Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 29 - Chánh Quán Khi Nhận Cúng Dường
Tinh Hoa Nikāya
Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 29
Chánh Quán Khi Nhận Cúng Dường
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhắc nhở tu học PAGEREF _Toc204009828 \h 1
II. Trình pháp PAGEREF _Toc204009829 \h 2
III. Chánh quán khi nhận cúng dường PAGEREF _Toc204009830 \h 6
IV. Thân hành niệm PAGEREF _Toc204009831 \h 10
I. Nhắc nhở tu học
Sư Phụ: Học cái môn này chúng ta phải chịu khó làm bài tập, chịu khó thực tập thì mình mới nhớ, đầu tiên là mình phải thuộc lòng định nghĩa, sau đó là theo cái định nghĩa đó mình mới bắt đầu thực tập cái sự nhìn nhận lại thân tâm của mình, sau khi mình nhìn nhận thì các pháp sẽ hiện rõ. Đây là những từ mà Đức Phật nói ở trong kinh, các pháp sẽ hiện rõ cái nào là sắc, cái nào là thọ, cái nào là tưởng, cái nào là hành, cái nào là thức, nó sẽ hiện rõ ra cái tướng trạng vận hành rồi sự sanh diệt của năm thủ uẩn sẽ được nhìn thấy, những cấu nhiễm sẽ được nhìn thấy, những rác bẩn sẽ được nhìn thấy, những ô nhiễm, những uế nhiễm, những tập nhiễm sẽ được nhìn thấy.
Mình thấy bằng con mắt tâm của mình, đó chính là cái từ "đến để mà thấy", khi mình thấy bằng mắt tâm của mình thì không do người khác, không phải từ nơi người khác mà mình thấy nữa mà mình thấy bằng con mắt tâm của mình. Sau khi mình thấy rồi với cái sự nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, cố gắng thì mình sẽ có một sự năng nổ, năng động, siêng năng, cần cù, tinh cần, nỗ lực để mình làm sạch thân tâm, đó là những cái trình tự trong sự tu học trong tinh thần kinh tạng Nikāya của chúng ta.
Cho nên không chịu làm bài tập là không có cách nào học hoặc tu tiến bộ được, làm bài tập chính là tu đó, cũng chính là học luôn, cũng chính là giới, định, tuệ luôn. Vì thời giờ chúng ta gặp nhau rất là ít, nửa tháng có một lần thôi, trừ khi nào có chương trình gì đó thì mới có thêm, thành ra với cái sự học nửa tháng một lần thì không có đủ, nếu chúng ta không cố gắng làm bài tập thì coi như là mất luôn. Hôm trước chúng ta được nghe giới thiệu làm cho hiện hành các pháp hữu vi cho nên gọi là hành, làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, thọ; tưởng; hành; thức với thọ; tưởng; hành; thức tánh.
Chúng ta đã có nghe tổng quát về sự thực tập bằng cách vận dụng suy nghĩ để mình tác ý, để mình quán chiếu, để mình quán sát, để mình chiêm nghiệm. Chúng ta trong một tuần lễ vừa qua có ai xung phong để nhận diện hành uẩn của mình trong một tuần lễ vừa qua nó hoạt động như thế nào? Chúng ta càng học nhiều chừng nào thì chúng ta làm bài tập nhiều hơn là nghe nữa, càng học nhiều, càng hiểu nhiều, càng đi sâu vào là chúng ta chỉ làm bài tập thôi, rồi có cái gì là mình chỉnh ngay cái chỗ đó, học cái đó mới cao cấp, mới chuyên sâu, còn học mà vào chỉ biết ghi chép rồi ngồi nghe hoài thì nó cũng như vậy, nó không có đào sâu được.
II. Trình pháp
Sư thầy 1: Dạ mô Phật, kính bạch trên thượng tọa giáo thọ sư, kính thưa quý thầy cô cho phép con được trình bày về sự thực tập về hành trong một tuần qua, trong tuần qua nó có hai sự việc đối với bản thân con. Sự việc thứ nhất là có một cái ngày đó là cái thân thể con cũng mệt, sau một cuộc nói chuyện giữa con với một người đó thì đôi khi họ chỉ nói chơi thôi, nhưng ngay lúc đó câu đó đôi khi cũng vô tình nhưng con nghe thì tự nhiên trong cái suy nghĩ của nó hiện lên là "sao tự nhiên lại nói với mình như vậy". Và ngay lúc đó con lại nảy sinh thêm một cái suy nghĩ nữa là không muốn giao tiếp với người này nữa, thêm một cái suy nghĩ nữa là không bao giờ muốn nói chuyện với cái người này nữa và nhiều cái suy nghĩ hiện lên, xảy ra liên tục. Ngay lúc đó thì cái cảm thọ của con chính là cái khổ thọ, lúc đó con rất là khó chịu, những cái hành bóng trong tâm của con về người đó hiện lại.
Tại vì mỗi người đều có một thời gian ngắn thôi chứ không thể nào chúng ta đi hết cả cái cuộc đời này được, chúng ta mỗi người chỉ gặp nhau ở một cái thời gian ngắn rồi sau này ai cũng phải mỗi người một phương, nếu có gặp nhau cũng rất là khó. Và ngay lúc đó con tác ý rằng mình là người tu người xuất gia rồi, mình đã bỏ tất cả, mình là người học Phật mà tại sao mình lại chấp nhất những cái chuyện nhỏ nhặt như vậy. Lúc đó cái suy nghĩ trong tâm con tưởng lại những cái câu nói mà hôm bữa con có thực tập diễn giảng là "lời nói không là dao mà cắt lòng đau nhói, lời nói không là khói mà khóe mắt cay cay", con nhớ lại những lời đó và con tác ý mình người tu thì mình phải đem lại lợi ích cho người ta chứ không phải mình làm đau khổ, hay mình làm tổn thương cho người ta.
Ngay lúc đó cái khổ thọ của con, cái khó chịu của con và những cái suy nghĩ không muốn giao tiếp, không muốn tiếp xúc với đối tượng đó nữa thì từ từ cái tiêu cực đó của con bắt đầu lắng xuống. Sau khi ngủ một đêm thì sáng ngày mai mọi thứ đã trở lại bình thường và cái việc thứ hai của con là có một lần một người đó họ nói nặng con, ngay lúc đó tự nhiên có suy nghĩ trong tâm "tại sao mình vầy nè, mình là ông hầy như vầy mà sao họ dám đối xử với mình như vậy, họ dám hành động, cái lời nói của họ kiểu như là thứ nhất là đùa giỡn, thứ hai là bất kính với mình". Ngay lúc đó những cái khó chịu, những cái bực bội trong tâm con bắt đầu xuất hiện "sao mình lại vậy", lúc đó con thấy được cái tôi của mình bắt đầu xuất hiện, nó bắt đầu to dần dần, con thấy được cái đó.
Cái suy nghĩ lúc đó là "thôi chết rồi, hồi lúc mình mới tu tại sao mình không có cái tâm này, bây giờ mình mới tu được một chút tự nhiên mình thấy xuất hiện cái tâm này". Bắt đầu con suy nghĩ lại, nhớ lại những lời Phật dạy về chính bản thân, con người mình, về cái sự thực tập vô ngã. Tại sao chính cái thân của mình không có thật, chính cái thân của mình mọi thứ đều là do duyên kết hợp lại thành mà mình vì một cái lời nói mình lại có những cái suy nghĩ, có những cái khổ thọ như vậy. Ngay lúc đó con suy nghĩ rất là nhiều, mình tu để dẹp đi cái bản ngã mà sao giờ mình tu cái bản ngã mình càng ngày nó càng to ra, khi mình đối duyên với tiếp xúc với những cái trái ý nghịch lòng của mình thì cái tôi của mình càng ngày càng lớn hơn nữa, mình khó chịu hơn nữa, mình suy nghĩ trong tâm là mình tu như vậy là mọi người phải đối xử với mình như vậy, như vậy, chứ họ không nên có cái thái độ như vậy.
Ngay lúc đó con suy nghĩ rất nhiều, con dùng những lời của Đức Phật dạy và suy nghĩ tới người tu mình phải thể hiện ra cái hành động và cái lời nói như thế nào để nó phù hợp với người tu. Có một việc như vậy thôi con phải mất hết cả mấy tiếng để con suy nghĩ về việc làm đó, về thái độ của con ngay lúc đó, khoảng mấy tiếng sau con suy nghĩ lại thấy mình quá dở đi, mình tu mà mới có chút xíu đó mà mình chưa giải quyết được, mình chưa có làm chủ được cái cảm xúc của mình và chưa làm chủ được cái suy nghĩ trong tâm của mình ngay lúc đó, mình quá tệ.
Ngay lúc đó con có suy nghĩ chắc do mình buông lung quá, hằng ngày mình không có tiếp xúc với kinh điển nhiều và không có sự thực tập. Thí dụ như là thực tập về nhận diện chính cái ngũ uẩn bên trong mình thì mình đã bị cái đó, ngay lúc đó những cái tiêu cực của con bắt đầu nó lắng từ từ, tự nhiên ngay giây phút đó thì trong tâm con lại có một cái suy nghĩ là có một cái gì đó thúc đẩy cho mình. Bắt đầu con nghe pháp, ngồi nhớ lại cái hơi thở của mình, từ từ cái tiêu cực của con giảm từ từ. Dạ mô Phật, con xin kính trình cho thầy. A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Rất là tốt, cho tràng vỗ tay lớn đi. Phải là thực tập như vậy đó, phải nhìn thấy được cái suy nghĩ của mình, phải nhận diện được những cái thọ; tưởng; hành bình thường cũng như trong những lúc mình đối duyên xúc cảnh. Nếu mình không có thực tập nhận diện về ngũ uẩn về cái trí tuệ để nhiếp phục và chế ngự, diệt tận cái chấp ngã thì thật sự là chúng ta tu là càng ngày cái bản ngã càng lớn, đó là một sự thật. Khi mình còn là một chú tiểu, còn là người hành điệu, mình rất dễ thương, rất ngoan hiền, rất là khiêm cung, nhưng khi mình vừa thọ cái giới lên, mình được người ta kêu là thầy, là cô, được người ta chắp tay cúi chào, thậm chí là đảnh lễ thì những cái này hết sức nguy hiểm, hết sức là nguy hiểm, đối với một người không có chánh kiến, không có thấy đúng, không có pháp hành thì đó là con đường đưa đến phát triển về cái tôi. Một con người không có tu hành nghiêm khắc, không có pháp hành đúng đắng thì phần lớn nó là vậy.
Cho nên khi một người mà chấp tay xá mình, thậm chí là đảnh lễ, người ta lạy lúc đó mình phải an trú tâm như thế nào? Các thầy cô trình bày cho con nghe khi người ta chắp tay, người ta xá mình, khi người ta lạy dâng cái bao thư lên thì lúc đó mình tu như thế nào?
Sư thầy 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bái bạch thượng tọa giáo thọ sư, kính thưa quý huynh đệ, như lời của giáo thọ vừa hỏi đó là khi người ta quỳ xuống lạy thành tâm, thành kính, chân thành, người ta dâng bao thư lên cúng dường cho mình thì mình an trú tâm như thế nào. Với con khi được cúng dường như thế thì con nhớ tới thập chủng đại nguyện của ngài Phổ Hiền là "nhất giả lễ kính Chư Phật". Con cũng thấy rất là hổ thẹn, mà con thường nhiếp tâm là họ hướng về lạy Phật cũng là họ lạy cái Phật tâm, Phật tánh của họ, còn con thì chưa đủ giới đức, tu còn dở nên cũng thấy rất là hổ thẹn với cái việc nhận cúng dường của họ. Thông qua cái việc cúng dường đó thì con cũng cố gắng tu tụng hồi hướng cho họ để cho họ có được cái phước lành, và cũng nhất tâm cầu nguyện cho họ có được một đời sống bình an, an lành, mọi người trong gia đình có được sức khỏe và tín tâm của họ càng ngày càng tăng trưởng cũng như lòng từ của họ đối với tam bảo, đối với chúng sanh ngày càng sâu dày. Con cũng tác ý vậy thôi.
Sư Phụ: Trong buổi lễ trai Tăng mình ngồi khoảng một tiếng đồng hồ thì suốt một tiếng đó thầy có nhiếp niệm được hết không?
Sư thầy 2: A-di-đà Phật, lúc ngồi trai Tăng thì đa phần lúc họ quỳ lạy tác pháp thì con nhiếp tâm được nhưng mà tới cái lúc ăn uống thì mình đói bụng nên nhiều khi mình quên luôn. Mình bị cái dục nó lôi cho mình ăn thật là nhiều, thật là no, thật là ngon cho mau đi xuống. A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Quý sư cô chia sẻ lúc người ta lạy cúng dường thì lúc đó mình thực tập như thế nào? Cái này rất quan trọng, rất là thực tế, cần thiết.
Sư cô 1: Dạ mô Phật, kính bạch trên giáo thọ sư cùng toàn thể đại chúng, lúc con còn ở chùa với thầy thì thường Phật tử cho tiền và Tết thì con sẽ lên trình với thầy con, nhưng mỗi lần con trình thì thầy chỉ nhắc nhở con là xài cái tiền đó sao cho đừng để mang lông đội sừng. Những lúc đầu con nghe thấy rất là nặng nề, mình cũng tu, mình cũng công quả nhưng sao thầy lại nói những lời nặng như vậy nhưng mà những lời thầy con dạy như vậy thì hôm nay con mới hiểu được.
Thường ở chùa những cái tiền Tết này kia thì con sẽ trình với sư phụ, thường thì con sẽ nói là bây giờ con cũng còn ở chùa chưa có sinh hoạt hay là cái gì hết, người ta gieo duyên với con nhưng mà con nghĩ là cái phước của con chưa đủ để thọ hết những cái số tiền này thì con sẽ cúng dường hết vô tam bảo. Thay vì họ cúng tam bảo thì con gieo duyên lại, con cúng lại, thì họ cũng có phước mà con cũng có phước một phần nào. Sau này con đi học thì những số tiền người ta cúng cho con, quan niệm của con là nếu mà người quen thì con sẽ nhận số tiền đó nhưng con không dám xài hết cái số tiền đó, con nói là chị hay là anh gì cúng cho em số tiền đó thì em cúng dường lại tam bảo, hoặc là mua cái gì đó cúng vô tam bảo đi, anh chị cũng có phước mà em cũng có một phần là phước. Em nghĩ cái phước của em cũng chưa có đủ để lãnh hết cái số tiền này, thôi thì em chia ra em một phần có phước, chị cũng có một phần thì hai bên sẽ cùng có phước chứ em xài hết số tiền này thì cái phước của em tu không đủ để trả lại số tiền mà em nhận của anh chị.
Thường hành động của con là như vậy, nếu như là người lạ hay là con không biết đó là ai thì con cũng y như đó giờ. Con chia ra, cái nào mình cần thì mình lấy hoặc không chia bảy-ba, con nhận ba phần, phần còn lại con cúng vô tam bảo. Tâm con nghĩ là nếu mình xài hết cái số tiền này có đủ để mình trả nợ cho người ta hay không, thì thôi mình xài một phần, còn một phần mình gieo duyên lại thì nếu có mắc nợ thì cái sự tu của mình cũng một phần nào để trả lại cho người ta. Con nghĩ là như vậy.
Sư Phụ: Cái đó là tốt nhưng ở đây trong cái lúc mà mình thọ nhận sự đảnh lễ cúng dường, cụ thể là buổi lễ trai Tăng thì lúc đó sư cô vận dụng cái tâm mình như thế nào?
Sư cô 1: Dạ cái đầu tiên là con đọc bài kệ trong cái Tù Ni, tài pháp nhị thí. Thứ hai con sẽ hồi hướng, sự tu tập của mình được bao nhiêu thì người ta cầu an hay là cầu siêu thì con xin hồi hướng, có bao nhiêu cái sự tu tập của mình thì mình xin hồi hướng để mình đền trả cái ơn mà họ đã cúng cho mình để mình có một cái phương tiện mình tu, mình học chứ không có dám để cái tâm dáo dác, hoặc là nói chuyện, hay là một cái gì đó buông lung ở trong đó.
Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên thầy giáo thọ cùng toàn thể quý thầy cô, đối với tự thân con khi ngồi trong buổi lễ trai Tăng thì thường thường con sẽ khởi lên cái tâm cảm thấy mình rất là nhỏ bé và mình chưa có đủ đức trọng, hay là sự tu tập mình còn rất là non, vì thế để được cúng dường như vậy thì họ đã chắt chiu từng đồng bằng mồ hôi nước mắt của họ. Mình chỉ có việc tu và học là chính thôi, mình không có là ra tiền cho nên khi thọ nhận người ta cúng dường như vậy thì trước hết là con sẽ hồi hướng công đức cúng dường của những vị cúng cho mình cho đến tất cả mọi loài chúng sanh, ai cũng đầy đủ cơm ăn và áo mặc là cái thứ nhất. Thứ hai là hồi hướng công đức về cho những vị đang cúng dường cho mình có sức khỏe và biết hướng về Phật để tu tập, sau đó con sẽ tự hướng vào mình sẽ nỗ lực tu tập nhiều hơn để xứng đáng để với sự cúng dường của Đàn-na.
Qua đây là con cũng xin chia sẻ về một vị thầy cũng như là người thầy sư huynh của con. Hồi xưa khi con chưa đi xuất gia thì vị thầy đó hướng dẫn cho con đường để con đi tu ở nơi nào, và để con đi trọn con đường của mình. Vị thầy đó đến bây giờ thì nói chung giống như thiện tri thức của con cũng được từ 2008 đến giờ cũng là 15 năm rồi. Khi thầy biết con đi học giảng sư thì thầy có nói với con là thôi cố gắng học đi, rồi khi nào rảnh có thời gian mà thầy có tổ chức khóa tu một ngày, có nghĩa là thầy muốn tạo cơ hội cho con để con về dùng những kiến thức của mình mới học sơ cơ để mình có thể chia sẻ với khóa tu ở chùa thầy. Thường thường thì khóa tu niệm Phật một ngày ở chùa thầy thì đa phần thầy mời những vị thầy ở trong tỉnh của thầy, hoặc là thầy là người chia sẻ pháp.
III. Chánh quán khi nhận cúng dường
Sư Phụ: Nói cái vấn đề mình đang nói thôi, không có đi xa nó lạc đề. Khi mình nhận cúng dường lúc đó vận dụng tâm như thế nào, an trú tâm như thế nào, bao nhiêu đó thôi, nếu hết rồi là thôi chứ không nói cái khác, nó lạc đề. Cái này cũng là cái cách để mình chia sẻ pháp, rất là quan trọng, mình chỉ nói cái quan trọng trong cái quan trọng, mình chỉ nói cái hồng tâm và tùy thời điểm mình nói. Chỗ này là chỗ quan trọng trong nghệ thuật diễn giảng, người ta hỏi câu nào đáp ngay cái câu đó nếu đó là câu hỏi đáp, cái này rất quan trọng cần để ý.
Trong sự thực tập của chúng ta như vậy cũng là tốt ở trong cái tương đối thôi, chưa có đủ cái sức của tuệ quán trong sự nhận cúng dường, tạm thời chúng ta sẽ có mấy cái phương diện để quán chiếu, mấy cái này là pháp hành, chúng ta để ý nhớ thật kỹ, ghi chép. Cái đầu tiên là khi người ta chấp tay xá mình thì mình phải xá lại, cái này là cái phép lịch sự rất là bình thường nhưng có khi mình tu lâu rồi thì mình lại xem thường. Khi một người Phật tử chắp tay xá mình mà mình dửng dưng thì như vậy phép lịch sự đã không có, không có sự khiêm cung, khiêm tốn trong sự tu. Thậm chí họ xá mình thì mình xá họ lại còn sâu hơn, đó cũng là một cách khiêm cung của mình, một cách đáp lễ của mình, cũng là cách chuyển tải cái pháp khiêm hạ, khiêm cung, cung kính đến người khác.
Chỗ này là cái chỗ chúng ta phải để ý, nó rất là căn bản nhưng con ở trong chùa lâu năm và con thấy cái căn bản này bỏ qua rất nhiều. Lúc còn mới, lúc còn chú tiểu, lúc còn mới thọ giới Sa-di này kia thì người ta xá mình là mình xá lại, nhưng ở lâu rồi, tu lâu trong chùa rồi người ta xá là mình trơ trơ, giống như mình vô cảm đối với sự cung kính của người ta. Đây là chỗ này mình phải để ý, khi người ta xá mình thì mình phải đáp lại, thậm chí là cái lễ của mình đáp lại còn nhiều hơn cái xá của người ta, làm được cái này đó là cái bước rất là căn bản, tùy cái trường hợp nhưng thường là như vậy. Tiếp theo là mình nhận bất cứ một cái gì, một món quà gì, hay là cái sự cúng dường trai Tăng thì cái dễ quán chiếu nhất là món đồ này là mồ hôi nước mắt và máu, người ta không dám ăn, không dám xài, người ta dành dụm, người ta tích lũy, người ta dâng cúng lên bằng một cái tâm cung kính.
Không chỉ là người ta cho mà người ta dùng cái từ "cúng", cái từ "cúng" khác với cái từ "cho" thành ra người ăn xin đi ăn xin thì họ đúng là một người ăn xin, được người ta cho, còn ở đây mình là người tu được người ta cúng và người ta bằng một cái tâm cung kính hy vọng rằng những món đồ cúng này sẽ đem lại nhiều phước báo, nhiều lợi ích, nhiều hạnh phúc cho người ta. Phải nhớ kỹ cái sự cung kính này có lòng tin trong đó, nó có sự hy vọng trong đó, mong chờ, chờ đợi kết quả trong đó cho nên ở đây cái điểm tiếp theo mà chúng ta cần suy xét là mồ hôi, nước mắt và máu ở trong cái phần quà đó, những cái đồng tiền đó. Mình phải đặt mình vô thì lúc đó mình quán chiếu những người chạy xe ôm, những người thức trắng đêm ở trong lò bánh mì, những người khuân vác, những người đi làm thuê làm mướn, những hình ảnh của những người phải hiện ra trong tâm của mình mới có những cái đồng tiền này, có những cái bát gạo này, có những cái món đồ này.
Mình liên tưởng đến những cảnh nghèo khổ, bần cùng, khó khăn mà người ta dành dụm, người ta tích lũy, người ta cất chứa để người ta dâng lên trong một sự cung kính và cái niềm tin, hy vọng. Ở đây con nói khái quát thôi, chúng ta triển khai cho nó sâu sắc hơn nhiều khía cạnh. Tiếp theo là nhìn lại coi cái tự thân mình có đủ đức hạnh, có đủ đạo đức, giới đức, đức hạnh, đạo hạnh để cho người ta hành đại lễ như vậy không chứ đâu phải lúc đó người ta lạy mà mình trơ trơ như vậy, thậm chí mình còn nói chuyện, buông lung phóng dật nữa thì cái này nguy hiểm lắm, khủng khiếp lắm. Mình soi lại bản thân coi mình có xứng đáng không, mình có đầy đủ giới đức, có đầy đủ đức hạnh, có đầy đủ đạo đức, công đức, phước đức, trí đức, tuệ đức của mình có đầy đủ không, giới - định - tuệ của mình có đầy đủ không để cho một bà cụ đáng tuổi bà, đáng tuổi ông, bà nội, bà ngoại, đáng cha, đáng mẹ, đáng cô, đáng chú quỳ lạy mình như vậy. Nếu thấy mình không đủ thì lập tức mình sanh khởi lên sự tàm quý, tức là xấu hổ, nhục nhã và lo lắng, sợ hãi, hai cái pháp này rất quan trọng quyết định sự tu học của mình, nếu người tu không có hai cái pháp này thì người này không có tăng thượng ở trong sự tu tập được.
Tàm quý phải có mặt, tức là sự xấu hổ, nhục nhã, sợ hãi, lo lắng phải được sanh khởi trong cái lúc mình tự xét lại mình. Thậm chí là cái lúc xấu hổ, sợ hãi, nhục nhã, lắng đó thì những hình bóng mà mình gây những điều ác bất thiện pháp nó hiện khởi lên, mình đã sống như vậy đó, mình làm vậy đó thì mình có xứng đáng nhận như vậy không. Ngay lúc đó mình mở phiên tòa xử nó tại chỗ ngồi đó, mình phán quyết, quan tòa xử ngay cái chỗ trai đường đó, mình làm cho mình ray rứt, làm cho mình đau nhức, làm cho mình nhức nhói, "ngươi nhìn lại bản thân ngươi xứng đáng hay là không, có xấu hổ không, có nhục nhã không, có lo lắng không, có sợ hãi không".
Hồi nãy cô sư cô nói được sư phụ nhắc nhở rất là tốt, mang lông đội sừng, đó là cái câu thường ở trong chư tổ nhắc mình, những cái này là mang lông đội sừng để đền trả. Lúc đó mình mở phiên tòa xét xử lương tâm mình ngay tại chỗ trai đường đó, thì pháp tàm quý sanh khởi, xấu hổ, sợ hãi nó sanh khởi và mỗi một lần cái cảm thọ đó sanh khởi nhiều thì nó sẽ lớn mạnh lên, nó làm cho mình tăng thượng lên, tức là mình sẽ khắc phục những cái sai quấy đó, những cái lỗi lầm đó, những cái cấu uế đó. Cứ mỗi một lần mình sanh khởi lên được thọ; tưởng; hành như vậy, cái suy nghĩ như vậy, cái cảm giác như vậy, cái hình bóng như vậy là mỗi một lần thiện pháp ở trong con người mình lớn mạnh lên, ác và bất thiện pháp nó bị giảm thỉu xuống, nó đoạn giảm và mình hứa với mình ngay tại chỗ đó mình sẽ phải đổi mới, mình phải thay đổi mình, phải làm mới mình, không thể như vậy được khi mình nhận những cái đại lễ như vậy.
Cái này chúng ta thấy có thể làm được không? Mình nỗ lực lên là mình làm được, rất dễ có gì đâu khó, ngay tại chỗ đó là mình quán chiếu, cho nên lúc đó là lúc mình triển khai thiền quán, mình quán chiếu, mình nghiền ngẫm, mình tư duy, chiêm nghiệm, quán xét, mình xét xử chính mình, mở phiên tòa xử án lương tâm, tòa án lương tâm ngay tại chỗ đó, hoặc là trảm thủ hoặc là bắn nó luôn, tử hình nó luôn ngay tại chỗ đó, tử hình cái tâm tham, sân, si, dục ái thấp hèn, bẩn thỉu, tử hình cái tâm đó ngay tại chỗ đó. Mình mở phiên tòa xét xử nó, một là cẩu đầu đao, hổ đầu đao, không thôi là long đầu đao, xử bắn nó, đánh ngã, đánh gục, đánh sập những cái tâm vô minh, dục ái, bản ngã tồi tệ, thấp hèn, hạ liệt, cấu nhiễm ngay cái chỗ trai đường đó.
Mình xử nó, mình lôi nó ra hết những cái hình bóng đó "đời sống của ngươi như vậy nè, xấu hổ không, nhục nhã không, người ta quỳ lạy như vậy mà nếu mà người ta biết ngươi sống như vậy thì ngươi có xứng đáng không, người ta có quỳ lạy ngươi không. Nếu những cái xấu, những cái dở, những cái tội, những cái ác bất thiện pháp mi mà người ta phát giác, phát hiện, người ta nhìn thấy hết như vậy đó thì người ta có quỳ lạy ngươi không? Nếu như ngươi còn những cái tâm cấu nhiễm, xấu ác, bẩn thỉu, hạ liệt như vậy mà ngươi đội cái lớp người tu là ngươi đang lừa đảo người ta". Một người ăn xin người ta biết rõ ràng đây là người ăn xin thì người ta cho là đúng, mình là một người tu mà mình không tu, mình lừa người ta để mình nhận sự cúng dường thì như vậy là đại lừa đảo rồi.
Mình quán tới đó là trong tâm ray rứt, nó nhức nhói, nó đau đớn, nó đau xót, nó nhói cái tim, nó đau cái tim, mình tu không được thì mình hoàn tục, còn không mình phải tu đúng nghĩa của một người tu. Mình phải làm mới, làm sạch, làm đẹp chính mình, chúng ta thấy nếu mình tu như vậy trong một thời cúng trai Tăng như vậy thì mỗi một lần trai Tăng là mỗi một lần thiện pháp của mình tăng trưởng, ác pháp được giảm thiểu, tàm quý càng ngày càng lớn mạnh. Nhưng chưa dừng lại ở đó, tới đây mới là cái tối hậu chiêu, đây là bí kiếp để cho chúng ta quán chiếu, nãy giờ đó là những cái dễ làm, có thể làm được trong cái tương đối để cho mình hành trì. Bây giờ tới cái pháp sâu sắc là phá cái ngã, diệt cái ngã, lúc người ta lạy xuống đó thì mình phải biết rằng đó là đang lạy Phật, lạy pháp, lạy Tăng, không phải lạy mình. Mình mừng cho người ta vì người ta tôn kính pháp, tôn kính Đức Thế Tôn và tôn kính chúng Tăng, không phải lạy mình, không có lễ mình, không có cái mình nào đây hết.
IV. Thân hành niệm
Đó là đang lạy Tam Bảo, đang lạy pháp, đang đảnh lễ pháp, đang cúng dường pháp, đang tôn trọng pháp. Bây giờ quay lại xử cái mình, xử cái ta của mình, mình mới quán sâu vào "đang lạy cái gì đây, đây là một cái lớp vải, sâu trong cái lớp vải này là một lớp, vào trong cái lớp da này là mỡ, là thịt, là máu. Sâu vào bên trong cái lớp mỡ, thịt, máu đó là một bộ xương, từ cái đầu sọ cho đến cái xương sườn, xương mông, xương chân, xương tai. Bên trong bộ xương này là phèo, phổi, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, tim, gan, tỳ phế thận trong này. Ai ở trong này? Không có ai trong đây hết, không có ai ở trong này hết, chỉ là một cái đống nhơ nhớp, bất tịnh, phèo, phổi, ruột, gan, máu, huyết, phân, nước tiểu, đàm giải, mủ, xương da".
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chỉ có tanh hôi với hôi tanh
Máu mủ bầy nhầy phân nước tiểu
Nhìn kỹ bên trong chẳng có ai.
Chỉ có máu mủ bầy nhầy, phân, nước tiểu, nhìn kỹ bên trong chẳng có ai. Mình phải thuộc những cái bài tác ý thiền quán như vậy, mình đọc cái bài đó lên, lúc đầu cái tâm mình sẽ khó chịu nhưng mình đọc từ từ, mình nhiếp phục cái khó chịu đó rồi lần lần nó sẽ thể nhập cái trí tuệ đó. Đó là cái trí tuệ phá ngã, diệt ngã, vô ngã, đánh gục cái bản ngã ngay tại cái trai đường đó, ngay tại cái chỗ mà người ta đảnh lễ, người ta cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngay chỗ đó mình đập vỡ cái bản ngã của mình. Không có lấy gì làm vinh hạnh khi người ta cúi lạy, không có tôi nào ở đây, mình thấy có tôi, có ta, có cái ngã thì là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Mình quở trách cái tâm như vậy cho nên mình phải đào sâu vô trong cái trí tuệ đó để thấy được bộ xương, để thấy được một cái thây phình trương, để thấy được một cái đống giòi ăn, để thấy được một cái đống tro tàn ngay đây chứ không có một con người ngồi đây. Một cái nùi giẻ rách, một cái kẻ ăn mày, một cái bộ xương, một nắm tro tàn, đây là những cái phép quán cực kỳ quan trọng mà tôn giả tướng quân chánh pháp Sariputta Xá-lợi-phất tu tập, phải an trú những cái pháp quán đó thường xuyên, bất cứ lúc nào có thể nhớ được. Đây là bộ xương, là cái nùi giẻ rách, là cái đống tro tàn, là cái kẻ ăn mày chứ không có một cái tôi ở đây để nhận cái lễ, cho nó tan biến hoàn toàn có ý nghĩ về cái tôi ngay tại chỗ đó luôn, diệt tận ý nghĩ về cái tôi ngay đó luôn, cái hình bóng của tôi tan biến thành một nắm cho tàn luôn, thành một bộ xương luôn.
Đây là cái lớp vải, ở trong cái lớp vải này là lớp da, ở trong cái lớp da này là xương, ở trong xương là phèo, phổi, gan, ruột, máu, mủ, cứt, đái, không có cái tôi nào trong đây hết. Người ta đang lạy chánh pháp, cung kính pháp, tôn trọng pháp, đảnh lễ pháp, cúng dường pháp và khi mình được lạy mình phải tác ý như vậy thường xuyên và liên tục để sau này trở thành một thói quen. Mình vui mừng khi người ta biết cung kính, đảnh lễ, tôn trọng, cúng dường pháp, cái này rất là quan trọng cần thực tập thường xuyên thì ngay chỗ trai đường đó mình có thể thể nhập được vô ngã trí. Ngay khi người ta hành lễ mình có thể thể nhập vào cái trí tuệ trống rỗng, trống không, trống trơn, không có ta, không có tôi, mà cái này là phải thực tập thường xuyên, nhiều lúc trong bình thường thì lúc người ta lễ mình mới triển khai thiền quán được, còn bằng không lúc người ta lạy là mình thấy mình ngon, mình thấy mình được lạy, mình được cung kính.
Mình thấy vậy là chết rồi, không thể nào mà cái ngã được nhiếp phục, chế ngự và đi đến đoạn tận được hết. Thành ra cái phương pháp này phải thực tập cho thuần thục, nhuần nhuyễn, điêu luyện, sâu sắc, thâm hậu và nó thể trong cái vô ngã thánh trí này, đó gọi là vô ngã thánh trí, trí tuệ không ta của bậc thánh, cái thánh trí thấy được sự trống rỗng, trống không của tứ đại, của ngũ uẩn, của thân tâm này, của hình hài, thể xác này. Mình giải phá, nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch, diệt tận cái tôi ngay chỗ đó, mình cứ làm hoài, làm nhiều, làm thường như vậy thì lần lần tự nhiên bản ngã của mình sẽ được an tịnh, lắng dịu xuống, nhiều khi người ta hành xử với mình, người ta khinh khi, huỷ nhục mình thì đâu thấy có mình đâu, đây là cái nùi giẻ, cái bộ xương, cái đống tro, "mày là kẻ ăn mày thì người ta nói mày vậy là trúng rồi", mà cái ăn mày đó là còn có một con người, cái này thực tập từ từ mới đi tới cái chỗ không có ai hết.
Vì thế mình phải thực tập từ từ cho tuần tự, mình phải thường nhắc mình nhớ "mày là cái thằng ăn mày, mày là kẻ ăn xin", đây là pháp tu của ngài Xá-lợi-phất, chúng ta về coi kỹ bài Sau khi ăn cư, bài kinh đó là siêu khủng, chín pháp an trú tâm của tôn giả Xá-lợi-phất mà Minh Thành có chia sẻ tám-chín buổi về bài kinh đó, chúng ta về tìm nghe chín pháp an trú tâm của tôn giả Xá-lợi-phất. Mình phải nhớ mình ăn mày, mình không nhớ ăn mày là cái bản ngã kênh kiệu lắm, nó phát triển lắm, người ta đáng bà nội, bà ngoại mình, đáng cha, đáng mẹ mình vậy mà kêu con ngọt sớt à, "con… con…lại thầy nói cho nghe con". Như vậy là nguy hiểm lắm, rất nguy hiểm, rất là nguy hiểm, đúng ra mình càng tu thì cái ngã mình càng nhiếp phục, càng chế ngự, càng được nhìn thấy, càng được thấy, được biết, được giảm, rồi đoạn, rồi tận, đi đến tẩy sạch hoàn toàn mới đúng.
Vì mình tu không nắm được cái chánh pháp cho nên mới làm cho mình đi một con đường khác, nó làm cho tăng trưởng, phát triển, ngấm ngầm lớn mạnh một cái ảo tưởng về tự ngã trong thân tâm của mình. Cho nên chúng ta cố gắng thực hành, cái pháp đó rất quan trọng, phải thực tập từ từ đi rồi sẽ quen, nhắc nhớ thường xuyên và liên tục. Mình thường an trú tâm những cái pháp đó, có ai chê, ai chửi mình, nói nặng nói nhẹ mình, tâm mình có thể nhiếp phục được, an tịnh, lắng dịu được, có thể chịu được tại vì bình thường mình đã nhắc đâu có mình, đâu có cái tôi, đây chỉ là một cái đống khổ, đây chỉ là một cái đống máu mủ bầy nhầy, gan ruột bẩn thỉu, nhơ nhớp, bất tịnh, đây chỉ là một cái đống tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, không có một con người. Tất cả không có một con người nào hết, chỉ là những cái đóng khổ tham, sân, si, bản ngã, dục ái vận hành, hoạt động ngày đêm không ngừng nghỉ, không có ai trong đây, không có một tự ngã, không có một cái ta, không có một cái tôi, không có một cái tự ngã nào hết, chỉ là một cái đống khổ đang vận hành.
"Chỉ có khổ được sanh,
Khổ tồn tại, khổ diệt,
Ngoài khổ, không gì sanh,
Ngoài khổ không gì diệt." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỷ Kheo Ni, X. Vajirà)
Đó là bài kệ chứng đạo của một thánh Tỳ-kheo Ni A-la-hán, khi mình được sanh ra đồng nghĩa với khổ được sanh, khi mình còn sống là đồng nghĩa với khổ tồn tại và khi mình chết đi mình tưởng đâu khổ diệt là không có, tiếp tục tìm những cái đống khổ mới. Khổ diệt là chỉ cho các bậc thánh A-la-hán, các bậc đã đoạn tận tất cả những cái cấu uế của tâm dục ái, vô minh, bản ngã, si mê thì đó gọi là khổ diệt, còn mình tưởng mình sanh ra là khổ rồi, mình còn sống là khổ tồn tại, rồi mình nhắm mắt khổ chưa có diệt mà đi tìm một cái đống khổ mới, cũng có thể là những cái thân súc sanh giòi, chuột, chó, heo, gà, vịt, bò, trâu, cũng có thể là những cái thân cô hồn vất vơ vất vưởng đói khát, ngạ quỷ, cũng có thể là những cái thân kêu gào thảm thiết không lúc nào ngơi nghỉ ở trong địa ngục, cũng có thể là những cái thân của A-tu-la, vị hung thần dữ tợn, sân si, oai lực mạnh mẽ cũng có thể là những cái thân của chư thiên nhưng mà tất cả thân bằng cái thánh tri kiến đều nhìn thấy đó là cái đóng khổ hết, dầu cho bất cứ là thân nào.
Ông vua có cái nỗi khổ của ông vua không hay là ông vua sướng tuyệt đối một trăm phần trăm? Kẻ ăn mày có cái khổ của kẻ ăn mày, nguyên thủ có khổ của nguyên thủ, thánh nữ của Phật giáo, thánh ngữ của bậc A-la-hán, một cái câu nói đó mà rúng động cả địa cầu, không thể nào kẻ phàm phu có thể nói được cái câu mà cũng không hiểu được cái câu đó.
"Này các Tỳ-kheo, sự sanh, sự trú, sự thành, sự xuất hiện của mắt là sự sanh của khổ, sự trú của bệnh hoạn, sự xuất hiện của già chết.
Sự sanh, sự trú, sự thành, sự xuất hiện của tai... của mũi... của lưỡi... của thân... của ý là sự sanh của khổ, sự trú của bệnh hoạn, sự xuất hiện của già chết.
Sự diệt, sự lắng dịu, sự chấm dứt của sắc là sự diệt của khổ, sự lắng dịu của bệnh hoạn, sự chấm dứt của già chết.
Sự diệt, sự lắng dịu, sự chấm dứt của tai... của mũi... của lưỡi... của thân... của ý là sự diệt của khổ, sự lắng dịu của bệnh hoạn, sự chấm dứt của già chết." (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương V. Tương Ưng Sanh, I. Mắt)
Chúng ta nghĩ một cái tấm thân này có bao nhiêu thứ bệnh? Ngồi đây mặt mày cũng sáng sủa mà khám ra thì biết bao bệnh, tại sao phải chui vô cái nhà kín trong kia, nó chứa những cái thứ mà khi mà nó tràn ra ngoài thì xấu hổ, nhục nhã, độn thổ, nhưng lúc nào cũng hất cái mặt lên, cũng ưỡn cái ngực lên, cũng là vỗ ngực xưng tên ta đây là ngon lành, là đẹp trai, đẹp gái, là số một.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Thế mà vỗ ngực nói ta đây
Như một bao rác đầy hôi thối
Lại vỗ vào bao nói ta tôi.
Cái thân này đó giống như một cái bao rác đầy hôi thúi, vỗ vô cái bao rác đó phình phịch rồi hỏi biết tôi là ai không, làm khổ với nhau. Một cái bao rác hai đầu nó trống, cứ dồn vô hoài, dồn ổ trên bao nhiêu thì phía dưới tuột xuống bấy nhiêu, đồ trên này vào thì thơm ngon, bổ dưỡng, mà đưa xuống dưới đi ra thì bịt lỗ mũi trong âm thầm, lặng lẽ, giấu kín thiệt kỹ và tống khứ nó ngay lập tức, bấm nút cho nó chạy liền, xấu hổ và nhục nhã khi nó trào ra những cái thứ đó. Có người đó cũng là diễn viên điện ảnh, minh tinh nổi tiếng lên nhảy sung sức rồi nó tè ra, chạy không kịp thở luôn, muốn đội quần, độn thổ luôn. Bởi vì ở bên trong này là nó dơ nhưng mà vì cái tâm mê, cái tâm vô minh lúc nào cũng nói là sạch, là thơm, là đẹp nên nó khoái, nó thèm, nó khát, nó khao, nó giục, nó ái.
Chỉ có bấy nhiêu đó mà học hoài, học tới chết mà vẫn không thể nhập được, thể nhập được là thành thánh nhân rồi, học hoài, giảng hoài, kinh Phật nói hoài mà nhìn cũng thấy đẹp, cũng thấy sạch, cũng thấy hấp dẫn, cũng thèm khát, khao khát, khát ái, thèm thuồng, nó đau khổ hoài cho đến khi nào thật sự nó thấy là một cái đống nhơ nhớp, bẩn thỉu, giục lẹ, quăng mau, nhanh lên thì lúc đó chấm dứt luân hồi sanh tử.
Ai nhàm, ai chán nhìn thân xác,
Phiền não khổ đau, sẽ cạn dần.
Ai nhàm, ai chán nhìn thân xác,
Tử thần sẽ nản chí, buông tay.
Ai cười, ai thích nhìn thân xác,
Thì khổ mất thân sẽ dài dài.
Ai nhàm, ai chán nhìn thân xác,
Các cõi luân hồi chấm dứt ngay
(Nghi Thức Tu Học Nikāya)
Cái mê của mình là siêu khủng lắm, thâm căn cố đế, tường đồng vách sắt, trời gầm không nhả, cái tâm mê, cái tâm si, cái tâm vô minh, khát ái khủng khiếp lắm. Mình tác ý, mình dạy cho nó trăm ngàn vạn lần còn chưa thấy gì chứ nghe phớt phớt xong rồi đi về, mới bước ra khỏi cửa nó rớt hết trí tuệ bắp vế, để bánh, để kẹo lên bắp đùi rồi đứng lên rớt xuống hết, Đức Phật kêu bằng trí tuệ bắp vế, học thì cũng hiểu vậy đó, rồi xong trở ra cũng sống với tập khí, vô minh, dục ái, sân si, bản ngã, không có an trú được ở trong cái trí tuệ của Đức Phật.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người với trí tuệ bắp vế? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá). Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu, có tác ý đến đoạn giữa, có tác ý đến đoạn cuối. Nhưng khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng dậy, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỳ-kheo, trên bắp vế của một người, các loại đồ ăn được chồng lên như hạt mè, hột gạo, các loại kẹo và trái táo. Khi từ chỗ ngồi đứng dậy, vì vô ý, người ấy làm đổ vãi tất cả. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn ... Người ấy, tại chỗ ngồi ấy ... có tác ý đoạn cuối. Nhưng khi người ấy tại chỗ ngồi ấy đứng dậy ... không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ bắp vế." (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, III. Phẩm Người, Lộn Ngược)
Cho nên muốn an trú được trí tuệ của Đức Phật thì phải như lý tác ý, mình đang học cái hành uẩn đây là cái sự tác động tâm ý đúng như chân lý, nhắc nhở tâm, tác ý, huấn luyện tâm, giáo dục tâm, dạy dỗ tâm, dẫn dắt tâm, rèn luyện tâm, quản giáo tâm, ngồi thiền rồi giải phẫu, mổ ra, nhìn vô bên trong để thấy một sự thật phũ phàng, một sự thật vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã, nó bẩn thỉu, nó tanh hôi, nó nhục nhã, nó xấu hổ, nó tồi bạc, ác độc, nó khổ nạn, nó hoạn nạn, nó ách nạn, nó tai nạn, nó hiểm nạn, nó khốn nạn như vậy mà mình không thấy. Mình học bao nhiêu rồi mình cũng không thấy cho nên cái thiền quán là quán cho thâm sâu vô, những cái lời này là thánh trí tuệ trong Tương Ưng Bộ nhưng con dùng từ tiếng việt cho chúng ta dễ hiểu.
Khi nghe những lời này phải cho thấm thía, cho đau nhức, nhức nhối, tê tái, chạnh lòng, xót xa về một cái sự thật mà tại sao mà mình cứ si mê hoài vậy, cái sự thật rõ ràng vậy mà sao mình không thấy, nó ở trong con người của mình chứ đâu phải nó ở ngoài đâu, mình học hoài mà sao mình cũng không sống được với sự thật. Giảng pháp là phải giảng như vậy, không có lên ru ngủ người ta, lên nói chuyện chọc cười cho người ta, như vậy là mình làm nhiễu loạn chánh pháp, chánh pháp sẽ đi đến diệt vong. Phải nói đúng chánh pháp, ai nghe thì nghe, không nghe thì thôi, không có phải đi bán thuốc tể, bán sơn đông mãi võ, không cần số lượng đông mà phải nói cho đúng chánh pháp của Đức Phật, còn bằng không mình chính là sư tử trùng, thực sư tử nhục, con giòi ở trong thân sư tử nó ăn thịt con sư tử, làm cho chánh pháp diệt vong, nhiễu loạn.
Bây giờ chúng ta thấy không, cứ lấy số đồng cho nhiều người, nói cái gì, không có đúng chánh pháp, lần lần cái hình ảnh Tăng Ni của mình, những cái những cái pháp tòa, những cái pháp y, những cái pháp bảo trở thành không còn giá trị trên cuộc đời này nữa nếu mình không nói đúng Chánh Pháp, mình không đưa chúng sanh đến sự nhiếp phục để nhìn thấy được tham, sân, si, không chỉ cho họ cách nhiếp phục, chế ngự thì làm sao đi đến đoạn tận, giải thoát tham, sân, si. Bản thân mình không thấy thì làm sao giúp cho người ta thấy? Bản thân mình không nhiếp phục, chế ngự được thì làm sao giúp cho người ta nhiếp phục, chế ngự được? Bản thân mình không diệt tận, tẩy sạch được thì làm sao mình giúp cho người ta nhiếp phục, tẩy sạch, đoạn tận được?
Cho nên học về kinh tạng Nikāya để chúng ta thấy được lời dạy nguyên chất, thâm sâu, vi diệu siêu thế tối thượng của Đức Phật, đó là lý do tại sao con quay trở về kinh tạng Nikāya là vậy. Đi cầu pháp khắp hành tinh cuối cùng là quay trở về kinh tạng Nikāya, những lời dạy nguyên chất của Đức Phật, cội gốc của Đức Phật, gốc rễ của Đức Phật và cần phải được nghe, được tụng, được đọc, được học, được thuộc lòng, được truyền bá rộng rãi và nhất là người tu của mình mà không có đọc kinh Nikāya thì uổng một đời tu. Chẳng những đọc mà phải học thuộc lòng, chẳng những học thuộc lòng mà còn phải thực hành, chẳng những thực hành mà thực hành sâu sắc và thực hành thể nhập những sự thật đó, chứng nhập những cái sự thật đó, chứng ngộ những sự thật đó, chứng đạt những sự thật đó. Đó là những lời Đức Phật dạy trong kinh, cho nên với một sự tu học nghiêm túc, nghiêm khắc, sâu sắc sẽ có được nhiều lợi ích lớn, đó mới mà là tự lợi lợi tha, tự giác giác tha, tự độ độ tha, mới đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư thiên và loài người, vì lợi ích cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người thì Thế Tôn mới tuyên thuyết thánh pháp, thánh trí huệ này để cho chúng ta học và chúng ta thực hành để chúng ta trải nghiệm, chứng nghiệm, chứng đắc, chứng đạt, chứng ngộ và mình mới có thể giúp đỡ được mọi người.
Cho nên phải dùng cái suy tư, cái suy nghĩ đó để tu, tu bằng cái suy nghĩ chứ không phải ngồi thiền là cứ ngồi im ru. Ngay chỗ trai đường đó là chúng ta làm một cuộc đại phẫu thuật, một cuộc nội soi sâu sắc về tự thân của mình ngay chỗ đó. Bữa nay chúng ta tu ngay trên trai đường, ngay đó là ngồi thiền chứ không phải đợi ngồi im ru mới thiền, ngay chỗ trai đường đó mình mổ sẻ hết tất cả những khía cạnh, góc độ của thân tâm này, của sự cúng dường đó và của cái đời tu chúng ta ngay tại đó. Mở phiên tòa xử án, xét xử cái tâm của chính mình ngay tại chỗ đó.
Sư thầy 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con đảnh lễ giáo thọ cùng đại chúng, con có câu hỏi là khi mình đứng trước trai đường được cúng dường như vậy, khi mình khởi niệm xấu hổ về bản thân, về những cái hạnh xấu ác ở quá khứ, nó sẽ hiện lên khi mình quán chiếu như vậy thì lúc bấy giờ mình có thể sám hối hay là mình đọc "Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp, Giai do vô thỉ tham sân si" không thưa thầy? Khi mình khởi niệm như thế thì các ác nghiệp đời trước có thể tiêu không thưa thầy?
Sư Phụ: Mình khởi lên những cái ý niệm xấu hổ để mình thấy sai, để mình sửa là cái đó là tốt, là thiện pháp. Nhưng mà không phải khởi lên đó là nghiệp tiêu được, nó chỉ là cái sự khởi đầu của sự làm mới, làm sạch, mà cái đó là nó cần, làm cái gì cũng phải có sự khởi đầu hết. Thay vì một cái tâm của mình là một cái tâm nó đi xuống thì bây giờ khi mình thấy cái lỗi lầm, cái nguy hiểm, cái tác hại, nó rơi xuống vực thì mình thắng nó lại, là một bước rồi mình mới xoay đầu chuyển não, tức là mình bẻ lái lại, mình không có đi cho nó xuống cái vực nữa, mình bẻ qua một cái lái khác để mình đi chạy trở lên. Như vậy cái sự nhìn lại mình thấy lỗi lầm, nhận lỗi để chịu khắc phục, để sửa lỗi là một quá trình tu tập rất là quan trọng.
Thường thường mình làm lỗi, người ta chỉ lỗi là mình bản ng,ã mình sân si lên, chẳng hạn như lớp chúng ta cũng là rất là ngoan hiền, hiền thiện thì con mới cho học sâu sắc như vậy, chứ còn những cái lớp mà vô mình nói sâu là nhiều khi là ở dưới là chống đối, khó chịu, mặt mày biểu hiện ra liền. Lớp chúng ta con còn duy trì ở đây là vì chúng ta còn chịu nghe, chịu thực tập, đến lúc không nghe nữa thì con cũng nghỉ, con không có chia sẻ nữa tại vì cái pháp này không phải là cái pháp phổ thông chung chung như bây giờ, v cái pháp này nó trực chỉ, trực diện, trực tiếp, trực tâm, trực hạnh mới học được cái pháp này. Cho nên trong cái công cuộc tu hành của mình cái quan trọng đầu tiên là Nhận diện ngũ uẩn, tức là quay trở lại nhận diện thân tâm mà hôm trước con đã nói rồi, chúng ta về nghe kỹ bài nhận diện thân tâm, người mới học Nikāya nhất định phải nghe mười tám buổi giảng ở trong trường thiền ở Thiền viện Thường Chiếu.
Đó là cái căn bản trí tuệ, thì bước đầu tiên là mình phải quay trở lại nhìn mình, tức là nhận diện ngũ uẩn, tức là nhìn nhận lại mình đó, là phản quang tự kỷ đó, là phản tỉnh đó, là chánh niệm tỉnh giác đó, nhiều từ lắm nhưng mà chỉ có một nghĩa là quay trở lại nhìn mình. Quay trở lại nhìn mình một cách trung thực, chánh trực, chân thật, chân thành thì mình mới thấy cái lỗi, còn nếu mình nhìn phớt phớt, mình nhìn theo cái kiểu méo mó, nuông chiều mình, châm chước cho mình, lỗi người ta mình bắt kỹ lắm nhưng mà lỗi mình là mình che.
"Dễ thay thấy lỗi người,
Lỗi mình thấy mới khó.
Lỗi người ta phanh tìm,
Như sàng trấu trong gạo,
Còn lỗi mình, che đậy,
Như kẻ gian giấu bài".
(Kinh Pháp Cú 18 – Phẩm Cấu Uế, kệ 252)
Khi mình nhìn lại mình một cách trung thực, chánh trực, chân thật, thành thật mình mới thấy cái lỗi mình một cách chính xác và đầy đủ. Tuy là chính mình nhìn mình mà nó còn không có chân thật chứ đừng nói chi người khác chỉ lỗi cho mình, nó sâu sắc như vậy. Chính mình nhìn mình thấy cái đó là cái lỗi nhưng mà mình vẫn tha lỗi cho mình, mình nói cái này không sao đâu, chuyện nhỏ không sao đâu, ghê gớm như vậy cho nên một cái tâm trực hạnh là đệ tử của Thế Tôn, chân chánh hạnh là đệ tử Thế Tôn, diệu hạnh là đệ tử Thế Tôn, ứng lý hạnh là đệ tử của Thế Tôn.
"Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời". (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)
Cái đầu tiên một trong bốn đức tính của Tăng là trực hạnh, tức là cái tâm chánh trực, ngay thẳng, trung thực, trung trực, thật thà, chân chánh, thì mình nhìn mới đúng, mới chính xác thì cái đó gọi là thấy đúng. Còn mình nhìn bằng cái bản ngã, em ruột của mình với đứa nhỏ kế bên hàng xóm đánh lộn nhau, khóc cự, mình ra là mình bênh ai trước? Cho nên cái tâm mình sẽ nghiêng về người mình thương hoặc là nghiêng về người mình ghét, nó bị nghiêng lệch, nó không còn trung trực nữa, không còn chánh trực, nó không còn chân thật, thành thật nữa. Chính vì vậy để nhìn mình một cách chánh trực là cả một sự tu tập, không phải đơn giản nhìn mình một cách trung thực, chánh trực, chính xác, chân chánh đầy đủ, cho nên mới cần cái định, cần tương đối trong cái định mới nhìn được, còn cái tâm lộn xộn, lao xao, còn dục ái, tham, năm triền cái bao phủ là nhìn không có chính xác.
Thí dụ bây giờ trong đây có một thầy có thiện cảm với con thì lúc đó là nhìn khác "sao thầy nói cái gì cũng trúng hết trơn, thầy nói gì con nghe con cũng thấm hết". nhưng mà có thầy khó chịu "sao ổng nói cái gì mà nặng nề, ông làm gì mà gặng dữ vậy", cho nên nhìn lại mình một cách chân thật rồi mình mới phát hiện cái lỗi, phát hiện cái lỗi rồi mình nhận lỗi một cách đầy đủ và mình nỗ lực sửa lỗi, nó giảm lỗi, bớt lỗi, nó đi đến hết lỗi thì mình hoàn thiện thôi. Tu Nikāya đơn giản vậy đó, nó không có cái gì xa xôi, viễn vong, rất là thực tế, thiết thực, hiện tại.
./.
Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 29
Chánh Quán Khi Nhận Cúng Dường
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhắc nhở tu học PAGEREF _Toc204009828 \h 1
II. Trình pháp PAGEREF _Toc204009829 \h 2
III. Chánh quán khi nhận cúng dường PAGEREF _Toc204009830 \h 6
IV. Thân hành niệm PAGEREF _Toc204009831 \h 10
I. Nhắc nhở tu học
Sư Phụ: Học cái môn này chúng ta phải chịu khó làm bài tập, chịu khó thực tập thì mình mới nhớ, đầu tiên là mình phải thuộc lòng định nghĩa, sau đó là theo cái định nghĩa đó mình mới bắt đầu thực tập cái sự nhìn nhận lại thân tâm của mình, sau khi mình nhìn nhận thì các pháp sẽ hiện rõ. Đây là những từ mà Đức Phật nói ở trong kinh, các pháp sẽ hiện rõ cái nào là sắc, cái nào là thọ, cái nào là tưởng, cái nào là hành, cái nào là thức, nó sẽ hiện rõ ra cái tướng trạng vận hành rồi sự sanh diệt của năm thủ uẩn sẽ được nhìn thấy, những cấu nhiễm sẽ được nhìn thấy, những rác bẩn sẽ được nhìn thấy, những ô nhiễm, những uế nhiễm, những tập nhiễm sẽ được nhìn thấy.
Mình thấy bằng con mắt tâm của mình, đó chính là cái từ "đến để mà thấy", khi mình thấy bằng mắt tâm của mình thì không do người khác, không phải từ nơi người khác mà mình thấy nữa mà mình thấy bằng con mắt tâm của mình. Sau khi mình thấy rồi với cái sự nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, cố gắng thì mình sẽ có một sự năng nổ, năng động, siêng năng, cần cù, tinh cần, nỗ lực để mình làm sạch thân tâm, đó là những cái trình tự trong sự tu học trong tinh thần kinh tạng Nikāya của chúng ta.
Cho nên không chịu làm bài tập là không có cách nào học hoặc tu tiến bộ được, làm bài tập chính là tu đó, cũng chính là học luôn, cũng chính là giới, định, tuệ luôn. Vì thời giờ chúng ta gặp nhau rất là ít, nửa tháng có một lần thôi, trừ khi nào có chương trình gì đó thì mới có thêm, thành ra với cái sự học nửa tháng một lần thì không có đủ, nếu chúng ta không cố gắng làm bài tập thì coi như là mất luôn. Hôm trước chúng ta được nghe giới thiệu làm cho hiện hành các pháp hữu vi cho nên gọi là hành, làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, thọ; tưởng; hành; thức với thọ; tưởng; hành; thức tánh.
Chúng ta đã có nghe tổng quát về sự thực tập bằng cách vận dụng suy nghĩ để mình tác ý, để mình quán chiếu, để mình quán sát, để mình chiêm nghiệm. Chúng ta trong một tuần lễ vừa qua có ai xung phong để nhận diện hành uẩn của mình trong một tuần lễ vừa qua nó hoạt động như thế nào? Chúng ta càng học nhiều chừng nào thì chúng ta làm bài tập nhiều hơn là nghe nữa, càng học nhiều, càng hiểu nhiều, càng đi sâu vào là chúng ta chỉ làm bài tập thôi, rồi có cái gì là mình chỉnh ngay cái chỗ đó, học cái đó mới cao cấp, mới chuyên sâu, còn học mà vào chỉ biết ghi chép rồi ngồi nghe hoài thì nó cũng như vậy, nó không có đào sâu được.
II. Trình pháp
Sư thầy 1: Dạ mô Phật, kính bạch trên thượng tọa giáo thọ sư, kính thưa quý thầy cô cho phép con được trình bày về sự thực tập về hành trong một tuần qua, trong tuần qua nó có hai sự việc đối với bản thân con. Sự việc thứ nhất là có một cái ngày đó là cái thân thể con cũng mệt, sau một cuộc nói chuyện giữa con với một người đó thì đôi khi họ chỉ nói chơi thôi, nhưng ngay lúc đó câu đó đôi khi cũng vô tình nhưng con nghe thì tự nhiên trong cái suy nghĩ của nó hiện lên là "sao tự nhiên lại nói với mình như vậy". Và ngay lúc đó con lại nảy sinh thêm một cái suy nghĩ nữa là không muốn giao tiếp với người này nữa, thêm một cái suy nghĩ nữa là không bao giờ muốn nói chuyện với cái người này nữa và nhiều cái suy nghĩ hiện lên, xảy ra liên tục. Ngay lúc đó thì cái cảm thọ của con chính là cái khổ thọ, lúc đó con rất là khó chịu, những cái hành bóng trong tâm của con về người đó hiện lại.
Tại vì mỗi người đều có một thời gian ngắn thôi chứ không thể nào chúng ta đi hết cả cái cuộc đời này được, chúng ta mỗi người chỉ gặp nhau ở một cái thời gian ngắn rồi sau này ai cũng phải mỗi người một phương, nếu có gặp nhau cũng rất là khó. Và ngay lúc đó con tác ý rằng mình là người tu người xuất gia rồi, mình đã bỏ tất cả, mình là người học Phật mà tại sao mình lại chấp nhất những cái chuyện nhỏ nhặt như vậy. Lúc đó cái suy nghĩ trong tâm con tưởng lại những cái câu nói mà hôm bữa con có thực tập diễn giảng là "lời nói không là dao mà cắt lòng đau nhói, lời nói không là khói mà khóe mắt cay cay", con nhớ lại những lời đó và con tác ý mình người tu thì mình phải đem lại lợi ích cho người ta chứ không phải mình làm đau khổ, hay mình làm tổn thương cho người ta.
Ngay lúc đó cái khổ thọ của con, cái khó chịu của con và những cái suy nghĩ không muốn giao tiếp, không muốn tiếp xúc với đối tượng đó nữa thì từ từ cái tiêu cực đó của con bắt đầu lắng xuống. Sau khi ngủ một đêm thì sáng ngày mai mọi thứ đã trở lại bình thường và cái việc thứ hai của con là có một lần một người đó họ nói nặng con, ngay lúc đó tự nhiên có suy nghĩ trong tâm "tại sao mình vầy nè, mình là ông hầy như vầy mà sao họ dám đối xử với mình như vậy, họ dám hành động, cái lời nói của họ kiểu như là thứ nhất là đùa giỡn, thứ hai là bất kính với mình". Ngay lúc đó những cái khó chịu, những cái bực bội trong tâm con bắt đầu xuất hiện "sao mình lại vậy", lúc đó con thấy được cái tôi của mình bắt đầu xuất hiện, nó bắt đầu to dần dần, con thấy được cái đó.
Cái suy nghĩ lúc đó là "thôi chết rồi, hồi lúc mình mới tu tại sao mình không có cái tâm này, bây giờ mình mới tu được một chút tự nhiên mình thấy xuất hiện cái tâm này". Bắt đầu con suy nghĩ lại, nhớ lại những lời Phật dạy về chính bản thân, con người mình, về cái sự thực tập vô ngã. Tại sao chính cái thân của mình không có thật, chính cái thân của mình mọi thứ đều là do duyên kết hợp lại thành mà mình vì một cái lời nói mình lại có những cái suy nghĩ, có những cái khổ thọ như vậy. Ngay lúc đó con suy nghĩ rất là nhiều, mình tu để dẹp đi cái bản ngã mà sao giờ mình tu cái bản ngã mình càng ngày nó càng to ra, khi mình đối duyên với tiếp xúc với những cái trái ý nghịch lòng của mình thì cái tôi của mình càng ngày càng lớn hơn nữa, mình khó chịu hơn nữa, mình suy nghĩ trong tâm là mình tu như vậy là mọi người phải đối xử với mình như vậy, như vậy, chứ họ không nên có cái thái độ như vậy.
Ngay lúc đó con suy nghĩ rất nhiều, con dùng những lời của Đức Phật dạy và suy nghĩ tới người tu mình phải thể hiện ra cái hành động và cái lời nói như thế nào để nó phù hợp với người tu. Có một việc như vậy thôi con phải mất hết cả mấy tiếng để con suy nghĩ về việc làm đó, về thái độ của con ngay lúc đó, khoảng mấy tiếng sau con suy nghĩ lại thấy mình quá dở đi, mình tu mà mới có chút xíu đó mà mình chưa giải quyết được, mình chưa có làm chủ được cái cảm xúc của mình và chưa làm chủ được cái suy nghĩ trong tâm của mình ngay lúc đó, mình quá tệ.
Ngay lúc đó con có suy nghĩ chắc do mình buông lung quá, hằng ngày mình không có tiếp xúc với kinh điển nhiều và không có sự thực tập. Thí dụ như là thực tập về nhận diện chính cái ngũ uẩn bên trong mình thì mình đã bị cái đó, ngay lúc đó những cái tiêu cực của con bắt đầu nó lắng từ từ, tự nhiên ngay giây phút đó thì trong tâm con lại có một cái suy nghĩ là có một cái gì đó thúc đẩy cho mình. Bắt đầu con nghe pháp, ngồi nhớ lại cái hơi thở của mình, từ từ cái tiêu cực của con giảm từ từ. Dạ mô Phật, con xin kính trình cho thầy. A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Rất là tốt, cho tràng vỗ tay lớn đi. Phải là thực tập như vậy đó, phải nhìn thấy được cái suy nghĩ của mình, phải nhận diện được những cái thọ; tưởng; hành bình thường cũng như trong những lúc mình đối duyên xúc cảnh. Nếu mình không có thực tập nhận diện về ngũ uẩn về cái trí tuệ để nhiếp phục và chế ngự, diệt tận cái chấp ngã thì thật sự là chúng ta tu là càng ngày cái bản ngã càng lớn, đó là một sự thật. Khi mình còn là một chú tiểu, còn là người hành điệu, mình rất dễ thương, rất ngoan hiền, rất là khiêm cung, nhưng khi mình vừa thọ cái giới lên, mình được người ta kêu là thầy, là cô, được người ta chắp tay cúi chào, thậm chí là đảnh lễ thì những cái này hết sức nguy hiểm, hết sức là nguy hiểm, đối với một người không có chánh kiến, không có thấy đúng, không có pháp hành thì đó là con đường đưa đến phát triển về cái tôi. Một con người không có tu hành nghiêm khắc, không có pháp hành đúng đắng thì phần lớn nó là vậy.
Cho nên khi một người mà chấp tay xá mình, thậm chí là đảnh lễ, người ta lạy lúc đó mình phải an trú tâm như thế nào? Các thầy cô trình bày cho con nghe khi người ta chắp tay, người ta xá mình, khi người ta lạy dâng cái bao thư lên thì lúc đó mình tu như thế nào?
Sư thầy 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bái bạch thượng tọa giáo thọ sư, kính thưa quý huynh đệ, như lời của giáo thọ vừa hỏi đó là khi người ta quỳ xuống lạy thành tâm, thành kính, chân thành, người ta dâng bao thư lên cúng dường cho mình thì mình an trú tâm như thế nào. Với con khi được cúng dường như thế thì con nhớ tới thập chủng đại nguyện của ngài Phổ Hiền là "nhất giả lễ kính Chư Phật". Con cũng thấy rất là hổ thẹn, mà con thường nhiếp tâm là họ hướng về lạy Phật cũng là họ lạy cái Phật tâm, Phật tánh của họ, còn con thì chưa đủ giới đức, tu còn dở nên cũng thấy rất là hổ thẹn với cái việc nhận cúng dường của họ. Thông qua cái việc cúng dường đó thì con cũng cố gắng tu tụng hồi hướng cho họ để cho họ có được cái phước lành, và cũng nhất tâm cầu nguyện cho họ có được một đời sống bình an, an lành, mọi người trong gia đình có được sức khỏe và tín tâm của họ càng ngày càng tăng trưởng cũng như lòng từ của họ đối với tam bảo, đối với chúng sanh ngày càng sâu dày. Con cũng tác ý vậy thôi.
Sư Phụ: Trong buổi lễ trai Tăng mình ngồi khoảng một tiếng đồng hồ thì suốt một tiếng đó thầy có nhiếp niệm được hết không?
Sư thầy 2: A-di-đà Phật, lúc ngồi trai Tăng thì đa phần lúc họ quỳ lạy tác pháp thì con nhiếp tâm được nhưng mà tới cái lúc ăn uống thì mình đói bụng nên nhiều khi mình quên luôn. Mình bị cái dục nó lôi cho mình ăn thật là nhiều, thật là no, thật là ngon cho mau đi xuống. A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Quý sư cô chia sẻ lúc người ta lạy cúng dường thì lúc đó mình thực tập như thế nào? Cái này rất quan trọng, rất là thực tế, cần thiết.
Sư cô 1: Dạ mô Phật, kính bạch trên giáo thọ sư cùng toàn thể đại chúng, lúc con còn ở chùa với thầy thì thường Phật tử cho tiền và Tết thì con sẽ lên trình với thầy con, nhưng mỗi lần con trình thì thầy chỉ nhắc nhở con là xài cái tiền đó sao cho đừng để mang lông đội sừng. Những lúc đầu con nghe thấy rất là nặng nề, mình cũng tu, mình cũng công quả nhưng sao thầy lại nói những lời nặng như vậy nhưng mà những lời thầy con dạy như vậy thì hôm nay con mới hiểu được.
Thường ở chùa những cái tiền Tết này kia thì con sẽ trình với sư phụ, thường thì con sẽ nói là bây giờ con cũng còn ở chùa chưa có sinh hoạt hay là cái gì hết, người ta gieo duyên với con nhưng mà con nghĩ là cái phước của con chưa đủ để thọ hết những cái số tiền này thì con sẽ cúng dường hết vô tam bảo. Thay vì họ cúng tam bảo thì con gieo duyên lại, con cúng lại, thì họ cũng có phước mà con cũng có phước một phần nào. Sau này con đi học thì những số tiền người ta cúng cho con, quan niệm của con là nếu mà người quen thì con sẽ nhận số tiền đó nhưng con không dám xài hết cái số tiền đó, con nói là chị hay là anh gì cúng cho em số tiền đó thì em cúng dường lại tam bảo, hoặc là mua cái gì đó cúng vô tam bảo đi, anh chị cũng có phước mà em cũng có một phần là phước. Em nghĩ cái phước của em cũng chưa có đủ để lãnh hết cái số tiền này, thôi thì em chia ra em một phần có phước, chị cũng có một phần thì hai bên sẽ cùng có phước chứ em xài hết số tiền này thì cái phước của em tu không đủ để trả lại số tiền mà em nhận của anh chị.
Thường hành động của con là như vậy, nếu như là người lạ hay là con không biết đó là ai thì con cũng y như đó giờ. Con chia ra, cái nào mình cần thì mình lấy hoặc không chia bảy-ba, con nhận ba phần, phần còn lại con cúng vô tam bảo. Tâm con nghĩ là nếu mình xài hết cái số tiền này có đủ để mình trả nợ cho người ta hay không, thì thôi mình xài một phần, còn một phần mình gieo duyên lại thì nếu có mắc nợ thì cái sự tu của mình cũng một phần nào để trả lại cho người ta. Con nghĩ là như vậy.
Sư Phụ: Cái đó là tốt nhưng ở đây trong cái lúc mà mình thọ nhận sự đảnh lễ cúng dường, cụ thể là buổi lễ trai Tăng thì lúc đó sư cô vận dụng cái tâm mình như thế nào?
Sư cô 1: Dạ cái đầu tiên là con đọc bài kệ trong cái Tù Ni, tài pháp nhị thí. Thứ hai con sẽ hồi hướng, sự tu tập của mình được bao nhiêu thì người ta cầu an hay là cầu siêu thì con xin hồi hướng, có bao nhiêu cái sự tu tập của mình thì mình xin hồi hướng để mình đền trả cái ơn mà họ đã cúng cho mình để mình có một cái phương tiện mình tu, mình học chứ không có dám để cái tâm dáo dác, hoặc là nói chuyện, hay là một cái gì đó buông lung ở trong đó.
Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên thầy giáo thọ cùng toàn thể quý thầy cô, đối với tự thân con khi ngồi trong buổi lễ trai Tăng thì thường thường con sẽ khởi lên cái tâm cảm thấy mình rất là nhỏ bé và mình chưa có đủ đức trọng, hay là sự tu tập mình còn rất là non, vì thế để được cúng dường như vậy thì họ đã chắt chiu từng đồng bằng mồ hôi nước mắt của họ. Mình chỉ có việc tu và học là chính thôi, mình không có là ra tiền cho nên khi thọ nhận người ta cúng dường như vậy thì trước hết là con sẽ hồi hướng công đức cúng dường của những vị cúng cho mình cho đến tất cả mọi loài chúng sanh, ai cũng đầy đủ cơm ăn và áo mặc là cái thứ nhất. Thứ hai là hồi hướng công đức về cho những vị đang cúng dường cho mình có sức khỏe và biết hướng về Phật để tu tập, sau đó con sẽ tự hướng vào mình sẽ nỗ lực tu tập nhiều hơn để xứng đáng để với sự cúng dường của Đàn-na.
Qua đây là con cũng xin chia sẻ về một vị thầy cũng như là người thầy sư huynh của con. Hồi xưa khi con chưa đi xuất gia thì vị thầy đó hướng dẫn cho con đường để con đi tu ở nơi nào, và để con đi trọn con đường của mình. Vị thầy đó đến bây giờ thì nói chung giống như thiện tri thức của con cũng được từ 2008 đến giờ cũng là 15 năm rồi. Khi thầy biết con đi học giảng sư thì thầy có nói với con là thôi cố gắng học đi, rồi khi nào rảnh có thời gian mà thầy có tổ chức khóa tu một ngày, có nghĩa là thầy muốn tạo cơ hội cho con để con về dùng những kiến thức của mình mới học sơ cơ để mình có thể chia sẻ với khóa tu ở chùa thầy. Thường thường thì khóa tu niệm Phật một ngày ở chùa thầy thì đa phần thầy mời những vị thầy ở trong tỉnh của thầy, hoặc là thầy là người chia sẻ pháp.
III. Chánh quán khi nhận cúng dường
Sư Phụ: Nói cái vấn đề mình đang nói thôi, không có đi xa nó lạc đề. Khi mình nhận cúng dường lúc đó vận dụng tâm như thế nào, an trú tâm như thế nào, bao nhiêu đó thôi, nếu hết rồi là thôi chứ không nói cái khác, nó lạc đề. Cái này cũng là cái cách để mình chia sẻ pháp, rất là quan trọng, mình chỉ nói cái quan trọng trong cái quan trọng, mình chỉ nói cái hồng tâm và tùy thời điểm mình nói. Chỗ này là chỗ quan trọng trong nghệ thuật diễn giảng, người ta hỏi câu nào đáp ngay cái câu đó nếu đó là câu hỏi đáp, cái này rất quan trọng cần để ý.
Trong sự thực tập của chúng ta như vậy cũng là tốt ở trong cái tương đối thôi, chưa có đủ cái sức của tuệ quán trong sự nhận cúng dường, tạm thời chúng ta sẽ có mấy cái phương diện để quán chiếu, mấy cái này là pháp hành, chúng ta để ý nhớ thật kỹ, ghi chép. Cái đầu tiên là khi người ta chấp tay xá mình thì mình phải xá lại, cái này là cái phép lịch sự rất là bình thường nhưng có khi mình tu lâu rồi thì mình lại xem thường. Khi một người Phật tử chắp tay xá mình mà mình dửng dưng thì như vậy phép lịch sự đã không có, không có sự khiêm cung, khiêm tốn trong sự tu. Thậm chí họ xá mình thì mình xá họ lại còn sâu hơn, đó cũng là một cách khiêm cung của mình, một cách đáp lễ của mình, cũng là cách chuyển tải cái pháp khiêm hạ, khiêm cung, cung kính đến người khác.
Chỗ này là cái chỗ chúng ta phải để ý, nó rất là căn bản nhưng con ở trong chùa lâu năm và con thấy cái căn bản này bỏ qua rất nhiều. Lúc còn mới, lúc còn chú tiểu, lúc còn mới thọ giới Sa-di này kia thì người ta xá mình là mình xá lại, nhưng ở lâu rồi, tu lâu trong chùa rồi người ta xá là mình trơ trơ, giống như mình vô cảm đối với sự cung kính của người ta. Đây là chỗ này mình phải để ý, khi người ta xá mình thì mình phải đáp lại, thậm chí là cái lễ của mình đáp lại còn nhiều hơn cái xá của người ta, làm được cái này đó là cái bước rất là căn bản, tùy cái trường hợp nhưng thường là như vậy. Tiếp theo là mình nhận bất cứ một cái gì, một món quà gì, hay là cái sự cúng dường trai Tăng thì cái dễ quán chiếu nhất là món đồ này là mồ hôi nước mắt và máu, người ta không dám ăn, không dám xài, người ta dành dụm, người ta tích lũy, người ta dâng cúng lên bằng một cái tâm cung kính.
Không chỉ là người ta cho mà người ta dùng cái từ "cúng", cái từ "cúng" khác với cái từ "cho" thành ra người ăn xin đi ăn xin thì họ đúng là một người ăn xin, được người ta cho, còn ở đây mình là người tu được người ta cúng và người ta bằng một cái tâm cung kính hy vọng rằng những món đồ cúng này sẽ đem lại nhiều phước báo, nhiều lợi ích, nhiều hạnh phúc cho người ta. Phải nhớ kỹ cái sự cung kính này có lòng tin trong đó, nó có sự hy vọng trong đó, mong chờ, chờ đợi kết quả trong đó cho nên ở đây cái điểm tiếp theo mà chúng ta cần suy xét là mồ hôi, nước mắt và máu ở trong cái phần quà đó, những cái đồng tiền đó. Mình phải đặt mình vô thì lúc đó mình quán chiếu những người chạy xe ôm, những người thức trắng đêm ở trong lò bánh mì, những người khuân vác, những người đi làm thuê làm mướn, những hình ảnh của những người phải hiện ra trong tâm của mình mới có những cái đồng tiền này, có những cái bát gạo này, có những cái món đồ này.
Mình liên tưởng đến những cảnh nghèo khổ, bần cùng, khó khăn mà người ta dành dụm, người ta tích lũy, người ta cất chứa để người ta dâng lên trong một sự cung kính và cái niềm tin, hy vọng. Ở đây con nói khái quát thôi, chúng ta triển khai cho nó sâu sắc hơn nhiều khía cạnh. Tiếp theo là nhìn lại coi cái tự thân mình có đủ đức hạnh, có đủ đạo đức, giới đức, đức hạnh, đạo hạnh để cho người ta hành đại lễ như vậy không chứ đâu phải lúc đó người ta lạy mà mình trơ trơ như vậy, thậm chí mình còn nói chuyện, buông lung phóng dật nữa thì cái này nguy hiểm lắm, khủng khiếp lắm. Mình soi lại bản thân coi mình có xứng đáng không, mình có đầy đủ giới đức, có đầy đủ đức hạnh, có đầy đủ đạo đức, công đức, phước đức, trí đức, tuệ đức của mình có đầy đủ không, giới - định - tuệ của mình có đầy đủ không để cho một bà cụ đáng tuổi bà, đáng tuổi ông, bà nội, bà ngoại, đáng cha, đáng mẹ, đáng cô, đáng chú quỳ lạy mình như vậy. Nếu thấy mình không đủ thì lập tức mình sanh khởi lên sự tàm quý, tức là xấu hổ, nhục nhã và lo lắng, sợ hãi, hai cái pháp này rất quan trọng quyết định sự tu học của mình, nếu người tu không có hai cái pháp này thì người này không có tăng thượng ở trong sự tu tập được.
Tàm quý phải có mặt, tức là sự xấu hổ, nhục nhã, sợ hãi, lo lắng phải được sanh khởi trong cái lúc mình tự xét lại mình. Thậm chí là cái lúc xấu hổ, sợ hãi, nhục nhã, lắng đó thì những hình bóng mà mình gây những điều ác bất thiện pháp nó hiện khởi lên, mình đã sống như vậy đó, mình làm vậy đó thì mình có xứng đáng nhận như vậy không. Ngay lúc đó mình mở phiên tòa xử nó tại chỗ ngồi đó, mình phán quyết, quan tòa xử ngay cái chỗ trai đường đó, mình làm cho mình ray rứt, làm cho mình đau nhức, làm cho mình nhức nhói, "ngươi nhìn lại bản thân ngươi xứng đáng hay là không, có xấu hổ không, có nhục nhã không, có lo lắng không, có sợ hãi không".
Hồi nãy cô sư cô nói được sư phụ nhắc nhở rất là tốt, mang lông đội sừng, đó là cái câu thường ở trong chư tổ nhắc mình, những cái này là mang lông đội sừng để đền trả. Lúc đó mình mở phiên tòa xét xử lương tâm mình ngay tại chỗ trai đường đó, thì pháp tàm quý sanh khởi, xấu hổ, sợ hãi nó sanh khởi và mỗi một lần cái cảm thọ đó sanh khởi nhiều thì nó sẽ lớn mạnh lên, nó làm cho mình tăng thượng lên, tức là mình sẽ khắc phục những cái sai quấy đó, những cái lỗi lầm đó, những cái cấu uế đó. Cứ mỗi một lần mình sanh khởi lên được thọ; tưởng; hành như vậy, cái suy nghĩ như vậy, cái cảm giác như vậy, cái hình bóng như vậy là mỗi một lần thiện pháp ở trong con người mình lớn mạnh lên, ác và bất thiện pháp nó bị giảm thỉu xuống, nó đoạn giảm và mình hứa với mình ngay tại chỗ đó mình sẽ phải đổi mới, mình phải thay đổi mình, phải làm mới mình, không thể như vậy được khi mình nhận những cái đại lễ như vậy.
Cái này chúng ta thấy có thể làm được không? Mình nỗ lực lên là mình làm được, rất dễ có gì đâu khó, ngay tại chỗ đó là mình quán chiếu, cho nên lúc đó là lúc mình triển khai thiền quán, mình quán chiếu, mình nghiền ngẫm, mình tư duy, chiêm nghiệm, quán xét, mình xét xử chính mình, mở phiên tòa xử án lương tâm, tòa án lương tâm ngay tại chỗ đó, hoặc là trảm thủ hoặc là bắn nó luôn, tử hình nó luôn ngay tại chỗ đó, tử hình cái tâm tham, sân, si, dục ái thấp hèn, bẩn thỉu, tử hình cái tâm đó ngay tại chỗ đó. Mình mở phiên tòa xét xử nó, một là cẩu đầu đao, hổ đầu đao, không thôi là long đầu đao, xử bắn nó, đánh ngã, đánh gục, đánh sập những cái tâm vô minh, dục ái, bản ngã tồi tệ, thấp hèn, hạ liệt, cấu nhiễm ngay cái chỗ trai đường đó.
Mình xử nó, mình lôi nó ra hết những cái hình bóng đó "đời sống của ngươi như vậy nè, xấu hổ không, nhục nhã không, người ta quỳ lạy như vậy mà nếu mà người ta biết ngươi sống như vậy thì ngươi có xứng đáng không, người ta có quỳ lạy ngươi không. Nếu những cái xấu, những cái dở, những cái tội, những cái ác bất thiện pháp mi mà người ta phát giác, phát hiện, người ta nhìn thấy hết như vậy đó thì người ta có quỳ lạy ngươi không? Nếu như ngươi còn những cái tâm cấu nhiễm, xấu ác, bẩn thỉu, hạ liệt như vậy mà ngươi đội cái lớp người tu là ngươi đang lừa đảo người ta". Một người ăn xin người ta biết rõ ràng đây là người ăn xin thì người ta cho là đúng, mình là một người tu mà mình không tu, mình lừa người ta để mình nhận sự cúng dường thì như vậy là đại lừa đảo rồi.
Mình quán tới đó là trong tâm ray rứt, nó nhức nhói, nó đau đớn, nó đau xót, nó nhói cái tim, nó đau cái tim, mình tu không được thì mình hoàn tục, còn không mình phải tu đúng nghĩa của một người tu. Mình phải làm mới, làm sạch, làm đẹp chính mình, chúng ta thấy nếu mình tu như vậy trong một thời cúng trai Tăng như vậy thì mỗi một lần trai Tăng là mỗi một lần thiện pháp của mình tăng trưởng, ác pháp được giảm thiểu, tàm quý càng ngày càng lớn mạnh. Nhưng chưa dừng lại ở đó, tới đây mới là cái tối hậu chiêu, đây là bí kiếp để cho chúng ta quán chiếu, nãy giờ đó là những cái dễ làm, có thể làm được trong cái tương đối để cho mình hành trì. Bây giờ tới cái pháp sâu sắc là phá cái ngã, diệt cái ngã, lúc người ta lạy xuống đó thì mình phải biết rằng đó là đang lạy Phật, lạy pháp, lạy Tăng, không phải lạy mình. Mình mừng cho người ta vì người ta tôn kính pháp, tôn kính Đức Thế Tôn và tôn kính chúng Tăng, không phải lạy mình, không có lễ mình, không có cái mình nào đây hết.
IV. Thân hành niệm
Đó là đang lạy Tam Bảo, đang lạy pháp, đang đảnh lễ pháp, đang cúng dường pháp, đang tôn trọng pháp. Bây giờ quay lại xử cái mình, xử cái ta của mình, mình mới quán sâu vào "đang lạy cái gì đây, đây là một cái lớp vải, sâu trong cái lớp vải này là một lớp, vào trong cái lớp da này là mỡ, là thịt, là máu. Sâu vào bên trong cái lớp mỡ, thịt, máu đó là một bộ xương, từ cái đầu sọ cho đến cái xương sườn, xương mông, xương chân, xương tai. Bên trong bộ xương này là phèo, phổi, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, tim, gan, tỳ phế thận trong này. Ai ở trong này? Không có ai trong đây hết, không có ai ở trong này hết, chỉ là một cái đống nhơ nhớp, bất tịnh, phèo, phổi, ruột, gan, máu, huyết, phân, nước tiểu, đàm giải, mủ, xương da".
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chỉ có tanh hôi với hôi tanh
Máu mủ bầy nhầy phân nước tiểu
Nhìn kỹ bên trong chẳng có ai.
Chỉ có máu mủ bầy nhầy, phân, nước tiểu, nhìn kỹ bên trong chẳng có ai. Mình phải thuộc những cái bài tác ý thiền quán như vậy, mình đọc cái bài đó lên, lúc đầu cái tâm mình sẽ khó chịu nhưng mình đọc từ từ, mình nhiếp phục cái khó chịu đó rồi lần lần nó sẽ thể nhập cái trí tuệ đó. Đó là cái trí tuệ phá ngã, diệt ngã, vô ngã, đánh gục cái bản ngã ngay tại cái trai đường đó, ngay tại cái chỗ mà người ta đảnh lễ, người ta cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngay chỗ đó mình đập vỡ cái bản ngã của mình. Không có lấy gì làm vinh hạnh khi người ta cúi lạy, không có tôi nào ở đây, mình thấy có tôi, có ta, có cái ngã thì là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Mình quở trách cái tâm như vậy cho nên mình phải đào sâu vô trong cái trí tuệ đó để thấy được bộ xương, để thấy được một cái thây phình trương, để thấy được một cái đống giòi ăn, để thấy được một cái đống tro tàn ngay đây chứ không có một con người ngồi đây. Một cái nùi giẻ rách, một cái kẻ ăn mày, một cái bộ xương, một nắm tro tàn, đây là những cái phép quán cực kỳ quan trọng mà tôn giả tướng quân chánh pháp Sariputta Xá-lợi-phất tu tập, phải an trú những cái pháp quán đó thường xuyên, bất cứ lúc nào có thể nhớ được. Đây là bộ xương, là cái nùi giẻ rách, là cái đống tro tàn, là cái kẻ ăn mày chứ không có một cái tôi ở đây để nhận cái lễ, cho nó tan biến hoàn toàn có ý nghĩ về cái tôi ngay tại chỗ đó luôn, diệt tận ý nghĩ về cái tôi ngay đó luôn, cái hình bóng của tôi tan biến thành một nắm cho tàn luôn, thành một bộ xương luôn.
Đây là cái lớp vải, ở trong cái lớp vải này là lớp da, ở trong cái lớp da này là xương, ở trong xương là phèo, phổi, gan, ruột, máu, mủ, cứt, đái, không có cái tôi nào trong đây hết. Người ta đang lạy chánh pháp, cung kính pháp, tôn trọng pháp, đảnh lễ pháp, cúng dường pháp và khi mình được lạy mình phải tác ý như vậy thường xuyên và liên tục để sau này trở thành một thói quen. Mình vui mừng khi người ta biết cung kính, đảnh lễ, tôn trọng, cúng dường pháp, cái này rất là quan trọng cần thực tập thường xuyên thì ngay chỗ trai đường đó mình có thể thể nhập được vô ngã trí. Ngay khi người ta hành lễ mình có thể thể nhập vào cái trí tuệ trống rỗng, trống không, trống trơn, không có ta, không có tôi, mà cái này là phải thực tập thường xuyên, nhiều lúc trong bình thường thì lúc người ta lễ mình mới triển khai thiền quán được, còn bằng không lúc người ta lạy là mình thấy mình ngon, mình thấy mình được lạy, mình được cung kính.
Mình thấy vậy là chết rồi, không thể nào mà cái ngã được nhiếp phục, chế ngự và đi đến đoạn tận được hết. Thành ra cái phương pháp này phải thực tập cho thuần thục, nhuần nhuyễn, điêu luyện, sâu sắc, thâm hậu và nó thể trong cái vô ngã thánh trí này, đó gọi là vô ngã thánh trí, trí tuệ không ta của bậc thánh, cái thánh trí thấy được sự trống rỗng, trống không của tứ đại, của ngũ uẩn, của thân tâm này, của hình hài, thể xác này. Mình giải phá, nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch, diệt tận cái tôi ngay chỗ đó, mình cứ làm hoài, làm nhiều, làm thường như vậy thì lần lần tự nhiên bản ngã của mình sẽ được an tịnh, lắng dịu xuống, nhiều khi người ta hành xử với mình, người ta khinh khi, huỷ nhục mình thì đâu thấy có mình đâu, đây là cái nùi giẻ, cái bộ xương, cái đống tro, "mày là kẻ ăn mày thì người ta nói mày vậy là trúng rồi", mà cái ăn mày đó là còn có một con người, cái này thực tập từ từ mới đi tới cái chỗ không có ai hết.
Vì thế mình phải thực tập từ từ cho tuần tự, mình phải thường nhắc mình nhớ "mày là cái thằng ăn mày, mày là kẻ ăn xin", đây là pháp tu của ngài Xá-lợi-phất, chúng ta về coi kỹ bài Sau khi ăn cư, bài kinh đó là siêu khủng, chín pháp an trú tâm của tôn giả Xá-lợi-phất mà Minh Thành có chia sẻ tám-chín buổi về bài kinh đó, chúng ta về tìm nghe chín pháp an trú tâm của tôn giả Xá-lợi-phất. Mình phải nhớ mình ăn mày, mình không nhớ ăn mày là cái bản ngã kênh kiệu lắm, nó phát triển lắm, người ta đáng bà nội, bà ngoại mình, đáng cha, đáng mẹ mình vậy mà kêu con ngọt sớt à, "con… con…lại thầy nói cho nghe con". Như vậy là nguy hiểm lắm, rất nguy hiểm, rất là nguy hiểm, đúng ra mình càng tu thì cái ngã mình càng nhiếp phục, càng chế ngự, càng được nhìn thấy, càng được thấy, được biết, được giảm, rồi đoạn, rồi tận, đi đến tẩy sạch hoàn toàn mới đúng.
Vì mình tu không nắm được cái chánh pháp cho nên mới làm cho mình đi một con đường khác, nó làm cho tăng trưởng, phát triển, ngấm ngầm lớn mạnh một cái ảo tưởng về tự ngã trong thân tâm của mình. Cho nên chúng ta cố gắng thực hành, cái pháp đó rất quan trọng, phải thực tập từ từ đi rồi sẽ quen, nhắc nhớ thường xuyên và liên tục. Mình thường an trú tâm những cái pháp đó, có ai chê, ai chửi mình, nói nặng nói nhẹ mình, tâm mình có thể nhiếp phục được, an tịnh, lắng dịu được, có thể chịu được tại vì bình thường mình đã nhắc đâu có mình, đâu có cái tôi, đây chỉ là một cái đống khổ, đây chỉ là một cái đống máu mủ bầy nhầy, gan ruột bẩn thỉu, nhơ nhớp, bất tịnh, đây chỉ là một cái đống tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, không có một con người. Tất cả không có một con người nào hết, chỉ là những cái đóng khổ tham, sân, si, bản ngã, dục ái vận hành, hoạt động ngày đêm không ngừng nghỉ, không có ai trong đây, không có một tự ngã, không có một cái ta, không có một cái tôi, không có một cái tự ngã nào hết, chỉ là một cái đống khổ đang vận hành.
"Chỉ có khổ được sanh,
Khổ tồn tại, khổ diệt,
Ngoài khổ, không gì sanh,
Ngoài khổ không gì diệt." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỷ Kheo Ni, X. Vajirà)
Đó là bài kệ chứng đạo của một thánh Tỳ-kheo Ni A-la-hán, khi mình được sanh ra đồng nghĩa với khổ được sanh, khi mình còn sống là đồng nghĩa với khổ tồn tại và khi mình chết đi mình tưởng đâu khổ diệt là không có, tiếp tục tìm những cái đống khổ mới. Khổ diệt là chỉ cho các bậc thánh A-la-hán, các bậc đã đoạn tận tất cả những cái cấu uế của tâm dục ái, vô minh, bản ngã, si mê thì đó gọi là khổ diệt, còn mình tưởng mình sanh ra là khổ rồi, mình còn sống là khổ tồn tại, rồi mình nhắm mắt khổ chưa có diệt mà đi tìm một cái đống khổ mới, cũng có thể là những cái thân súc sanh giòi, chuột, chó, heo, gà, vịt, bò, trâu, cũng có thể là những cái thân cô hồn vất vơ vất vưởng đói khát, ngạ quỷ, cũng có thể là những cái thân kêu gào thảm thiết không lúc nào ngơi nghỉ ở trong địa ngục, cũng có thể là những cái thân của A-tu-la, vị hung thần dữ tợn, sân si, oai lực mạnh mẽ cũng có thể là những cái thân của chư thiên nhưng mà tất cả thân bằng cái thánh tri kiến đều nhìn thấy đó là cái đóng khổ hết, dầu cho bất cứ là thân nào.
Ông vua có cái nỗi khổ của ông vua không hay là ông vua sướng tuyệt đối một trăm phần trăm? Kẻ ăn mày có cái khổ của kẻ ăn mày, nguyên thủ có khổ của nguyên thủ, thánh nữ của Phật giáo, thánh ngữ của bậc A-la-hán, một cái câu nói đó mà rúng động cả địa cầu, không thể nào kẻ phàm phu có thể nói được cái câu mà cũng không hiểu được cái câu đó.
"Này các Tỳ-kheo, sự sanh, sự trú, sự thành, sự xuất hiện của mắt là sự sanh của khổ, sự trú của bệnh hoạn, sự xuất hiện của già chết.
Sự sanh, sự trú, sự thành, sự xuất hiện của tai... của mũi... của lưỡi... của thân... của ý là sự sanh của khổ, sự trú của bệnh hoạn, sự xuất hiện của già chết.
Sự diệt, sự lắng dịu, sự chấm dứt của sắc là sự diệt của khổ, sự lắng dịu của bệnh hoạn, sự chấm dứt của già chết.
Sự diệt, sự lắng dịu, sự chấm dứt của tai... của mũi... của lưỡi... của thân... của ý là sự diệt của khổ, sự lắng dịu của bệnh hoạn, sự chấm dứt của già chết." (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương V. Tương Ưng Sanh, I. Mắt)
Chúng ta nghĩ một cái tấm thân này có bao nhiêu thứ bệnh? Ngồi đây mặt mày cũng sáng sủa mà khám ra thì biết bao bệnh, tại sao phải chui vô cái nhà kín trong kia, nó chứa những cái thứ mà khi mà nó tràn ra ngoài thì xấu hổ, nhục nhã, độn thổ, nhưng lúc nào cũng hất cái mặt lên, cũng ưỡn cái ngực lên, cũng là vỗ ngực xưng tên ta đây là ngon lành, là đẹp trai, đẹp gái, là số một.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Thế mà vỗ ngực nói ta đây
Như một bao rác đầy hôi thối
Lại vỗ vào bao nói ta tôi.
Cái thân này đó giống như một cái bao rác đầy hôi thúi, vỗ vô cái bao rác đó phình phịch rồi hỏi biết tôi là ai không, làm khổ với nhau. Một cái bao rác hai đầu nó trống, cứ dồn vô hoài, dồn ổ trên bao nhiêu thì phía dưới tuột xuống bấy nhiêu, đồ trên này vào thì thơm ngon, bổ dưỡng, mà đưa xuống dưới đi ra thì bịt lỗ mũi trong âm thầm, lặng lẽ, giấu kín thiệt kỹ và tống khứ nó ngay lập tức, bấm nút cho nó chạy liền, xấu hổ và nhục nhã khi nó trào ra những cái thứ đó. Có người đó cũng là diễn viên điện ảnh, minh tinh nổi tiếng lên nhảy sung sức rồi nó tè ra, chạy không kịp thở luôn, muốn đội quần, độn thổ luôn. Bởi vì ở bên trong này là nó dơ nhưng mà vì cái tâm mê, cái tâm vô minh lúc nào cũng nói là sạch, là thơm, là đẹp nên nó khoái, nó thèm, nó khát, nó khao, nó giục, nó ái.
Chỉ có bấy nhiêu đó mà học hoài, học tới chết mà vẫn không thể nhập được, thể nhập được là thành thánh nhân rồi, học hoài, giảng hoài, kinh Phật nói hoài mà nhìn cũng thấy đẹp, cũng thấy sạch, cũng thấy hấp dẫn, cũng thèm khát, khao khát, khát ái, thèm thuồng, nó đau khổ hoài cho đến khi nào thật sự nó thấy là một cái đống nhơ nhớp, bẩn thỉu, giục lẹ, quăng mau, nhanh lên thì lúc đó chấm dứt luân hồi sanh tử.
Ai nhàm, ai chán nhìn thân xác,
Phiền não khổ đau, sẽ cạn dần.
Ai nhàm, ai chán nhìn thân xác,
Tử thần sẽ nản chí, buông tay.
Ai cười, ai thích nhìn thân xác,
Thì khổ mất thân sẽ dài dài.
Ai nhàm, ai chán nhìn thân xác,
Các cõi luân hồi chấm dứt ngay
(Nghi Thức Tu Học Nikāya)
Cái mê của mình là siêu khủng lắm, thâm căn cố đế, tường đồng vách sắt, trời gầm không nhả, cái tâm mê, cái tâm si, cái tâm vô minh, khát ái khủng khiếp lắm. Mình tác ý, mình dạy cho nó trăm ngàn vạn lần còn chưa thấy gì chứ nghe phớt phớt xong rồi đi về, mới bước ra khỏi cửa nó rớt hết trí tuệ bắp vế, để bánh, để kẹo lên bắp đùi rồi đứng lên rớt xuống hết, Đức Phật kêu bằng trí tuệ bắp vế, học thì cũng hiểu vậy đó, rồi xong trở ra cũng sống với tập khí, vô minh, dục ái, sân si, bản ngã, không có an trú được ở trong cái trí tuệ của Đức Phật.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người với trí tuệ bắp vế? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá). Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu, có tác ý đến đoạn giữa, có tác ý đến đoạn cuối. Nhưng khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng dậy, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỳ-kheo, trên bắp vế của một người, các loại đồ ăn được chồng lên như hạt mè, hột gạo, các loại kẹo và trái táo. Khi từ chỗ ngồi đứng dậy, vì vô ý, người ấy làm đổ vãi tất cả. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn ... Người ấy, tại chỗ ngồi ấy ... có tác ý đoạn cuối. Nhưng khi người ấy tại chỗ ngồi ấy đứng dậy ... không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ bắp vế." (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, III. Phẩm Người, Lộn Ngược)
Cho nên muốn an trú được trí tuệ của Đức Phật thì phải như lý tác ý, mình đang học cái hành uẩn đây là cái sự tác động tâm ý đúng như chân lý, nhắc nhở tâm, tác ý, huấn luyện tâm, giáo dục tâm, dạy dỗ tâm, dẫn dắt tâm, rèn luyện tâm, quản giáo tâm, ngồi thiền rồi giải phẫu, mổ ra, nhìn vô bên trong để thấy một sự thật phũ phàng, một sự thật vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã, nó bẩn thỉu, nó tanh hôi, nó nhục nhã, nó xấu hổ, nó tồi bạc, ác độc, nó khổ nạn, nó hoạn nạn, nó ách nạn, nó tai nạn, nó hiểm nạn, nó khốn nạn như vậy mà mình không thấy. Mình học bao nhiêu rồi mình cũng không thấy cho nên cái thiền quán là quán cho thâm sâu vô, những cái lời này là thánh trí tuệ trong Tương Ưng Bộ nhưng con dùng từ tiếng việt cho chúng ta dễ hiểu.
Khi nghe những lời này phải cho thấm thía, cho đau nhức, nhức nhối, tê tái, chạnh lòng, xót xa về một cái sự thật mà tại sao mà mình cứ si mê hoài vậy, cái sự thật rõ ràng vậy mà sao mình không thấy, nó ở trong con người của mình chứ đâu phải nó ở ngoài đâu, mình học hoài mà sao mình cũng không sống được với sự thật. Giảng pháp là phải giảng như vậy, không có lên ru ngủ người ta, lên nói chuyện chọc cười cho người ta, như vậy là mình làm nhiễu loạn chánh pháp, chánh pháp sẽ đi đến diệt vong. Phải nói đúng chánh pháp, ai nghe thì nghe, không nghe thì thôi, không có phải đi bán thuốc tể, bán sơn đông mãi võ, không cần số lượng đông mà phải nói cho đúng chánh pháp của Đức Phật, còn bằng không mình chính là sư tử trùng, thực sư tử nhục, con giòi ở trong thân sư tử nó ăn thịt con sư tử, làm cho chánh pháp diệt vong, nhiễu loạn.
Bây giờ chúng ta thấy không, cứ lấy số đồng cho nhiều người, nói cái gì, không có đúng chánh pháp, lần lần cái hình ảnh Tăng Ni của mình, những cái những cái pháp tòa, những cái pháp y, những cái pháp bảo trở thành không còn giá trị trên cuộc đời này nữa nếu mình không nói đúng Chánh Pháp, mình không đưa chúng sanh đến sự nhiếp phục để nhìn thấy được tham, sân, si, không chỉ cho họ cách nhiếp phục, chế ngự thì làm sao đi đến đoạn tận, giải thoát tham, sân, si. Bản thân mình không thấy thì làm sao giúp cho người ta thấy? Bản thân mình không nhiếp phục, chế ngự được thì làm sao giúp cho người ta nhiếp phục, chế ngự được? Bản thân mình không diệt tận, tẩy sạch được thì làm sao mình giúp cho người ta nhiếp phục, tẩy sạch, đoạn tận được?
Cho nên học về kinh tạng Nikāya để chúng ta thấy được lời dạy nguyên chất, thâm sâu, vi diệu siêu thế tối thượng của Đức Phật, đó là lý do tại sao con quay trở về kinh tạng Nikāya là vậy. Đi cầu pháp khắp hành tinh cuối cùng là quay trở về kinh tạng Nikāya, những lời dạy nguyên chất của Đức Phật, cội gốc của Đức Phật, gốc rễ của Đức Phật và cần phải được nghe, được tụng, được đọc, được học, được thuộc lòng, được truyền bá rộng rãi và nhất là người tu của mình mà không có đọc kinh Nikāya thì uổng một đời tu. Chẳng những đọc mà phải học thuộc lòng, chẳng những học thuộc lòng mà còn phải thực hành, chẳng những thực hành mà thực hành sâu sắc và thực hành thể nhập những sự thật đó, chứng nhập những cái sự thật đó, chứng ngộ những sự thật đó, chứng đạt những sự thật đó. Đó là những lời Đức Phật dạy trong kinh, cho nên với một sự tu học nghiêm túc, nghiêm khắc, sâu sắc sẽ có được nhiều lợi ích lớn, đó mới mà là tự lợi lợi tha, tự giác giác tha, tự độ độ tha, mới đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư thiên và loài người, vì lợi ích cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người thì Thế Tôn mới tuyên thuyết thánh pháp, thánh trí huệ này để cho chúng ta học và chúng ta thực hành để chúng ta trải nghiệm, chứng nghiệm, chứng đắc, chứng đạt, chứng ngộ và mình mới có thể giúp đỡ được mọi người.
Cho nên phải dùng cái suy tư, cái suy nghĩ đó để tu, tu bằng cái suy nghĩ chứ không phải ngồi thiền là cứ ngồi im ru. Ngay chỗ trai đường đó là chúng ta làm một cuộc đại phẫu thuật, một cuộc nội soi sâu sắc về tự thân của mình ngay chỗ đó. Bữa nay chúng ta tu ngay trên trai đường, ngay đó là ngồi thiền chứ không phải đợi ngồi im ru mới thiền, ngay chỗ trai đường đó mình mổ sẻ hết tất cả những khía cạnh, góc độ của thân tâm này, của sự cúng dường đó và của cái đời tu chúng ta ngay tại đó. Mở phiên tòa xử án, xét xử cái tâm của chính mình ngay tại chỗ đó.
Sư thầy 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con đảnh lễ giáo thọ cùng đại chúng, con có câu hỏi là khi mình đứng trước trai đường được cúng dường như vậy, khi mình khởi niệm xấu hổ về bản thân, về những cái hạnh xấu ác ở quá khứ, nó sẽ hiện lên khi mình quán chiếu như vậy thì lúc bấy giờ mình có thể sám hối hay là mình đọc "Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp, Giai do vô thỉ tham sân si" không thưa thầy? Khi mình khởi niệm như thế thì các ác nghiệp đời trước có thể tiêu không thưa thầy?
Sư Phụ: Mình khởi lên những cái ý niệm xấu hổ để mình thấy sai, để mình sửa là cái đó là tốt, là thiện pháp. Nhưng mà không phải khởi lên đó là nghiệp tiêu được, nó chỉ là cái sự khởi đầu của sự làm mới, làm sạch, mà cái đó là nó cần, làm cái gì cũng phải có sự khởi đầu hết. Thay vì một cái tâm của mình là một cái tâm nó đi xuống thì bây giờ khi mình thấy cái lỗi lầm, cái nguy hiểm, cái tác hại, nó rơi xuống vực thì mình thắng nó lại, là một bước rồi mình mới xoay đầu chuyển não, tức là mình bẻ lái lại, mình không có đi cho nó xuống cái vực nữa, mình bẻ qua một cái lái khác để mình đi chạy trở lên. Như vậy cái sự nhìn lại mình thấy lỗi lầm, nhận lỗi để chịu khắc phục, để sửa lỗi là một quá trình tu tập rất là quan trọng.
Thường thường mình làm lỗi, người ta chỉ lỗi là mình bản ng,ã mình sân si lên, chẳng hạn như lớp chúng ta cũng là rất là ngoan hiền, hiền thiện thì con mới cho học sâu sắc như vậy, chứ còn những cái lớp mà vô mình nói sâu là nhiều khi là ở dưới là chống đối, khó chịu, mặt mày biểu hiện ra liền. Lớp chúng ta con còn duy trì ở đây là vì chúng ta còn chịu nghe, chịu thực tập, đến lúc không nghe nữa thì con cũng nghỉ, con không có chia sẻ nữa tại vì cái pháp này không phải là cái pháp phổ thông chung chung như bây giờ, v cái pháp này nó trực chỉ, trực diện, trực tiếp, trực tâm, trực hạnh mới học được cái pháp này. Cho nên trong cái công cuộc tu hành của mình cái quan trọng đầu tiên là Nhận diện ngũ uẩn, tức là quay trở lại nhận diện thân tâm mà hôm trước con đã nói rồi, chúng ta về nghe kỹ bài nhận diện thân tâm, người mới học Nikāya nhất định phải nghe mười tám buổi giảng ở trong trường thiền ở Thiền viện Thường Chiếu.
Đó là cái căn bản trí tuệ, thì bước đầu tiên là mình phải quay trở lại nhìn mình, tức là nhận diện ngũ uẩn, tức là nhìn nhận lại mình đó, là phản quang tự kỷ đó, là phản tỉnh đó, là chánh niệm tỉnh giác đó, nhiều từ lắm nhưng mà chỉ có một nghĩa là quay trở lại nhìn mình. Quay trở lại nhìn mình một cách trung thực, chánh trực, chân thật, chân thành thì mình mới thấy cái lỗi, còn nếu mình nhìn phớt phớt, mình nhìn theo cái kiểu méo mó, nuông chiều mình, châm chước cho mình, lỗi người ta mình bắt kỹ lắm nhưng mà lỗi mình là mình che.
"Dễ thay thấy lỗi người,
Lỗi mình thấy mới khó.
Lỗi người ta phanh tìm,
Như sàng trấu trong gạo,
Còn lỗi mình, che đậy,
Như kẻ gian giấu bài".
(Kinh Pháp Cú 18 – Phẩm Cấu Uế, kệ 252)
Khi mình nhìn lại mình một cách trung thực, chánh trực, chân thật, thành thật mình mới thấy cái lỗi mình một cách chính xác và đầy đủ. Tuy là chính mình nhìn mình mà nó còn không có chân thật chứ đừng nói chi người khác chỉ lỗi cho mình, nó sâu sắc như vậy. Chính mình nhìn mình thấy cái đó là cái lỗi nhưng mà mình vẫn tha lỗi cho mình, mình nói cái này không sao đâu, chuyện nhỏ không sao đâu, ghê gớm như vậy cho nên một cái tâm trực hạnh là đệ tử của Thế Tôn, chân chánh hạnh là đệ tử Thế Tôn, diệu hạnh là đệ tử Thế Tôn, ứng lý hạnh là đệ tử của Thế Tôn.
"Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời". (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)
Cái đầu tiên một trong bốn đức tính của Tăng là trực hạnh, tức là cái tâm chánh trực, ngay thẳng, trung thực, trung trực, thật thà, chân chánh, thì mình nhìn mới đúng, mới chính xác thì cái đó gọi là thấy đúng. Còn mình nhìn bằng cái bản ngã, em ruột của mình với đứa nhỏ kế bên hàng xóm đánh lộn nhau, khóc cự, mình ra là mình bênh ai trước? Cho nên cái tâm mình sẽ nghiêng về người mình thương hoặc là nghiêng về người mình ghét, nó bị nghiêng lệch, nó không còn trung trực nữa, không còn chánh trực, nó không còn chân thật, thành thật nữa. Chính vì vậy để nhìn mình một cách chánh trực là cả một sự tu tập, không phải đơn giản nhìn mình một cách trung thực, chánh trực, chính xác, chân chánh đầy đủ, cho nên mới cần cái định, cần tương đối trong cái định mới nhìn được, còn cái tâm lộn xộn, lao xao, còn dục ái, tham, năm triền cái bao phủ là nhìn không có chính xác.
Thí dụ bây giờ trong đây có một thầy có thiện cảm với con thì lúc đó là nhìn khác "sao thầy nói cái gì cũng trúng hết trơn, thầy nói gì con nghe con cũng thấm hết". nhưng mà có thầy khó chịu "sao ổng nói cái gì mà nặng nề, ông làm gì mà gặng dữ vậy", cho nên nhìn lại mình một cách chân thật rồi mình mới phát hiện cái lỗi, phát hiện cái lỗi rồi mình nhận lỗi một cách đầy đủ và mình nỗ lực sửa lỗi, nó giảm lỗi, bớt lỗi, nó đi đến hết lỗi thì mình hoàn thiện thôi. Tu Nikāya đơn giản vậy đó, nó không có cái gì xa xôi, viễn vong, rất là thực tế, thiết thực, hiện tại.
./.