Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tinh Hoa Nikāya - Tu Trong Khi Làm Việc

2026-03-03 00:54:53
Tinh Hoa Nikāya

Tu Trong Khi Làm Việc

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. An trú tâm trong công việc PAGEREF _Toc179559916 \h 1

II. Luôn quán xét thân tâm PAGEREF _Toc179559917 \h 3

III. Cung kính Thánh Pháp PAGEREF _Toc179559918 \h 8

I. An trú tâm trong công việc

Kính thưa đại chúng, hôm nay con chia sẻ những điều bình thường trong đời sống và nếu quý vị có những vấn đề khó khăn, trở ngại trong khi làm việc, học tập, thực hành thì quý vị có thể nêu câu hỏi. Sáng nay chú Dũng có hỏi nhưng do thời gian hết, bài chưa xong nên con chưa trả lời, bây giờ con trả lời chung cho đại chúng, tu trong khi làm việc. Người hỏi đặt ra vấn đề cho tất cả những người không hỏi để nghe chứ không phải con nói cái dở của người hỏi, đó là cơ hội để giúp mọi người nhìn thấy được vấn đề.

Mình làm việc chung với chú nhưng mình thấy bực mình, hôm qua làm việc chung với người khác cũng thấy bực mình. Nhìn kĩ lại vấn đề thì mình làm việc chung với ai cũng không hài lòng, cái đó không được nhìn người ta mà quay lại nhìn bản thân mình, xem lại bản ngã, kiến chấp, thói quen làm người lớn, làm chủ, làm lãnh đạo. Trong sự tu học này dù người kia có sai nhưng mình vẫn không bực mình thì cái đó mới là tu trong khi làm việc, còn mình sân lên là sai, dù sân trong trường hợp đó là đúng nhưng vẫn sai.

Tại sao khi nghe pháp thì an lạc, còn khi ngồi thiền thì tâm tương đối yên lặng nhưng khi ra làm việc lại bị động? Vì khi nghe pháp thì tâm an trú trong lời pháp, ngồi thiền thì dùng trí tuệ quán chiếu để nhìn cho nên an trú trong pháp, an trú trong trí thì không bị phiền não, khi ra làm việc thì không an trú trong pháp, không an trú trong trí mà an trú trong công việc, hễ an trú trong công việc thì bản ngã hoạt động, dục hoạt động, sân hoạt động, tập khí, thói quen, nghiệp hoạt động. Đó là lý do nghe pháp thấy an lạc, ngồi thiền an tịnh nhưng khi trở ra ngoài là có chuyện xảy ra, nếu làm việc mà tu giống như đang nghe pháp, ngồi thiền thì cũng được an yên giống như vậy.

Khi làm việc mình không trú trong pháp, đây là bài tập khó nhưng ai giải được bài tập này thì người đó tu hành tiến bộ và vững chắc trong pháp và luật. Con nhắc lại khi mình nghe giảng thì tâm an trú trong pháp, khi ngồi tu thì tâm mình an trú trong trí, còn khi ra làm việc thì an trú trong tự ngã, không an trú trong pháp, trong trí, chính vì vậy mà tham, sân, si, bản ngã hoạt động, nếu khi làm việc mà an trú trong pháp, trong trí thì nó sẽ giảm thiểu, đương nhiên không thể bằng lúc nghe pháp, ngồi thiền nhưng ít nhất mình cũng có sự canh chừng, quán chiếu, an trú thì có thể giảm được phân nữa.

Tu hay không tu là chỗ này mới xét được người, vì khi ngồi thiền có an trú trong trí bao nhiêu phần cũng không ai biết, vọng tưởng cũng chỉ một mình mình biết, ngủ gục một mình mình hay nếu không có ai canh chừng, còn nghe pháp là do hoàn cảnh bắt buộc phải ngồi im, thậm chí có khi ngồi im cũng không được, còn khi ra ngoài là tập khí, thói quen, nghiệp bung ra.

Ở trên Linh Quy Pháp Ấn có thời khóa tu rất nhiều là do con muốn đại chúng an trú trong pháp và trí, an trú trong chánh pháp và trí tuệ. Con mong muốn tất cả mọi người về đây đều được an trú trong chánh pháp, an trú trong trí tuệ nhưng có nhiều người từ địa vị của người tập sự xuất gia lùi về sau chỉ muốn làm công quả thôi vì thấy tu nhiều quá nên tu không nổi.

Hữu lậu trong tâm vận hành không cho mình yên, ra nhảy nhót, làm này làm kia, la lối lại thấy khỏe, vào ngồi nghe pháp, ngồi thiền thì thấy bối rối, bứt rứt cho nên ở bên Myanmar có chỗ tu rất hay là một tiếng ngồi thiền, một tiếng đi thiền hành, cứ lần lượt như vậy rất hay, lúc nào cũng có rất đông người đến tu. Khi con thấy bên đó tu như vậy thì con về đây tăng thời khóa tu tập lên nhưng thấy vậy thì mọi người lần lượt xuống núi không tu nữa, khi làm việc mà có sự thực hành là tuyệt diệu, không phải dễ. Người không có tâm, không sử dụng Tứ Như Ý Túc là rơi rớt lập tức, không nỗ lực nhiều, không tìm mọi cách để thành tựu sự tu là làm việc mất hết.

Người tu không phải vào tu để làm việc nhưng tu rồi thì làm việc rất tuyệt vời, không phải càng tu rồi là càng không biết làm gì cả. Phải nhớ chỗ quan trọng này, không phải vào tu để làm việc nhưng tu rồi thì làm việc là siêu làm, siêu việc, đó là cái làm của người tu, làm không dính mắc nhưng làm tốt, làm đạt. Cái đó gọi là vô tác diệu lực, thấy giống như không làm nhưng lại làm hơn hết, mình phải sử dụng trí tuệ để làm việc.

Đức Phật và các bậc Thánh chúng ngày xưa làm gì? Không làm gì cả, đi khất thực, ngồi thiền, ai đến hỏi pháp thì giảng pháp, Đức Phật không làm gì cả nhưng bây giờ đạo Phật là tôn giáo đứng đầu trên tất cả tôn giáo trên thế giới, được các nhà khoa học kính trọng, nghiên cứu bậc nhất. Thầy của chư thiên và loài người là không làm gì cả nhưng Bồ-tát siêu làm, các bậc Thánh Tăng không làm gì nhiều, còn mình giỏi lắm nên mình làm quá nhiều đến khi chết đi còn một đống tham, sân, si cho nên mình phải biết mục đích của việc làm trong chùa là làm để đi đến chỗ tích tụ thiện pháp, nhiếp phục tham, sân, si thì mới làm, còn thấy trong đó có sân si, bản ngã thì đừng làm, vào nghe pháp, ngồi thiền.

Nếu làm mà hoan hỉ, an lạc, tích tụ phước báo, công đức thì hãy làm, còn làm mà thấy sân si, bản ngã thì đừng làm, vào ngồi thiền vì ở đây không ai bắt phải làm. Nắm được chỗ này thì khi làm việc mới được an lạc, làm bất cứ cái gì cũng đều hướng đến mục đích nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si, bản ngã.

Mình làm mà sân si lên thì làm chi? Mình làm mà bản ngã khởi lên thì làm để làm gì? Mình làm mà lòng tham càng tăng trưởng đi ngược với sự tu tập thì đừng làm cho nên trong khi làm phải nhìn ngó cái tâm của mình, đó là quán tâm trên tâm, đó là tụng kinh Tứ Niệm Xứ.

II. Luôn quán xét thân tâm

Cho nên lên chánh điện mở kinh ra tụng là tụng trong chữ, còn khi làm việc mà nhìn được tâm thì đó là Tứ Niệm Xứ sống, Tứ Niệm Xứ được vận dụng, đó là tụng kinh sống.

(Quán tâm)

"Này các Tỳ-kheo, như thế nào là Tỳ-kheo sống quán tâm trên tâm? Này các Tỳ-kheo, ở đây, Tỳ-kheo, với tâm có tham, tuệ tri: 'Tâm có tham'; hay với tâm không tham, tuệ tri: 'Tâm không tham'. Hay với tâm có sân, tuệ tri: 'Tâm có sân'; hay với tâm không sân, tuệ tri: 'Tâm không sân'. Hay với tâm có si, tuệ tri: 'Tâm có si'; hay với tâm không si, tuệ tri: 'Tâm không si'. Hay với tâm thâu nhiếp, tuệ tri: 'Tâm được thâu nhiếp'. Hay với tâm tán loạn, tuệ tri: 'Tâm bị tán loạn'. Hay với tâm quảng đại, tuệ tri: 'Tâm được quảng đại'; hay với tâm không quảng đại, tuệ tri: 'Tâm không được quảng đại'. Hay với tâm hữu hạn, tuệ tri: 'Tâm hữu hạn'. Hay với tâm vô thượng, tuệ tri: 'Tâm vô thượng'. Hay với tâm có định, tuệ tri: 'Tâm có định'; hay với tâm không định, tuệ tri: 'Tâm không định'. Hay với tâm giải thoát, tuệ tri: "Tâm có giải thoát"; hay với tâm không giải thoát, tuệ tri: 'Tâm không giải thoát'.

Như vậy vị ấy sống quán tâm trên nội tâm; hay sống quán tâm trên ngoại tâm; hay sống quán tâm trên nội tâm, ngoại tâm. Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm; hay sống quán tánh diệt tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. 'Có tâm đây', vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỳ-kheo, như vậy là Tỳ-kheo sống quán tâm trên tâm". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)

Lúc trước con chưa đi vào dòng pháp này thì có một sư Nam Tông lên ngồi nói chuyện với con. Con trình bày muốn làm rừng thiền này nọ thì sư nói "thầy phải là thiền sư, thầy phải tu được thì thầy mới làm rừng thiền. Thầy mà tu rồi thì thầy không muốn làm gì nữa hết", lúc đó con có vẻ sân lên "nếu không làm gì thì chỗ đâu cho các thầy ở". Mình nghĩ theo kiểu trước nay là phải làm cái này làm cái kia cho nhiều, sư nói "sao thầy sân quá vậy", lúc đó con nhìn lại thì con thấy có sân, sau đó khi đi vào dòng pháp này rồi thì con tính gọi cảm ơn sư và bây giờ con không muốn làm gì nữa, sư đó có đi học mấy năm ở rừng thiền của Miến Điện.

Mình thấy rằng lúc trước mình sai, mình nghĩ rằng làm cái này làm cái kia, mình tu với cái tâm hướng ngoại mà mình không thấy bên trong mình là một núi rác hôi thối, người ta lại gần bốc mùi, bây giờ con nhìn lại thì thấy nhục, bản ngã của mình như vậy, sân si của mình như vậy mà mình không thấy mà tính làm cái này làm cái kia. Nếu cái tâm mình còn quá dao động, quá sân, quá bản ngã thì hãy tập trung thật nhiều vào quán tâm trên tâm, đó mới là công việc thật sự của người xuất gia, đừng chỉ thấy lọ nồi bên ngoài mà hãy nhìn vào lọ nồi trong tâm mình, rửa chén chỉ thấy cái chén không mà không thấy cái chén dơ trong tâm gấp ngàn lần cái đó.

Người khéo léo là mượn công việc để tẩy rửa nội tâm, đó gọi là người có kế sống, gọi theo danh từ bây giờ là người có nghề, nếu không mình là người ăn không ngồi rồi trong đạo, dù cho mình có làm đủ thứ nhưng lại gần mình là một đống tham, sân, si, bản ngã, làm với ai cũng không vừa lòng, làm với ai cũng bản ngã, vào bếp là không ai nấu chung với mình được, ra vườn làm việc cũng không ai làm chung mình được, bất cứ lãnh vực nào cũng không ai làm chung mình được.

Cái này nhìn lại vô cùng xấu hổ chỉ có cách vào thất đóng cửa nhìn lại sự xấu xa, thối tha của mình, suốt ngày đi quán người ta mà không quán tâm trên tâm. Vì thế nghệ thuật tu tập là trong lúc làm việc phải phản tỉnh bản thân, thấy bề ngoài đang cầm chổi quét nhà nhưng cũng đang quét bên trong, thấy đang chùi rửa cái nồi nhưng cũng đang chùi rửa nội tâm cấu nhiễm, có như vậy mới không phải là người ăn không ngồi rồi trong pháp, mới không phải là người ẩn dương nương Phật, mới không phải là tầm gửi, là đồ ăn bám. Nếu không có sự quán tâm trên tâm như vậy, không có sự lau chùi, rẩy rửa như vậy thì đó là kẻ ăn bám tam bảo.

Chúng ta phải quán tâm trên tâm, kiểm tra xem tham có khởi không, lúc này có sân hay không sân, lúc này có si hay không si, có si thì nó như thế nào, có tham thì nó như thế nào, có sân thì như thế nào, có bản ngã hay không có bản ngã, sau đó mình mới xử lý nó, cho nên mới gọi là "tuệ tri", là biết bằng trí tuệ. Người ta thường hiểu lầm hai chữ tuệ tri này, dịch hai chữ đó ra là rõ biết, tôi tuệ tri có tham nghĩa là tôi biết tôi có tham rồi để đó, tự cái tham biến mất. Hoàn toàn sai lầm, tuệ tri là biết bằng trí tuệ, nghĩa là biết bằng chánh tri kiến để đánh phá nó, dùng như lý tác ý để quán chiếu, diệt tận thì cái đó mới gọi là biết bằng trí tuệ, còn biết rồi để đó thì không gọi là biết bằng trí tuệ mà chỉ là biết bằng nhận thức thôi, là thức tri.

Nếu mình đang ngủ mà có con rắn bò sát bên rồi mình biết vậy thôi thì cái biết đó là bình thường hay bất bình thường? Người đó có bình thường không? Khi thấy biết nguy hiểm thì mình phải chạy xa nó hay đuổi nó đi, cũng vậy mình biết mà vẫn để y vậy thì không phải gọi là tuệ tri, biết bằng trí tuệ là phải đánh đuổi, phải đoạn tận, tẩy sạch, trừ diệt, đó là biết bằng trí tuệ của chánh tri kiến, Thánh tri kiến. Một người làm việc với tâm thái như vậy thì làm sao sanh được phiền não, nếu có thì cũng ở trong tầm kiểm soát. Đây là bí kíp trong sự làm việc, nếu thấy quá mức rồi thì không làm nữa, lúc nào bình thường thì làm lại.

Trong lúc làm việc phải cẩn thận, không được qua loa, cẩu thả, không được làm cho xong. Bất cứ công việc gì cũng phải làm bằng cái tâm, bằng sự để tâm của Tứ Như Ý Túc. Để tâm là đặt hết tâm tư vào công việc đó dù nó rất nhỏ như bưng một chén trà, ở Nhật uống chén trà mất hơn tám trăm ngàn tiền Việt vì sự công phu trong đó, có biết bao sự để tâm, nghi thức, văn hóa, triết lý, đạo lý trong chén trà đó.

Đó là lý do trà đạo phong cách Nhật Bản vang dội trên thế giới, vì có Tứ Như Ý Túc trong đó, người ta nâng tầm uống trà lên thành nghệ thuật, thiền, sự đặc sắc của dân tộc người ta. Đầu tiên là người ta muốn như vậy, kế đó là nỗ lực để làm điều đó, người ta để tâm vào đó và người ta suy nghĩ mọi cách để làm được điều đó cho nên chén trà đó không còn là chén trà bình thường nữa mà thêm chữ "đạo" vào. Con thường hay nói cơm đạo, hành đạo tức là bước đi của mình, quét đạo, mình tụng kinh là tụng đạo, lúc đọc kinh là cả một cảm xúc, cảm thọ trong đó thì mới là đọc kinh bằng trái tim, đó là vận dụng Tứ Như Ý Túc để đọc kinh Nikāya. Khi mình để tâm vào thì cái gì cũng thành đạo, kể cả lúc làm việc cũng vậy, làm gì là phải tập trung vào chỗ làm đó chứ không nhìn ra chỗ khác.

Các Phật tử quý mến thầy Pháp Từ vì thầy hướng dẫn họ bằng cả cái tâm. Tuy thầy không học cao không hiểu rộng nhưng thầy nắm được căn bản tu tập rồi chia sẻ bằng cả trái tim, tấm lòng rồi người ta cảm nhận được điều đó, như vậy là vận dụng Tứ Như Ý Túc, vậy thì chắc chắn thành tựu, trong tất cả mọi lãnh vực nếu vận dụng Tứ Như Ý Túc thì chắc chắn thành tựu, điều này là báu vật được bậc Chánh Đẳng Chánh Giác chỉ dạy nhưng mình học thì cứ học rồi xếp sách lại, trở ra làm việc theo thói quen của mình. Ngược lại phải để tâm cả trong từng bước thiền hành, từng việc bưng chung trà, nhấp từng ngụm chung trà, khi lễ lạy, khi ngồi thiền…

Tất cả mọi thứ đều phải để tâm mình trong đó, trồng một cây trúc phải có trái tim của mình trong đó, cho nên nhiều khi con làm thì các chú làm chung không thích vì con thường sửa tới sửa lui, lúc đầu rất khó nhưng khi sửa xong là không thay đổi, nấu cơm cũng vậy, để tâm và tu trong việc nấu cơm thì cái đó trở thành cơm đạo, bếp thiền.

Ngày xưa có một vị cư sĩ thời Đức Phật, khi nấu cơm cho chồng ăn cô đổ dầu vào chảo nóng thì lửa phựt lên cháy chảo đồ ăn, lúc đó cô đang quán các hành là vô thường, khi lửa phựt lên thì cô chứng ngay tam quả, tham sân diệt tận, chứng Thánh quả thứ ba ngay lúc xào đồ ăn, đó là nghệ thuật tu tập tối thượng trong khi làm việc.

Kể ra câu chuyện này để thấy cái tâm của người có tu tập họ chuyên chú đến mức độ nào, đốt hết các lậu hoặc, tham sân không còn, chứng Bất Lai Thánh quả, đồ ăn bị cháy đen hết cả nhưng cô chứng ngộ chân lý vô thường, đó là một nữ cư sĩ. Chúng ta tu là phải hướng tâm đến như vậy, ngược lại vào làm chỉ toàn thấy sân si, gặp gì là bực nấy, làm chung ai là có chuyện với người đó nhưng không thấy lỗi của mình, chỉ toàn thấy lỗi của người ta. Như vậy có tu biết bao A-tăng kì kiếp cũng vậy vì những nguyên nhân thật sự của Tập Đế không nhìn thấy.

"Này các Tỳ-kheo, một sự thật các thầy cần phải cố gắng để thấy rõ được đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự chấm dứt khổ và đây là con đường đưa đến diệt tận khổ đau" (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật, I. Phẩm Định)

Mình không thấy được nguyên nhân của những bực bội, sân hân, bản ngã ở đâu, chỉ toàn hướng ngoại, không quán tâm, quán thọ, quán pháp thì không thể thấy được gì cả. Không thấy được thân thể, hành động của mình, không thấy cảm giác, nội tâm, không thấy những gì đang vận hành trong nội tâm nên không biết gì cả. Tứ Niệm Xứ là luôn nhìn lại thân thể, hành động, cảm giác, những cái gì đang có mặt trong nội tâm, một vị nữ cư sĩ thời Đức Phật chứng Thánh quả ngay trong lúc xào đồ ăn, con mong bà Năm được Dự Lưu, quả thứ nhất ngay trong khi làm đồ ăn là được rồi, các cô trong nhà bếp cũng phải tu tập.

Đừng bao giờ nghĩ rằng mình làm cực khổ nên thoải mái đi, ý hành đó sẽ giết chết đời tu của mình, suy nghĩ đó sẽ đưa mình xuống núi, một suy nghĩ đó thôi sẽ phá hỏng hết tất cả đời tu, ý hành đó chính là ác ma. Con nghe dưới bếp la lối lớn tiếng là con không vui, không cần phải xắn tay áo lên, nói chuyện lớn tiếng, chạy tới chạy lui cho người ta biết mình làm việc, không cần thiết, phải làm việc trong chánh niệm. Khi có chuyện gấp, khẩn cấp như nhà cháy hay cấp cứu thì mới chạy, còn bình thường phải tập giữ tâm bình lặng, yên tịnh, đó chính là thế gian chí bảo. Phải cẩn thận kĩ lưỡng, chu đáo, nhỏ nhiệm, phải sâu sắc, tầm nhìn của mình phải vượt ra ngoài những gì mình đang thấy, đang nghe, đang làm, không phải chỉ thấy những gì mình đang làm thôi mà phải thấy vượt ra ngoài cái đó.

III. Cung kính Thánh Pháp

Trong khi học pháp cũng phải chí tâm, chí tâm trong cầu pháp, học giống như đói được ăn, khát được uống, học giống như chỉ chút nữa là mình chết, mình không được nghe pháp, mỗi một lời kinh đọc lên phải thấy huyết lệ của Đức Thế Tôn, phải thấy xương máu của các bậc Thánh Tăng trong các lời kinh đó. Cầm kinh lên phải có thái độ trân trọng, trân quý, trân kính, mình phải nhìn ra được suốt ba ngàn năm của Thánh giáo trong mỗi lời kinh đó, tập cho mình có cái nhìn xuyên thấu như vậy, tập cho mình có tâm cung kính, hiếm có khó gặp, tập cho mình không biết mệt mỏi trong sự cầu pháp. Khi Thế Tôn còn tại thế có những trường hợp giảng pháp suốt đêm, Như Lai có khi lớn tuổi nên mỏi lưng muốn nằm xuống, các thầy Tỳ-kheo đã vượt qua cơn buồn ngủ nên ngài Mục-kiền-liên tiếp tục giảng pháp cho chúng Tỳ-kheo.

"Rồi Thế Tôn, sau khi các người Sakka ở Kapilavatthu ra đi không bao lâu, liền gọi Tôn giả Mahà Moggalàna:

-- Này Moggalàna, chúng Tỳ-kheo đã đoạn trừ được buồn ngủ. Này Moggalàna, hãy thuyết pháp thoại cho chúng Tỳ-kheo. Ta nay bị đau lưng, Ta muốn nằm xuống.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Mahà Moggalàna vâng đáp Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn cho xếp y Sanghàti (Tăng-già-lê) gấp bốn lại, và nằm xuống phía hông bên phải, trong dáng nằm con sư tử, hai chân gác trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến lúc thức dậy" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Ðộc, VI. Dục Lậu)

Còn mình bây giờ được ngủ một giấc dài suốt đêm rồi mà sáng dậy thấy ngồi gục xuống, làm mặt buồn, không tỉnh táo thì cảm xúc của con cũng chùng xuống, sức của con một ngày học ba thời là bình thường nhưng con thấy người nghe không nghe nổi. Mình học pháp này phải giống như sinh viên đại học, một ngày phải lên lớp nghe bốn tiếng, không biết mệt mỏi, không biết nhàm chán trong Thánh pháp thì người đó mới có cơ hội đi đến pháp tánh, thâm nhập được chánh tri kiến.

Còn nếu nghe pháp mà thấy mệt mỏi, nghe mà cảm thấy cái này biết rồi, không muốn nghe mãi thì người đó không bao giờ thể nhập được Thánh tri kiến, những khi bậc thiện tri thức chia sẻ pháp cho con thì con bất ngờ, chấn động, người đó hỏi rằng cái này nghe rồi phải không thì con trả lời nghe rồi, người đó bảo phải nghe thêm một ngàn lần nữa. Nghe thêm một trăm, một ngàn lần nữa cảm giác cũng giống như lúc mới nghe thì mới thành tựu pháp, còn phàm phu bây giờ nghe một lần đã cho là biết rồi, không muốn nghe nữa. Mình nghe ngàn lần nhưng đã chứng đắc được vô thường chưa? Nếu chưa thì nghe tiếp, chừng nào chứng đắc thì hết nghe. Bây giờ chưa thấy bất tịnh thì phải nghe thêm ngàn lần nữa, đến khi nào nhìn thấy thân xác đều thấy là bất tịnh thì không nghe nữa.

Mỗi lần thầy Nguyễn Khuê cho bài kiểm tra hay bài thi chữ Hán là thầy dặn dò từng chút một, làm xong là ngồi yên không được chạy lên chạy xuống, người cuối bàn đưa bài lên cho người đầu bàn, thầy đi qua một lượt là cầm hết bài của mọi người. Có các thầy, các cô nói rằng cái này biết rồi, học đến năm thứ tư rồi mà lần nào làm bài kiểm tra thầy cũng dặn, thầy nói lại "dạ, cái này các thầy, các cô biết rồi, con cũng dặn nhiều lần rồi nhưng làm chưa được. Bây giờ con nói lại".

Chừng nào làm được thì lúc đó hết nói, một câu này thôi làm con hoát nhiên đại ngộ. Mình đã chứng nhập được Thánh trí vô thường chưa? Mình đã chứng nhập được cái vô ngã chưa? Mình đã chứng nhập được cái khổ chưa? Nếu chưa mà nói Tứ Thánh Đế biết rồi, nó là Khổ – Tập – Diệt – Đạo là xong, như vậy là vĩnh kiếp phàm phu. Hằng ngày mình nghe về khổ, hằng ngày mình nghe cái sân, bản ngã ác độc nhưng khi gặp chuyện cũng nổi bản ngã.

Có ai nói rằng tôi ăn ba mươi năm rồi thôi không ăn nữa không? Tại sao nghe pháp có chút đỉnh thôi là không muốn nghe nữa? Đó là cái vô minh của mình, còn ăn là còn nghe pháp, còn ăn là còn ngồi thiền, còn tu. Đồ ăn này là của Đàn-na tín thí cúng cho mình, mình ăn là mình thiếu nợ người ta, không ráng lo học lo tu, chỉ toàn nghĩ phi như lý tác ý, nghĩ theo phàm phu, người ta từ nửa vòng trái đất về đây nghe pháp, thậm chí nghe mà nước mắt tràn ra, quỳ lạy xúc động, còn mình ở kế bên không thèm nghe, mình xem thường, tức là tự mình tự hủy bỏ cơ hội ngàn năm một thuở, cơ hội thể nhập Thánh tri kiến.

Một buổi nghe pháp rất ngắn ngủi nhưng tích tập vô thường tưởng, tích tập nguy hại tưởng, tích tập bất tịnh tưởng, thực hành và tích tập ly tham, tích tập đoạn diệt tưởng. Không có ai ra kinh doanh vài ngày một bữa đã thành triệu phú mà một ngày gom một chút, nhiều ngày thì mới nhiều lên, cái tu học cũng vậy, mỗi ngày nghe một chút, thực hành một chút thì lâu dài cũng nhiều lên, vì thế cái nghe pháp không được cho là đầy đủ, có như thế mới gọi là Đa văn Thánh đệ tử. Đệ tử của bậc Thánh phải nghe Thánh pháp, nghe chánh pháp thật nhiều. Con nhắc đại chúng là cô Toàn nghe đến điếc tai, phải lấy tấm gương sống đó ở trước mắt mình, cô vừa đi làm vừa nghe chứ không được rảnh rỗi như mình ngồi nghe.

Phải phát khởi tâm cung kính, tôn trọng, khó được nghe, khó gặp chánh pháp, cần cầu. Một vạn tỉ kiếp sau chưa chắc gì mình còn được nghe Thánh pháp này nữa vì nó sắp diệt rồi, sẽ không còn ai biết đến Tứ Niệm Xứ nữa. Trong tinh thần tu học phải có sự tha thiết học hỏi, không chỉ là quán tâm trên tâm, quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán pháp trên pháp mà còn phải tha thiết học hỏi thì mới là vị Tỳ-kheo tối thượng của Như Lai.

Con học pháp qua điện thoại đến ba tiếng, cái tay cầm điện thoại tê cứng cũng không dám bỏ xuống, không dám bước qua chỗ khác vì sợ mất sóng vì con ở trên rừng, mỗi lần xả thiền là con hướng về bậc thiện tri thức quỳ lạy, con không xem pháp này là bình thường để có thể tiếp nhận được cái pháp, thậm chí phải dám hi sinh cả thân mạng để cầu được Thánh pháp này chứ không phải dễ mà đắc pháp. Một người xem thường pháp, không tha thiết, cung kính với pháp, không để tâm vào pháp thì làm sao người đó có thể đắc được Thánh pháp? Pháp này không phải pháp bình thường, đây là pháp ly tham, đảo lộn hết thế giới, nó đi đến chỗ nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt thì làm sao dễ nghe, dễ hiểu, dễ thực hành. Thánh pháp này có công năng phá vỡ mọi thứ.

Vô minh, tham ái, chấp thủ của mình vô cùng khủng khiếp, với một cái tâm sơ suất, cẩu thả, qua loa, hời hợt, thiển cận, cạn cợt, máy móc, hình thức làm cho có thì không thể nào đi vào Hướng Dự Lưu chứ đừng nói Nhập Lưu, bằng chứng là hai ngàn năm bị mai một vì người ta chỉ muốn tu đơn giản, niệm một câu thôi, ngồi thở vào ra thôi cho khỏe, tìm ông thầy khác cũng dạy Nikāya nhưng dễ, còn ở đây dạy khó quá, đó là thái độ không thiết tha, không cung kính, không tôn trọng, không để tất cả tấm lòng cầu học thì sẽ bị Bát Chánh đào thải, bị văng ra ngay lập tức.

Nếu không có niềm tin, không có hổ thẹn, không biết lo sợ thì người đó sẽ không đạt được pháp, người xưa nói phải biết lo sợ giống như đi trên băng mỏng, bước trên kiếm bén. Đi trên băng mỏng sơ sảy là rớt xuống dòng nước lạnh giá, bước trên kiếm bén không cẩn thận là đứt chân, đối với Thánh pháp cũng vậy, chỉ cần sơ sảy là sẽ bị văng ra khỏi dòng Thánh pháp này, trở lại phàm phu, phàm mê, phàm tục, phàm dục, phàm ái, phàm tham. Nếu mình không lo lắng, sợ hãi, không cố gắng nỗ lực thì mình nhắm mắt rồi thì mình đi đâu đây?

Nếu chưa Nhập Lưu thì mình hoàn toàn ở trong phạm trù nguy hiểm và tai họa, biết bao người chết vì dịch bệnh bây giờ họ đang ở đâu, bản thân cuộc đời con từ giờ cho đến khi nhắm mắt không còn gì có thể quan trọng hơn pháp này nữa. Cha mẹ mình rồi cũng vô thường, anh chị em mình rồi cũng vô thường, chùa chiền, đất trời này rồi cũng tan vỡ hết, chỉ có cái pháp mới cứu mình, mới cứu được người thân mình cho nên mình thương người thân mình là mình đưa cái pháp cho họ, đó gọi là cứu độ, thương mình là phải bám chặt vào pháp này, cầu cái pháp này, tôn kính cái pháp này, tha thiết bằng tất cả tấm lòng tu học cái pháp này, với một thái độ như vậy thì mình có khả năng tiếp nhận và thể nhập được Thánh tri kiến, chắc chắn là như vậy. Phải nghe bằng tâm cung kính, nghe bằng tâm khát ngưỡng, nghe bằng tâm tôn trọng, nghe giống như chưa từng được nghe, nghe giống như một chút nữa là không còn được nghe, mỗi lần nghe pháp phải tác ý như vậy, đây là cái nghe tối thượng.

"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đi nghe tiếng trống, đi nghe tiếng sáo, đi nghe tiếng ca, hay đi nghe tiếng cao thấp khác nhau, hay đi nghe pháp các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây có phải là nghe không? Ta nói rằng: 'Ðây là không nghe'. Sự nghe ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai đi đến để nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỳ-kheo, đây là sự nghe vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là nghe vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng". (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (X) Trên Tất Cả)

Ngoài cái pháp này ra thì tất cả những âm thanh khác không có gì đáng nghe, cái pháp này là cái đáng nghe nhất trong kiếp người của mình, nghe những cái khác ngoài pháp chỉ sanh ra tham, sân, si, phiền não, bản ngã, biết càng nhiều thì càng phiền não, bản ngã, chỉ có biết cái pháp mới diệt tận được vô minh, mới phá được lậu hoặc, làm khô kiệt được khát ái. Nó tuyệt vời như vậy tại sao không chịu nỗ lực, không chịu hi sinh, không chịu dấn thân, không chịu hết lòng tu tập?

Đó là tinh thần học, sau đây là đến tinh thần tu. Từ cái thấy đúng chơn chánh, từ cái học pháp đúng của mình thì mình sẽ đi vào sự thực tập, thực hành, khi mình hành trì cũng phải hành trì bằng cả trái tim, phải vận dụng Tứ Chánh Cần vào sự tu tập chứ không phải đọc Tứ Chánh Cần để trả bài, để nói cho người ta nghe mà Tứ Chánh Cần là cái để mình thực hành, diệt ác sanh thiện. Nhìn vào trong tâm thấy cái gì ác, cái gì xấu thì diệt trừ bằng tất cả khả năng, thấy cái gì thiện thì làm cho nó sanh khởi, phát huy nó lên. Con mong muốn đại chúng nhìn nhận lại sự tu học của mình trong thời gian qua.

Lúc trước cái pháp chưa sanh nhưng nay nó sanh khởi thì mình phải phát giác, phát hiện. Lúc trước chú Trí Hòa không thường lấy xe xuống núi nhưng khi thầy Nghĩa vào thất thì chú hay đi thường xuyên, con có nhắc nhở điều này, mình phải thấy đó là ác pháp, bất thiện pháp, lúc trước không có nhưng bây giờ có. Dù cho trá hình là công việc gì đi nữa thì con dặn là phải giao công việc đó cho chú Anh, chú Nam, cho cô Thảo là những người hay đi, những công việc nào họ không thể làm thì mình mới đi.

Đây là những cái rất nhỏ nhưng vì nó mà mình bị thối đọa mà mình không biết, nó nhỏ nhưng nó phá đời tu mình từ từ, chiếc thuyền bị lủng một lỗ nhỏ nhưng có nguy cơ làm chìm cả thuyền cho nên phải để ý thật kĩ những cái nhỏ nhiệm đó. Ngày trước mình ngồi trang nghiêm, thanh tịnh nhưng bây giờ lại có thái độ buông thả nhưng không phải một lần như vậy, con chỉ nhắc nhở khi nào đã diễn ra nhiều lần, như vậy mình phải thấy khi bất thiện pháp sanh khởi. Mình không thấy nhưng người thương của mình thấy, họ bảo hộ cho mình nên mình phải cảm ơn họ, biết ơn họ.

"Nếu thấy bậc hiền trí,

Chỉ lỗi và khiển trách,

Như chỉ chỗ chôn vàng

Hãy thân cận người trí!

Thân cận người như vậy,

Chỉ tốt hơn, không xấu".

(Kinh Pháp Cú 06 – Phẩm Hiền Trí, kệ 76)

Khi mình được thầy nhắc nhở, chỉ bảo, khi mình được sư huynh góp ý hay thậm chí là Phật tử thì phải xem đó là bậc hiền trí, đừng khởi tâm sân, mình phải tác ý biết rằng người đó xuất phát từ tình thương muốn tác thành cho mình, muốn hoàn thiện cho mình, muốn tăng thượng cho mình. Mình phải lạy người đó, nếu mình không thể lạy được trước mặt thì phải hướng tâm về người đó, quán tưởng hình ảnh người đó để quỳ lạy, từ từ mới nhiếp phục được bản ngã và cái sân khi được chỉ lỗi.

Lạy càng nhiều càng tốt, lạy đến khi nào cái sân nó tan ra, một ngày chưa tan thì lạy ba ngày, ba ngày chưa tan thì mình lạy bảy ngày, lạy cho đến lúc nào cho đến trong tâm phát sanh tri ơn, biết ơn, nhớ ơn thì mình mới trị được cái sân, nếu không là phàm phu hết, hễ chỉ lỗi là sân lên, bản ngã lên, như vậy thì làm sao tu học được, làm sao tăng thượng trong thiện pháp.

Phải phá cảm giác sân hận và bản ngã khó chịu khi bị chỉ lỗi, khiển trách hay bị góp ý, đó mới là người nhiệt tâm tu học, còn không thì mỗi ngày chất chứa sân một chút, lâu ngày thì bùng lên vỡ ra đánh mất tất cả công trình tu học của mình, công phu tích lũy biết bao năm đều mất hết cho nên phải kiểm soát tâm thường xuyên. Khi thấy có lỗi phải phát lồ sám hối, nó giúp cho mình tẩy rửa, trong sạch, nếu mình không nói ra được thì phải tự sám hối thì nó sẽ giúp mình tăng trưởng thiện pháp, diệt trừ ác pháp, đó là Tứ Chánh Cần, đó là ý nghĩa sám hối, đó là sự tăng thượng, sự hướng thiện, bước lên trên cung điện của Thánh trí, Thánh đạo, Thánh quả.

Nếu lúc ngồi thiền hay nghe pháp bị hôn trầm mà mình đã tác ý rất mạnh nhưng vẫn không được thì lúc buồn ngủ đừng ngồi nữa mà lui ra sau lạy Phật hoặc lạy sám hối, cố gắng làm yên tịnh đừng để động những người khác đang ngồi thiền, lạy Phật cũng được miễn sao đừng để ngủ là được. Trong giờ nghe pháp cũng vậy, nếu buồn ngủ quá thì mình xá rồi lui ra lấy nước rửa mặt, lạy nhẹ nhàng đừng để ngồi đó hôn trầm sẽ rất uổng, giờ đó mình phải chiến đấu, quyết định là không được ngủ trên Bồ-đoàn. Nếu mệt quá thì mình về nghỉ, không sao hết.

./.