Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

TÂM HOANG VU - KINH TRUNG BỘ

2026-03-03 00:54:52
Kinh Nikāya Giảng Giải

TÂM HOANG VU – KINH TRUNG BỘ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Đoạn trừ tâm hoang vu PAGEREF _Toc104884165 \h 1

1.Thế nào là tâm hoang vu PAGEREF _Toc104884166 \h 1

2.Đoạn trừ tâm nghi ngờ PAGEREF _Toc104884167 \h 5

3.Tu tập tâm an tịnh PAGEREF _Toc104884168 \h 7

4.Làm sạch vườn tâm PAGEREF _Toc104884169 \h 10

II.Năm tâm triền phược PAGEREF _Toc104884170 \h 11

Đoạn trừ tâm hoang vu

Chúng ta đã có bao giờ tự hỏi rằng tại sao mình tu học không tiến bộ hoặc có tiến bộ thì cũng không được nhiều? Nhất là khi đã gặp được Chánh Pháp nhưng dù đã tu ba tháng, sáu tháng, tám tháng, mười tháng, mười hai tháng, mười tám tháng, hai mươi bốn tháng nhưng vẫn vậy hoặc chỉ biết thêm một ít kiến thức về Phật học? Mặc dù đã gặp được Chánh Pháp nhưng mình vẫn sống với những thói quen, tập khí, trước sao nay vậy, có đổi thì được một chút, tinh cần tinh tấn được vài ngày, hoặc lúc nhập thất mới quyết tâm, nỗ lực hết sức, còn khi ra thất thì vẫn như cũ là bởi vì nguyên nhân gì?

Thế nào là tâm hoang vu

Tất cả là do chúng ta không chịu nhận diện ngũ uẩn, không chú tâm nhận diện ngũ uẩn, không để tâm thật nhiều vào nhận diện ngũ uẩn. Chúng ta tu không hết lòng hết dạ, không thiết tha trong sự nhìn lại thân tâm, không nhiệt tâm, không có một trái tim nóng bỏng, rực cháy trong sự tu hành, không có sự tinh chuyên, chuyên cần, không đặt trọn tấm lòng vào sự nhìn nhận ngũ uẩn. Mặc dù đã biết về ngũ uẩn nhưng biết xong thì để đó, khi gặp chuyện quan trọng thì mới lo lắng. Còn chuyện thường thường thì mình hay phớt lờ, cho qua, dễ vui, dễ dãi, dễ dàng, sơ sài, qua loa, làm cho có, mà không đặt hết tấm lòng, bằng tất cả trái tim, bằng sự nhiệt thành, nóng bỏng, rực cháy với một ngọn lửa tha thiết, chân thành, nhiệt thành, nhiệt tâm, nhiệt huyết để tu học. Thế nên, chúng ta sẽ dễ có sự nghi ngờ đối với pháp, vì một khi không thấy ngũ uẩn là không thấy pháp đang hiện hữu, đang vận hành trong thân tâm mình. Nhiều người dù tu học một năm, hai năm trong pháp này nhưng vẫn chưa thành tựu được một lòng tin vững chắc là bởi vì họ chưa có sự siêng năng nhận diện ngũ uẩn. Còn người thành tựu được tịnh tín bất động là bởi vì người đó chuyên tâm, chuyên cần, luôn luôn để tâm nhìn vào ngũ uẩn thì pháp sẽ hiện rõ ra. Một khi pháp hiện rõ ra và người này thấy được bằng con mắt tuệ của mình thì họ sẽ thành tựu lòng tin bất động.

Trong sự tu học này, ngoài việc thường xuyên nghe kinh, nghe pháp thì điều tối quan trọng sau giờ nghe pháp đó là trong tất cả thời gian và ở mọi nơi chúng ta cần phải chuyên tâm, chú tâm vào sự nhìn nhận ngũ uẩn. Nếu không có sự chuyên tâm, chú tâm, không để tâm, không hết lòng, không bằng tất cả trái tim, tấm lòng để đặt tâm vào sự nhận diện ngũ uẩn thì dù có tu một chục năm nữa vẫn vậy, dậm chân tại chỗ. Hoặc làm được chút ít thiện pháp là hài lòng với những cái nhỏ bé, nhỏ hẹp, cạn cợt, ít ỏi đó nên khi có chuyện xảy đến thì mình sẽ không nhìn ra, không thấy được ngũ uẩn vận hành. Thậm chí có bậc đạo sự, bậc thiện tri thức, có minh sư thiện hữu, thầy lành bạn tốt chỉ dẫn mình ngay lúc đó nhưng mình cũng không nhìn lại bản thân để thấy lỗi mà sẽ khó chịu, bực bội, đó chính là tâm hoang vu.

Chữ “tâm hoang vu” Đức Phật sử dụng vô cùng sâu sắc. Tâm không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn thì đó chính là tâm hoang vu. Lúc nào mình không có sự nhiệt tâm, chánh niệm, không có sự thu nhiếp, tỉnh táo, quán chiếu thì nội tâm lúc đó hoang vu, buông thả, thả lỏng. Ví dụ đơn giản, khi ăn trong sự chánh quán thọ thực sẽ khác với khi ăn mà không có chánh quán thọ thực. Khi nói chuyện mà có sự tuệ tri, rõ biết những gì mình đang làm, đang nói thì sẽ khác với lúc mình thả lỏng, không rõ biết việc đang làm. Khi có sự chánh niệm mình sẽ để tô chén xuống bàn một cách nhẹ nhàng, còn khi thả lỏng, không để tâm thì sẽ làm đổ vỡ, rớt bể tô chén. Khi có sự chánh niệm thì mình sẽ cười một cách nhẹ nhàng, an lạc, còn khi quên chánh niệm, cười ha hả thì lúc đó là tâm hoang vu. Tâm hoang vu không ở đâu xa mà ngay trong những hành động, lời nói, suy nghĩ mỗi ngày của mình. Đó chính là sự hoang vu, hoang dại, hoang dã của tâm này.

Trong mỗi một ngày, tâm hoang vu xuất hiện vô số lần nhưng chúng ta không nhìn thấy, cứ nghĩ rằng tâm hoang vu ở nơi đâu xa lạ, không phải chỗ mình. Nhưng thật ra, chỉ cần chúng ta buông lung, thả lỏng, không xoay lại nhìn ngó, kiểm soát, thâu nhiếp thì ngay lập tức lúc đó là hoang vu, hoang dã, hoang dại. Điều sâu sắc nhất trong bài kinh là ở chỗ “nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn” thì đó chính là tâm hoang vu. Nếu theo sát định nghĩa như vậy thì được bao nhiêu người tu học mà thoát được khỏi tâm hoang vu! Bởi lẽ, chỉ cần thả lỏng, không nhận diện ngũ uẩn thì lúc đó đã là tâm hoang vu. Hoặc cứ căng thẳng trong sự tu học thì cũng không đúng, phải tùy lúc và phải khéo léo sử dụng tâm mình trong khi tu. Ví dụ, khi cần mở tâm để nghe pháp, hoặc khi người khác nói chuyện với mình thì mình lại không nhìn họ; còn khi ra khỏi giảng đường thì lại ngó lia ngó lịa… như vậy là không khéo sử dụng tâm, đó là vô minh, không tỉnh thức để biết được cách ứng xử phù hợp trong trong từng trường hợp.

Vì vậy, phải cố gắng để tâm thường trú trong sự nhìn ngó lại thân thể, cảm giác, nghĩ, tưởng và nhận thức. Tối thiểu là phải thường xuyên nhìn ngó lại cảm thọ, tức là phải cảm giác toàn thân, nếu không những cảm giác sẽ tự tung tự tác, hoành hành, áp đảo, tác oai tác oái. Thậm chí tâm này còn thấy sự tác oai tác oái của bản thân là bình thường, đây là chỗ rất nguy hiểm, vì như vậy là đồng nghĩa với việc không có sự tàm quý, còn khi bị bó buộc vào tu học thì lại thấy khó chịu. Cũng như lúc ngồi nghe pháp phải trang nghiêm, thanh tịnh thì thấy rất khó chịu, nhưng đến khi được ra khỏi giảng đường thì như cá gặp nước, chim gặp bầu trời. Đó chính là tâm hoang vu, tâm kiết sử, tâm triền phược, tâm bị trói cột của tất cả chúng ta.

Minh Thành vừa có nhân duyên đi vào một vùng đất ở sát bìa rừng, nơi đây cỏ cây rậm rạp nên phải nhờ một người cầm máy phát cỏ đi trước, họ phát cỏ tới đâu thì mình mới đi theo được tới đó. Nếu mình đi không khéo sẽ bị trượt té và bị cỏ làm xướt tay, xướt chân vì cỏ ở đây rất bén. Minh Thành lúc đó có liên hệ đến bài kinh “Tâm Hoang Vu” này, bởi lẽ, tâm chúng ta thật sự như một khu rừng rậm, rừng rú, đây là một cái tâm hoang dã, hoang dại.

Ngày xưa khi học bài kinh này thì Minh Thành không hiểu nhưng bây giờ lại thấy vô cùng thấm thía, vì thấy tâm mình là một nội tâm không được dọn dẹp, không được làm cỏ nên trong đó cứ mọc lên những dây gai, dây leo, những loại cây gai góc, như cây mắc cỡ, cỏ tranh, cỏ lau sắc bén, thậm chí bên trong còn có rắn rít, trùng độc. Tâm này là một cái tâm hoang vu, hoang dại, hoang dã, một cái tâm chưa được khai hoang, khai khẩn… Tâm của chúng sanh chính là như vậy. Khi vừa bị chạm tới là những cái gai sắc bén trong tâm này sẽ đâm mình chảy máu, rỉ máu.

Thế nên, nội tâm của chúng sanh thật sự là một nội tâm hết sức rừng rú, rừng rậm, rừng hoang, hoang vu, hoang dại, hoang dã, hoang sơ. Tâm này đầy rẫy những tham lam, ác độc, sân hận, bức xúc, khó chịu, hơn thua, giành giật, mưu sĩ, mưu mô, mưu tính, mưu độc, mưu toan, mưu hại, mưu ác cùng với biết bao rắn rít, trùng độc, bò cạp, sâu bọ. Cho nên, sự tu tập của chúng ta là khai phá rừng hoang, dọn dẹp nội tâm hoang dại, hoang vu, làm cỏ trong nội tâm đầy rẫy rắn rít, sâu bọ, trùng độc này. Nếu chúng ta không để tâm thật nhiều, không chăm chăm niệm đạo ngày đêm, giờ giờ, phút phút ưu tư thì tâm rừng rú, hoang dại này mãi mãi chỉ dọn dẹp được chút ít bên ngoài bìa rừng, trong khi bên trong đó ẩn nấp biết bao độc xà, bò cạp, hổ báo. Nếu chỉ đứng bên ngoài nhìn vào thì chúng ta không thể thấy được những mãnh thú độc ác này, chỉ khi đi sâu vào bên trong mới biết được chúng ẩn náu trong bụi rậm, mỗi khi xuất hiện thì hại mình hại người.

Vì vậy, bài kinh “Tâm Hoang Vu” này là một chủ đề thiền quán sâu sắc, không thể chỉ đọc phớt qua là hiểu được. Ngũ uẩn này khi nhìn cái gì khả ái, khả ý là ham muốn sanh khởi ngay lập tức, hoặc nghe một cuộc điện thoại do bạn bè rủ rê thì tâm mình liền thúc giục. Vậy, trong bài kinh này, Đức Phật nói về điều gì?

Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào chưa diệt trừ năm tâm hoang vu, chưa đoạn tận năm tâm triền phược, vị ấy có thể lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong pháp luật này, sự kiện này không xảy ra.

Những ai muốn lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong Pháp và Luật của Thế Tôn nhưng năm tâm hoang vu không được đoạn tận thì điều đó không thể xảy ra.

Thế nào là năm tâm hoang vu chưa được đoạn trừ?

Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nghi ngờ bậc Đạo Sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ bậc Đạo Sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín, thời tâm vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ nhất chưa được diệt trừ.

…Nghi ngờ Pháp… không có tịnh tín…

…Nghi ngờ Tăng… không có tịnh tín…

…Nghi ngờ các học pháp… không có tính tín…

Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phẫn nộ đối với các đồng phạm hạnh, không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào phẫn nộ đối với các vị đồng phạm hạnh, không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn, thời tâm của vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ năm chưa được diệt trừ. Như vậy là năm tâm hoang vu chưa được diệt trừ

(Trung Bộ Kinh, 16. Kinh Tâm Hoang Vu)

Đoạn trừ tâm nghi ngờ

Bốn sự nghi ngờ của tâm hoang vu, gồm: nghi ngờ Phật, nghi ngờ Pháp, nghi ngờ chúng Tăng, nghi các học pháp – chúng ta có thể nói tóm gọn là đây là nghi ngờ giáo pháp ngũ uẩn và đó chính là tâm hoang vu. Trong thời Đức Phật, có vị Tỳ-kheo tên Vakkali bị bệnh nặng nhưng vẫn mong có sức khoẻ để được gặp Đức Phật một lần. Vì lòng từ mẫn nên Đức Thế Tôn đã đến thăm và nói rằng: “Có gì đáng thấy đối với cái thân hôi hám này. Này Vakkaki. Ai thấy Pháp người ấy thấy Ta, ai thấy Ta người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Đang thấy Ta, là thấy Pháp” (trích Tương Ưng Bộ III, kinh Vakkàli), như vậy chúng ta hiểu câu này có nghĩa là Phật với Pháp chính là một. Sở dĩ, chúng ta có sự nghi ngờ là bởi vì mình chỉ học mà không thực hạnh, hoặc có thực hành thì không có sự nỗ lực trong đó. Nếu nỗ lực thực hành thì những nghi ngờ sẽ được diệt tận hoàn toàn, bứng tận gốc rễ và chúng ta sẽ thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Thánh trí Ngũ uẩn. Khi đó, tâm hoang vu thứ nhất, thứ hai, thứ ba mới được trừ diệt.

Như vậy, mấu chốt vấn đề ở đây là chúng ta phải siêng năng, để tâm, hết lòng, thường xuyên và liên tục nhìn lại thân thể, cảm giác, nghĩ, tưởng và nhận thức trong tất cả mọi hoàn cảnh. Nếu không chịu thực hành những điều này thì người tu mãi mãi không thể đi sâu vào pháp. Cho nên, cần phải siêng năng nhận diện ngũ uẩn ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi trường hợp, mọi hoàn cảnh, mọi tình huống. Cần phải nhìn xem cảm giác lúc đó ra làm sao; nghĩ, tưởng lúc đó như thế nào, bằng không, dù người khác có chỉ dẫn thì mình cũng nhìn thấy được. Bởi vì chúng ta chỉ nhìn ra ngoài thì làm sao thấy được bên trong. Cứ nhìn vào sự đúng sai, hay dở của người khác thì sao thấy được bên trong thọ, tưởng, hành của mình. Trong khi pháp ngũ uẩn ở bên trong tự thân nhưng lúc xảy ra chuyên thì chúng ta cứ nhìn vào người này, người kia bên ngoài, như vậy thì không thể nào thấy pháp. Mà một khi không thấy được pháp thì chúng ta sẽ không thể nào thành tựu tin vào pháp. Ví dụ, Minh Thành chỉ tay vào cái chuông phía bên phải để mọi người nhìn thấy những họa tiết hoa sen, rồng phượng, biểu tượng cát tường được khắc trên bề mặt chuông nhưng mọi người cứ nhìn theo hướng ngược lại thì làm sao thấy được. Khi đã không thấy mà kêu mọi người tin vào đó thì làm sao có thể tin được. Thế nên, một người không thường xuyên nhận diện ngũ uẩn mà có thể thành tựu tịnh tín bất động đối với là điều không thể xảy ra.

Trong bài kinh “Bọt Nước”, Đức Phật có dùng từ “chuyên chú, như lý quán sát”, tức là không chỉ nhìn mà còn phải chuyên chú quán sát, như lý quán sát đối với các pháp. Lúc chúng ta nhìn là chỉ mới nhìn bằng con mắt, sau đó phải có sự chú tâm và như lý quán sát, như vậy thì các pháp mới dần hiện rõ. Cụ thể trong bài kinh “Bọt Nước” là chuyên chú quán sát thì sẽ thấy được tính chất của bọt nước là rỗng không, trống không, không có lõi chắc chắc ở bên trong giống như thân này. Cũng vậy, khi càng nhìn, càng thấy, càng biết, càng thẩm thấu, càng thấu đáo, càng thấu triệt vào pháp thì lòng tin của chúng ta tự động không lay chuyển. Ngược lại, nếu không chịu nhìn thì không thể nào thấy, không thể nào thấu triệt và không thể nào tin tưởng được, vì thế cho nên chúng ta không tu không tiến bộ, không thể nhập thâm sâu vào trí tuệ.

Ngoài đời và trong đạo cũng giống nhau. Người nấu bếp ngoài đời nếu có sự để tâm, nghiên cứu các món ăn từ sách vở, trên mạng, học hỏi từ người khác và họ cố gắng ngày đêm thì chắc chắn họ sẽ nấu giỏi. Một chàng họa sĩ hoặc một anh bác sĩ cứ để tâm ngày đêm vào việc tập vẽ hoặc học hỏi, đọc sách y khoa đến mức bỏ ăn bỏ ngủ, nằm chiêm bao cũng thấy mình đang vẽ, nằm ngủ cũng thấy mình đi trị bệnh, tất cả thọ, tưởng, hành của họ đều chú tâm vào việc đang làm thì người này sẽ trở thành một họa sĩ tài ba và một bác sĩ danh tiếng. Người tu sĩ cũng vậy, cứ để tâm thường xuyên, liên tục vào sự nhận diện ngũ uẩn, soi rọi xem đang có gì bên trong tâm thì đến một ngày sẽ tu giỏi, nhận diện giỏi, trở nên thiện xảo trong sự nhìn nhận thân tâm và các pháp. Cho nên, khi làm bất cứ việc gì cũng đòi hỏi có sự đầu tư, để tâm vào việc đó, chính vì vậy, ở cuối bài kinh này, Đức Phật dạy Tứ Như Ý Túc.

Khi để tâm nhiều vào sự nhận diện ngũ uẩn thì chúng ta sẽ tin Phật, tin Pháp, tin Tăng. Đồng thời chúng ta cũng sẽ không nghi ngờ đối với các học pháp, lúc đó mình không còn do dự, có được sự quyết đoán và sự tịnh tín. Bởi vì nếu nghi ngờ các học pháp thì chúng ta sẽ do dự không biết ngũ uẩn như vậy có đúng không, có phải Đức Phật chứng ngộ ngũ uẩn không? Nhiều người tu mấy chục năm nhưng vẫn thắc mắc rằng có phải Đức Phật chứng ngộ mươi hai nhân duyên không, dù tu mấy chục năm nhưng vẫn không biết Đức Phật chứng ngộ cái gì. Với một tâm do dự, nghi ngờ, lờ mờ, không xác quyết thì vị này “không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn”. Do tâm vị này không có được sự quyết đoán, không có lòng tin tuyệt đối nên họ không hướng đến sự nỗ lực trong con đường, trong phương pháp đó. Và tâm như vậy gọi là tâm hoang vu.

Tu tập tâm an tịnh

Hãy tu làm sao để thật hạnh phúc khi được ngồi thiền! Thật hạnh phúc khi được nghe pháp! Thật hạnh phúc khi được yên lặng, an tịnh! Và đối với những lúc ồn ào, lăng xăng, náo nhiệt, tất bật thì thấy thật mệt mỏi, ngao ngán, nhàm chán, chán ghét, không còn ưa thích, lập tức tránh né, tránh xa và muốn từ bỏ, xa lìa.. Phải tác ý để tập tâm thấy gớm ghiếc, ê chề, não nề, tồi tệ, thấp kém, hèn hạ, hạ liệt, phàm phu trước những sự lăng xăng, lộn xộn, hoang dại, hoang dã… Còn những lúc được thu nhiếp thân tâm, được ngồi yên, được ngấm mình trong Thánh pháp, được an tịnh trong sự yên lặng của bậc Thánh thì thấy vô cùng an lạc, hạnh phúc, sung sướng dạt dào. Đó chính là tâm của người tu.

Có nhiều chi tiết trong kinh rất hay, phải suy tư và học hỏi. Một lần, khi các ngoại đạo hội họp, nói chuyện về vua chúa, thiếu nữ, những chuyện ngoài lề… nhưng khi thấy Ngài Anan đến gần thì họ bảo nhau yên lặng vì đệ tử của Ngài Gotama đang đến, những vị này rất thích yên lặng, rất thích an tịnh. Nếu hội chúng yên lặng, an tịnh thì có thể Ngài sẽ ghé vào. Những điều này chúng ta cần phải học, phải ghi vào trong não, vì đây là những câu thần thánh, là chuẩn mực của thiền môn. Nhiều lần Minh Thành đang đứng ở xa mà nghe ồn ào, nhất là tiếng những người tu thì Minh Thành thấy vô cùng chán chê, ê chề, não nề, gớm ghiếc, không muốn nhìn, không muốn gặp, vì như vậy không phải người tu, dù là cư sĩ cũng không được như thế, huống chi là người đã xuất gia.

Một lần, khoảng 500 vị Tỷ-kheo đến yết kiến Thế Tôn. Các Ngài chia bồ đoàn, tọa cụ tạo nên những tiếng ồn ào, náo động. Thế Tôn hỏi Ngài Anan là âm thanh gì, Ngài Anan trả lời là tiếng của các vị Tỷ-kheo mới xuất gia đến thăm Đức Thế Tôn. Thế Tôn mới nói những âm thanh đó giống như “tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau” và Đức Phật cho đuổi hết 500 vị. (trích Trung Bộ Kinh II, Kinh Càtumà)

Cho nên, sự an tịnh, lắng dịu là cả một công phu tu hành của tâm hiền mà chúng ta cần tu tập. Nếu làm công việc dọn dẹp quanh chùa mà lại ồn ào, lăng xăng, không có oai nghi của một người tu thì thà rằng Minh Thành không làm, bỏ cho hoang sơ cũng được, vì giữ được tâm mình quý hơn những ngoại cảnh. Nếu làm công việc mà mất đi tâm tu thì thà không làm. Vì vậy, phải cố gắng làm sao cho được cả hai, làm chậm một chút cũng không sao nhưng chúng ta làm việc trong sự an tịnh.

Trong khi làm việc, luôn để ý đến tâm hoang vu của mình, luôn kiểm tra, kiểm soát nó, chứ không phải chỉ khi có thầy bên cạnh thì mình mới ngoan, mới hiền, mới trang, mới nghiêm, còn khi không có thầy thì mình thả lỏng, buông lung. Chúng ta phải rèn luyện, tu tập cho tự thân mình dần dần, mọi lúc mọi nơi, trải qua nhiều năm tháng thì tự động bản chất của một người tu, phong thái, dung nghi của một người xuất gia sẽ được thành tựu.

Hơn thế nữa, khi thực tập được như vậy thì chúng ta mới có thể vượt qua tâm hoang vu thứ năm, tức là trừ diệt được tâm “phẫn nộ đối với các đồng phạm hạnh, không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn”. Chỉ khi tu tập được tâm an hiền, tâm an tịnh, lắng dịu thì chúng ta sẽ tránh được những điều này, bằng không, mình rất dễ phẫn nộ với bạn đồng tu. Có người chỉ mới đến chùa nhưng muốn làm khác biệt với đại chúng, đó là tâm cứng cỏi, ương ngạnh, như vậy thì làm sao học pháp. Vì tâm cứng rắn chính là tâm cứng đầu, cứng cổ, ương ngạnh, thể hiện bản ngã, đó là tâm hoang dại, hoang vu. Hội chúng của chúng ta là hội chúng hiền thiện, chấp nhận học pháp, dễ nghe, dễ bảo, tâm ai cứng cỏi quá thì nên tìm nơi khác phù hợp.

Tâm người tu phải là tâm hiền hòa, từ ái, tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. Câu này mỗi ngày Minh Thành niệm ít nhất cũng hàng trăm lần, chứ không phải hướng dẫn người khác niệm mà mình không niệm. Mỗi lúc có thời gian là Minh Thành niệm “tâm an tịnh, tâm lắng dịu, tâm dễ chịu, tâm từ ái, tâm ngọt ngào”. Chúng ta niệm để nhắc nhở tâm mình được thấm đẫm, thấm đượm, được thuần thục và bên trong tâm được đầy ắp cảm thọ hiền thiện, ngọt ngào. Và mỗi khi cay đắng đến, chúng ta dùng sự ngọt ngào này để đối đãi với nó.

Tỷ-kheo nào phẫn nộ đối với các vị đồng phạm hạnh, không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn, thời tâm của vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ năm chưa được diệt trừ.

Đối với tâm ương ngạnh, cứng cỏi trong người cần phải để tâm rất nhiều để trị nó. Tuy nghe đơn giản nhưng tâm cứng cỏi này rất nguy hiểm, nhiều khi nó đang ngủ ngầm trong tâm mà mình không thấy. Có khi ở trong thất rất lâu nhưng đối với chuyện hết sức nhẹ nhàng mà vẫn không hóa giải được. Nếu không thấy được bản ngã, không thấy được những tâm hoang vu này thì dù có ở trong rừng một mình, đóng cửa hai, ba chục năm trong thất thì khi ra ngoài bản ngã vẫn như cũ. Nếu không có một đạo lộ chính xác về Thánh trí năm uẩn này thì chỉ được an tịnh, lắng dịu đôi chút, nhưng gốc rễ bên trong vẫn còn nằm yên, không được đào xới lên.

Hơn nữa, vào thất đóng cửa tu học không phải chỉ để lấy danh nhập thất, không phải chỉ để tính ngày tính tháng, mà vào thất để nghỉ dưỡng hay vào thất để nhiệt tâm, tinh cần, nỗ lực, tinh tấn tu học mới là điều quan trọng. Ai cũng nhập thất được, ai cũng đóng cửa thất lại được nhưng vào đó để làm gì? Ăn ngủ hay tu học? Cho nên, không phải đóng cửa ở một mình là hay, mà phải xem mình đã chịu khó giải phẫu những ung nhọt, ung hạch, ung bướu, ung thư trong người ra không? Có quyết tâm chịu đựng đau đớn để thầy cô, huynh để giúp đỡ mình cắt bỏ khối u đó không? Nhưng thực tế bây giờ, huynh đệ lỡ va chạm, bất đồng với nhau, sau đó mới vừa chỉ lỗi, nhắc nhở nhau một chút là nhiều người bỏ đi chỗ khác tu. Tâm bản ngã, không chấp nhận học pháp như vậy thì làm sao tu. Bởi dòng pháp vô ngã sẽ tự động đào thải những bản ngã. Dòng pháp khiêm cung, cung kính sẽ tự động đào thải những người có bản ngã cao. Pháp vận hành tự động như vậy.

Làm sạch vườn tâm

Đối với tâm hoang vu này, chúng ta phải làm cỏ thường xuyên, khai phá rừng hoang, dọn dẹp từng chút, từng chút mỗi ngày. Đừng nghĩ những chuyện lớn mình mới tu, còn những chuyện nhỏ thì không cần tu, vì không có chuyện gì là lớn, mà tất cả đều từ những cái nhỏ mà có. Nếu không để ý đến chuyện nhỏ thì dù tu ba năm, năm năm, bảy năm, mười năm, hai chục năm thì tâm này vẫn như cũ. Hoang vu vẫn là hoang vu, hoang dại vẫn là hoang dại, hoang dã vẫn là hoang dã. Đến cuối cùng vẫn là một nội tâm rừng rú, đầy rẫy những cái tôi ta, hơn thua, sân hận, ai chạm đến là sừng sộ, phẫn nộ, chống đối.

Như vậy, chúng ta đã cũng nhau quán chiếu về tâm hoang vu, tâm hoang dại, tâm hoang dã, tâm rừng rú. Điều quan trọng nhất ở đây là phải dẹp được sự nghi ngờ. Muốn dẹp được nghi ngờ thì phải thấy biết được sự thật. Muốn thấy biết được sự thật của thân tâm thì phải nhận diện ngũ uẩn và nhận diện một cách chuyên chú, thường xuyên thì chúng ta sẽ thấy biết được trong tâm đang có những cái gì, đồng thời luôn thấy được giá trị của những lời dạy của Đức Phật ở mức độ nào.

Chúng ta không ngừng hướng tâm đến sự nỗ lực, tinh cần, tha thiết, nhiệt thành thì chắc chắn sẽ có chân đứng trong Pháp và Luật này. Phải thường xuyên ở trong trạng thái quán chiếu đối với tất cả mọi sự vật, sự việc đang xảy đến với mình. Phải nhìn mọi việc bằng sự thiền quán sâu sắc, không được nhìn phớt qua rồi kết luận vội, phản ứng nhanh, không được nhìn nhận vấn đề một cách thiển cận, cạn cợt, qua loa, mà phải đào thật sâu bằng Thánh trí đối với mọi sự vật, sự việc. Nếu không, tâm này mãi là tâm hoang vu, chưa được làm sạch, chưa được dọn dẹp, và như vậy sẽ không trồng bông, trồng hoa được, không làm được cảnh tùng lâm trang nghiêm, thanh tịnh, mà nó chỉ là một khu rừng rú hoang dã.

Cho nên, hãy cố gắng dọn dẹp sạch sẽ và trồng thật nhiều hoa trái trong khu rừng này, vì để kiến tạo được một nơi cửa thiền thanh tịnh thì trước tiên cần một nội tâm sạch sẽ. Sau khi dọn dẹp được những cấu nhiễm này thì mới bắt đầu tu tập từ, bi, hỷ, xả; mới tu tập được những thiện pháp thâm sâu trong Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo, trong trí tuệ, trong thiền định, trong tuệ giác. Và như vậy là chúng ta đang kiến lập nơi tùng lâm, đạo tràng thành một cung điện nguy nga của Thánh trí tuệ trong mảnh rừng hoang vu đó.

Năm tâm triền phược

Tiếp đến, Đức Phật nói về năm tâm trói cột:

Thế nào là năm tâm triền phược chưa được đoạn tận?

Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo, đối với những dục, không phải không tham ái, không phải không dục cầu, không phải không ái luyến, không phải không khao khát, không phải không nhiệt tình, không phải không khát ái. Chư Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo nào đối với những dục, không phải không tham ái... không phải không khát ái, tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ nhất chưa được đoạn tận.

Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với tự thân, không phải không tham ái... (như trên)... như vậy là tâm triền phược thứ hai chưa được đoạn tận.

Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với các sắc pháp, không phải không tham ái... (như trên) ... như vậy là tâm triền phược thứ ba chưa được đoạn tận.

Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào ăn cho đến thỏa thê, cho đến bụng chứa đầy, sống thiên nặng về khoái lạc về sàng tọa, khoái lạc về ngủ nghỉ, khoái lạc về thụy miên. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào ăn cho đến thỏa thê cho đến bụng chứa đầy... (như trên)... như vậy là tâm triền phược thứ tư chưa được đoạn tận.

Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống phạm hạnh với mong cầu được sanh thiên giới với ý nghĩ: "Ta với giới này, với hạnh này, với khổ hạnh này hay với phạm hạnh này sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác". Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống phạm hạnh... (như trên)... như vậy là tâm triền phược thứ năm chưa được đoạn tận. Như vậy là năm tâm triền phược chưa được đoạn tận. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào chưa diệt trừ năm tâm hoang vu này, chưa đoạn tận năm tâm triền phược này, vị ấy có thể lớn mạnh trưởng thành, hưng thịnh trong pháp luật này, sự kiện này không xảy ra.

Đầu tiên, “đối với những dục, không phải không tham ái, không phải không dục cầu, không phải không ái luyến, không phải không khao khát, không phải không nhiệt tình, không phải không khát ái, tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn”. Vị này để tâm quá nhiều vào những thứ tham muốn, chăm lo cho những thứ ưa thích, dành nhiều thời gian, tâm ý vào những thứ mong cầu. Hơn nữa còn ưa thích, tham muốn, mong cầu một cách rất nhiệt tình, vị này không phải nhiệt tình để thoát ra mà nhiệt tình để có được. Vị này bị những thứ tham muốn, yêu thích, mong cầu, thương mến, khao khát, nhiệt tình trói cột. Dành nhiều thời gian, tâm ý, công sức cho những thứ tham muốn, ưa thích; mà không dành thời gian vào sự thực tập pháp, không nỗ lực, tinh cần trong sự ly tham, cứ chú tâm vào những sự tham muốn, ưa thích, đây chính là sợi dây trói cột thứ nhất.

Trói cột thứ hai là “đối với tự thân, không phải không tham ái”, tức là tham ái đối với tự thân. Mỗi ngày chúng ta bị trói cột vào việc tắm gội, giặt giũ, rửa mặt, súc miệng, cắt móng tay, móng chân, dùng xà bông thơm, mặc quần áo đẹp, có khi đi tu rồi cũng phải lựa lụa này lụa kia, vải này vải nọ tốt mới mặc. Đó là sợi dây trói cột vào sự yêu thích thân xác này, cho nên, bài Đảnh lễ đức hạnh Ngài Xá Lợi Phất vô cùng tuyệt vời, vì đây là tổng cương lĩnh để phá tan lòng tham ái đối với tự thân này, là Thánh trí giải phá tâm trói cột, triền phược này.

Ai còn ngã mạn vì thân xác,

Phiền não, khổ đau sẽ dài dài.

Ai còn cao ngạo vì thân xác,

Luân hồi, thần chết sẽ hân hoan.

Ai còn say đắm nhìn thân xác,

Ngạ quỷ, súc sanh sẽ còn hoài.

Ai còn yêu thích nhìn thân xác,

Tự sát hại mình trong tử sanh.

Ai nhàm, ai chán nhìn thân xác,

Phiền não, khổ đau sẽ cạn dần.

Ai nhàm, ai chán nhìn thân xác,

Tử thần sẽ nản chí, buông tay.

Ai cười, ai thích nhìn thân xác,

Thì khổ mất thân sẽ dài dài.

Ai nhàm, ái chán nhìn thân xác,

Các cõi luân hồi chấm dứt ngay.

Nay con ngao ngán nhìn thân xác,

Ngao ngáo xác thân phải chết hoài.

Nay con ngao ngán nhìn thân xác,

Vô thường nhưng dục, ái, tham, sân.

(trích Nghi thức tu học Nikāya, Đảnh lễ đức hạnh Ngài Xá Lợi Phất)

Những câu từ được học trong Nghi thức tu học Nikāya là những tinh hoa, cốt tủy trong giáo pháp này. Trái tim của Đức Phật ở trong đó, con mắt của 12 bộ kinh ở trong đó, cốt tủy của Thánh giáo ở trong đó, tinh túy của Tam Tạng ở trong đó, tinh hoa Phật trí ở trong đó. Vì vậy, mỗi khi đọc, chúng ta phải dùng cả tấm lòng, cả trái tim để nghiền ngẫm, tư duy từng câu, từng chữ, lấy những để mục trong đó để quán chiếu mỗi ngày sau khi ra khỏi thiền đường.

Trói cột thứ ba là “đối với các sắc pháp, không phải không tham ái”, phía trên là đã nói tham ái về thân, còn sắc pháp ở đây là nói về nhà cửa, đất đai, xe cộ, tiền bạc, tài sản, chùa chiền, căn phòng mình ở, cái giường mình nằm, túi xách mình đeo. Vị nào “đối với những sắc pháp này không phải không tham ái, không phải không dục cầu, không phải không nhiệt tình, không phải không ái luyến, không phải không khao khát, không phải không khát ái” thì đó là sợi dây trói buộc đối với sắc pháp. Như vậy, đồ đạc, tài sản, vật chất chính là sợi dây trói buộc thức ba. Vì cứ bị trói buộc, để tâm vào những thứ này nên không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, tâm trở nên bị trói cột trong những thứ đó.

Trói cột thứ tư là “ăn cho đến thỏa thê, cho đến bụng chứa đầy, sống thiên nặng về khoái lạc về sàng tọa, khoái lạc về ngủ nghỉ, khoái lạc về thụy miên”. Ăn no, ăn hoài, ăn nhiều cũng chính là sự trói cột. Sau khi ăn no thì lại buồn ngủ, thân nặng nề, không ngồi thiền được, tâm mê man, chỉ muốn ngủ nghỉ.

Trói cột thứ năm là “mong cầu được sanh thiên giới”, vị này với giới hạnh, phạm hạnh đã tu được, mong cầu sau khi chết sẽ được sanh về cõi lành để hưởng thụ: "Ta với giới này, với hạnh này, với khổ hạnh này hay với phạm hạnh này sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác". Suy nghĩ như vậy chính là sự đổi chác, mong cầu có được những hình thái khác của ngũ uẩn, tìm cầu khổ uẩn, tìm cầu trong những tổ hợp của khổ đau và đó là sự trói cột. Và đó chính là năm tâm triền phược,

Ở cuối bài kinh, để đoạn trừ những tâm hoang vu, trói cột này, Đức Phật có dạy phải tu tập Tứ Như Ý Túc, tức là đem tâm tha thiết, mong muốn một cách mạnh mẽ để tu tập. Trong sự mong muốn đó, phải nỗ lực thực hành, để tâm vào sự thẩm sát, tư duy, sao cho thật mau, nhanh, lẹ, thiện xảo nhất, khéo léo nhất, đầy đủ nhất để thành tựu cái đang hướng đến. Mọi người thường chúc nhau câu “vạn sự như ý”, nhưng để sự như ý đó được mãn nguyện thì cần thực hành Tứ Như Ý Túc, gồm: Dục Như Ý Túc, Tấn Như Ý Túc, Tâm Như Ý Túc và Tư Duy Như Ý Túc.

Như vậy, chúng ta cần lưu ý rằng, đối với những dục bất thiện thì sẽ bị gọi là tâm triền phược, tâm trói buộc nhưng Đức Thế Tôn dạy chúng ta phải dục trong thiện pháp, trong sự tu học. Chúng ta cần hiểu chỗ này, nếu không hiểu kỹ mình dẹp hết tất cả các dục, như vậy thì không tu được. Bởi lẽ, dục Đức Thế Tôn dạy là dục trong sự mong muốn, nỗ lực, tinh tấn tu tập, đạt đến chỗ nhiếp phục được các tham muốn, đây là dục trong sự “mong muốn để hết tham muốn”, còn dục bất thiện là những tham muốn. Nghĩa là một bên là “tham muốn”, còn một bên là “muốn đạt đến sự chấm dứt mọi tham muốn”, đây là chỗ khác nhau, chúng ta cần phân biệt được chỗ này. Thông thường, ai ai cũng muốn có được sắc đẹp, muốn ăn ngon, muốn có được những danh vị ở đời. Còn Đức Phật dạy người tu chúng ta mong muốn rời xa những ham muốn đó. Như vậy, đều là muốn, nhưng Phật dạy chúng ta muốn rời xa những sự tham muốn; đều là muốn, nhưng Phật dạy chúng ta muốn bản thân mình nỗ lực, tinh cần, tinh tấn, nhiếp phục, chế ngự những cấu uế, phiền não, tham, sân, si. Đồng thời phải tinh tấn, để tâm, tư duy, suy nghĩ mọi phương pháp để đạt được sự thành tựu như ý nguyện.

./.