các bậc tu hành không, có kính trọng các bậc gia trưởng không hay có ăn chay, làm phước, tụng giới hay là có thọ trì Bát Quan Trai Giới hay không, hay có đề cao cảnh giác, có làm công đức hay không.

Này các Tỷ-kheo, trong ngày 14 của nửa tháng, các Hoàng tử của bốn Thiên vương, đi du hành trong thế giới này để xem trong loài Người, có nhiều người có hiếu với mẹ … có làm các công đức.

(Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Ba Pháp – Phẩm Sứ Giả Của Trời - Bài kinh Bốn bậc đại vương)

Tức là ngày 14 và 28 hằng tháng, những ngày đó chúng ta thường nghe các thầy trong chùa khuyên nên ăn chay, hay đi làm phước, đi chùa những ngày đó là xuất phát từ bài kinh này.

Nếu không học bài kinh này thì chúng ta sẽ không biết, cứ biết là tới ngày đó đi chùa, tới ngày đó mà mình không biết tại sao ngày đó mình lại ăn chay, người ta làm lành, bố thí thì người ta cũng chọn mấy ngày đó. Mình thọ Bát Quan Trai Giới ngày mùng 8, 23, ngày xưa là vậy nhưng sau này vì công việc, vì xã hội bây giờ tất bật kiếm tiền nên để chủ nhật, còn ngày xưa là đúng ngày đó.

Chúng ta thấy rằng, xã hội mà vật chất chi phối càng nhiều thì những thiện pháp dần dần bị giảm và cuối cùng bị mất. Ngày xưa thì đúng là ngày rằm, mùng 8, 23 là đi chùa, thọ bát còn bây giờ thì đi chùa vào ngày chủ nhật chưa chắc đi.

Là ngày 14 và 28 hằng tháng, 29 hoặc 30 tùy theo tháng đủ, tháng thiếu thì các Hoàng tử của bốn Thiên vương, đi du hành trong thế giới này. Giống như ngày xưa nhà vua đi xem xét ở trong nhân gian, gọi là đi vi hành, tức là đi để xem người dân như thế nào, có quan tâm, giúp đỡ nhau không hoặc xem các người quan có liêm chính không, có thương dân không hay là nhận hối lộ, các Ngài sẽ có công thì thưởng, có tội thì trừng trị.

Ngày 14, 28 (hoặc 29,30) các vị Hoàng tử của Bốn Thiên Vương, là các vị thái tử, hoàng tử, các vị thiên tử, con của vua trời đi tuần hành ở thế giới này để xem những người có giữ giới, có bố thí, hiếu thảo, cha mẹ có tôn kính với bậc tu hành, có đề cao cảnh giác và có làm các công đức hay không.

Trong ngày rằm, sắp đến là thứ mấy? Rằm tháng mười là những ngày quan trọng. Nhưng giờ ngày rằm lớn lại vắng vẻ, không ai còn quan trọng sự tu, quan trọng tiền. Vậy nên những ngày rằm, đặc biệt là rằm lớn thì cần phải về tu học.

Này các Tỷ-kheo, trong ngày rằm lễ Uposatha, bốn vị Thiên vương tự mình đi du hành trong thế giới này để xem trong loài Người, có nhiều người có hiếu với mẹ … có làm các công đức.

(Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Ba Pháp – Phẩm Sứ Giả Của Trời - Bài kinh Bốn bậc đại vương)

Uposatha có nghĩa là bố tác tụng giới, cũng có nghĩa là ngày trai giới. Các Ngài xem trong ngày rằm là ngày để tụng giới, tụng lại những giới của Phật cho mình nhớ, hành trì, giữ gìn. Tức ngày rằm là bốn vị Thiên vương, bốn vị vua trời tự mình đi du hành trong thế giới này.

Các Ngài đi thì mình không hay, mình làm gì họ đều nhìn thấy, biết hết, vì các Ngài có thiên nhãn. Tức là tường, vách thì các Ngài đều nhìn xuyên hết, thấy hết, cần thấy ai là phải ý niệm là thấy. Ví dụ Ngài đi vậy rồi muốn nhìn xuống Sài Gòn xem, nhìn xuống quận 1, quận Bình Thạnh xem đang làm gì, có đang tu không hay lại lo sân si. Hay muốn nhìn xuống Cà Mau hay nhìn ra Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Nội. Các Ngài muốn nhìn ở đâu là thấy hết, xuyên suốt hết, tường vách đều không có chướng ngại, là thiên nhãn.

Đó là tứ đại thiên vương đi du hành, tuần hành trong ngày rằm. Vậy nên ngày rằm người ta thường hay đi chùa, lễ Phật ngồi nghe pháp trang nghiêm. Người ta làm việc phước, ngày đó Tứ Đại Thiên Vương tuần hành.

Khi nào thuyết Chánh pháp của Đức Phật thì có rất nhiều chư thiên đến để nghe, nhưng mình không thấy họ. Còn có các loài chúng sanh đau khổ, ngạ quỷ, những hương linh ở trong chùa, mình đều không thấy.

Mình có ngồi nhắm mắt ngủ thì cũng không biết là các Ngài đang nhìn trừng trừng mình, còn những người làm thiện thì các Ngài rất hoan hỷ, các Ngài vui. Và những người vào đây không tu hành thì các Ngài phẫn nộ, như vậy là mình bị tổn phước, tổn đức. Xung quanh mình đầy người chết, chỗ nào cũng có, loài người mình rất ít. Đức Thế Tôn nói như cả ngọn núi, chư thiên và loài người chỉ là một chút ở trên chóp đỉnh, nhỏ như móng tay thôi. Còn từ đó chảy xuống hết là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A-tu-la.

II. Sợ hãi

Cũng như một bầy kiến, có khi lên hàng ngàn con, trăm ngàn con, hay như bầy chim, bầy cá người ta đánh một lần hàng tấn tấn thì bao nhiêu con? Vậy nên mình tưởng là người mình nhiều nhưng không, con người mình chỉ một chút.

Còn địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là rất nhiều, súc sanh khi mình nhìn thấy thì kinh hoàng, kinh khiếp rồi, không phải là hàng triệu, hành tỉ con, những con nhỏ nhỏ. Nên loài người mình rất nhỏ, chưa đầy móng tay, còn từ đó xuống thì đều là súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ, A-tu-a một số ít. Vậy nên Đức Phật nói thân người khó được, rất khó để được làm thân người.

Thế nhưng Đức Phật nói rằng, một hôm Đức Phật ngồi như vậy, Ngài cúi xuống lấy ngón tay khơi một chút đất dính ở móng tay thì Ngài đưa lên hỏi đất trong móng tay ta nhiều hay là đất ở đại địa nhiều. Thì các Tỳ-kheo trả lời là đất ở móng tay của Thế Tôn rất ít so với địa cầu.

Thế Tôn nói cũng vậy, con người chết rồi, sanh ra làm người ít giống như đất trong móng tay. Ý nói cõi người sanh trở lại làm người thì ít giống như đất dính trên móng tay. Con người chết rồi, sanh làm thú vật, cô hồn thì đọa xứ địa ngục Đức Phật nói nó nhiều giống như đất dưới địa cầu.

Vậy mà chúng ta không sợ, chúng ta sống buông lung phóng dật, đừng nói chi là ở ngoài chợ, vào chùa cũng vậy, vào chùa cũng luyên thuyên, thị phi, giận hờn với nhau, sân si với nhau. Vậy nên chín mươi chín phần trăm là rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, theo lời kinh trong Nikāya Đức Phật đã nói.

Nên biết điều này mình rất sợ, mình rất lo lắng. Như chúng ta nhìn trên mặt báo, ba người con gái đổ xăng đốt nhà, đốt mẹ như vậy. Nhưng người mẹ đem cả cuộc đời giành dụm được mấy miếng đất để chia cho người con trai miếng đất mặt tiền, chia cho ba người con gái mỗi người một miếng, miếng đất ở sâu bên trong. Ban đầu đã đồng ý nhưng sau đó đổi ý, giận lên, đem xăng về đổ, đốt nhà, đốt mẹ. Những cái đó thì hiện đời bị pháp luật xử trị, sau khi chết chắc chắn sanh vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Chúng ta xem hằng ngày trên tin tức như vợ giết chồng, con giết cha, giết mẹ, hở chút là chửi mắng, đánh nhau, ẩu đả, đâm chém, giết hại. Tất cả đó đều là địa ngục. Sau khi nhắm mắt thì không còn được thân người.

Minh Thành xin hỏi các vị, chạy xe tới đèn xanh, đèn đỏ, chạy vượt qua đèn đỏ thì người ta nhắc lấy dao đâm người ta chết ngay tại chỗ thì ngay khi còn sống đã vào tù, thì lúc chết có thể quay trở lại làm người được không? Với một tâm ác độc, hung hăng, hung tợn, hung bạo, hung tàn như vậy thì sanh ra làm người được không? Chắc chắn là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Vậy nên người biết mới sợ, người không biết không sợ. Người biết rất sợ tội lỗi, rất sợ ác nghiệp, mình muốn sanh lên làm người, sanh lên cõi trời khó thiên nan, vạn nan mà mình muốn xuống địa ngục rất mau, chỉ tích tắc. Chỉ một ý niệm bực bội, sân hận lên, mình ẩu đả, đâm chém nhau, một tâm tham lam, tà vại, ngoại tình, phá vỡ hết tình yêu, hạnh phúc của gia đình người khác, cả gia đình mình thì khi nhắm mắt đi vào ba đường ác.

Một lời nói chua cay, ác độc, làm cho người ta uất hận, chia rẽ, li gián là đọa địa ngục. Không những không biết hối hận, không sợ hãi, không tu sửa mà còn sống tới sống tới thì rơi xuống vực sâu, đó là nhiều hay ít?

Ví dụ như ở Việt Nam thì núi nào cao nhất? Trên đỉnh chóp một chút đó là người và trời, còn toàn bộ bên dưới, tám mươi, chín mươi phần trăm là địa ngục, súc sanh, A-tu-la. Được ví dụ bằng hạt cải, một hạt cải chất lên bằng núi thì có đáng sợ không?

Đức Phật nói trong kinh Thiên sứ là tâm buông lung, phóng dật mới rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Tâm buông lung, phóng dật là sao? Tâm thả lỏng, tâm buông lơi, tâm buông thả, tâm buông trôi, tâm buông lung, muốn nói gì là nói, muốn la là la, muốn mắng là mắng, muốn chửi là chửi, là hành động theo dục, theo sự thúc giục ở trong tâm, tham, sân, si, bản ngã, hơn thua.

Nhưng cứ buông thả tâm niệm đó, không biết thu nhiếp, không biết chế ngự, không biết điều phục, không biết ngăn chặn mà cứ buông thả, buông trôi theo tâm đó, buông lung theo tâm đó thì vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Bây giờ chúng ta nghe pháp thì ít được nghe điều này, ít người nói về điều này, toàn là chỗ vui sướng, Minh Thành sẽ nói về cái khổ cho quý vị nghe.

Ngồi tu tưởng tượng, thực tại của mình mình không nhìn thấy, thực tại là trước mắt của mình những sự thật viễn vông hằng ngày ở trên mặt báo, ở trong cuộc sống ngay trước nhà, ngay ở đường lộ, ở trong mái ấm gia đình của mình. Sự thật là ở ngay trong những cảm xúc, cảm giác của mình hay là đụng tới có phẫn nộ, sân si không? Lắc đầu là chưa thấy, khi nhận diện ngũ uẩn mới thấy, bên trong lửa than này là năm cục, nói ngắn gọn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Kho này là một kho phiền não, sân, si, mình tu thì mình mới quay trở lại, mình nhìn sâu vào bên trong mới được.

Vậy nên người biết tu mới biết sợ, người không biết tu không biết sợ, người biết tu mới biết lo, người không biết tu thì không biết lo, người biết nhân quả mới biết cẩn thận, người không biết nhân quả, không hiểu nhân quả thì không biết cẩn thận. Mình tưởng là mình học mấy chút như vậy rồi trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, không có đơn giản như vậy, đó là nói nghe với tính cách là khuyến thiện, nhưng nhân quả trong đạo Phật là không phải, đó là do Nhà Nho nói.

Đạo Phật nhân quả rất sâu, mình phải tập nhận diện được ngũ uẩn, nhìn thấy được những cảm giác tham, sân, si và bản ngã. Sau đó mình mới lo sợ, điếc không sợ súng, dù súng bắn ầm ầm mà điếc không nghe nên không sợ, cứ sấn tới, sấn tới. Chỉ cần một tiếng đùng là ra nhận xác, cũng có thể không còn xác để nhặt, banh xác. Ngày xưa chết đặng mồ đặng mã còn bây giờ chết là rã thây thi. Chúng ta nhớ như lúc dịch thì thây cũng có thể không còn.

Vậy nên chúng ta phải biết lo để tu, biết lo lắng để tu, biết lo tu để nhiếp phục thân, miệng, ý. Lo nhìn ngó các cảm thọ, cảm giác của mình, đừng để cho nó tưới tẩm, chất chứa những cảm giác bực bội, sân hận, hơn thua, ngã mạn, bản ngã. Chúng ta nghe Đức Phật nói những hình ảnh, quý vị về phải nhớ, đừng quên, một ngọn núi cao cả ngàn cây số như vậy, tám ngàn cây số như vậy mà trên chóp đỉnh có một chút thôi là cõi người, cõi trời, còn lại chín mươi phần trăm là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A-tu-la.

Chúng ta biết ai là người chắc chắn không đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh không? Là các bậc Dự lưu Thánh quả thứ nhất, vừa được tuyên bố, biết chắc chắn không rơi vào ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, là Thánh quả thứ nhất. Còn lại phàm phu là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là như ăn cơm bữa, như đi chợ. Mỗi lần rơi xuống đó rồi là vô lượng vô biên kiếp.

Quý vị đừng nhìn thấy đại gia, giám đốc, chủ tịch, đừng nhìn thấy những chức đó, lúc chết rơi xuống địa ngục như tên bắn, không phải là chuyện giỡn. Đừng thấy danh tiếng ầm ầm như vậy rồi quý vị tưởng như ngon, nếu mà không biết tu, không biết tạo thiện nghiệp, phước báo, không biết giữ giới, không biết bố thí, làm phước thì không được sanh làm người.

Muốn sanh làm người thì hai yếu tố quết định: giữ giới và làm phước, bố thí cúng dường. Hai điều này quyết định trong nhân thiên, nên mình là cư sĩ mình giữ năm giới, mình học giữ tám giới, mình giữ được tương đối khá, nhiều thì mình biết bố thí, cúng dường, giúp đỡ người nghèo. Hai cái này giúp cho mình trở lại cõi người, cõi trời, giữ giới và làm phước.

Chúng ta xem thử giới của chúng ta giữ được bao nhiêu, có khi năm giới phạm hết năm, làm phước là làm được bao nhiêu, phải cố gắng trong hai phương diện này, giữ giới và làm phước. Thường Đức Phật gặp các vị cư sĩ thường nói hai pháp này, sau khi người cư sĩ muốn tăng thượng trong pháp thì Đức Phật nói về sự nguy hiểm của các dục.

Còn những tham muốn về tài sản, vật chất, sắc đẹp, Đức Phật nói nguy hiểm của nó cho người cư sĩ nghe, sự nguy hiểm, sự tham muốn âm thanh, mùi thơm, hương vị, tham trong nhục dục, ham muốn xác thịt, Đức Phật nói nguy hiểm, tác hại của nó. Đức Phật trình bày về nguy hiểm, tác hại của dục, đối với người cư sĩ muốn tu học khá thì Đức Phật nói thêm cái đó. Sau khi người này tu học được như vậy thì Đức Phật nói về vị ngọt của dục và sự thoát ly của dục, con đường thoát ra khỏi tham muốn đó. Khi người này khá hơn nữa thì Đức Phật nói về, tuyên thuyết pháp mà tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác xưng tán. Đó là Tứ Thánh Đế, bốn sự thật đau khổ của cuộc đời này. Đó là Đức Phật tuyên thuyết về Tứ Thánh Đế.

Đức Phật nói về khổ, nói về nguyên nhân của khổ, nói về sự chấm dứt khổ, và con đường đạo lộ dẫn tới tiêu diệt khổ đau, đó là trình tự thuyết pháp của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, hiện tại và tương lai là như vậy.

Sự giáo hóa của Đức Phật, dạy dỗ của Ngài có giáo trình, có giáo án, có lộ trình, không phải là muốn nói gì nói. Kêu mình nhớ người cư sĩ của mình thì đầu tiên là giữ giới, kế đó là bố thí, cúng dường, làm phước. Hai điều này quyết định sanh cõi người, cõi trời. Kế đó, phải quán chiếu sự nguy hiểm, tác hại của tham muốn sắc đẹp, vật chất, nhà cửa, tiền bạc, ăn uống, nhục dục thể xác. Phải thấy được sự nguy hiểm, tác hại của nó để giảm bớt được, nhiếp phục, chế ngự. Giảm bớt đó là giảm bớt tạo nghiệp, bớt khổ, bớt sầu đau, sau đó là Đức Phật dạy mình quán chiếu về sự khổ của thế gian này vô thường, vô ngã. Để một tâm mình cầu giải thoát, cao thượng, đó là trình tự thuyết pháp của Đức Phật.

Ngày rằm bốn vị Thiên Vương tự mình đi du hành trong thế giới này, để xem trong loài người có nhiều người có hiếu với mẹ, cha không. Nên hiếu được xếp đầu tiên, sau khi xét về hiếu rồi thì kính đến các bậc tu hành, hiếu và kính, tôn kính các bậc tu hành. Pháp tiếp theo là có tôn trọng các vị gia trưởng hay không, những bậc có công, có ơn với mình, gia trưởng là những bậc có công, có ơn với mình ở trong gia đình. Gia trưởng là chủ nhà, người lo lắng cho cả gia đình, bậc trưởng thượng trong gia đình. Tiếp đến là có làm lễ tụng giới không, có thọ trì Bát Quan Trai Giới không?

Vì mình còn nhớ để tu, mình không chạy ra hốt mãi, giờ mình mới chạy ra hốt phước, xưa giờ kiếm tiền rồi, giờ đi kiếm phước. Cả hai song song vật chất và tinh thần nhưng giờ hốt vật chất thôi thì vài ngày sau ngáp ngáp, nằm trên giường yếu ớt nói: “Con ơi, giờ tiền mẹ để nhiều lắm, giờ sao?” Tiếc rồi đầu thai có thể không nổi.

Nên khi mình phước đức thì lúc chết mình bình an nhiều, mình không lo lắng, sợ hãi, mình sẽ vui vì mình nhìn lại mấy chục năm của mình là có giữ giới, có bố thí, có cúng dường, có làm phước, có tu tập những thiện pháp, lúc đó thì mình cười “Thôi mẹ đi chỗ này tốt đẹp lắm, con đừng lo. Chào mọi người nha! Mẹ đi nha!”

Nếu không thì lúc đó mình hoảng loạn, mình sẽ sợ hãi, hoang mang, không biết mình đi về đâu. Thứ nhất, mình nhìn lại quá khứ là bảy mươi bộ phim, mỗi bộ như vậy đóng một tập, một năm đóng một tập, bảy mươi tập đó chiếu lại, mình nằm trên giường có một mình mình, mình đối diện với bảy mươi tập, bảy trăm tập, bảy ngàn tập. Những tập đó đều là cái tôi nhiều hơn các phước, những cái tội nhiều hơn phước, những cái xấu nhiều hơn cái tốt, những cái ác nhiều hơn cái thiện. Lúc đó mình sẽ lo lắng, sợ hãi, bất an.

Tức là mình hồi tưởng lại quá khứ, mình lo sợ, mình hướng tới tương lai mình lo sợ, mình không biết chết sẽ đi đâu. Trong hiện tại thì mình mù mờ, tương lai thì cũng mù mịt, quá khứ thì nhìn thấy những cái tội, nghiệp nhiều thì lúc đó là nguy hiểm.

Còn bây giờ mình nhớ lại, trong bảy mươi năm, bảy mươi tập đều đóng vai thiện, đóng vai người hiền, vai chánh, không đóng vai ác. Vậy mọi người có đóng vai ác không? Lâu lâu có không? Hoặc lâu lâu có đổi vai hiền thành vai ác không? Những ánh mắt cũng thể hiện ra được, đọc vào được ngũ uẩn. Vậy nên nếu có đóng thì nên đóng vai thiện, vai hiền, đóng với một tâm hiền thiện, từ hòa, để khi cuối cùng mình ra đi thì mình mỉm cười.

“Suốt cuộc đời của mẹ thì mẹ thấy làm thiện nhiều lắm, ít có tội, thôi mẹ chào các con, mẹ đi đây. Mẹ đi lên trên đó, mẹ không đi xuống dưới mà mẹ đi lên trên.”

Qua đó để cho mình thấy được trên dưới, tội ác, đen trắng để mình cố gắng.

III. Thiên chúng và Asura chúng

Này các Tỳ-kheo, có hiếu với mẹ. Ít người có hiếu với cha và kính bậc Sa-môn. Ít người tôn trọng các gia trưởng, và cũng rất ít người thọ trì bát quan trai giới, tụng giới. Rất ít, ít người làm các công đức thì thời này, bốn vị đại dương liền báo với chư thiên ở cõi trời thứ ba:

Nếu chỉ có ít người giữa loài Người, này các Tỷ- kheo, có hiếu với mẹ … làm các công đức, thời này các Tỷ-kheo, bốn vị Đại vương liền báo với chư Thiên ở cõi trời thứ Ba mươi ba, đang ngồi tụ họp tại hội trường Sudhammà:

- "Thưa chư vị, có ít người giữa loài Người có hiếu với mẹ … có làm các công đức".

Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở cõi trời thứ Ba mươi ba không hoan hỷ nói:

- "Thật vậy, Thiên chúng sẽ bị tổn giảm và Asura chúng (A-tu-la) sẽ được sung mãn."

(Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Ba Pháp – Phẩm Sứ Giả Của Trời - Bài kinh Bốn bậc đại vương)

Tức là các Ngài nghe báo cáo lại là có ít người tu, có ít người làm phước thì các Ngài buồn. Vì số lượng dân chúng ở cõi trời của Ngài sẽ giảm xuống, vì không ai lên cõi trời của Ngài mà chúng A-tu-la (những vị phước ít hơn chư thiên) hay chiến đấu với nhau, dù có phước nhưng vẫn sân si, là chúng A-tu-la đó sẽ tăng thêm và chúng chư thiên sẽ giảm xuống.

Nhưng này các Tỷ-kheo, nếu có nhiều người giữa loài Người, có hiếu với mẹ … có làm các công đức, thời này các Tỷ-kheo, bốn vị Đại vương liền báo với chư Thiên ở cõi trời thứ Ba mươi ba, đang ngồi tụ họp tại hội trường Sudhammà:

- "Thưa chư Vị, có nhiều người giữa loài Người, có hiếu với mẹ… có làm các công đức".

Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở cõi trời thứ Ba mươi ba hoan hỷ và nói:

- "Thật vậy, Thiên chúng sẽ được sung mãn, còn các Asura chúng sẽ bị tổn giảm.

(Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Ba Pháp – Phẩm Sứ Giả Của Trời - Bài kinh Bốn bậc đại vương)

Đây là các Ngài nói vắn tắt, còn các tầng địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh chúng ta đã có nói qua.

Chúng ta nhớ các bài kinh đó để chúng ta ứng dụng tu tập ở trong đời sống của mình.

IV. Ba loại trai giới

Chúng ta qua bài kinh Các ngày trai giới bố tát trong bài kinh Các lễ Uposatha trong Tăng Chi Bộ Kinh tập một:

Như vầy tôi nghe.

1. Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Pubbarama (Đông viên), lâu đài của mẹ Migara. Rồi Visakha, mẹ của Migara, trong ngày Uposatha (Bố tát trai-giới) đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Visakha, mẹ của Migara đang ngồi xuống một bên:

- Này Visàkhà, từ đâu Bà đến sáng sớm như thế này?

- Bạch Thế Tôn, hôm nay con thọ trai giới.

- Có ba loại trai giới này, này Visàkhà. Thế nào là ba?

 Trai giới người chăn bò,

 Trai giới Niganthà,

 Trai giới bậc Thánh.

2. Như thế nào, này Visàkhà, là trai giới người chăn bò?

Ví như, này Visàkhà, người chăn bò vào buổi chiều lùa các con bò về cho chủ của chúng. Người ấy suy nghĩ: "Hôm nay, các con bò đã ăn cỏ tại chỗ này và chỗ này, đã uống nước tại chỗ này và chỗ này. Này mai, các con bò đã ăn cỏ tại chỗ này và chỗ này, đã uống nước tại chỗ này và chỗ này".

Cũng vậy, này Visàkhà, ở đây có người giữ trai giới suy nghĩ: "Hôm nay, ta đã ăn loại đồ ăn cứng này, loại đồ ăn cứng này ta đã ăn loại đồ ăn mềm này, loại đồ ăn mềm này. Ngày mai ta sẽ ăn loại đồ ăn cứng này, loại đồ ăn cứng này; ta sẽ ăn loại đồ ăn mềm này, loại đồ ăn mềm này". Như vậy, người ấy sống cả ngày với tâm đồng hành với tham dục. Như vậy, này Visàkhà, là trai giới người chăn bò.

(Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Ba Pháp – Phẩm Nhỏ - Bài kinh Các Lễ Uposatha)

Minh Thành giải thích để quý vị dễ hiểu. Ví dụ nói “Hôm nay tôi đi tu tôi ăn món bún riêu, hôm nay tôi ăn tàu hủ chiên xả ớt rất ngon. Hôm nay tôi ăn canh chua hoặc là canh khổ qua hầm dồn tàu hủ. Hôm nay tôi ăn món chùa nấu rất ngon, món bún huế rất ngon!” Và cứ nhắc các món đó hoài, dù đi về cũng nhớ, nhắc món đó: “Không biết kì sau ăn món gì, chắc kì sau nói nấu món bánh canh. Bánh canh nấu ngon.”

Hay như chùa kia tên gì không rõ nhưng gọi là chùa Bún Riêu, chùa Bánh Xèo, chùa Bánh canh, đó là trai giới của người chăn bò.

Tức là người đó sống cả ngày với tâm đồng hành với tham dục, tham ăn, sắc của thức ăn, hương, vị của thức ăn. Nên chúng ta thấy chỗ này rất sâu sắc, mình tu không khéo vẫn bị dính như thường, vì mình không biết mình chỉ chọn món ăn, mình nghĩ tưởng tới món ăn, mình tu về pháp mà mình không nhớ, hỏi tám giới đọc tới đọc lui, đọc lộn xộn nhớ giới này quên giới kia nhưng ăn món gì thì nhớ rất kĩ. Đó là trai giới của người chăn bò.

3. Này Visàkhà, thế nào là trai giới các Nigantha?

Ở đây, này Visàkhà, có hạng Sa-môn tên là Niganthà, họ khích lệ đệ tử như sau: "Ông hãy quăng bỏ trượng với các sinh loại sống ở phương Đông, ngoài một trăm do tuần. Hãy quăng bỏ trượng với các sinh loại sống ở phương Tây, ngoài một trăm do tuần … sống ở phương Bắc … sống ở phương Nam, ngoài một trăm do tuần."

(Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Ba Pháp – Phẩm Nhỏ - Bài kinh Các Lễ Uposatha)

Ý nói là: ông hãy từ bỏ tâm hung dữ, tâm sân hận, muốn đánh đập đối với mọi người ở phương Đông, phương Tây, phương Bắc, phương Nam. Một trăm do tuần là một ngàn tám trăm cây số, một do tuần bằng mười tám cây số, mười do tuần là một trăm tám mươi cây số. Tức là hãy bỏ tâm sân hận, bỏ trượng (cây gậy), ngày xưa nói cây gậy là tâm sân hận, tâm đấu đá, tâm đấu tranh, hãy bỏ tâm sân hận đó, đối với tất cả bốn phương, đông tây nam bắc.

Như vậy, họ khích lệ vì lòng thương, vì lòng từ mẫn đối với một số sinh loại mà thôi, họ không khích lệ vì lòng thương, vì lòng từ mẫn, đối với một số sinh loại khác.

(Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Ba Pháp – Phẩm Nhỏ - Bài kinh Các Lễ Uposatha)

Ý nói Đức Phật nói người này khuyến khích đệ tử của họ tu tập tâm từ, nhưng trong một phạm vi, một số sinh loại như con bò là không ăn, những con khác là ăn. Là chỉ trong phạm vi, giới hạn nào đó, không giống tâm từ trong đạo Phật mình rộng lớn, cùng khắp.

Trong ngày Uposatha, họ khích lệ đệ tử như sau: "Này các Ông, hãy quăng bỏ tất cả áo quần và nói như sau: “Ta không có bất cứ vật gì, bất cứ ở đâu, bất cứ chỗ nào. Bất cứ vật gì, bất cứ ở đâu, bất cứ chỗ nào, không có cái gì là của ta” ''.

(Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Ba Pháp – Phẩm Nhỏ - Bài kinh Các Lễ Uposatha)

Ý nói, những người ngoại đạo tu lõa thể này khuyến khích đệ tử của họ quăng bỏ hết quần áo, đồ đạc và nói rằng “Ta không có bất cứ vật gì, bất cứ ở đâu, bất cứ chỗ nào. Bất cứ vật gì, bất cứ ở đâu, bất cứ chỗ nào, không có cái gì là của ta”.

Nhưng cha và mẹ của người ấy biết người ấy là con của mình. Và người ấy biết họ là cha mẹ của mình. Vợ và con người ấy biết người ấy là chồng, là cha của mình, và người ấy biết họ là vợ, là con của mình. Các người nô tỳ làm công biết người ấy là chủ của họ. Và người ấy biết họ là nô tỳ, là nhân viên của mình. Như vậy, trong thời gian đáng phải khích lệ đúng với sự thật, trong thời gian ấy, lại được khích lệ bằng điều nói láo.

Đây Ta tuyên bố là một sự nói láo. Sau khi đêm ấy đã qua, người ấy thọ hưởng tất cả tài sản chưa đem cho. Đây Ta tuyên bố là lấy của không cho.

(Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Ba Pháp – Phẩm Nhỏ - Bài kinh Các Lễ Uposatha)

Tức là, những người ngoại đạo kêu đệ tử của họ quăng bỏ quần áo hết, rồi nói với nhau là tôi không có gì hết, không có nhà cửa, không có cha mẹ, không có con cái, không có tài sản, không có bất cứ thứ gì hết. Không có gì là của ta, tức là nói vô sở hữu vô ngã.

Nhưng người này miệng họ nói vậy nhưng trong bụng họ biết vợ, biết chồng, con, cha mẹ, anh em, nhân viên của mình. Sau ngày họ tu, ngày trai giới thì họ trở về làm ông chủ lại, họ vẫn sử dụng đồ đạc, gia đình lại hết thì Đức Phật nói như vậy là một sự nói láo.

Không phải là Chánh hạnh, Thánh hạnh, không phải là hạnh của bậc Thánh.

Nên Đức Phật nói là trong thời gian đáng phải khích lệ đúng với sự thật mà trong thời gian ấy lại được khích lệ bằng điều nói láo. Vì ngày trai giới là ngày tu hạnh chân chánh, chân thật, mà mình đi dạy đệ tử nói láo. Đó là pháp tu của ngoại đạo.

Đây Ta tuyên bố là một sự nói láo. Sau khi đêm ấy đã qua, người ấy thọ hưởng tất cả tài sản chưa đem cho. Đây Ta tuyên bố là lấy của không cho.

Như vậy, này Visàkhà, là lễ Uposathà của các Niganthà. Được sống thực hành như vậy, này Visakha, Uposatha không quả lớn, không lợi ích lớn, không chói sáng, không ánh sáng lớn.

4. Và này Visàkhà, thế nào là trai giới các bậc Thánh?

Chính là làm thanh tịnh một tâm uế nhiễm với phương pháp thích nghi.

(Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Ba Pháp – Phẩm Nhỏ - Bài kinh Các Lễ Uposatha)

Ý nói, chính là làm trong sạch một tâm dơ bẩn bằng những phương pháp thích hợp, thích nghi, thích …51:21. Đó là trai giới của bậc Thánh. Làm sạch những tâm tham lam, sân hận, si mê, bản ngã, ngã mạn, cống cao, ta đây, khen mình, chê người, dương dương, tự đắc. Dẹp những tâm đó, rửa những tâm đó, chùi lau, tẩy sạch, bẻ gãy, làm cho nó khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm hòa, khiêm tốn, làm cho nó giảm bớt từ ái, sân si, nhiếp phục, bớt lòng tham. Được tỉnh giác, được Chánh niệm, gội rửa tham, sân, si, bản ngã, vô minh, dục ái, đó là trai giới của bậc Thánh.

Vậy tâm mình có dơ không? Nhiều không? Cỡ bao nhiêu? Một ngày mình lau nhà mấy lần? Hai lần? Một ngày chùi tâm, rửa tâm mấy lần? Một tuần rửa tâm mấy lần? Nhiều khi đọc, tụng cho xong, giống như trả bài với Phật, không có chùi, rửa, lau, quét, dọn, không có tẩy. Quan trọng là mình phải thấy nó dơ ở chỗ nào, rồi mình mới lau, chùi, rửa, quét.

Minh Thành đã từng nói nhiều lần, không phải lấy cây chổi quét là sạch, có những rác mà chổi quét không hết, không phải rác nào cũng lấy cây chổi quét. Tổng vệ sinh, dùng bàn chải sắt, dùng thuốc tẩy.

V. Thập hiệu Đức Phật

Và này Visàkhà, thế nào là làm thanh tịnh một tâm uế nhiễm với phương pháp thích nghi? Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Phật: "Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiên Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn." Do vị ấy niệm Như Lai, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận.

(Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Ba Pháp – Phẩm Nhỏ - Bài kinh Các Lễ Uposatha)

Khônh phải giống như mình bây giờ, không phải là “Nam mô A-di-đà Phật. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.” Niệm ra sao thì Minh Thành sẽ giải thích cho chúng ta, những buổi học này tùy theo nhân duyên, Minh Thành sẽ chia sẻ cho chúng ta biết, để nhiều khi mình nghĩ cái mình đang làm là ngon lành nhưng không hẳn vậy.

Chúng ta sẽ nghe đảnh lễ Đức Như Lai trang ba mươi bảy, trong quyển Nghi thức tu học. Đầu tiên mình phải hiểu Ngài,

Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác

(Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Ba Pháp – Phẩm Nhỏ - Bài kinh Các Lễ Uposatha)

Mình phải hiểu mười đức hiệu của Phật, đức hiệu là do công đức tu hành có ra danh hiệu đó nên gọi là đức hiệu. Ví dụ, như ông Cấp-cô-độc, ông ấy không phải tên là Cấp-cô-độc, nhưng vì ông ấy chuyên giúp cho những người cô độc, cung cấp, cũng giống như mạnh thường quân, chuyên giúp đỡ những người khó khăn thì người có hạnh lành, có tâm tốt, có những hành động, nghĩa cử như vậy nên người ta lấy hành động, đức hạnh đó nên người ta gọi là tên.

Vì tên của mình là tên tục, tục danh, thế danh, còn tên của Đức Phật là đức hiệu, hồng danh, hồng là rất to lớn. Hồng có nghĩa là rộng lớn. Như vậy, mình niệm không chỉ niệm tên mà mình niệm công đức tại sao ra tên đó, khi niệm nhớ lại đức hạnh những cái mà Đức Phật đã tu, đã làm, đã thành tựu thì gọi là nhớ Phật.

Ví dụ, mẹ mình tên Nguyễn Thị Dậu, thì mình cứ gọi “Dậu Dậu!” là mình nhớ mẹ mình? Mình nhớ lại mẹ mình đã làm cho mình cái gì, mẹ mình đã nuôi mình đau khổ như thế nào, mẹ mình đã hy sinh cho mình ra làm sao, những lúc mình bệnh đau, những lúc bị bạn bè hất hủi, những lúc thất bại thì mẹ mình dỗ dành, chia sẻ, quan tâm mình như thế nào, mở rộng vòng tay lớn như thế nào, đó gọi là nhớ, niệm. Không phải là mình ngồi đó và kêu là “Dậu Dậu!”

Đây chỉ là pháp phương tiện cho người sa cơ mới học, còn niệm Phật theo tinh thần Đức Phật dạy từ lúc Đức Phật còn tại thế là đã có phép niệm Phật. Mình nhớ là:

Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc tự mình thấy rõ sự thật về thân tâm, sự thật về sanh tử, về phiền não, khổ đau. Đó là Chánh Đẳng Giác, là tự một mình Ngài nhìn thấy sự thật về thân xác này, sự thật về cuộc đời này, sự thật về nội tâm này, sự thật về sự đau khổ của đời sống này, tự một mình Ngài nhìn thấy. Và Ngài cũng tìm, thấy được lối thoát của khổ đau, Ngài thấy khổ và tự Ngài tìm ra được con đường thoát khổ.

Ngài đạt sanh tử tận, Ngài đạt khổ chấm dứt, vì vậy Ngài được gọi là La Hán Chánh Giác, bậc Lậu Tận Chánh Giác. Con thật kính ngưỡng Ngài, con xin quy phục Ngài, con xin đảnh lễ Ngài.

Đó là niệm danh hiệu thứ nhất. Mình ngồi nhớ lại cuộc đời của Đức Phật, Ngài nhìn thấy được cảnh khổ, già, bệnh, chết. Ngài nhìn thấy được những cảnh khổ, những sự tham lam, giành giựt ở trong chốn cung đình, tham quyền, cố vị. Ngài nhìn thấy được tâm sân si, bản ngã của con người, Ngài thấy sự đau khổ của kiếp người này, sự phiền não của khổ đau này, Ngài muốn tìm một lối thoát là tự Ngài đã từ bỏ tất cả. Ngài đi tìm và Ngài đã tìm ra, Ngài đã chấm dứt sự đau khổ tham, sân, si, sanh tử đó, Ngài Chánh giác, giác ngộ được sự thật. Vì vậy, tên của Ngài được gọi là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.

A-la-hán là sạch hết tham, sân, si, lậu tận, Chánh Đẳng Giác là một sự thấy, biết tột cùng của sự thật, chấm dứt hết khổ đau. Mình niệm Phật là như vậy. Mình ngồi nhắc, nhớ như vậy. Ngày trước mẹ cho con bú, cho uống thuốc, ăn cơm, ăn bánh, dẫn đi học, đến trường, mẹ lo cho con thành gia lập thất, bao lần con thất bại, bị gạt gẫm, bị ngoài đời phũ phàng, con trở về thì luôn luôn lúc nào mẹ cũng mở rộng vòng tay đón con.

Mình ngồi nhớ, nhắc lại như vậy, gọi là mình niệm ân đức của mẹ mình, niệm và nhớ công ơn của mẹ mình. Như vậy gọi là nhớ ơn mẹ, không phải là mình ngồi kêu tên của mẹ mình hoài. Đó mới là niệm Phật thời Đức Phật còn tại thế.

Còn bây giờ chúng ta niệm cũng tốt, nhưng chúng ta không dừng lại ở đó. Mà mỗi lần chúng ta niệm “Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!” thì dừng lại một chút, mình niệm một mình thì mình ngưng lại, nhớ hạnh đức của Phật.

Mình nhớ lại một chút rồi lạy xuống, mình để hình ở phía sau nhà tổ, Minh Thành có để một hình để thấy được cuộc đời của Đức Phật, để quý vị đứng đó nhìn và quý vị nhớ đó là niệm Phật.

Miệng thì “Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!” rồi lại nói “Hôm nay chưng bông rất đẹp, hôm nay trưng trái cây, trái cây này ngon quá! Mua ở đâu?” Đó là miệng niệm đàn, tâm thì lại điên não, đó là niệm Phật.

Bên trên để giải thích chữ “A-la-hán Chánh Đẳng Giác” sau đó là con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca mâu Ni, bậc trí tuệ hức hạnh, được thành tựu viên mãn, đươc trong sáng tròn đầy, trí đức Ngài hoàn hảo, tâm trí Ngài sáng trong, vì vậy Ngài được gọi bậc Minh Hạnh cụ túc, bậc trí đức vẹn toàn, con thật kính phục Ngài, con thật kính ngưỡng Ngài. Con xin quy phục Ngài, con xin đảnh lễ ngài.

Đó là mình niệm về minh, hạnh, túc, hạnh là giới đức, minh là trí tuệ, trí tuệ và giới đức của Đức Phật viên mãn. Đức hạnh của một con người là Đức Phật không khiếm khuyết một chút nào, trí tuệ của Ngài là đến chỗ tròn đầy, cùng cực, minh hạnh túc, đầy đủ trí tuệ và đức hạnh.

Mình nên nhớ những đức hạnh của Đức Phật rất tuyệt vời, mình nhớ những cử chỉ nhỏ của Đức Phật, các thầy Tỳ-kheo đang pháp đàm với nhau, Đức Phật đứng ngoài cửa, đến khi pháp đàm xong thì các Tỳ-kheo bước ra dẫn Ngài vô hỏi Thế Tôn đứng đây lâu không? Đức Phật trả lời là các ông nói dài quá, ta chờ hai tiếng đồng hồ! Khi được hỏi tại sao Thế Tôn không vô thì Ngài nói “Sợ làm gián đoạn buổi pháp đàm. Ta tôn kính pháp!”

Chúng ta thấy đó là đức hạnh của Phật, chúng ta nhớ lại những điều đó gọi là niệm Phật, nhớ Phật, nhớ những đức, hạnh, hành động cao thượng, tuyệt vời của Ngài. Để cho chúng ta niệm Phật. Niệm “Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” thì mình nhớ lúc Ngài vượt thành xuất gia nên bài lễ Phật Đản… Chúng ta niệm vậy, nhớ vậy.

Bài kinh này còn nữa nhưng từ từ chúng ta sẽ học, hôm nay chúng ta đã biết một cách niệm Phật sâu sắc, tức là trước giờ mình làm là mình học ban đầu, giờ mình tiếp tục nâng cấp lên, không phải là mình dừng lại ở chỗ đó, cho đó là hay thì như vậy là mình không tiến bộ. Không phải là sai nhưng chưa đủ, cần nâng cấp thêm.

Bài kinh Đức Phật đã dạy mình niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Ngài giải thích niệm giới trong Bát Quan Trai Giới của mình, niệm nhớ giới của mình giữ, đó là cách làm cho tâm mình được tẩy sạch. Thay vì mình nhớ người này, giận, buồn người kia, mình nhớ tiền người kia thiếu chưa trả, bực bội quá thì bây giờ mình nhớ Phật, nhớ vô thường, nhớ khổ, nhớ chết không lo mà mãi nhớ mượn tiền chưa trả, nhớ sân si hoài làm chi, đổi lại. Như vậy gọi là làm sạch tâm dơ đó bằng cách niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới.

Hôm nay chúng ta nghe đến đây, hôm nay là ngày thất thứ năm của cô Diệu Thành ở chùa mình, có làm lễ trai tăng cho mẹ nên giờ Minh Thành đi đến để tụng hồi hướng công đức nên chúng ta kết thúc buổi nghe pháp đến đây thôi.

Nguyện đem công đức này,

Hướng về khắp tất cả,

Đệ tử và chúng sanh,

Đều trọn thành Phật đạo.