Sự Khác Biệt Giữa NGU-HIỀN - THÁNH
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NGU - HIỀN - THÁNH
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Kẻ ngu PAGEREF _Toc112628062 \h 1
II.Người trí PAGEREF _Toc112628063 \h 3
Kẻ ngu
Hôm qua có vài vị trình pháp với con, có vị trình trực tiếp, có vị trình qua điện thoại. Con rất hoan hỷ với sự tu học của các vị, vừa rồi có vị trình pháp là khi đang quán bất tịnh, vô ngã nhưng có con muỗi cũng làm mình khó chịu. Ở phương diện này mình thấy được cái tâm chấp ngã nặng nề, nhưng ở phương diện khác lại thấy được thân tâm chính mình tốt hơn lúc trước. Lúc trước mình sân giận với con muỗi, thậm chí còn đập nó, mình cũng không thấy hối hận, sai trái hay nhục nhã. Trước khi biết tu tập và trước khi vào dòng pháp này thì mình thấy khó chịu khi con muỗi chích mình là bình thường, nhưng giờ mình thấy trong đó là sự tàm quý, xấu hổ. Cho nên trong sự tu qua sự trình pháp của quý vị thì chúng ta thấy người có lỗi mà không có biết lỗi thì đó là người ngu, phàm phu. Người có lỗi mà biết có lỗi rồi sửa lỗi thì đó là người hiền. Người đã đi đến chỗ diệt tận các tội lỗi và đi đến chỗ chấm dứt hoàn toàn các tội lỗi là bậc thánh.
Có 3 hạng người trên đời:
Ngu
Hiền
Thánh
Người ngu là người không biết lỗi, không nhận lỗi, không chấp nhận mình có lỗi dù cho mình đang có lỗi, cho nên mình phải thực tập nhìn thấy lỗi, biết được lỗi và can đảm nhận lỗi thì mình mới là người tu, người hiền. Từ chỗ mình biết lỗi, nhận lỗi và sửa lỗi thì mới đi đến chỗ hết lỗi, như vậy là bậc thánh. Tùy theo cấp độ nhận lỗi, sửa lỗi ở mức độ nào mà có ra sự sai biệt của các bậc hiền thánh, thành ra sự biết lỗi và nhận lỗi và tuyệt đối quan trọng. Do sự nhận lỗi, sửa lỗi và chuyển hóa các tội lỗi mà có ra các thứ bậc của hiền thánh, sở dĩ có bậc hiền thánh là do có sự nhận lỗi, sửa lỗi và tiêu trừ tội lỗi. Nếu không có sự biết lỗi, nhận lỗi và sửa lỗi sẽ không có hiền thánh trên cuộc đời này, chỉ toàn là phàm phu ngu si, mê muội điên đảo.
Khi thầy của mình, huynh đệ của mình, những bạn đạo của mình chia sẻ, chỉ lỗi cho mình mà mình cãi lại, sân hận, oán hờn thì mãi mãi mình ở trong địa vị của người ngu. Chúng ta phải thoát ra khỏi lãnh vực của người ngu, không những người lớn chỉ lỗi mình mới nghe, người ngang hàng chỉ lỗi mình nhận mà ngay cả người thấp kém chỉ lỗi của mình thì mình cũng phải nhận lỗi và có thể mình lạy ngay tại chỗ. Tại vì phàm phu không thấy lỗi của mình mà chỉ thấy lỗi của người khác, họ ưa nhìn lỗi người, ưa soi mói và tìm hiểu lỗi người khác.
Dễ thay thấy lỗi người,
Lỗi mình thấy mới khó.
Lỗi người ta phanh tìm,
Như sàng trấu trong gạo,
Còn lỗi mình, che đậy,
Như kẻ gian dấu bài.
(Kinh Pháp Cú 18 – Phẩm Cấu Uế, kệ 252)
Lỗi của người ta thì mình moi móc, tìm kiếm, bới lên giống như tìm thóc trong gạo. Còn lỗi của bản thân thì che đậy, giấu giếm như kẻ gian giấu con bài. Đó là địa vị của phàm phu không biết tu, cho nên bước quan trọng đầu tiên trong sự tu là nhận lỗi. Khi con chia sẻ cho quý thầy, các chú tập sự xuất gia mà con thấy chỉ mới nói thôi mà các vị cãi lại rồi ngụy biện, quanh co, che giấu lỗi lầm chứ không chấp nhận cái sai của mình thì con rất buồn. Không phải buồn là do mọi người không nghe lời, vì không có mình, không có thầy cũng không có sư phụ nào ở đây mà nghe lời mình. Mình phải tập nhìn không có ai, không có người nào, không có thầy, sư cô, hay Phật tử mà mình phải thấy tất cả đều là những đống dục tham, vô minh, bản ngã và sân hận, tập nhìn như vậy thì tu mới tiến. Giải phẫu trong thân tâm, phải tác ý thường trực "đây là một đống tham sân si, vô minh và bản ngã. Không có tên tuổi nào ở đây" thì tu mới tiến bộ, nếu mình còn gắn hình bóng, suy nghĩ có cái tôi trong đó thì không thể đi vào dòng pháp. Vì điều phải học đầu tiên là phải phá được thân kiến, nếu thân kiến còn đó, lúc nào cũng chặn trước mặt thì làm sao bước vào dòng pháp được?
Thành ra phải tập mỗi khi suy nghĩ về mình thì thấy còn một đống tham sân si, vô minh và bản ngã, vì vậy, khi được bậc thiện tri thức, thầy, huynh đệ chỉ lỗi thì mình phải nhìn nhận một cách chân thành, chân chánh, chân thật. Không những người lớn, người ngang hàng mà người thấp kém, đệ tử chỉ lỗi thì mình cũng phải quỳ lạy nhận lỗi. Khi nhận lỗi như vậy thì không những trị được bản ngã của bản thân mà mình còn cảm hóa được đối phương, điều này lợi lạc vô cùng, nếu pháp này đã tuyệt diệu như vậy thì tại sao mình lại không tu? Tại sao có người vừa chỉ lỗi là mình lại biện hộ, sừng sộ chứ mình không bình tĩnh lắng nghe, suy xét rồi từ từ mới phản ứng? Đó là lúc bản ngã, dục, vô minh, sân hoạt động và mình không thấy được thực pháp.
Phải thường xuyên nhìn lại bản thân thì mình mới thấy lỗi, nhận lỗi, mà nhìn lại mình tức là nhận diện ngũ uẩn, vì thế nhận diện ngũ uẩn là bao trùm các pháp, nếu không nhận diện ngũ uẩn là không có cách nào tu được. Tâm thức chúng sanh đã quen với lề lối cũ, muốn sửa được là cả một sự kì công, vừa chỉ lỗi của bản thân là mình ngụy biện, tìm cớ đổ lỗi tại người này rồi tại người kia, dù chỉ là một chuyện nhỏ nhưng mình cũng không chịu là mình sai. Tâm thức, tập khí, thói quen, cái nghiệp của chúng sanh là hễ chạm tới tấm thân là không chịu được nhưng lại ưa thích chạm vào người ta, ưa chỉ trỏ, phê phán, chỉ trích người khác, còn ai chỉ lại là sừng sộ. Chính vì vậy mà cứ ở mãi địa vị của người ngu, phàm phu vô minh với cái tâm, kiến, tưởng điên đảo, thành ra chỉ có nhận diện năm uẩn mới thấy được lỗi của mình. Đi đâu mình cũng cúi xuống do thấy xấu hổ vì trong thân tâm đầy rẫy những thứ rác bẩn, cấu nhiễm.
Người trí
Bước thứ hai là từ địa vị người ngu chuyển lên địa vị người hiền phải có sự nỗ lực cùng cực. Từ hiền mới qua thánh, chứ không phải từ người ngu có thể nhảy thẳng lên bậc thánh, cho nên mình đang tập tâm hiền. Tâm hiền là sự nhẹ nhàng, từ ái, an tịnh, lắng dịu, chính những cái này mới làm cho các cảm thọ sung mãn, hung hăng, dữ tợn giảm xuống. Đừng nghĩ rằng tu được một chút là bản thân hiền lại rồi, vẫn chưa được, ở trong tâm vẫn còn hung tợn, hung bạo lắm, chỉ cần đụng vào là sẽ biết ngay. Cho đến khi nào tất cả những cảm thọ hung ác trong tâm hoàn toàn lắng xuống, giảm thiểu một nửa hoặc hơn thì lúc đó mới bước vào địa vị của hiền nhân. Lắng dịu xuống thì mới nhìn nhận, bình tĩnh quán chiếu, soi xét được mọi thứ, ngọn đèn lúc trước cứ soi mói người ta thì bây giờ mới quay ngược lại soi vào nội tâm chính mình, như vậy gọi là nội soi. Từ khi học nhận diện năm uẩn lúc bắt đầu nội soi, nhìn thấy rồi nhận lỗi, sám hối, chúng ta quỳ xuống sám hối rất ngọt ngào, chân thành, thật lòng, thật tâm. Dù cho sau khi sám hối sẽ trở lại con người cũ nhưng ngay lúc sám hối là sự chân thành, vì thọ; tưởng; hành; thức là vô thường, nếu khi nào chứng nhập hoàn toàn sự nhàm chán, ly tham, chấm dứt, từ bỏ thì lúc đó là thánh, tức là chuyển qua địa vị của bậc thánh. Vì vậy các bậc thánh là bậc chứng nhập những cảm thọ bất tịnh, vô thường, khổ, vô ngã, nhàm chán, ly tham, chấm dứt… Còn mình bây giờ lâu lâu mới khởi lên những cảm thọ này rồi bị mất, mình phải làm sao để giữ được cảm thọ này rồi kéo dài cảm thọ này ra.
Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu.
Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Nhứt lai.
Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Nhứt lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai.
Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Bất lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán.
Nhưng vị A-la-hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?
Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới).
Nhận lỗi và sửa lỗi rất tuyệt vời, cho nên khi nghe ai chỉ lỗi, góp ý thì mình phải bình tĩnh, tâm ý lắng động lại để tiếp nhận một cách trí tuệ sâu sắc. Trong khi nghe thì soi vào trong xem tưởng; hành hoạt động như thế nào ngay lúc được góp ý, phải xem thật kĩ chứ không phải đi theo tiếng người đó nói. Khi được góp ý thì chắc chắn trong cảm thọ sẽ bị biến động, nếu mình không trú vào cảm giác toàn thân, không soi xét sâu vào các thọ; tưởng; hành ngay đó thì mình sẽ đi theo tiếng, theo cái thọ dẫn dắt phóng ra ngoài theo tập khí, theo thói quen, bản ngã, của sự ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm. Phải lắng tâm thật kĩ để nghe từng cái thọ; tưởng; hành rồi đọc vị nó.
Khi Minh Thành qua Đài Loan thăm Phật Quang Sơn, khi vào đó Minh Thành được người ta giới thiệu bài Bát nhã tâm kinh làm từ sợi tóc, từng chữ trong bài kinh đó được làm từ sợi tóc. Mình muốn xem là phải dùng kính lúp, vừa xem vừa nín thở, tập trung tâm ý mới nhìn được vì chữ rất nhỏ. Khi nhìn thọ; tưởng; hành trong lúc nghe góp ý, chỉ trích, chỉ dạy cũng giống như vậy, nín thở và tập trung hết tất cả tâm ý mới thấy được vì nó nhanh, vi tế. Khi có sân, bản ngã hay ngụy biện hiện lên là mình phải nhìn ra nó chứ nó rất nhanh, chỉ cần nghe góp ý thôi là miệng nói ngay "con không có", như vậy tu sẽ không tiến, vĩnh viễn ở địa vị phàm phu và người ngu, không thể lên hiền nhân được. Đọc trong kinh mình thấy có những người ngoại đạo lại chửi mắng Đức Phật, tại sao Ngài lại có thể bất động tâm giải thoát được? Do Ngài tu giống vầy, Ngài đã đi qua hết những cái này cho tới chỗ bất động, chứ không phải tự nhiên Ngài thành tựu được bất động tâm giải thoát. Trải qua bao nhiêu đời Ngài đã thực tập cho thuần thục tâm, mình cũng phải tập từng chút một như vậy.
Thiền quán, bất tịnh quán cũng phải tập như vậy, tác ý liên tục, mỗi lần mình thua trận, người ta nói mà mình lỡ phát ra lời ngụy biện là phải tác ý "đồ ngu", đem những từ nặng nhất để chửi "muốn làm người ngu thì mãi mãi sẽ được làm người ngu", "mày cứ quanh co che giấu đi thì vĩnh viễn mày sẽ là người ngu". Cho nên sự nhìn nhận lỗi lầm, thấy lỗi là cả một sự tu tập chứ không phải đơn giản, ngày chúng ta phát lồ tâm bất chánh rất quan trọng, đó là đưa đến địa vị của hiền nhân. Tấm y của ngài Xá-lợi-phất bị chấm đất thôi là ngài đã thấy xấu hổ, nhục nhã, qua đây mình thấy bậc đại trí như vậy, còn mình có biết bao lỗi, được người khác chỉ lỗi còn sân giận. Bậc trí là bậc thường trực, thường xuyên nhìn thấy lỗi của mình như vậy mới đi đến chỗ hết lỗi rồi mới đi đến thánh nhân.
Bắt đầu đến giai đoạn sửa lỗi, mình nhớ rằng không có ai ở đây, đừng thấy mặt mình hiện trong cái tưởng, phải tác ý "đây là một đống tham sân si, vô minh và bản ngã", khi sanh khởi bản ngã là tác ý "không có người ở đây, chỉ có pháp thôi", "khắp trời đất này không có ai hết, chỉ có những cục thịt nhơ nhớp, tham sân si, vô minh và bản ngã", khi sanh khởi cao thấp, đúng sai, nhân nhã bỉ thử "không có ai cao thấp trong này, chỉ toàn là những đống tham sân si, vô minh và bản ngã". Mình phải thoát ra khỏi cái tâm hơn thua, nhỏ hẹp, đấu đá, gọi là những cái tâm côn trùng. Minh Thành thường tu tập cái tâm rộng lớn, ít khi nào có suy nghĩ ghét người này, không ưa người kia hay người này đúng, người nọ sai mà phải thoát ra khỏi nó. Mỗi một lần sanh khởi sự nhỏ hen, nhỏ hẹp thì tác ý "đồ côn trùng, đồ ruồi muỗi, đời sau mày sanh ra làm những thứ côn trùng đó, những thứ vi khuẩn, lăng quăng đó". Nếu mình cứ chấp vào từng chút nhỏ nhoi, hẹp hòi đó thì đời sau sẽ làm côn trùng, làm con giòi, con kiến… Vì thế phải tập sửa lỗi, tập cho đến mức độ chỉ có pháp, trên cuộc đời này không còn gì ngoài pháp, ở đâu cũng nhìn thấy pháp, pháp hiển hiện ra mọi nơi. Nhìn thấy 2 người cau có thì đó là sân là khổ, si là khổ, vô minh là khổ, Khổ Thánh Đế hiển hiện chứ không thấy người này giận người kia, phải tập nhìn tất cả đều là sự biểu hiện của thánh pháp, tất cả những gì mình nghe, mình thấy đều là pháp, mình không phân tích người này đúng người kia sai mà mình chỉ thấy pháp, nó có khởi lên trong tâm thì cũng tác ý xả bỏ "không có ai đúng sai trong này hết, thương cảm cho những đống vô minh, tham sân si, dục ái khốn khổ này". Cuộc đời này thật vô nghĩa, suốt ngày cứ lòng vòng trong sự tốt sai, hay dở, bản ngã, dục ái… rồi chết, nên hãy tác ý "cuộc đời vô nghĩa nên đi theo những cái này thật mất thời gian, mất tâm lực, trí lực", "đi theo những cái vô nghĩa này chỉ đem đến sầu bi khổ ưu não, vậy thì theo để làm gì?". Tìm mọi cách để nhiếp phục những thứ này, chuyển hóa rồi diệt tận những thứ này, phải làm cho phát khởi lên cái tâm cố gắng, sự để tâm và tìm đủ mọi cách để diệt tận những thứ xấu xa này, ngày nào còn là ngày đó còn nhức nhối, ưu tư, lo lắng trong tâm, "đến ngày giờ này còn những thứ xấu xa này trong tâm", phải quét ra, ói mửa, quăng nó ra khỏi thân tâm. Phải trăn chở, ưu tư khi nó còn trong tâm, mình chỉ lo có một điều duy nhất là diệt tận những thứ ác độc, khốn nạn, hèn hạ này chứ không phải lo trăm thứ như người ta, mình chỉ làm một chuyện này thôi, đây là chuyện của thánh nhân, làm xong việc này là "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui với trạng thái này nữa". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, 1.I. Vô Thường). Còn mình đi lo ngàn thứ mà không có chuyện nào xong, chỉ cần hoàn thành một chuyện này thôi, người ngu có nhiều mối lo còn người trí chỉ cần lo xong việc này là đại thành công, đây là sự khác biệt giữa người ngu và người trí, người tu và người không tu.
Khi đã thấy lỗi và sửa lỗi thì tác ý sự hỷ lạc, vui sướng lên, "mình đang đi trên con đường quang minh, ánh sáng, mình đang tiến gần đến địa vị của hiền thánh, mình đang hạnh phúc nhất trên đời này". Mình vui sướng trong sự nhận lỗi, vui sướng trong sự sửa lỗi, hoàn thiện thân tâm chính mình. Tuy là mình thấy lỗi, nhận lỗi, sửa lỗi nhưng mình vui, hân hoan, thành ra một mặt thấy lỗi thì nhục nhã, xấu hổ, tàm quý vô cùng, mặt khác mình cũng vui và hạnh phúc khi nhìn thấy lỗi, sửa được lỗi. Minh Thành thường tác ý "tu mà có tâm niệm xấu là lột tấm y xuống để đội cái quần lên, đừng mặc y nữa", khi có những tâm niêm cấu uế, bẩn thỉu, hèn hạ, tồi bại.
Này các Tỳ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỳ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng (Tương Ưng Bộ kinh, tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, III. Phẩm Mười Lực, II. Mười Lực).
Mình vừa tu trong sự hân hoan, hỷ lạc; vừa tu trong sự tàm quý cùng cực, tột độ. Nói như vậy nghe có vẻ mâu thuẫn, nhưng thật sự không phải vậy. Lúc nào mình tác ý tàm quý là đi xuống tận cùng như người xưa nói muốn đột thổ xuống đất, còn khi tác ý sự hỷ lạc, hân hoan trên đường tu là lên đến tận trời mây, hân hoan trên con đường sửa đổi và chuyển hóa thân tâm, làm cho bản thân được trong sạch và thanh tịnh. Đó là mình đang bước lên đạo lộ của hiền thánh, Minh Thành thấy đại chúng nhìn ra lỗi lầm, nhận ra được thân tâm thì rất hoan hỷ. Mọi người hãy cố gắng và mạnh mẽ lên để tiến thẳng bước trên thánh đạo.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Kẻ ngu PAGEREF _Toc112628062 \h 1
II.Người trí PAGEREF _Toc112628063 \h 3
Kẻ ngu
Hôm qua có vài vị trình pháp với con, có vị trình trực tiếp, có vị trình qua điện thoại. Con rất hoan hỷ với sự tu học của các vị, vừa rồi có vị trình pháp là khi đang quán bất tịnh, vô ngã nhưng có con muỗi cũng làm mình khó chịu. Ở phương diện này mình thấy được cái tâm chấp ngã nặng nề, nhưng ở phương diện khác lại thấy được thân tâm chính mình tốt hơn lúc trước. Lúc trước mình sân giận với con muỗi, thậm chí còn đập nó, mình cũng không thấy hối hận, sai trái hay nhục nhã. Trước khi biết tu tập và trước khi vào dòng pháp này thì mình thấy khó chịu khi con muỗi chích mình là bình thường, nhưng giờ mình thấy trong đó là sự tàm quý, xấu hổ. Cho nên trong sự tu qua sự trình pháp của quý vị thì chúng ta thấy người có lỗi mà không có biết lỗi thì đó là người ngu, phàm phu. Người có lỗi mà biết có lỗi rồi sửa lỗi thì đó là người hiền. Người đã đi đến chỗ diệt tận các tội lỗi và đi đến chỗ chấm dứt hoàn toàn các tội lỗi là bậc thánh.
Có 3 hạng người trên đời:
Ngu
Hiền
Thánh
Người ngu là người không biết lỗi, không nhận lỗi, không chấp nhận mình có lỗi dù cho mình đang có lỗi, cho nên mình phải thực tập nhìn thấy lỗi, biết được lỗi và can đảm nhận lỗi thì mình mới là người tu, người hiền. Từ chỗ mình biết lỗi, nhận lỗi và sửa lỗi thì mới đi đến chỗ hết lỗi, như vậy là bậc thánh. Tùy theo cấp độ nhận lỗi, sửa lỗi ở mức độ nào mà có ra sự sai biệt của các bậc hiền thánh, thành ra sự biết lỗi và nhận lỗi và tuyệt đối quan trọng. Do sự nhận lỗi, sửa lỗi và chuyển hóa các tội lỗi mà có ra các thứ bậc của hiền thánh, sở dĩ có bậc hiền thánh là do có sự nhận lỗi, sửa lỗi và tiêu trừ tội lỗi. Nếu không có sự biết lỗi, nhận lỗi và sửa lỗi sẽ không có hiền thánh trên cuộc đời này, chỉ toàn là phàm phu ngu si, mê muội điên đảo.
Khi thầy của mình, huynh đệ của mình, những bạn đạo của mình chia sẻ, chỉ lỗi cho mình mà mình cãi lại, sân hận, oán hờn thì mãi mãi mình ở trong địa vị của người ngu. Chúng ta phải thoát ra khỏi lãnh vực của người ngu, không những người lớn chỉ lỗi mình mới nghe, người ngang hàng chỉ lỗi mình nhận mà ngay cả người thấp kém chỉ lỗi của mình thì mình cũng phải nhận lỗi và có thể mình lạy ngay tại chỗ. Tại vì phàm phu không thấy lỗi của mình mà chỉ thấy lỗi của người khác, họ ưa nhìn lỗi người, ưa soi mói và tìm hiểu lỗi người khác.
Dễ thay thấy lỗi người,
Lỗi mình thấy mới khó.
Lỗi người ta phanh tìm,
Như sàng trấu trong gạo,
Còn lỗi mình, che đậy,
Như kẻ gian dấu bài.
(Kinh Pháp Cú 18 – Phẩm Cấu Uế, kệ 252)
Lỗi của người ta thì mình moi móc, tìm kiếm, bới lên giống như tìm thóc trong gạo. Còn lỗi của bản thân thì che đậy, giấu giếm như kẻ gian giấu con bài. Đó là địa vị của phàm phu không biết tu, cho nên bước quan trọng đầu tiên trong sự tu là nhận lỗi. Khi con chia sẻ cho quý thầy, các chú tập sự xuất gia mà con thấy chỉ mới nói thôi mà các vị cãi lại rồi ngụy biện, quanh co, che giấu lỗi lầm chứ không chấp nhận cái sai của mình thì con rất buồn. Không phải buồn là do mọi người không nghe lời, vì không có mình, không có thầy cũng không có sư phụ nào ở đây mà nghe lời mình. Mình phải tập nhìn không có ai, không có người nào, không có thầy, sư cô, hay Phật tử mà mình phải thấy tất cả đều là những đống dục tham, vô minh, bản ngã và sân hận, tập nhìn như vậy thì tu mới tiến. Giải phẫu trong thân tâm, phải tác ý thường trực "đây là một đống tham sân si, vô minh và bản ngã. Không có tên tuổi nào ở đây" thì tu mới tiến bộ, nếu mình còn gắn hình bóng, suy nghĩ có cái tôi trong đó thì không thể đi vào dòng pháp. Vì điều phải học đầu tiên là phải phá được thân kiến, nếu thân kiến còn đó, lúc nào cũng chặn trước mặt thì làm sao bước vào dòng pháp được?
Thành ra phải tập mỗi khi suy nghĩ về mình thì thấy còn một đống tham sân si, vô minh và bản ngã, vì vậy, khi được bậc thiện tri thức, thầy, huynh đệ chỉ lỗi thì mình phải nhìn nhận một cách chân thành, chân chánh, chân thật. Không những người lớn, người ngang hàng mà người thấp kém, đệ tử chỉ lỗi thì mình cũng phải quỳ lạy nhận lỗi. Khi nhận lỗi như vậy thì không những trị được bản ngã của bản thân mà mình còn cảm hóa được đối phương, điều này lợi lạc vô cùng, nếu pháp này đã tuyệt diệu như vậy thì tại sao mình lại không tu? Tại sao có người vừa chỉ lỗi là mình lại biện hộ, sừng sộ chứ mình không bình tĩnh lắng nghe, suy xét rồi từ từ mới phản ứng? Đó là lúc bản ngã, dục, vô minh, sân hoạt động và mình không thấy được thực pháp.
Phải thường xuyên nhìn lại bản thân thì mình mới thấy lỗi, nhận lỗi, mà nhìn lại mình tức là nhận diện ngũ uẩn, vì thế nhận diện ngũ uẩn là bao trùm các pháp, nếu không nhận diện ngũ uẩn là không có cách nào tu được. Tâm thức chúng sanh đã quen với lề lối cũ, muốn sửa được là cả một sự kì công, vừa chỉ lỗi của bản thân là mình ngụy biện, tìm cớ đổ lỗi tại người này rồi tại người kia, dù chỉ là một chuyện nhỏ nhưng mình cũng không chịu là mình sai. Tâm thức, tập khí, thói quen, cái nghiệp của chúng sanh là hễ chạm tới tấm thân là không chịu được nhưng lại ưa thích chạm vào người ta, ưa chỉ trỏ, phê phán, chỉ trích người khác, còn ai chỉ lại là sừng sộ. Chính vì vậy mà cứ ở mãi địa vị của người ngu, phàm phu vô minh với cái tâm, kiến, tưởng điên đảo, thành ra chỉ có nhận diện năm uẩn mới thấy được lỗi của mình. Đi đâu mình cũng cúi xuống do thấy xấu hổ vì trong thân tâm đầy rẫy những thứ rác bẩn, cấu nhiễm.
Người trí
Bước thứ hai là từ địa vị người ngu chuyển lên địa vị người hiền phải có sự nỗ lực cùng cực. Từ hiền mới qua thánh, chứ không phải từ người ngu có thể nhảy thẳng lên bậc thánh, cho nên mình đang tập tâm hiền. Tâm hiền là sự nhẹ nhàng, từ ái, an tịnh, lắng dịu, chính những cái này mới làm cho các cảm thọ sung mãn, hung hăng, dữ tợn giảm xuống. Đừng nghĩ rằng tu được một chút là bản thân hiền lại rồi, vẫn chưa được, ở trong tâm vẫn còn hung tợn, hung bạo lắm, chỉ cần đụng vào là sẽ biết ngay. Cho đến khi nào tất cả những cảm thọ hung ác trong tâm hoàn toàn lắng xuống, giảm thiểu một nửa hoặc hơn thì lúc đó mới bước vào địa vị của hiền nhân. Lắng dịu xuống thì mới nhìn nhận, bình tĩnh quán chiếu, soi xét được mọi thứ, ngọn đèn lúc trước cứ soi mói người ta thì bây giờ mới quay ngược lại soi vào nội tâm chính mình, như vậy gọi là nội soi. Từ khi học nhận diện năm uẩn lúc bắt đầu nội soi, nhìn thấy rồi nhận lỗi, sám hối, chúng ta quỳ xuống sám hối rất ngọt ngào, chân thành, thật lòng, thật tâm. Dù cho sau khi sám hối sẽ trở lại con người cũ nhưng ngay lúc sám hối là sự chân thành, vì thọ; tưởng; hành; thức là vô thường, nếu khi nào chứng nhập hoàn toàn sự nhàm chán, ly tham, chấm dứt, từ bỏ thì lúc đó là thánh, tức là chuyển qua địa vị của bậc thánh. Vì vậy các bậc thánh là bậc chứng nhập những cảm thọ bất tịnh, vô thường, khổ, vô ngã, nhàm chán, ly tham, chấm dứt… Còn mình bây giờ lâu lâu mới khởi lên những cảm thọ này rồi bị mất, mình phải làm sao để giữ được cảm thọ này rồi kéo dài cảm thọ này ra.
Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu.
Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Nhứt lai.
Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Nhứt lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai.
Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Bất lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán.
Nhưng vị A-la-hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?
Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới).
Nhận lỗi và sửa lỗi rất tuyệt vời, cho nên khi nghe ai chỉ lỗi, góp ý thì mình phải bình tĩnh, tâm ý lắng động lại để tiếp nhận một cách trí tuệ sâu sắc. Trong khi nghe thì soi vào trong xem tưởng; hành hoạt động như thế nào ngay lúc được góp ý, phải xem thật kĩ chứ không phải đi theo tiếng người đó nói. Khi được góp ý thì chắc chắn trong cảm thọ sẽ bị biến động, nếu mình không trú vào cảm giác toàn thân, không soi xét sâu vào các thọ; tưởng; hành ngay đó thì mình sẽ đi theo tiếng, theo cái thọ dẫn dắt phóng ra ngoài theo tập khí, theo thói quen, bản ngã, của sự ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm. Phải lắng tâm thật kĩ để nghe từng cái thọ; tưởng; hành rồi đọc vị nó.
Khi Minh Thành qua Đài Loan thăm Phật Quang Sơn, khi vào đó Minh Thành được người ta giới thiệu bài Bát nhã tâm kinh làm từ sợi tóc, từng chữ trong bài kinh đó được làm từ sợi tóc. Mình muốn xem là phải dùng kính lúp, vừa xem vừa nín thở, tập trung tâm ý mới nhìn được vì chữ rất nhỏ. Khi nhìn thọ; tưởng; hành trong lúc nghe góp ý, chỉ trích, chỉ dạy cũng giống như vậy, nín thở và tập trung hết tất cả tâm ý mới thấy được vì nó nhanh, vi tế. Khi có sân, bản ngã hay ngụy biện hiện lên là mình phải nhìn ra nó chứ nó rất nhanh, chỉ cần nghe góp ý thôi là miệng nói ngay "con không có", như vậy tu sẽ không tiến, vĩnh viễn ở địa vị phàm phu và người ngu, không thể lên hiền nhân được. Đọc trong kinh mình thấy có những người ngoại đạo lại chửi mắng Đức Phật, tại sao Ngài lại có thể bất động tâm giải thoát được? Do Ngài tu giống vầy, Ngài đã đi qua hết những cái này cho tới chỗ bất động, chứ không phải tự nhiên Ngài thành tựu được bất động tâm giải thoát. Trải qua bao nhiêu đời Ngài đã thực tập cho thuần thục tâm, mình cũng phải tập từng chút một như vậy.
Thiền quán, bất tịnh quán cũng phải tập như vậy, tác ý liên tục, mỗi lần mình thua trận, người ta nói mà mình lỡ phát ra lời ngụy biện là phải tác ý "đồ ngu", đem những từ nặng nhất để chửi "muốn làm người ngu thì mãi mãi sẽ được làm người ngu", "mày cứ quanh co che giấu đi thì vĩnh viễn mày sẽ là người ngu". Cho nên sự nhìn nhận lỗi lầm, thấy lỗi là cả một sự tu tập chứ không phải đơn giản, ngày chúng ta phát lồ tâm bất chánh rất quan trọng, đó là đưa đến địa vị của hiền nhân. Tấm y của ngài Xá-lợi-phất bị chấm đất thôi là ngài đã thấy xấu hổ, nhục nhã, qua đây mình thấy bậc đại trí như vậy, còn mình có biết bao lỗi, được người khác chỉ lỗi còn sân giận. Bậc trí là bậc thường trực, thường xuyên nhìn thấy lỗi của mình như vậy mới đi đến chỗ hết lỗi rồi mới đi đến thánh nhân.
Bắt đầu đến giai đoạn sửa lỗi, mình nhớ rằng không có ai ở đây, đừng thấy mặt mình hiện trong cái tưởng, phải tác ý "đây là một đống tham sân si, vô minh và bản ngã", khi sanh khởi bản ngã là tác ý "không có người ở đây, chỉ có pháp thôi", "khắp trời đất này không có ai hết, chỉ có những cục thịt nhơ nhớp, tham sân si, vô minh và bản ngã", khi sanh khởi cao thấp, đúng sai, nhân nhã bỉ thử "không có ai cao thấp trong này, chỉ toàn là những đống tham sân si, vô minh và bản ngã". Mình phải thoát ra khỏi cái tâm hơn thua, nhỏ hẹp, đấu đá, gọi là những cái tâm côn trùng. Minh Thành thường tu tập cái tâm rộng lớn, ít khi nào có suy nghĩ ghét người này, không ưa người kia hay người này đúng, người nọ sai mà phải thoát ra khỏi nó. Mỗi một lần sanh khởi sự nhỏ hen, nhỏ hẹp thì tác ý "đồ côn trùng, đồ ruồi muỗi, đời sau mày sanh ra làm những thứ côn trùng đó, những thứ vi khuẩn, lăng quăng đó". Nếu mình cứ chấp vào từng chút nhỏ nhoi, hẹp hòi đó thì đời sau sẽ làm côn trùng, làm con giòi, con kiến… Vì thế phải tập sửa lỗi, tập cho đến mức độ chỉ có pháp, trên cuộc đời này không còn gì ngoài pháp, ở đâu cũng nhìn thấy pháp, pháp hiển hiện ra mọi nơi. Nhìn thấy 2 người cau có thì đó là sân là khổ, si là khổ, vô minh là khổ, Khổ Thánh Đế hiển hiện chứ không thấy người này giận người kia, phải tập nhìn tất cả đều là sự biểu hiện của thánh pháp, tất cả những gì mình nghe, mình thấy đều là pháp, mình không phân tích người này đúng người kia sai mà mình chỉ thấy pháp, nó có khởi lên trong tâm thì cũng tác ý xả bỏ "không có ai đúng sai trong này hết, thương cảm cho những đống vô minh, tham sân si, dục ái khốn khổ này". Cuộc đời này thật vô nghĩa, suốt ngày cứ lòng vòng trong sự tốt sai, hay dở, bản ngã, dục ái… rồi chết, nên hãy tác ý "cuộc đời vô nghĩa nên đi theo những cái này thật mất thời gian, mất tâm lực, trí lực", "đi theo những cái vô nghĩa này chỉ đem đến sầu bi khổ ưu não, vậy thì theo để làm gì?". Tìm mọi cách để nhiếp phục những thứ này, chuyển hóa rồi diệt tận những thứ này, phải làm cho phát khởi lên cái tâm cố gắng, sự để tâm và tìm đủ mọi cách để diệt tận những thứ xấu xa này, ngày nào còn là ngày đó còn nhức nhối, ưu tư, lo lắng trong tâm, "đến ngày giờ này còn những thứ xấu xa này trong tâm", phải quét ra, ói mửa, quăng nó ra khỏi thân tâm. Phải trăn chở, ưu tư khi nó còn trong tâm, mình chỉ lo có một điều duy nhất là diệt tận những thứ ác độc, khốn nạn, hèn hạ này chứ không phải lo trăm thứ như người ta, mình chỉ làm một chuyện này thôi, đây là chuyện của thánh nhân, làm xong việc này là "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui với trạng thái này nữa". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, 1.I. Vô Thường). Còn mình đi lo ngàn thứ mà không có chuyện nào xong, chỉ cần hoàn thành một chuyện này thôi, người ngu có nhiều mối lo còn người trí chỉ cần lo xong việc này là đại thành công, đây là sự khác biệt giữa người ngu và người trí, người tu và người không tu.
Khi đã thấy lỗi và sửa lỗi thì tác ý sự hỷ lạc, vui sướng lên, "mình đang đi trên con đường quang minh, ánh sáng, mình đang tiến gần đến địa vị của hiền thánh, mình đang hạnh phúc nhất trên đời này". Mình vui sướng trong sự nhận lỗi, vui sướng trong sự sửa lỗi, hoàn thiện thân tâm chính mình. Tuy là mình thấy lỗi, nhận lỗi, sửa lỗi nhưng mình vui, hân hoan, thành ra một mặt thấy lỗi thì nhục nhã, xấu hổ, tàm quý vô cùng, mặt khác mình cũng vui và hạnh phúc khi nhìn thấy lỗi, sửa được lỗi. Minh Thành thường tác ý "tu mà có tâm niệm xấu là lột tấm y xuống để đội cái quần lên, đừng mặc y nữa", khi có những tâm niêm cấu uế, bẩn thỉu, hèn hạ, tồi bại.
Này các Tỳ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỳ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng (Tương Ưng Bộ kinh, tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, III. Phẩm Mười Lực, II. Mười Lực).
Mình vừa tu trong sự hân hoan, hỷ lạc; vừa tu trong sự tàm quý cùng cực, tột độ. Nói như vậy nghe có vẻ mâu thuẫn, nhưng thật sự không phải vậy. Lúc nào mình tác ý tàm quý là đi xuống tận cùng như người xưa nói muốn đột thổ xuống đất, còn khi tác ý sự hỷ lạc, hân hoan trên đường tu là lên đến tận trời mây, hân hoan trên con đường sửa đổi và chuyển hóa thân tâm, làm cho bản thân được trong sạch và thanh tịnh. Đó là mình đang bước lên đạo lộ của hiền thánh, Minh Thành thấy đại chúng nhìn ra lỗi lầm, nhận ra được thân tâm thì rất hoan hỷ. Mọi người hãy cố gắng và mạnh mẽ lên để tiến thẳng bước trên thánh đạo.
./.