Tất Cả Pháp Lấy Tác Ý Làm Sanh Khởi-Xúc Làm Tập Khởi-Tu Với Con Chó
Soi Sáng Kinh Nikāya
TẤT CẢ PHÁP LẤY TÁC Ý LÀM SANH KHỞI?
XÚC LÀM TẬP KHỞI?
TU VỚI CON CHÓ!
–Thích Minh Thành–
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tác ý trong sự tu PAGEREF _Toc80264773 \h 1
II.Tu với con chó PAGEREF _Toc80264774 \h 4
1.Cái nhìn của nghiệp quả PAGEREF _Toc80264775 \h 4
2.Nhiều sự thật PAGEREF _Toc80264776 \h 6
III.Ba quan điểm của ngoại đạo PAGEREF _Toc80264777 \h 7
IV.Bài kinh “Cội Rễ Của Sự Vật” PAGEREF _Toc80264778 \h 12
1.Cẩn thận với xúc PAGEREF _Toc80264779 \h 12
2.Cẩn thận với dục PAGEREF _Toc80264780 \h 14
3.Niệm, định và tuệ PAGEREF _Toc80264781 \h 16
Tác ý trong sự tu
Thầy Pháp Tâm: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Kính thưa sư phụ, trong thời vừa qua trong việc học kinh, tìm hiểu cũng như học pháp con có thắc mắc chưa được sáng tỏ, kính trên sư phụ từ bi, hoan hỉ chỉ dạy cho chúng con được sáng tỏ thêm để con có thể thực hành đúng như pháp. Kính thưa sư phụ, trong bài kinh “Cội rễ của sự vật” có hai phần là "tất cả cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi" và "tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi", ở đây con chưa hiểu “tác ý sanh khởi lên tất cả pháp” và “khi xúc thì tất cả pháp tập khởi”, cái tập khởi và sanh khởi này con vẫn chưa sáng tỏ. Kính mong sư phụ chỉ dạy, phân tích để con được sáng tỏ hơn về lời chỉ dạy của Đức Phật. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
***
Bài kinh“Cội Rễ Của Sự Vật”, Tăng Chi Bộ, tập IV:
"- Này các Tỳ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo đến hỏi: 'Thưa Hiền giả, tất cả pháp lấy gì làm căn bản? Tất cả pháp lấy gì làm sanh khởi? Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ tụ hội? Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ? Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng? Tất cả pháp lấy gì làm tối thượng? Tất cả pháp lấy gì làm lõi cây?' Ðược hỏi vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như thế nào?
- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết ý nghĩa lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỳ-kheo sẽ thọ trì.
- Vậy này các Tỳ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
- Này các Tỳ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo có hỏi như sau: 'Thưa Hiền giả, tất cả pháp lấy gì làm căn bản? Tất cả pháp lấy gì làm sanh khỏi? Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ tụ hội? Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ? Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng? Tất cả pháp lấy gì làm tối thượng? Tất cả pháp lấy gì làm lõi cây?' Ðược hỏi vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy trả lời như sau: 'Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây'. Ðược hỏi như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật).
Sư Phụ: Xin mời một vị trong đại chúng lấy ví dụ tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi.
Thầy Thiện Huệ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên thầy, kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin cho ví dụ: 4h sáng là giờ con ngủ ngon cũng là giờ công phu, nếu con không tác ý thì con dễ làm biếng muốn nằm ngủ tiếp. Con tác ý "sự vô thường có thể đến bất cứ lúc nào, không biết mình còn sống được qua ngày mai không cho nên nếu cứ lười biếng sẽ không có tinh tấn để lên thiền đường đọc tụng kinh điển với đại chúng", chính sự tác ý như vậy làm con có động lực mạnh mẽ để tu học với đại chúng, tác ý như vậy thiện pháp sẽ sanh khởi. Nhờ có sự tác ý nên cây bồ đề mới ở bên cạnh thầy, không có sự tác ý thì cây bồ đề sẽ không ở đó, trong sự tác ý sẽ có sự thúc giục bên trong, mong muốn để cây bồ đề ở đó, không tác ý sẽ không có sự thúc giục để cây bồ đề ở đó.
Phật tử Đồng Hạnh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin cho ví dụ, khi ngồi thiền con thấy những con kiến, con bọ đi ngang qua nếu con chỉ nhìn không tác ý thì không sanh khởi các pháp, nhưng khi con tác ý "thấy tội cho những chúng sanh này quá, mình được ngồi tu tập mà tụi nó phải bò đi kiếm ăn", "tội cho những chúng sanh này khi phải sanh vào những kiếp sống như vậy", khi tác ý như vậy có cảm thọ thương xót khởi lên trong con, mình thương những chúng sanh đó nên phát khởi được tâm từ. Còn khi thấy những chúng sanh đó mà không tác ý thì tình thương, lòng từ không sanh khởi.
Sư Phụ: Minh Thành chỉ thêm một tác ý nữa là phải quay vào bản thân mình tác ý, tức là "nếu không khéo tu tập mình sẽ trở thành những tấm thân như vậy", khi tác ý vừa có sự cảnh tỉnh, nhắc nhở hoặc tình thương không những cho bên ngoài mà còn cho tự thân thì mới đầy đủ.
Ví dụ, khi đi đường mình thấy một người lang thang đầu tóc rối bù, áo quần tơi tả vừa đi vừa chửi thì đương nhiên nếu biết tác ý sẽ thấy thương họ, vì ác nghiệp, tội nghiệp, vì những hành động bất thiện pháp trong quá khứ nên bây giờ phải mang lấy thân thể, tâm thức mê muội điên cuồng như vậy. Nhưng nếu chỉ hướng ra ngoài thương họ như vậy sẽ không đủ pháp mà mình phải quay ngược vào bản thân, nếu mình sống với tâm buông thả, buông lung, rong chơi không chánh niệm tỉnh giác thì những đời sống trong tương lai của mình sẽ giống như vậy, cho nên bây giờ mình phải cố gắng nhiếp phục tâm ý, điều phục tâm ý, phòng hộ tâm ý, bảo vệ tâm ý, chánh niệm tỉnh giác trong sự tu tập Tứ Niệm Xứ.
Tác ý như vậy mới đầy đủ, vừa có từ tâm ở bên ngoài vừa có từ tâm với tự thân chính mình, có nhiều người thương từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc, thương hết mọi người nhưng họ không biết người đáng thương thật sự là chính bản thân họ, cái này cũng là thiện pháp nhưng không đầy đủ cho nên khi tác ý cần nhớ mình, người, tự tha, trong, ngoài.
Phật tử Thiện Cần: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính thưa sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin đưa ra ví dụ để trả lời câu hỏi tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Ví dụ ngay trong buổi ngồi thiền sáng nay, có khoảng thời gian giữa giờ thì con lại thấy cảm thọ rơi vào rã rượi, hôn trầm, mệt mỏi, những vết thương làm cho đau nên sanh ra sự khó chịu. Cảm giác bị chùng lại làm tâm trí bị mê mờ, có lúc con quên tác ý nhưng khi nhớ thì nhìn lại thấy cảm giác như vậy, mình đang trong trạng thái này không chấp nhận được nên phải như lý tác ý đánh tan cảm giác chứ không được để cho trì trệ. Con nhìn ra bên ngoài và tác ý "bầu trời sắp sáng, cành cây đu đưa, tiếng chim hót líu lo và một ngày mời sắp bắt đầu. Mình thật may mắn, hạnh phúc được ngồi tu học với mọi người", tác ý như vậy những cảm giác hỷ lạc từ từ về đánh bật sự rã rượi. Đó là ví dụ của con, con xin hết.
Tu với con chó
Cách tác ý của mình rất quan trọng. Có rất nhiều cấp độ nhìn nhận khác nhau rất hay, giữa người biết tu và người không biết tu nhìn nhận một vấn đề, một sự việc khác nhau một trời một vực, đơn giản khi thấy con kiến, muỗi, gián, chó, mèo… cũng nhìn nhận khác nhau.
Chẳng hạn thấy con chó con dễ thương mà mọi người thường gọi là cún cưng, có người nhìn con chó con thấy bình thường, không thích cũng không ghét mà đơn thuần chỉ là con chó; có người nhìn thấy con chó lại cảm thán "thấy thương quá, thích quá, dễ thương quá", đó là tham ái, quyến luyến; có nhiều người mất con chó hoặc con chó chết là khóc lóc, đau khổ như mất đi một người thân trong gia đình; có những người nhớ con chó không đi tu được vì sợ không ai lo cho nó, không cho nó ăn, nó uống.
Cái nhìn của nghiệp quả
Đại đa số thương con chó là ái chứ không phải từ, nếu không có chánh kiến là không biết được tình thương thuộc về loại nào. Vì thương trên ái cho nên tắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo, cho ăn hoặc con chó bị gì là người chủ sầu, bi, khổ, ưu, não. Nếu con chó bệnh thì giống như có người thân trong nhà bệnh, nếu con chó chết thì người này khóc than buồn bã. Có người nhìn con chó thấy thương nhưng thương bằng từ tâm do sự thấy hiểu đúng đắn, tức là thương cho một kiếp của loài bàng sanh, thú vật, súc sanh.
Cho nên, giữa một người thương thú cưng và giữa một người biết tu nhìn thấy loài vật, thương chúng vì nghiệp ác mới tạo thành thân thú vật thì hai cái thương này khác nhau hoàn toàn, một bên là ái và một bên là từ. Ở đây chỉ mới là cấp độ vừa phải để dễ nhận thức, một bên là yêu thích, quý mến, ràng buộc trong sự tham ái, còn một bên nhìn con chó với sự thương xót của lòng từ mẫn vì thấu hiểu được ngũ uẩn và bản chất của nhân quả nghiệp báo. Một người thương bằng tâm từ sẽ rất khác, họ cũng thương nhưng với niềm bi mẫn, xót thương vì đó là kết quả của ác nghiệp.
"Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy". (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII). Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)
Đây là những điều căn bản của Thánh Pháp mà mình sẽ sử dụng suốt đời tu hành. Khi nhìn là nhìn nghiệp quả chứ không phải nhìn trên tham ái, khi nhìn bất cứ một chúng sanh nào thậm chí là cha mẹ, anh em, vợ chồng cũng nhìn bằng con mắt của nhân quả, nghiệp quả. Chúng ta phải nắm thật vững những câu kinh trên để quán chiếu, tác ý trong tất cả mọi thời mọi lúc, mọi hoàn cảnh, mọi con người, khi nhìn bất cứ cái gì là nhìn bằng con mắt của nghiệp quả thì mới từ từ giảm bớt tham ái, nếu không là không thể giảm được.
"Tất cả đều là chúng sanh,
Không ai là người thân của mình,
Chỉ có vô minh, nghiệp và nhân quả.
Hãy buông xả và mau tỉnh thức,
Sống đúng trách nhiệm,
Sống đẹp với đời,
Nhận diện ngũ uẩn,
Thể nhập Thánh Trí,
Diệt tham, sân, si
Thoát ly sanh tử". (Nghi thức tu học Nikāya – Niệm chúng sanh)
Chúng ta phải nhìn bằng cái nhìn như vậy thì mới giảm bớt, nhiếp phục và đi đến chỗ đoạn tận tham ái. Chúng ta phải nhìn bằng con mắt của nghiệp quả, nếu không chỉ toàn nhìn bằng con mắt của tham ái. Trong cuộc sống bên ngoài xã hội, người nào giết người càng nhiều càng được đàn em tôn trọng gọi bằng đại ca, trong đám bạn bè ác càng làm nhiều tội lỗi càng được xem trọng, đó là tà tri kiến, tà tư duy, tà nghiệp, tà ngữ, tà mạng. Mình phải tập nhìn bằng con mắt của nghiệp quả trong mọi vấn đề đến với mình, dù cho gặp chuyện vui tốt cũng cẩn thận với nghiệp quả, dù cho gặp chuyện buồn khổ, suy sụp tàn tạ cũng phải nhìn bằng nghiệp quả để tâm không bị dao động nhiều. Nghiệp chính là bào thai, là bà con, là điểm tựa, chính là cái mà mình sẽ thừa hưởng trong hiện tại và tương lai, phải thừa kế và tiếp nối.
Vì thế phải nhìn con chó bằng con mắt của nghiệp, thương nó vì ác nghiệp mà phải mang cái thân như vậy và nếu không cẩn thận tu hành mình lại chất chứa, nuôi dưỡng, phát triển tâm sân hận, tâm ngu si, tâm bản ngã thì đời sống tiếp theo của mình sẽ là những con thú vật đó. Cho nên tác ý của mình ở mức độ nào, trí tuệ cạn hay sâu là nhờ sự thấy biết của mình về pháp, lấy Đức Thế Tôn làm chỗ căn bản, làm chỗ y cứ, làm chỗ nương tựa.
Nhiều sự thật
Trong kinh Đức Phật dùng từ "nhiều sự thật", sự thật không phải chỉ có một mà có rất nhiều sự thật, sự thật về vô minh, sự thật về tham ái, sự thật về nhân quả, sự thật về nghiệp báo, những sự thật về chấp thủ… Nếu không huân tập pháp ở nhiều khía cạnh, góc độ, nhiều phương diện, mà mình chỉ biết có một thứ thì mình chỉ thấy một góc của ngôi nhà chứ không thấy được nhiều phương diện khác. Cũng vậy, chúng ta chỉ thấy được một cạnh của tâm, một cạnh của vô minh mà không thấy hết toàn diện các góc độ của vô minh, tham ái, chấp thủ. Cũng như nếu chỉ thấy một góc của khổ là nghèo thì khổ, bệnh thì khổ thì mình sẽ không thành tựu Khổ Thánh Trí toàn diện, viên mãn và mình sẽ không thể đi ra khỏi khổ được. Chúng ta phải tu tinh tấn ngày đêm là để thấm được cái khổ ở nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ thì tự nhiên sự tu của mình sẽ mãnh liệt, tinh cần, tinh tấn, vì thế, phải thấy biết nhiều sự thật.
Chúng ta nêu ra vấn đề con chó để thấy nhiều khía cạnh. Thứ nhất, nhìn con chó thấy bình thường, "suy nghĩ nhiều chi cho mệt", đó là vô minh, si ám. Thứ hai, nhìn con chó thấy thích, thương mến, đó là tham ái. Thứ ba, nhìn con chó thấy ghét, không thích chó nên không ưa. Thứ tư, nhìn con chó thấy xót thương bằng tâm từ mẫn đối với chúng sanh, lo lắng, lo sợ quả báo của ác nghiệp, vì ác nghiệp mà chúng sanh phải mang thân lông lá như vậy, từ chỗ này mới quay ngược lại tự thân của mình để ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy. Mỗi lần nhìn các con vật cứ tác ý như vậy cho trí tuệ sanh khởi, mỗi lần như vậy là trí tuệ sanh khởi, chánh kiến được tu tập, chánh tư duy được tăng trưởng, cảm thọ, nhận thức được phát khởi. Từ con chó nhìn rộng ra các con vật khác, thậm chí là con người, có những người bỏ ra rất nhiều tiền để thẩm mỹ, xăm hình con vật, xỏ khuyên, gắn răng nanh cho giống với con vật họ yêu thích, không phải thời nay mới có mà ngay cả thời Đức Phật đã tu hạnh con chó.
"-- Bạch Thế Tôn, lõa thể Seniya hành trì hạnh con chó, thực hành những hạnh khó hành, ăn đồ ăn quăng dưới đất, chấp nhận và hành trì hạnh con chó trong một thời gian dài, vậy sanh thú ông ấy thế nào, vận mạng ông ấy thế nào?
-- Này Punna, thật sự Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của Ông và đã nói: 'Thôi vừa rồi Punna, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa'. Tuy vậy, Ta sẽ trả lời cho Ông. Ở đây, này Punna, người nào hành trì hạnh con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì giới con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì tâm con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì uy nghi con chó một cách hoàn toàn viên mãn, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh thân hữu cùng với các loài chó.
-- Bạch Thế Tôn, Punna Koliyaputta này đã chấp nhận và hành trì hạnh con bò này trong một thời gian dài, vậy sanh thú của ông ấy thế nào, vận mạng của ông ấy thế nào?
-- Này Seniya, thật sự Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của Ông và đã nói: 'Thôi vừa rồi Seniya, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa'. Tuy vậy ta sẽ trả lời cho Ông. Ở đây, này Seniya, người nào hạnh trì hạnh con bò một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì giới con bò một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì tâm con bò một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì uy nghi con bò một cách hoàn toàn viên mãn, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh thân hữu cùng với các loài bò". (Trung Bộ Kinh, 57. Kinh Hạnh con chó)
Ba quan điểm của ngoại đạo
Sự hướng tâm rất quan trọng, chúng ta tầm, suy tư, tác ý theo chiều nào sẽ đi theo chiều hướng đó. Trong Tăng Chi Bộ, Đức Phật nói ngoại đạo có ba quan điểm trong thời đó.
Thứ nhất, những cảm thọ khổ, vui, không khổ không vui mà mình cảm nhận được “đều do nghiệp trong quá khứ”, tức là những gì bây giờ mình mang đều là từ nghiệp trong quá khứ biểu hiện ra, người này kiên định với chủ trương như vậy, Đức Phật nói nếu kiên định bám chấp vào cái nhìn nhận như vậy thì người này sẽ không có tâm tư nỗ lực việc gì phải làm và việc gì không nên làm. Cái này ngay cả người tu cũng vậy, mình hay nói "tại nghiệp của tôi như vậy đó", ví dụ người đó hay nóng giận và có người thắc mắc tại sao cứ nóng giận thì người này nói "nghiệp tôi vậy đó", "tánh tôi vậy đó", "nghiệp quả tôi vậy rồi, chắc tôi không tu được đâu", đó là những sự tác ý sai lầm cho nên không bao giờ mình tu được, đó cũng là kiến chấp, nếu người này chấp nhận quan điểm như vậy thì người này sẽ không nỗ lực phấn đấu, không quyết tâm để thay đổi mình, đó là kiến chấp của ngoại đạo chứ không phải thuyết nghiệp của Đức Phật. Phải dùng chánh tri kiến phá những suy nghĩ đó, những suy nghĩ đó chỉ là hành uẩn, là duyên sanh, vô thường.
Quan điểm thứ hai là tất cả những cái khổ, cái vui mà mình cảm thọ được “đều do ông trời đặt định, do tạo hóa”. Điều này rất phổ biến trong dân gian đặc biệt bên Nho giáo, người ta gọi là thiên mệnh hoặc như câu "nhất ẩm, nhất trác, giai do tiền định", nghĩa là ăn uống, cử động đều đã định trước, quan điểm này rất phổ biến trong dân gian. Người nào chấp nhận cứng chắc quan điểm đó thì người này không có ý muốn thay đổi bản thân, không nỗ lực, gắng sức làm mới bản thân. Cho nên, Đức Phật chỉ trích quan điểm này một cách chân chánh và những người có quan điểm như vậy là ngoại đạo chứ không phải đạo Phật.
Nếu trong người có những suy nghĩ chướng đạo hay còn gọi là nghiệp chướng, sở tri chướng mà mình không dùng chánh trí, thánh trí, chánh pháp, dùng những lời dạy của Đức Phật, cộng với việc mình không đủ sức mạnh để phá những suy nghĩ cứng chắc đó thì chúng ta sẽ bị chặn đứng không thể vào pháp được. Giống như mình gần đến nơi nhưng có cây ngã, tảng đá chặn ngang làm chướng ngại vật khiến cho mình không vượt qua được, vì thế, trong sự tu này giống như người phá núi. Có những người sống ở nơi heo hút, con cái muốn đi học phải băng qua cả một ngọn núi, người cha thấy vậy nên muốn phá núi tìm đường cho con đi, cuối cùng người cha làm được khiến mọi người vô cùng bất ngờ. Sự tu này là phá những tư tưởng sai quấy, chấp thủ, những tư tưởng tham dục, tham ái, sân hận, bản ngã giống như phá núi để mở đường. Nếu còn nuôi dưỡng những tư tưởng tham dục, tham ái, vô minh, bản ngã đó mà không chịu phá tan, phá nát đó ra thì không thể nhập được pháp, không thể nhập được Thánh trí vì nó làm chướng ngại vật, chướng đạo, chặn lối tiến của chúng ta.
Hạng người thứ ba có quan điểm “vô nhân vô duyên”, tức là mọi thứ đều tự nhiên, mình khổ hay mình vui đều là tự nhiên như vậy, không có lý do gì cả. Một người suy nghĩ như vậy sẽ không nỗ lực tinh cần, tinh tấn thay đổi mình. Đức Phật chỉ trích một cách chân chánh về ba quan điểm sai lầm này.
"Này các Tỳ-kheo, có ba y xứ này của ngoại đạo, dầu có bị các bậc Hiền giả cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận, vẫn kiên trì trong quan điểm truyền thống về vô vi (không hành động). Thế nào là ba?
Này các Tỳ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn thuyết như sau, chấp kiến như sau: 'Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân nghiệp quá khứ'.
Này các Tỳ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết như sau, chấp kiến như sau: 'Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân một tạo hóa tạo ra'.
Này các Tỳ-kheo, có một số Sa-môn, hay Bà-la-môn, thuyết pháp như sau, chấp kiến như sau: 'Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do không nhân, không duyên'.
- Ở đây, này các Tỳ-kheo, đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết như sau, chấp kiến như sau: 'Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân nghiệp quá khứ'. Ðối với các vị ấy, Ta đến và nói: 'Chư Tôn giả, có thật chăng, Chư Tôn giả có thuyết như sau, chấp kiến như sau: 'Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân nghiệp quá khứ?'.
Ðược Ta hỏi vậy, họ trả lời: 'Thưa phải, có như vậy'.
Ta nói với họ như sau: 'Như vậy, thời theo các Tôn giả, do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người sát sanh; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người lấy của không cho; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người không Phạm hạnh; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người nói láo; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người nói hai lưỡi; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người ác khẩu; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người nói lời phù phiếm; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người tham lam; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người tâm sân; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người theo tà kiến'. Nhưng này các Tỳ-klheo, với những ai trở lại dựa vào nghiệp quá khứ là do kiên thực, với những người ấy sẽ không có ước muốn, không có tinh tấn, không có 'Ðây là việc phải làm', hay 'Ðây là việc không nên làm'. Như vậy, sự cần thiết cần phải làm hay không cần phải làm không được tìm thấy là chân thực, là đáng tin cậy, thời danh từ Sa-môn không thể áp dụng đúng pháp cho các Ông được, vì các Ông sống thất niệm và với các căn không hộ trì.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, đây là sự chỉ trích đúng pháp thứ nhất của ta đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vậy, có chấp kiến như vậy.
- Ở đây, này các Tỳ-kheo, đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết như sau, chấp kiến như sau: 'Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân một tạo hóa tạo ra'. Ðối với các vị ấy, Ta đến và nói: 'Chư Tôn giả, có thật chăng, Chư Tôn giả có thuyết như sau: 'Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân một tạo hóa tạo ra?'.
Ðược Ta hỏi vậy, họ trả lời: 'Thưa phải, có như vậy'.
Ta nói với họ như sau: 'Như vậy, thời theo các Tôn giả, do nhân một vị tạo hóa tạo ra, sẽ trở thành người sát sanh ... Do nhân một vị tạo hóa tạo ra, sẽ trở thành người theo tà kiến'. Nhưng này các Tỳ-kheo, với những ai trở lại dựa vào vị tạo hóa tạo ra là lý do kiên thực, với những người ấy sẽ không có ước muốn, không có tinh tấn, không có 'Ðây là việc phải làm', hay 'Ðây là việc không nên làm'. Như vậy, sự cần thiết cần phải làm hay không cần phải làm không được tìm thấy là chân thực, là đáng tin cậy, thời danh từ Sa-môn không thể áp dụng đúng pháp cho các Ông được, vì các Ông sống thất niệm và với các căn không hộ trì.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, đây là sự chỉ trích đúng pháp thứ hai của ta đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vậy, có chấp kiến như vậy.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết như sau, chấp kiến như sau: 'Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do không nhân không duyên'. Ðối với các vị ấy, Ta đến và nói: 'Chư Tôn giả, có thật chăng, Chư Tôn giả có thuyết như sau chấp kiến như sau: 'Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do không nhân không duyên?'.
Ðược Ta hỏi vậy, họ trả lời: 'Thưa phải, có như vậy'.
Ta nói với họ như sau: 'Như vậy, thời theo các Tôn giả, do không nhân không duyên, sẽ trở thành người sát sanh ... Do không nhân không duyên, sẽ trở thành người theo tà kiến'. Nhưng này các Tỳ-klheo, với những ai trở lại dựa vào không nhân không duyên là lý do kiên thực, với những người ấy sẽ không có ước muốn, không có tinh tấn, không có 'Ðây là việc phải làm', hay 'Ðây là việc không nên làm'. Như vậy, sự cần thiết cần phải làm hay không cần phải làm không được tìm thấy là chân thực, là đáng tin cậy, thời danh từ Sa-môn không thể áp dụng đúng pháp cho các Ông được, vì các Ông sống thất niệm và với các căn không hộ trì.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, đây là sự chỉ trích đúng pháp thứ ba của ta đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vậy, có chấp kiến như vậy". (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, Sở y xứ)
Còn Đức Phật nói về sáu xúc, sáu thọ, sáu căn, sáu trần, sáu thức, Ngài nói các pháp duyên sanh, Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ, chính những cái này mới có sự thay đổi, do pháp duyên sanh nên mới có sự thay đổi.
"Và này các Tỳ-kheo, đây là pháp Ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là pháp ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách?
Sáu giới này, này các Tỳ-kheo, là pháp Ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách.
Sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, là pháp Ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách.
Mười tám ý cận hành này, này các Tỳ-kheo, là pháp Ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách.
Bốn Thánh đế này, này các Tỳ-kheo, là pháp Ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách". (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, Sở y xứ)
Bài kinh “Cội Rễ Của Sự Vật”
Cẩn thận với xúc
Trong bài kinh “Cội Rễ Của Sự Vật” có câu "tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi". Sanh khởi có nghĩa đơn giản hơn còn tập khởi nghĩa là tụ tập, tập hợp lại rồi sanh khởi ra. Phải có tâm định tĩnh, thiền định để nhìn ra xúc vì nó rất nhiều.
Ví dụ không phải tự nhiên thầy Thiện Tuệ ngồi đây nghe pháp, thầy đã có năm năm nghe pháp của Minh Thành trước khi vào dòng pháp Nikāya, chú Thiện Cần không phải tự nhiên khởi ý lên Linh Quy tu cho đến giờ. Nghĩa là khi mọi người lên Linh Quy thì nhãn xúc, con mắt tiếp xúc với cảnh vật núi rừng thanh tịnh xa vắng, viễn ly, nhĩ xúc được nghe chánh pháp, trong thân tâm có sự cảm nhận và chính thọ; tưởng; hành là những cái thấy, cái nghe, sự nhận thức, những sự cảm xúc… biết bao cái xúc và những cái xúc này diễn ra rất nhiều lần từ khóa tu này qua khóa tu kia rồi cuối cùng mới tha thiết muốn lên tu ba tháng, dù khó khăn cỡ nào cũng cố gắng, đó là tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi.
Khi giận một ai mình nghĩ đơn giản là "tôi giận" thì đó là vô minh, mà phải xúc rất nhiều mới giận, vì thế cái xúc này tụ tập lại mới sanh khởi ra. Thiện pháp, ác pháp cũng giống vậy, tham, sân, si cũng vậy mà tăng thượng giới – định – tuệ cũng vậy, phải lấy xúc làm tập khởi. Tại sao chúng ta đắp y, cạo đầu? Chúng ta xúc có nhiều không? Trước khi các thầy, các cô đi tu có tiếp xúc mắt, tai, mũi, lưỡi không? Vào chùa mình cũng phải ăn, uống, tiếp xúc bằng thân, bằng tâm thức và mình thấy giá trị, lợi ích, chân lý, pháp này có khả năng diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn thì mình mới quyết tâm đi theo con đường này và bỏ hết mọi thứ lại sau, như vậy tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Từ sự tiếp xúc nhiều, thấy, nghe, cảm nhận, suy tư, quán sát, nhận thức, rõ biết bằng trí tuệ xác quyết và cuối cùng khởi ra một pháp đầu tròn áo vuông, viên đảnh phương bào, một Tăng tướng từ chỗ xúc tập khởi. Tiếp xúc rồi thấy, nghe, cảm nhận, hiểu biết, suy tư, quán sát vấn đề đó, con đường đó, đạo lộ đó, đường lối hành trì đó và cuối cùng mình quyết định xuất ly vĩ đại cho nên mình có mặt tại Linh Quy.
Như vậy, hằng ngày chúng ta nghe pháp, ngồi thiền, suy tư là lấy xúc làm tập khởi để sanh ra ly tham, bớt tham muốn, sanh ra sự nhàm chán, từ bỏ, giải thoát. Những pháp này được sanh là do sự tập khởi của xúc. Chữ "tập" này nghĩa là tích tập, tụ tập, tập hợp rất nhiều xúc của thiện pháp, Thánh pháp, trí tuệ thì mới sanh khởi ra được đạo lộ, nhất hướng, xác quyết tiến thẳng không lui từ hướng Dự Lưu cho đến Nhập Lưu. Như vậy, điều này sanh khởi ra được là nhờ sự tập khởi của xúc. Cho nên, chúng ta tu là tiếp xúc từ nhãn xúc, nhĩ xúc đến thân xúc, trong thân tâm là thọ, tưởng, hành, thức, sở dĩ nó nhóm hợp sanh khởi ra được là do sự tiếp xúc. Không phải người nam mới nhìn người phụ nữ lần đầu là đi theo người đó mà phải do xúc nhiều lần, xin số điện thoại, nhắn tin qua lại, nói chuyện rồi gặp gỡ… bao nhiêu thứ tụ hội lại tiếp xúc nhiều lần chồng chất lên thì sanh khởi ra pháp, thiện pháp hay ác pháp cũng lấy xúc làm tập khởi.
Vì thế khi tiếp xúc cần lựa chọn vì nó rất quan trọng trong sự nghiệp tu hành. Khi chúng ta đọc nhiều kinh Nikāya sẽ thấy Đức Phật chỉ nói hai điều là thiện hay bất thiện, từ chuyện ăn, mặc, nói năng, làng mạc, thị trấn thì Đức Phật nói hễ thiện pháp thì cho tăng trưởng phát triển còn bất thiện pháp thì lánh xa, không thân cận. Bất thiện pháp là tham dục, sân hận, si mê, vô minh, bản ngã. Thiện pháp là ly tham, ly sân, lìa vô minh, phá chấp ngã. Chúng ta cứ hướng vào thiện pháp sẽ đi đến chỗ chí thiện, tức là diệt tận tham, diệt tận sân, diệt tận si, diệt tận vô minh, cái chuẩn này mình phải nắm thật vững vì nó là tổng cương lĩnh của toàn bộ pháp tạng Thánh điển – đại tạng kinh Nikāya. Bất cứ làm việc gì cũng phải xem lại đó là thiện hay bất thiện, nếu là bất thiện thì lìa xa, tránh xa, giảm bớt, đoạn giảm, còn thiện thì cho tăng trưởng liên tục.
Chúng ta đừng nên coi thường cái xúc, mọi người thường hay suy nghĩ thử một lần cho biết, thử hút thuốc một lần cho biết, nhưng thử lần một sẽ có lần hai, lần hai rồi đến lần ba, lần bốn, thế là nghiện không thể bỏ thuốc lá được. Cho nên, phải tránh né xúc bất thiện để ly tham, điều này rất quan trọng trong sự tu.
Cẩn thận với dục
"Tất cả pháp lấy dục làm căn bản" rất ghê gớm, nếu mình không đủ trí tuệ, không đủ sự nhìn nhận là mình sẽ chết với nó.
"Thế Tôn thuyết giảng như sau:
-- Này Gia chủ, ví như có con chó đói lả, suy nhược, đi đến một lò thịt giết bò. Ở đây, có người giết bò thiện xảo hay người đệ tử quăng cho nó một khúc xương, khéo lóc, tận lóc, không có thịt, chỉ có dính máu. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Con chó ấy, khi gặm khúc xương ấy, khéo lóc, tận lóc, không có thịt, chỉ có dính máu có thể đoạn trừ được đói lả suy nhược của nó không?
-- Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Với khúc xương khéo lóc, tận lóc, không có thịt, chỉ có dính máu ấy, bạch Thế Tôn, con chó kia chỉ có mệt nhọc khốn khổ mà thôi.
-- Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: 'Thế Tôn đã nói, dục được ví như khúc xương, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn'. Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ, sau khi từ bỏ loại xả thuộc loại đa chủng, y cứ đa chủng, đối với loại xả thuộc loại nhứt chủng, y cứ nhất chủng, ở đây, mọi chấp thủ đối với thế vật được đoạn trừ hoàn toàn, không có dư tàn, vị ấy tu tập loại xả như vậy". (Trung Bộ Kinh, 54. Kinh Potaliya)
Đức Phật ví dục như khúc xương khô, khi con chó gặm khúc xương khô này không có gì trong đó, chạy theo dục cũng giống như vậy, nhìn xa thì đẹp lại gần thì tan nát, không có gì hết.
"Này Gia chủ, ví như con chim kên, con chim diều hâu, hay con chim ưng giành được miếng thịt liền bay bổng lên; các con chim kên khác, chim diều hâu khác, hay chim ưng khác bay đuổi theo, đuổi sát theo giành giựt xé nát miếng thịt ấy. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Nếu con chim kên, chim diều hâu hay chim ưng ấy không vứt bỏ ngay miếng thịt ấy, nó có thể do nhân duyên ấy, đi đến chết hay đi đến khổ gần như chết không?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: 'Thế Tôn đã nói, dục được ví như miếng thịt, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn'. Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ, sau khi từ bỏ loại xả thuộc loại đa chủng, y cứ đa chủng, đối với loại xả thuộc loại nhứt chủng, y cứ nhứt chủng, ở đây mọi chấp thủ đối với thế vật được đoạn trừ hoàn toàn, không có dư tàn, vị ấy tu tập loại xả như vậy". (Trung Bộ Kinh, 54. Kinh Potaliya)
Chùa của mình không có gì quý giá nên không cần đóng cửa, không cần ai canh giữ. Nếu có đồ quý phải có người canh chừng, phòng hộ, cũng vậy việc nào có lợi sẽ bị xâu xé, giành giựt, ai cũng muốn tham gia vào, ai cũng muốn đồ có giá trị cho nên mình đưa đồ giá trị ra sẽ bị xâu xé, tranh giành, chỉ với một chức vụ thôi mà biết bao người tranh giành, bao người bị hại. Nhai nuốt, xâu xé miếng thịt cũng chỉ vì cái dục, tham muốn danh lợi, chức vụ cho nên pháp tối thượng của Đức Phật là ly tham, diệt dục thì mới hết khổ, tất cả mọi sắc; thanh; hương; vị; xúc trên đời này cần đoạn diệt mới hết khổ. Chỉ riêng món ăn ngon cũng gây khổ, một bàn ăn có bốn thầy mà chia đồ ăn chỉ có ba thầy thì người còn lại thấy phiền não, hai sư cô hòa thuận vui vẻ với nhau mà cúng dường người nhiều người ít cũng gây ra phiền não, chúng ta tu là ngay chỗ này, trong từng việc nhỏ nhặt đều có dục, tham, ái, sân hận trong đó.
"Này Gia chủ, ví như một người cầm một bó đuốc cỏ đang cháy rực đi ngược gió. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào, nếu người ấy không vứt bỏ ngay bó đuốc ấy, bó đuốc cỏ đang cháy rực ấy có thể đốt cháy tay, hay đốt cháy cánh tay, hay đốt cháy một thân phần của người ấy, người ấy có thể do nhân duyên ấy, đi đến chết, hay đi đến khổ gần như chết không?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: 'Thế Tôn đã nói, dục được ví như bó đuốc cỏ, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn'. Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ ... (như trên)... vị ấy tu tập loại xả như vậy". (Trung Bộ Kinh, 54. Kinh Potaliya)
Bó đuốc được làm bằng lá dừa khô nên cháy rất nhanh, nếu mình không buông ra là nó cháy xuống phỏng tay, những sự tham muốn trên cuộc đời này cũng giống như vậy, nó là tai họa nên cần tránh xa, viễn ly, đó là đời sống tối thượng.
"Này Gia chủ, ví như một hố than hừng, sâu hơn thân người, đầy những than hừng, cháy không thành ngọn, cháy không thành khói, và một người đi đến muốn sống, muốn không chết, muốn lạc, né tránh khổ. Nhưng có hai nhà lực sĩ, nắm chặt hai cánh tay người ấy và lôi người ấy đến hố than hừng. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có co rúm thân, vật qua vật lại phía này phía kia không?
-- Bạch Thế Tôn, có. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì người ấy biết: 'Nếu ta rơi vào hố than hừng này, do nhân duyên này, ta sẽ đi đến chết hay đau khổ gần như chết'.
-- Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: 'Thế Tôn đã nói, dục được ví như hố than hừng, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn'. Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ... (như trên)... vị ấy tu tập loại xả như vậy". (Trung Bộ Kinh, 54. Kinh Potaliya)
Những lời của Đức Phật rất vi diệu nên mình cần chiêm nghiệm để hành trì.
Niệm, định và tuệ
"Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) Cội Rễ Của Sự Vật).
Định là sự tập trung tâm ý, nếu mình làm cái gì mà tập trung tâm ý thì sự tập trung tâm ý đó là thống soái. Khi không có định, tâm không tập trung tâm ý thì nó sẽ dẫn mình đi sai hướng. Cho nên, ta thấy rằng, kinh sách nằm ngay trong đời sống, ngay trong sự việc hiện tại chứ không ở đâu xa, không tập trung nên kêu một đằng làm một nẻo, nói cái này nghe cái kia, chỉ cái A làm cái B nên tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Thượng thủ là lãnh đạo, là dẫn đường, định là sự tập trung tâm ý, khi mình làm cái gì, nói cái gì đều phải tập trung tâm ý vào đó, nếu không sẽ trả lời lạc đề hoặc nói lòng vòng không vào trọng tâm câu hỏi.
Trong thanh quy đạo tràng quy định rõ trình pháp năm phút nhưng mình nói gần nửa tiếng, vậy là do không tập trung tâm ý. Còn khi tập trung tâm ý mình sẽ biết rõ chỗ này nên làm cái gì, nên nói cái gì, nói như thế nào và nói trong khoảng thời gian nào chứ không phải nói theo cái mình muốn vì đó là dục, phải nói cái cần nói chứ không phải nói điều muốn nói. Ví dụ, người ta đang thất tình đau khổ muốn tìm mình hỏi xin ý kiến thì mình lại nói "thân trống rỗng" làm người ta không hiểu gì cả. Đó là do tâm mình không định tĩnh, không có chánh niệm để mình xem xét sự việc đó như thế nào, người ta đang cần cái gì, mà mình thích bài nào thì nói bài đó, như vậy là dục chứ không phải pháp. Mình thích cái đó, khoái cái đó, muốn nói cái đó nhưng người ta lại cần cái khác, trong sự tu hành của mình cũng vậy, lấy cơm thì rớt cơm, bưng bát thì rơi bát, vào ngồi không biết hàng trên hàng dưới…
Cho nên, tất cả mọi việc đều đòi hỏi một sự chánh niệm và tỉnh giác, tập trung tâm ý vào việc mình đang làm, đó chính là Tứ Niệm Xứ. Chánh niệm cũng là ức niệm, phải ức niệm pháp để học, ức niệm pháp để tu thì mới làm tăng thượng. Vì thế việc học pháp phải kĩ càng chứ không thể học đơn sơ được, không biết chỗ ngồi, không biết vị trí đứng thì các lậu hoặc vi tế trong tâm làm sao nhìn thấy để diệt trừ. Tất cả đòi hỏi mình chánh niệm tỉnh giác, tập trung tâm ý, biết rõ việc mình đang làm, đó chính là thượng thủ, tức là chánh niệm và tỉnh giác, tập trung tâm ý, ức niệm nhớ nghĩ pháp mình đang học, nhớ nghĩ pháp mình đang thực hành. Nhiều khi đang trong khóa tu tịnh khẩu mà quên mất, nói cho đã mới nhớ đang tu tập tịnh khẩu. Vì vậy học kinh không phải đọc cho xong mà cần học thuộc, nghiền ngẫm, quán chiếu và viết ra, đọc tới đọc lui rồi ghi nhớ để pháp thâm nhập vào để thành tựu trí tuệ chứ không còn nằm trong kinh sách nữa.
"Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) Cội Rễ Của Sự Vật).
Lấy tuệ làm tối thượng nghĩa là suy xét, trạch pháp trong từng vấn đề, từng hoàn cảnh, từng con người, xét nét nên và không nên, làm và không làm, làm như thế nào để phù hợp thì trí tuệ đó là tối thượng. Đó là bên ngoài, còn bên trong phải tìm cách giải trừ những lậu hoặc, nó thuộc về tránh né hay thuộc về tu tập để đoạn trừ, lậu hoặc và phiền não đó thuộc về pháp kham nhẫn thì phải dùng kham nhẫn, chẳng hạn thấy bản ngã sanh khởi thì phải tập trung tâm ý vào diệt bản ngã, đó là định. Tất cả những điều đã nói ở trên phải lấy tuệ làm tối thượng, không có trí tuệ sẽ không biết dục là gốc rễ tội ác.
Và cuối cùng là “tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây”. Nghĩa là mục đích của tất cả sự tu hành, vị ngọt của cứu cánh, của sự thật là sự mở ra, thoát ra khỏi dục, ái, tham, vô minh, bản ngã; thoát ra khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức; thoát ra khỏi tham, sân, si, những điều đó chính là lõi cây. Chúng ta đi ra khỏi tâm sân hận, đố kỵ, hơn thua là thành công. Và do chúng ta chấp vào đúng sai nên mình phiền não hoài, vì vậy, ra khỏi tâm đúng sai cũng là thành công.
./.
TẤT CẢ PHÁP LẤY TÁC Ý LÀM SANH KHỞI?
XÚC LÀM TẬP KHỞI?
TU VỚI CON CHÓ!
–Thích Minh Thành–
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tác ý trong sự tu PAGEREF _Toc80264773 \h 1
II.Tu với con chó PAGEREF _Toc80264774 \h 4
1.Cái nhìn của nghiệp quả PAGEREF _Toc80264775 \h 4
2.Nhiều sự thật PAGEREF _Toc80264776 \h 6
III.Ba quan điểm của ngoại đạo PAGEREF _Toc80264777 \h 7
IV.Bài kinh “Cội Rễ Của Sự Vật” PAGEREF _Toc80264778 \h 12
1.Cẩn thận với xúc PAGEREF _Toc80264779 \h 12
2.Cẩn thận với dục PAGEREF _Toc80264780 \h 14
3.Niệm, định và tuệ PAGEREF _Toc80264781 \h 16
Tác ý trong sự tu
Thầy Pháp Tâm: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Kính thưa sư phụ, trong thời vừa qua trong việc học kinh, tìm hiểu cũng như học pháp con có thắc mắc chưa được sáng tỏ, kính trên sư phụ từ bi, hoan hỉ chỉ dạy cho chúng con được sáng tỏ thêm để con có thể thực hành đúng như pháp. Kính thưa sư phụ, trong bài kinh “Cội rễ của sự vật” có hai phần là "tất cả cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi" và "tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi", ở đây con chưa hiểu “tác ý sanh khởi lên tất cả pháp” và “khi xúc thì tất cả pháp tập khởi”, cái tập khởi và sanh khởi này con vẫn chưa sáng tỏ. Kính mong sư phụ chỉ dạy, phân tích để con được sáng tỏ hơn về lời chỉ dạy của Đức Phật. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
***
Bài kinh“Cội Rễ Của Sự Vật”, Tăng Chi Bộ, tập IV:
"- Này các Tỳ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo đến hỏi: 'Thưa Hiền giả, tất cả pháp lấy gì làm căn bản? Tất cả pháp lấy gì làm sanh khởi? Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ tụ hội? Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ? Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng? Tất cả pháp lấy gì làm tối thượng? Tất cả pháp lấy gì làm lõi cây?' Ðược hỏi vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như thế nào?
- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết ý nghĩa lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỳ-kheo sẽ thọ trì.
- Vậy này các Tỳ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
- Này các Tỳ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo có hỏi như sau: 'Thưa Hiền giả, tất cả pháp lấy gì làm căn bản? Tất cả pháp lấy gì làm sanh khỏi? Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ tụ hội? Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ? Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng? Tất cả pháp lấy gì làm tối thượng? Tất cả pháp lấy gì làm lõi cây?' Ðược hỏi vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy trả lời như sau: 'Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây'. Ðược hỏi như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật).
Sư Phụ: Xin mời một vị trong đại chúng lấy ví dụ tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi.
Thầy Thiện Huệ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên thầy, kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin cho ví dụ: 4h sáng là giờ con ngủ ngon cũng là giờ công phu, nếu con không tác ý thì con dễ làm biếng muốn nằm ngủ tiếp. Con tác ý "sự vô thường có thể đến bất cứ lúc nào, không biết mình còn sống được qua ngày mai không cho nên nếu cứ lười biếng sẽ không có tinh tấn để lên thiền đường đọc tụng kinh điển với đại chúng", chính sự tác ý như vậy làm con có động lực mạnh mẽ để tu học với đại chúng, tác ý như vậy thiện pháp sẽ sanh khởi. Nhờ có sự tác ý nên cây bồ đề mới ở bên cạnh thầy, không có sự tác ý thì cây bồ đề sẽ không ở đó, trong sự tác ý sẽ có sự thúc giục bên trong, mong muốn để cây bồ đề ở đó, không tác ý sẽ không có sự thúc giục để cây bồ đề ở đó.
Phật tử Đồng Hạnh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin cho ví dụ, khi ngồi thiền con thấy những con kiến, con bọ đi ngang qua nếu con chỉ nhìn không tác ý thì không sanh khởi các pháp, nhưng khi con tác ý "thấy tội cho những chúng sanh này quá, mình được ngồi tu tập mà tụi nó phải bò đi kiếm ăn", "tội cho những chúng sanh này khi phải sanh vào những kiếp sống như vậy", khi tác ý như vậy có cảm thọ thương xót khởi lên trong con, mình thương những chúng sanh đó nên phát khởi được tâm từ. Còn khi thấy những chúng sanh đó mà không tác ý thì tình thương, lòng từ không sanh khởi.
Sư Phụ: Minh Thành chỉ thêm một tác ý nữa là phải quay vào bản thân mình tác ý, tức là "nếu không khéo tu tập mình sẽ trở thành những tấm thân như vậy", khi tác ý vừa có sự cảnh tỉnh, nhắc nhở hoặc tình thương không những cho bên ngoài mà còn cho tự thân thì mới đầy đủ.
Ví dụ, khi đi đường mình thấy một người lang thang đầu tóc rối bù, áo quần tơi tả vừa đi vừa chửi thì đương nhiên nếu biết tác ý sẽ thấy thương họ, vì ác nghiệp, tội nghiệp, vì những hành động bất thiện pháp trong quá khứ nên bây giờ phải mang lấy thân thể, tâm thức mê muội điên cuồng như vậy. Nhưng nếu chỉ hướng ra ngoài thương họ như vậy sẽ không đủ pháp mà mình phải quay ngược vào bản thân, nếu mình sống với tâm buông thả, buông lung, rong chơi không chánh niệm tỉnh giác thì những đời sống trong tương lai của mình sẽ giống như vậy, cho nên bây giờ mình phải cố gắng nhiếp phục tâm ý, điều phục tâm ý, phòng hộ tâm ý, bảo vệ tâm ý, chánh niệm tỉnh giác trong sự tu tập Tứ Niệm Xứ.
Tác ý như vậy mới đầy đủ, vừa có từ tâm ở bên ngoài vừa có từ tâm với tự thân chính mình, có nhiều người thương từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc, thương hết mọi người nhưng họ không biết người đáng thương thật sự là chính bản thân họ, cái này cũng là thiện pháp nhưng không đầy đủ cho nên khi tác ý cần nhớ mình, người, tự tha, trong, ngoài.
Phật tử Thiện Cần: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính thưa sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin đưa ra ví dụ để trả lời câu hỏi tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Ví dụ ngay trong buổi ngồi thiền sáng nay, có khoảng thời gian giữa giờ thì con lại thấy cảm thọ rơi vào rã rượi, hôn trầm, mệt mỏi, những vết thương làm cho đau nên sanh ra sự khó chịu. Cảm giác bị chùng lại làm tâm trí bị mê mờ, có lúc con quên tác ý nhưng khi nhớ thì nhìn lại thấy cảm giác như vậy, mình đang trong trạng thái này không chấp nhận được nên phải như lý tác ý đánh tan cảm giác chứ không được để cho trì trệ. Con nhìn ra bên ngoài và tác ý "bầu trời sắp sáng, cành cây đu đưa, tiếng chim hót líu lo và một ngày mời sắp bắt đầu. Mình thật may mắn, hạnh phúc được ngồi tu học với mọi người", tác ý như vậy những cảm giác hỷ lạc từ từ về đánh bật sự rã rượi. Đó là ví dụ của con, con xin hết.
Tu với con chó
Cách tác ý của mình rất quan trọng. Có rất nhiều cấp độ nhìn nhận khác nhau rất hay, giữa người biết tu và người không biết tu nhìn nhận một vấn đề, một sự việc khác nhau một trời một vực, đơn giản khi thấy con kiến, muỗi, gián, chó, mèo… cũng nhìn nhận khác nhau.
Chẳng hạn thấy con chó con dễ thương mà mọi người thường gọi là cún cưng, có người nhìn con chó con thấy bình thường, không thích cũng không ghét mà đơn thuần chỉ là con chó; có người nhìn thấy con chó lại cảm thán "thấy thương quá, thích quá, dễ thương quá", đó là tham ái, quyến luyến; có nhiều người mất con chó hoặc con chó chết là khóc lóc, đau khổ như mất đi một người thân trong gia đình; có những người nhớ con chó không đi tu được vì sợ không ai lo cho nó, không cho nó ăn, nó uống.
Cái nhìn của nghiệp quả
Đại đa số thương con chó là ái chứ không phải từ, nếu không có chánh kiến là không biết được tình thương thuộc về loại nào. Vì thương trên ái cho nên tắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo, cho ăn hoặc con chó bị gì là người chủ sầu, bi, khổ, ưu, não. Nếu con chó bệnh thì giống như có người thân trong nhà bệnh, nếu con chó chết thì người này khóc than buồn bã. Có người nhìn con chó thấy thương nhưng thương bằng từ tâm do sự thấy hiểu đúng đắn, tức là thương cho một kiếp của loài bàng sanh, thú vật, súc sanh.
Cho nên, giữa một người thương thú cưng và giữa một người biết tu nhìn thấy loài vật, thương chúng vì nghiệp ác mới tạo thành thân thú vật thì hai cái thương này khác nhau hoàn toàn, một bên là ái và một bên là từ. Ở đây chỉ mới là cấp độ vừa phải để dễ nhận thức, một bên là yêu thích, quý mến, ràng buộc trong sự tham ái, còn một bên nhìn con chó với sự thương xót của lòng từ mẫn vì thấu hiểu được ngũ uẩn và bản chất của nhân quả nghiệp báo. Một người thương bằng tâm từ sẽ rất khác, họ cũng thương nhưng với niềm bi mẫn, xót thương vì đó là kết quả của ác nghiệp.
"Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy". (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII). Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)
Đây là những điều căn bản của Thánh Pháp mà mình sẽ sử dụng suốt đời tu hành. Khi nhìn là nhìn nghiệp quả chứ không phải nhìn trên tham ái, khi nhìn bất cứ một chúng sanh nào thậm chí là cha mẹ, anh em, vợ chồng cũng nhìn bằng con mắt của nhân quả, nghiệp quả. Chúng ta phải nắm thật vững những câu kinh trên để quán chiếu, tác ý trong tất cả mọi thời mọi lúc, mọi hoàn cảnh, mọi con người, khi nhìn bất cứ cái gì là nhìn bằng con mắt của nghiệp quả thì mới từ từ giảm bớt tham ái, nếu không là không thể giảm được.
"Tất cả đều là chúng sanh,
Không ai là người thân của mình,
Chỉ có vô minh, nghiệp và nhân quả.
Hãy buông xả và mau tỉnh thức,
Sống đúng trách nhiệm,
Sống đẹp với đời,
Nhận diện ngũ uẩn,
Thể nhập Thánh Trí,
Diệt tham, sân, si
Thoát ly sanh tử". (Nghi thức tu học Nikāya – Niệm chúng sanh)
Chúng ta phải nhìn bằng cái nhìn như vậy thì mới giảm bớt, nhiếp phục và đi đến chỗ đoạn tận tham ái. Chúng ta phải nhìn bằng con mắt của nghiệp quả, nếu không chỉ toàn nhìn bằng con mắt của tham ái. Trong cuộc sống bên ngoài xã hội, người nào giết người càng nhiều càng được đàn em tôn trọng gọi bằng đại ca, trong đám bạn bè ác càng làm nhiều tội lỗi càng được xem trọng, đó là tà tri kiến, tà tư duy, tà nghiệp, tà ngữ, tà mạng. Mình phải tập nhìn bằng con mắt của nghiệp quả trong mọi vấn đề đến với mình, dù cho gặp chuyện vui tốt cũng cẩn thận với nghiệp quả, dù cho gặp chuyện buồn khổ, suy sụp tàn tạ cũng phải nhìn bằng nghiệp quả để tâm không bị dao động nhiều. Nghiệp chính là bào thai, là bà con, là điểm tựa, chính là cái mà mình sẽ thừa hưởng trong hiện tại và tương lai, phải thừa kế và tiếp nối.
Vì thế phải nhìn con chó bằng con mắt của nghiệp, thương nó vì ác nghiệp mà phải mang cái thân như vậy và nếu không cẩn thận tu hành mình lại chất chứa, nuôi dưỡng, phát triển tâm sân hận, tâm ngu si, tâm bản ngã thì đời sống tiếp theo của mình sẽ là những con thú vật đó. Cho nên tác ý của mình ở mức độ nào, trí tuệ cạn hay sâu là nhờ sự thấy biết của mình về pháp, lấy Đức Thế Tôn làm chỗ căn bản, làm chỗ y cứ, làm chỗ nương tựa.
Nhiều sự thật
Trong kinh Đức Phật dùng từ "nhiều sự thật", sự thật không phải chỉ có một mà có rất nhiều sự thật, sự thật về vô minh, sự thật về tham ái, sự thật về nhân quả, sự thật về nghiệp báo, những sự thật về chấp thủ… Nếu không huân tập pháp ở nhiều khía cạnh, góc độ, nhiều phương diện, mà mình chỉ biết có một thứ thì mình chỉ thấy một góc của ngôi nhà chứ không thấy được nhiều phương diện khác. Cũng vậy, chúng ta chỉ thấy được một cạnh của tâm, một cạnh của vô minh mà không thấy hết toàn diện các góc độ của vô minh, tham ái, chấp thủ. Cũng như nếu chỉ thấy một góc của khổ là nghèo thì khổ, bệnh thì khổ thì mình sẽ không thành tựu Khổ Thánh Trí toàn diện, viên mãn và mình sẽ không thể đi ra khỏi khổ được. Chúng ta phải tu tinh tấn ngày đêm là để thấm được cái khổ ở nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ thì tự nhiên sự tu của mình sẽ mãnh liệt, tinh cần, tinh tấn, vì thế, phải thấy biết nhiều sự thật.
Chúng ta nêu ra vấn đề con chó để thấy nhiều khía cạnh. Thứ nhất, nhìn con chó thấy bình thường, "suy nghĩ nhiều chi cho mệt", đó là vô minh, si ám. Thứ hai, nhìn con chó thấy thích, thương mến, đó là tham ái. Thứ ba, nhìn con chó thấy ghét, không thích chó nên không ưa. Thứ tư, nhìn con chó thấy xót thương bằng tâm từ mẫn đối với chúng sanh, lo lắng, lo sợ quả báo của ác nghiệp, vì ác nghiệp mà chúng sanh phải mang thân lông lá như vậy, từ chỗ này mới quay ngược lại tự thân của mình để ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy. Mỗi lần nhìn các con vật cứ tác ý như vậy cho trí tuệ sanh khởi, mỗi lần như vậy là trí tuệ sanh khởi, chánh kiến được tu tập, chánh tư duy được tăng trưởng, cảm thọ, nhận thức được phát khởi. Từ con chó nhìn rộng ra các con vật khác, thậm chí là con người, có những người bỏ ra rất nhiều tiền để thẩm mỹ, xăm hình con vật, xỏ khuyên, gắn răng nanh cho giống với con vật họ yêu thích, không phải thời nay mới có mà ngay cả thời Đức Phật đã tu hạnh con chó.
"-- Bạch Thế Tôn, lõa thể Seniya hành trì hạnh con chó, thực hành những hạnh khó hành, ăn đồ ăn quăng dưới đất, chấp nhận và hành trì hạnh con chó trong một thời gian dài, vậy sanh thú ông ấy thế nào, vận mạng ông ấy thế nào?
-- Này Punna, thật sự Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của Ông và đã nói: 'Thôi vừa rồi Punna, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa'. Tuy vậy, Ta sẽ trả lời cho Ông. Ở đây, này Punna, người nào hành trì hạnh con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì giới con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì tâm con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì uy nghi con chó một cách hoàn toàn viên mãn, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh thân hữu cùng với các loài chó.
-- Bạch Thế Tôn, Punna Koliyaputta này đã chấp nhận và hành trì hạnh con bò này trong một thời gian dài, vậy sanh thú của ông ấy thế nào, vận mạng của ông ấy thế nào?
-- Này Seniya, thật sự Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của Ông và đã nói: 'Thôi vừa rồi Seniya, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa'. Tuy vậy ta sẽ trả lời cho Ông. Ở đây, này Seniya, người nào hạnh trì hạnh con bò một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì giới con bò một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì tâm con bò một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì uy nghi con bò một cách hoàn toàn viên mãn, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh thân hữu cùng với các loài bò". (Trung Bộ Kinh, 57. Kinh Hạnh con chó)
Ba quan điểm của ngoại đạo
Sự hướng tâm rất quan trọng, chúng ta tầm, suy tư, tác ý theo chiều nào sẽ đi theo chiều hướng đó. Trong Tăng Chi Bộ, Đức Phật nói ngoại đạo có ba quan điểm trong thời đó.
Thứ nhất, những cảm thọ khổ, vui, không khổ không vui mà mình cảm nhận được “đều do nghiệp trong quá khứ”, tức là những gì bây giờ mình mang đều là từ nghiệp trong quá khứ biểu hiện ra, người này kiên định với chủ trương như vậy, Đức Phật nói nếu kiên định bám chấp vào cái nhìn nhận như vậy thì người này sẽ không có tâm tư nỗ lực việc gì phải làm và việc gì không nên làm. Cái này ngay cả người tu cũng vậy, mình hay nói "tại nghiệp của tôi như vậy đó", ví dụ người đó hay nóng giận và có người thắc mắc tại sao cứ nóng giận thì người này nói "nghiệp tôi vậy đó", "tánh tôi vậy đó", "nghiệp quả tôi vậy rồi, chắc tôi không tu được đâu", đó là những sự tác ý sai lầm cho nên không bao giờ mình tu được, đó cũng là kiến chấp, nếu người này chấp nhận quan điểm như vậy thì người này sẽ không nỗ lực phấn đấu, không quyết tâm để thay đổi mình, đó là kiến chấp của ngoại đạo chứ không phải thuyết nghiệp của Đức Phật. Phải dùng chánh tri kiến phá những suy nghĩ đó, những suy nghĩ đó chỉ là hành uẩn, là duyên sanh, vô thường.
Quan điểm thứ hai là tất cả những cái khổ, cái vui mà mình cảm thọ được “đều do ông trời đặt định, do tạo hóa”. Điều này rất phổ biến trong dân gian đặc biệt bên Nho giáo, người ta gọi là thiên mệnh hoặc như câu "nhất ẩm, nhất trác, giai do tiền định", nghĩa là ăn uống, cử động đều đã định trước, quan điểm này rất phổ biến trong dân gian. Người nào chấp nhận cứng chắc quan điểm đó thì người này không có ý muốn thay đổi bản thân, không nỗ lực, gắng sức làm mới bản thân. Cho nên, Đức Phật chỉ trích quan điểm này một cách chân chánh và những người có quan điểm như vậy là ngoại đạo chứ không phải đạo Phật.
Nếu trong người có những suy nghĩ chướng đạo hay còn gọi là nghiệp chướng, sở tri chướng mà mình không dùng chánh trí, thánh trí, chánh pháp, dùng những lời dạy của Đức Phật, cộng với việc mình không đủ sức mạnh để phá những suy nghĩ cứng chắc đó thì chúng ta sẽ bị chặn đứng không thể vào pháp được. Giống như mình gần đến nơi nhưng có cây ngã, tảng đá chặn ngang làm chướng ngại vật khiến cho mình không vượt qua được, vì thế, trong sự tu này giống như người phá núi. Có những người sống ở nơi heo hút, con cái muốn đi học phải băng qua cả một ngọn núi, người cha thấy vậy nên muốn phá núi tìm đường cho con đi, cuối cùng người cha làm được khiến mọi người vô cùng bất ngờ. Sự tu này là phá những tư tưởng sai quấy, chấp thủ, những tư tưởng tham dục, tham ái, sân hận, bản ngã giống như phá núi để mở đường. Nếu còn nuôi dưỡng những tư tưởng tham dục, tham ái, vô minh, bản ngã đó mà không chịu phá tan, phá nát đó ra thì không thể nhập được pháp, không thể nhập được Thánh trí vì nó làm chướng ngại vật, chướng đạo, chặn lối tiến của chúng ta.
Hạng người thứ ba có quan điểm “vô nhân vô duyên”, tức là mọi thứ đều tự nhiên, mình khổ hay mình vui đều là tự nhiên như vậy, không có lý do gì cả. Một người suy nghĩ như vậy sẽ không nỗ lực tinh cần, tinh tấn thay đổi mình. Đức Phật chỉ trích một cách chân chánh về ba quan điểm sai lầm này.
"Này các Tỳ-kheo, có ba y xứ này của ngoại đạo, dầu có bị các bậc Hiền giả cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận, vẫn kiên trì trong quan điểm truyền thống về vô vi (không hành động). Thế nào là ba?
Này các Tỳ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn thuyết như sau, chấp kiến như sau: 'Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân nghiệp quá khứ'.
Này các Tỳ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết như sau, chấp kiến như sau: 'Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân một tạo hóa tạo ra'.
Này các Tỳ-kheo, có một số Sa-môn, hay Bà-la-môn, thuyết pháp như sau, chấp kiến như sau: 'Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do không nhân, không duyên'.
- Ở đây, này các Tỳ-kheo, đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết như sau, chấp kiến như sau: 'Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân nghiệp quá khứ'. Ðối với các vị ấy, Ta đến và nói: 'Chư Tôn giả, có thật chăng, Chư Tôn giả có thuyết như sau, chấp kiến như sau: 'Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân nghiệp quá khứ?'.
Ðược Ta hỏi vậy, họ trả lời: 'Thưa phải, có như vậy'.
Ta nói với họ như sau: 'Như vậy, thời theo các Tôn giả, do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người sát sanh; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người lấy của không cho; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người không Phạm hạnh; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người nói láo; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người nói hai lưỡi; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người ác khẩu; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người nói lời phù phiếm; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người tham lam; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người tâm sân; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người theo tà kiến'. Nhưng này các Tỳ-klheo, với những ai trở lại dựa vào nghiệp quá khứ là do kiên thực, với những người ấy sẽ không có ước muốn, không có tinh tấn, không có 'Ðây là việc phải làm', hay 'Ðây là việc không nên làm'. Như vậy, sự cần thiết cần phải làm hay không cần phải làm không được tìm thấy là chân thực, là đáng tin cậy, thời danh từ Sa-môn không thể áp dụng đúng pháp cho các Ông được, vì các Ông sống thất niệm và với các căn không hộ trì.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, đây là sự chỉ trích đúng pháp thứ nhất của ta đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vậy, có chấp kiến như vậy.
- Ở đây, này các Tỳ-kheo, đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết như sau, chấp kiến như sau: 'Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân một tạo hóa tạo ra'. Ðối với các vị ấy, Ta đến và nói: 'Chư Tôn giả, có thật chăng, Chư Tôn giả có thuyết như sau: 'Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân một tạo hóa tạo ra?'.
Ðược Ta hỏi vậy, họ trả lời: 'Thưa phải, có như vậy'.
Ta nói với họ như sau: 'Như vậy, thời theo các Tôn giả, do nhân một vị tạo hóa tạo ra, sẽ trở thành người sát sanh ... Do nhân một vị tạo hóa tạo ra, sẽ trở thành người theo tà kiến'. Nhưng này các Tỳ-kheo, với những ai trở lại dựa vào vị tạo hóa tạo ra là lý do kiên thực, với những người ấy sẽ không có ước muốn, không có tinh tấn, không có 'Ðây là việc phải làm', hay 'Ðây là việc không nên làm'. Như vậy, sự cần thiết cần phải làm hay không cần phải làm không được tìm thấy là chân thực, là đáng tin cậy, thời danh từ Sa-môn không thể áp dụng đúng pháp cho các Ông được, vì các Ông sống thất niệm và với các căn không hộ trì.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, đây là sự chỉ trích đúng pháp thứ hai của ta đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vậy, có chấp kiến như vậy.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết như sau, chấp kiến như sau: 'Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do không nhân không duyên'. Ðối với các vị ấy, Ta đến và nói: 'Chư Tôn giả, có thật chăng, Chư Tôn giả có thuyết như sau chấp kiến như sau: 'Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do không nhân không duyên?'.
Ðược Ta hỏi vậy, họ trả lời: 'Thưa phải, có như vậy'.
Ta nói với họ như sau: 'Như vậy, thời theo các Tôn giả, do không nhân không duyên, sẽ trở thành người sát sanh ... Do không nhân không duyên, sẽ trở thành người theo tà kiến'. Nhưng này các Tỳ-klheo, với những ai trở lại dựa vào không nhân không duyên là lý do kiên thực, với những người ấy sẽ không có ước muốn, không có tinh tấn, không có 'Ðây là việc phải làm', hay 'Ðây là việc không nên làm'. Như vậy, sự cần thiết cần phải làm hay không cần phải làm không được tìm thấy là chân thực, là đáng tin cậy, thời danh từ Sa-môn không thể áp dụng đúng pháp cho các Ông được, vì các Ông sống thất niệm và với các căn không hộ trì.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, đây là sự chỉ trích đúng pháp thứ ba của ta đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vậy, có chấp kiến như vậy". (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, Sở y xứ)
Còn Đức Phật nói về sáu xúc, sáu thọ, sáu căn, sáu trần, sáu thức, Ngài nói các pháp duyên sanh, Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ, chính những cái này mới có sự thay đổi, do pháp duyên sanh nên mới có sự thay đổi.
"Và này các Tỳ-kheo, đây là pháp Ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là pháp ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách?
Sáu giới này, này các Tỳ-kheo, là pháp Ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách.
Sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, là pháp Ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách.
Mười tám ý cận hành này, này các Tỳ-kheo, là pháp Ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách.
Bốn Thánh đế này, này các Tỳ-kheo, là pháp Ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách". (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, Sở y xứ)
Bài kinh “Cội Rễ Của Sự Vật”
Cẩn thận với xúc
Trong bài kinh “Cội Rễ Của Sự Vật” có câu "tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi". Sanh khởi có nghĩa đơn giản hơn còn tập khởi nghĩa là tụ tập, tập hợp lại rồi sanh khởi ra. Phải có tâm định tĩnh, thiền định để nhìn ra xúc vì nó rất nhiều.
Ví dụ không phải tự nhiên thầy Thiện Tuệ ngồi đây nghe pháp, thầy đã có năm năm nghe pháp của Minh Thành trước khi vào dòng pháp Nikāya, chú Thiện Cần không phải tự nhiên khởi ý lên Linh Quy tu cho đến giờ. Nghĩa là khi mọi người lên Linh Quy thì nhãn xúc, con mắt tiếp xúc với cảnh vật núi rừng thanh tịnh xa vắng, viễn ly, nhĩ xúc được nghe chánh pháp, trong thân tâm có sự cảm nhận và chính thọ; tưởng; hành là những cái thấy, cái nghe, sự nhận thức, những sự cảm xúc… biết bao cái xúc và những cái xúc này diễn ra rất nhiều lần từ khóa tu này qua khóa tu kia rồi cuối cùng mới tha thiết muốn lên tu ba tháng, dù khó khăn cỡ nào cũng cố gắng, đó là tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi.
Khi giận một ai mình nghĩ đơn giản là "tôi giận" thì đó là vô minh, mà phải xúc rất nhiều mới giận, vì thế cái xúc này tụ tập lại mới sanh khởi ra. Thiện pháp, ác pháp cũng giống vậy, tham, sân, si cũng vậy mà tăng thượng giới – định – tuệ cũng vậy, phải lấy xúc làm tập khởi. Tại sao chúng ta đắp y, cạo đầu? Chúng ta xúc có nhiều không? Trước khi các thầy, các cô đi tu có tiếp xúc mắt, tai, mũi, lưỡi không? Vào chùa mình cũng phải ăn, uống, tiếp xúc bằng thân, bằng tâm thức và mình thấy giá trị, lợi ích, chân lý, pháp này có khả năng diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn thì mình mới quyết tâm đi theo con đường này và bỏ hết mọi thứ lại sau, như vậy tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Từ sự tiếp xúc nhiều, thấy, nghe, cảm nhận, suy tư, quán sát, nhận thức, rõ biết bằng trí tuệ xác quyết và cuối cùng khởi ra một pháp đầu tròn áo vuông, viên đảnh phương bào, một Tăng tướng từ chỗ xúc tập khởi. Tiếp xúc rồi thấy, nghe, cảm nhận, hiểu biết, suy tư, quán sát vấn đề đó, con đường đó, đạo lộ đó, đường lối hành trì đó và cuối cùng mình quyết định xuất ly vĩ đại cho nên mình có mặt tại Linh Quy.
Như vậy, hằng ngày chúng ta nghe pháp, ngồi thiền, suy tư là lấy xúc làm tập khởi để sanh ra ly tham, bớt tham muốn, sanh ra sự nhàm chán, từ bỏ, giải thoát. Những pháp này được sanh là do sự tập khởi của xúc. Chữ "tập" này nghĩa là tích tập, tụ tập, tập hợp rất nhiều xúc của thiện pháp, Thánh pháp, trí tuệ thì mới sanh khởi ra được đạo lộ, nhất hướng, xác quyết tiến thẳng không lui từ hướng Dự Lưu cho đến Nhập Lưu. Như vậy, điều này sanh khởi ra được là nhờ sự tập khởi của xúc. Cho nên, chúng ta tu là tiếp xúc từ nhãn xúc, nhĩ xúc đến thân xúc, trong thân tâm là thọ, tưởng, hành, thức, sở dĩ nó nhóm hợp sanh khởi ra được là do sự tiếp xúc. Không phải người nam mới nhìn người phụ nữ lần đầu là đi theo người đó mà phải do xúc nhiều lần, xin số điện thoại, nhắn tin qua lại, nói chuyện rồi gặp gỡ… bao nhiêu thứ tụ hội lại tiếp xúc nhiều lần chồng chất lên thì sanh khởi ra pháp, thiện pháp hay ác pháp cũng lấy xúc làm tập khởi.
Vì thế khi tiếp xúc cần lựa chọn vì nó rất quan trọng trong sự nghiệp tu hành. Khi chúng ta đọc nhiều kinh Nikāya sẽ thấy Đức Phật chỉ nói hai điều là thiện hay bất thiện, từ chuyện ăn, mặc, nói năng, làng mạc, thị trấn thì Đức Phật nói hễ thiện pháp thì cho tăng trưởng phát triển còn bất thiện pháp thì lánh xa, không thân cận. Bất thiện pháp là tham dục, sân hận, si mê, vô minh, bản ngã. Thiện pháp là ly tham, ly sân, lìa vô minh, phá chấp ngã. Chúng ta cứ hướng vào thiện pháp sẽ đi đến chỗ chí thiện, tức là diệt tận tham, diệt tận sân, diệt tận si, diệt tận vô minh, cái chuẩn này mình phải nắm thật vững vì nó là tổng cương lĩnh của toàn bộ pháp tạng Thánh điển – đại tạng kinh Nikāya. Bất cứ làm việc gì cũng phải xem lại đó là thiện hay bất thiện, nếu là bất thiện thì lìa xa, tránh xa, giảm bớt, đoạn giảm, còn thiện thì cho tăng trưởng liên tục.
Chúng ta đừng nên coi thường cái xúc, mọi người thường hay suy nghĩ thử một lần cho biết, thử hút thuốc một lần cho biết, nhưng thử lần một sẽ có lần hai, lần hai rồi đến lần ba, lần bốn, thế là nghiện không thể bỏ thuốc lá được. Cho nên, phải tránh né xúc bất thiện để ly tham, điều này rất quan trọng trong sự tu.
Cẩn thận với dục
"Tất cả pháp lấy dục làm căn bản" rất ghê gớm, nếu mình không đủ trí tuệ, không đủ sự nhìn nhận là mình sẽ chết với nó.
"Thế Tôn thuyết giảng như sau:
-- Này Gia chủ, ví như có con chó đói lả, suy nhược, đi đến một lò thịt giết bò. Ở đây, có người giết bò thiện xảo hay người đệ tử quăng cho nó một khúc xương, khéo lóc, tận lóc, không có thịt, chỉ có dính máu. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Con chó ấy, khi gặm khúc xương ấy, khéo lóc, tận lóc, không có thịt, chỉ có dính máu có thể đoạn trừ được đói lả suy nhược của nó không?
-- Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Với khúc xương khéo lóc, tận lóc, không có thịt, chỉ có dính máu ấy, bạch Thế Tôn, con chó kia chỉ có mệt nhọc khốn khổ mà thôi.
-- Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: 'Thế Tôn đã nói, dục được ví như khúc xương, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn'. Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ, sau khi từ bỏ loại xả thuộc loại đa chủng, y cứ đa chủng, đối với loại xả thuộc loại nhứt chủng, y cứ nhất chủng, ở đây, mọi chấp thủ đối với thế vật được đoạn trừ hoàn toàn, không có dư tàn, vị ấy tu tập loại xả như vậy". (Trung Bộ Kinh, 54. Kinh Potaliya)
Đức Phật ví dục như khúc xương khô, khi con chó gặm khúc xương khô này không có gì trong đó, chạy theo dục cũng giống như vậy, nhìn xa thì đẹp lại gần thì tan nát, không có gì hết.
"Này Gia chủ, ví như con chim kên, con chim diều hâu, hay con chim ưng giành được miếng thịt liền bay bổng lên; các con chim kên khác, chim diều hâu khác, hay chim ưng khác bay đuổi theo, đuổi sát theo giành giựt xé nát miếng thịt ấy. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Nếu con chim kên, chim diều hâu hay chim ưng ấy không vứt bỏ ngay miếng thịt ấy, nó có thể do nhân duyên ấy, đi đến chết hay đi đến khổ gần như chết không?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: 'Thế Tôn đã nói, dục được ví như miếng thịt, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn'. Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ, sau khi từ bỏ loại xả thuộc loại đa chủng, y cứ đa chủng, đối với loại xả thuộc loại nhứt chủng, y cứ nhứt chủng, ở đây mọi chấp thủ đối với thế vật được đoạn trừ hoàn toàn, không có dư tàn, vị ấy tu tập loại xả như vậy". (Trung Bộ Kinh, 54. Kinh Potaliya)
Chùa của mình không có gì quý giá nên không cần đóng cửa, không cần ai canh giữ. Nếu có đồ quý phải có người canh chừng, phòng hộ, cũng vậy việc nào có lợi sẽ bị xâu xé, giành giựt, ai cũng muốn tham gia vào, ai cũng muốn đồ có giá trị cho nên mình đưa đồ giá trị ra sẽ bị xâu xé, tranh giành, chỉ với một chức vụ thôi mà biết bao người tranh giành, bao người bị hại. Nhai nuốt, xâu xé miếng thịt cũng chỉ vì cái dục, tham muốn danh lợi, chức vụ cho nên pháp tối thượng của Đức Phật là ly tham, diệt dục thì mới hết khổ, tất cả mọi sắc; thanh; hương; vị; xúc trên đời này cần đoạn diệt mới hết khổ. Chỉ riêng món ăn ngon cũng gây khổ, một bàn ăn có bốn thầy mà chia đồ ăn chỉ có ba thầy thì người còn lại thấy phiền não, hai sư cô hòa thuận vui vẻ với nhau mà cúng dường người nhiều người ít cũng gây ra phiền não, chúng ta tu là ngay chỗ này, trong từng việc nhỏ nhặt đều có dục, tham, ái, sân hận trong đó.
"Này Gia chủ, ví như một người cầm một bó đuốc cỏ đang cháy rực đi ngược gió. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào, nếu người ấy không vứt bỏ ngay bó đuốc ấy, bó đuốc cỏ đang cháy rực ấy có thể đốt cháy tay, hay đốt cháy cánh tay, hay đốt cháy một thân phần của người ấy, người ấy có thể do nhân duyên ấy, đi đến chết, hay đi đến khổ gần như chết không?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: 'Thế Tôn đã nói, dục được ví như bó đuốc cỏ, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn'. Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ ... (như trên)... vị ấy tu tập loại xả như vậy". (Trung Bộ Kinh, 54. Kinh Potaliya)
Bó đuốc được làm bằng lá dừa khô nên cháy rất nhanh, nếu mình không buông ra là nó cháy xuống phỏng tay, những sự tham muốn trên cuộc đời này cũng giống như vậy, nó là tai họa nên cần tránh xa, viễn ly, đó là đời sống tối thượng.
"Này Gia chủ, ví như một hố than hừng, sâu hơn thân người, đầy những than hừng, cháy không thành ngọn, cháy không thành khói, và một người đi đến muốn sống, muốn không chết, muốn lạc, né tránh khổ. Nhưng có hai nhà lực sĩ, nắm chặt hai cánh tay người ấy và lôi người ấy đến hố than hừng. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có co rúm thân, vật qua vật lại phía này phía kia không?
-- Bạch Thế Tôn, có. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì người ấy biết: 'Nếu ta rơi vào hố than hừng này, do nhân duyên này, ta sẽ đi đến chết hay đau khổ gần như chết'.
-- Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: 'Thế Tôn đã nói, dục được ví như hố than hừng, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn'. Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ... (như trên)... vị ấy tu tập loại xả như vậy". (Trung Bộ Kinh, 54. Kinh Potaliya)
Những lời của Đức Phật rất vi diệu nên mình cần chiêm nghiệm để hành trì.
Niệm, định và tuệ
"Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) Cội Rễ Của Sự Vật).
Định là sự tập trung tâm ý, nếu mình làm cái gì mà tập trung tâm ý thì sự tập trung tâm ý đó là thống soái. Khi không có định, tâm không tập trung tâm ý thì nó sẽ dẫn mình đi sai hướng. Cho nên, ta thấy rằng, kinh sách nằm ngay trong đời sống, ngay trong sự việc hiện tại chứ không ở đâu xa, không tập trung nên kêu một đằng làm một nẻo, nói cái này nghe cái kia, chỉ cái A làm cái B nên tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Thượng thủ là lãnh đạo, là dẫn đường, định là sự tập trung tâm ý, khi mình làm cái gì, nói cái gì đều phải tập trung tâm ý vào đó, nếu không sẽ trả lời lạc đề hoặc nói lòng vòng không vào trọng tâm câu hỏi.
Trong thanh quy đạo tràng quy định rõ trình pháp năm phút nhưng mình nói gần nửa tiếng, vậy là do không tập trung tâm ý. Còn khi tập trung tâm ý mình sẽ biết rõ chỗ này nên làm cái gì, nên nói cái gì, nói như thế nào và nói trong khoảng thời gian nào chứ không phải nói theo cái mình muốn vì đó là dục, phải nói cái cần nói chứ không phải nói điều muốn nói. Ví dụ, người ta đang thất tình đau khổ muốn tìm mình hỏi xin ý kiến thì mình lại nói "thân trống rỗng" làm người ta không hiểu gì cả. Đó là do tâm mình không định tĩnh, không có chánh niệm để mình xem xét sự việc đó như thế nào, người ta đang cần cái gì, mà mình thích bài nào thì nói bài đó, như vậy là dục chứ không phải pháp. Mình thích cái đó, khoái cái đó, muốn nói cái đó nhưng người ta lại cần cái khác, trong sự tu hành của mình cũng vậy, lấy cơm thì rớt cơm, bưng bát thì rơi bát, vào ngồi không biết hàng trên hàng dưới…
Cho nên, tất cả mọi việc đều đòi hỏi một sự chánh niệm và tỉnh giác, tập trung tâm ý vào việc mình đang làm, đó chính là Tứ Niệm Xứ. Chánh niệm cũng là ức niệm, phải ức niệm pháp để học, ức niệm pháp để tu thì mới làm tăng thượng. Vì thế việc học pháp phải kĩ càng chứ không thể học đơn sơ được, không biết chỗ ngồi, không biết vị trí đứng thì các lậu hoặc vi tế trong tâm làm sao nhìn thấy để diệt trừ. Tất cả đòi hỏi mình chánh niệm tỉnh giác, tập trung tâm ý, biết rõ việc mình đang làm, đó chính là thượng thủ, tức là chánh niệm và tỉnh giác, tập trung tâm ý, ức niệm nhớ nghĩ pháp mình đang học, nhớ nghĩ pháp mình đang thực hành. Nhiều khi đang trong khóa tu tịnh khẩu mà quên mất, nói cho đã mới nhớ đang tu tập tịnh khẩu. Vì vậy học kinh không phải đọc cho xong mà cần học thuộc, nghiền ngẫm, quán chiếu và viết ra, đọc tới đọc lui rồi ghi nhớ để pháp thâm nhập vào để thành tựu trí tuệ chứ không còn nằm trong kinh sách nữa.
"Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) Cội Rễ Của Sự Vật).
Lấy tuệ làm tối thượng nghĩa là suy xét, trạch pháp trong từng vấn đề, từng hoàn cảnh, từng con người, xét nét nên và không nên, làm và không làm, làm như thế nào để phù hợp thì trí tuệ đó là tối thượng. Đó là bên ngoài, còn bên trong phải tìm cách giải trừ những lậu hoặc, nó thuộc về tránh né hay thuộc về tu tập để đoạn trừ, lậu hoặc và phiền não đó thuộc về pháp kham nhẫn thì phải dùng kham nhẫn, chẳng hạn thấy bản ngã sanh khởi thì phải tập trung tâm ý vào diệt bản ngã, đó là định. Tất cả những điều đã nói ở trên phải lấy tuệ làm tối thượng, không có trí tuệ sẽ không biết dục là gốc rễ tội ác.
Và cuối cùng là “tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây”. Nghĩa là mục đích của tất cả sự tu hành, vị ngọt của cứu cánh, của sự thật là sự mở ra, thoát ra khỏi dục, ái, tham, vô minh, bản ngã; thoát ra khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức; thoát ra khỏi tham, sân, si, những điều đó chính là lõi cây. Chúng ta đi ra khỏi tâm sân hận, đố kỵ, hơn thua là thành công. Và do chúng ta chấp vào đúng sai nên mình phiền não hoài, vì vậy, ra khỏi tâm đúng sai cũng là thành công.
./.