Thánh trí năm uẩn 11 – Vô minh và khát ái 1-2
Thánh trí năm uẩn 11 – Vô minh và khát ái
-THÍCH MINH THÀNH-
Phần 1:
“Ai thấy pháp người đó thấy ta
Ai thấy ta người đó thấy pháp”
Xin thưa đại chúng, khuya nay hơn 2 giờ con giật mình thức dậy, sau đó nghe Tương Ưng Uẩn, rất thấm thía, có một cảm xúc hết sức chấn động, hân hoan cho nên là tỉnh luôn, không có ngủ lại, tới bây giờ mà cảm xúc vẫn chưa có tan.
Về phần Tương Ưng Uẩn, bài kinh có tựa đề là Vô Thường Tánh “Do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tánh, vô thường tướng. Do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người làm ruộng, vào mùa thu, dùng một cái cày lớn cắt đứt tất cả rễ mọc trong khi cày. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ.” Đức Phật đưa ra ví dụ thứ hai giống như “một chùm xoài bị cắt đứt từ cành, thời các trái xoài cùng dính vào cành đều bị đứt theo. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, sự quán tưởng về vô thường, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ.” Hình ảnh ví dụ thứ ba giống như “một ngôi nhà có nóc nhọn, phàm có rui kèo nào, tất cả đều đi đến nóc nhọn, hướng đến nóc nhọn, quy tụ về nóc nhọn, và nóc nhọn là tối thượng hơn tất cả chúng”. Đức Phật đưa ra rất nhiều ví dụ, “ánh sáng của các loại sao gì, tất cả các ánh sáng ấy, không bằng 1/16 ánh sáng của mặt trăng. Ánh sáng của mặt trăng được xem là tối thượng trong tất cả các ánh sáng ấy”. Cũng vậy mình tu tập sự quán tưởng, quán chiếu về sự vô thường là sự tu tập tối thượng, rất nhiều các bài kinh trong phần Tương Ưng Uẩn này, hay lắm.
Trong bài kinh Dây Thằng, bài kinh này chúng ta phải học tới học lui nhiều lần, phải học thuộc lòng.
“Vô thỉ, này các Tỷ-kheo, là sự luân hồi này. Ðiểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi. Như một con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột hay cột trụ vững chắc, nếu nó có đi chỉ đi gần cây cột, nếu nó có đứng nó chỉ đứng gần cây cột, nếu nó ngồi nó chỉ ngồi gần cây cột, nếu có năm nó chi. Cũng vậy, kẻ phàm phu không có nghe chánh pháp. Cho rằng thân xác này sắc pháp này, sắc uẩn này, cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi. Cho rằng những cảm giác này là tôi, của tôi. Cho rằng những hình bóng trong tâm tưởng là tôi, là của tôi. Cho rằng mọi suy nghĩ, hành uẩn đó là tôi, là của tôi. Cho rằng cái rõ biết, nhận thức đó là tôi, là của tôi. Như vậy, nếu người ấy có đi, người ấy chỉ đi tới năm thủ uẩn này. Nếu người ấy có đứng, người chỉ đứng gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy ngồi, người ấy chỉ ngồi gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy nằm, người ấy chỉ nằm gần năm thủ uẩn này. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải luôn quán sát tâm của mình như sau, trong một thời gian dài tâm này bị tham, sân, si ô nhiễm, do tâm ô nhiễm, này các Tỷ-kheo, chúng sanh bị ô nhiễm. Do tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh.Các ông có thấy một bức họa, bức tranh gọi lại danh họa không?
-Dạ thưa có, bạch Đức Thế Tôn.
Bức danh họa ấy do tâm tư họa mà thành. Do vậy, này các Tỷ-kheo, tâm còn đa dạng hơn cả danh họa ấy. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải luôn luôn quán sát tâm của mình như sau: "Trong một thời gian dài, tâm này bị tham dục, sân hận, si mê, vô minh làm cho nhiễm ô, ô uế, ô nhiễm. Do tâm nhiễm ô, này các Tỷ-kheo, chúng sanh bị nhiễm ô. Do tâm trong sạch, chúng sanh được trong sạch.”
Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một bộ loại nào khác lại đa dạng như tâm, không thấy có một cái gì trên đời này nó đa dạng, nhiều kiểu, nhiều dáng, nhiều sự phức tạp giống như là tâm. Như các hữu tình thuộc loại bàng sanh (tức là các loài vật, những con thú vật),này các Tỷ-kheo, do tâm tư duy mà thành, do tâm suy nghĩ mà thành. Do vậy, này các Tỷ-kheo, tâm ấy lại đa dạng hơn các hữu tình thuộc loại bàng sanh”.
Vậy ý Đức Phật nói là như thế nào, các ông có nhìn thấy những cái loài thú vật không, rất là nhiều loài: con mèo, kiến, gián, sâu, con muỗi, con ễnh ương, con ếch, con beo, con voi, con sư tử, có biết bao nhiêu là loài rắn, loài rết, loài trùng, loài kiến, loài chim,... vô số loài. Đức Phật nói rằng, bao nhiêu loài thú vật đó mà nó còn chưa có nhiều, chưa có đa dạng bằng cái tâm, nhưng mà các loại thú vật bàng sanh ấy, do tâm suy nghĩ mà thành. Do vậy, các vị cần phải luôn luôn quán sát cái tâm của mình, trong một thời gian dài cái tâm này bị ô nhiễm cấu uế, dơ bẩn bởi những dục tham, ước muốn, bởi những lòng tức giận sân hận, bị ô nhiễm bởi những sự si mê, vô minh, không nhìn, không thấy, không biết. Do cái tâm bị ô nhiễm nên chúng sanh bị ô nhiễm. Do tâm thanh tịnh nên tâm chúng sanh được thanh tịnh.
“Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ nhuộm hay một họa sĩ, nếu người ấy có thuốc nhuộm, hay lạc, hay nghệ, hay màu xanh, hay màu đỏ tía, hay một tấm gỗ khéo bào, hay một bức tường, hay một tấm vải. Người ấy có thể vẽ hình người đàn bà hay hình người đàn ông với đầy đủ tất cả chi tiết: mắt, mặt, đầu, lỗ tai, miệng, mình, chân, cánh tay, ngón tay, bàn tay. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ phàm phu không nghe chánh pháp, liên tục làm cho hiện hữu sắc; liên tục làm cho hiện hữu các cảm giác, cảm thọ; liên tục làm cho hiện hữu các hình bóng trong tâm, tưởng; liên tục làm cho hiện hữu các suy nghĩ, các hành; liên tục làm cho hiện hữu thức.” Chỗ này là chỗ mà con nghe, con chấn động, liên tục làm cho hiện hữu ngũ uẩn, đây là ý nghĩa của từ chúng sanh-chúng nó sanh khởi liên tục.
“Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?
- Vô thường, bạch Thế Tôn.
Cái câu mà Đức Phật luôn luôn hỏi sau khi giảng pháp
- Thọ, tưởng, hành, thức là thường hay vô thường?
- Bạch Thế Tôn, là vô thường
- Vô thường là khổ, là vô ngã. Mà cái vô thường, khổ, vô ngã như vậy, có nên chăng, các ông cho rằng cái này là tôi, đây là của tôi?
- Dạ bạch Thế Tôn, không.”
Lúc đó nhìn thấy được vô thường, khổ, vô ngã, không thấy nó là tôi, là của tôi. Vì vậy thánh đệ tử, thấy vậy nhàm chán không còn ham muốn nữa và giải thoát, thoát ra khỏi ngũ uẩn.
Như vậy, ở đây chúng ta thấy điều gì trong hai bài kinh vừa rồi? Vô thỉ tức là không có đầu mối, không biết từ hồi nào tới bây giờ, chữ thỉ là bắt đầu. Sự luân hồi là sự quay vòng vòng, điểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc. Cho nên, cứ lưu chuyển, trôi nổi, quay cuồng, cứ hoài như thế. Hai yếu tố làm cho mình quay cuồng và trôi nổi mãi, là vô minh che đậy và khát ái trói buộc. Vô minh là không thấy được năm uẩn. Không thấy được mấy chục kí lô thịt này là sắc. Không thấy được những cảm giác bên trong là thọ. Không thấy được những hình bóng nội tâm là tưởng. Không thấy được các suy nghĩ là hành, không thấy được sự rõ biết là thức. Không thấy, không biết được ngũ uẩn cho nên gọi là vô minh. Do vì vô minh nên nó che đậy tri kiến, nó mới nhận lầm một cái tự ngã nó bám chặt vào trong chấp thủ, nắm chặt vào trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nó nắm chặt trong năm uẩn này, cho nên vô minh chấp thủ. Nắm chặt vô đây, cho nên yêu thích tự thể của nó. Những cái này có thể thấy được, quán chiếu được trong sinh hoạt hằng ngày. Nhìn trong gương thấy đôi mắt, chân mày, đôi môi, lỗ mũi, cái bóng của mình, nhìn có thích không? Sư cô lắc đầu, cho nên cô có nghe pháp này, có quán chiếu, nhưng mà lắc đầu chỉ có một lúc thôi, chứ thật sự mà lắc đầu luôn thì phải lên hàng Thánh, mà Thánh là không phải Thánh vừa, từ Nhị quả cho tới Tam quả. Dầu cho xấu cỡ nào, nhìn vô gương coi cũng được, đó là gì? Là tự thể ái, vô minh và tham ái đối với sắc thủ uẩn. Dầu cho xấu đau, xấu đớn, dầu cho ăn xin, cùi hủi đi nữa, mà khi đối diện họ vẫn thấy họ đẹp, bằng lòng và chấp nhận. Chứ nếu mà họ thấy họ xấu xí, không chấp nhận, họ ngao ngán, họ chán nản là họ nhập lưu hết rồi. Nếu họ không chịu cái này nữa, họ muốn từ bỏ, họ muốn chấm dứt, họ muốn ly tham, họ không còn muốn ưa thích cái thân xác này nữa, thì họ vô các thánh quả. Nhưng mà họ không thích cái này mà thích cái kia, muốn được thân thể giống như người kia, nhưng không phải muốn là được. Cho nên mới nói là tìm hỷ lạc chỗ này chỗ kia, mình học trong Tứ Thánh Đế đó. Cho nên cái gọi là vô minh và tham ái, khát ái rất là khủng khiếp. Trong suốt một ngày như vậy, nếu mình không có sự quán chiếu và thực tập như lý tác ý, thì toàn là sống trong vô minh và khát ái. Từ sáng cho đến chiều tối, thậm chí trong đêm ngủ mà cũng trong vô minh và khát ái, điều này nó khủng khiếp lắm. Cho nên mình phá được khát ái là tâm giải thoát, phá được vô minh là tuệ giải thoát, là bậc A la Hán, phá hai cái này tận cùng là A La Hán. Tại vì tham ái, khát ái làm cho tâm mình bị trói cột, cho nên nói khát ái trói buộc, sự khao khát, ưa thích, đam mê, khoan khoái, sự yêu mến, lưu luyến nó trói buộc mình ở trong này, nên đi ra không được.Vì thế, tâm của mình là tâm bị trói buộctrong tham ái. Con ví dụ những cái hết sức là bình thường thôi, ví dụ nhờ thầy Pháp An ở trên phòng trên đó, bữa nay xuống đây ngủ một bữa đi, thì cảm giác của thầy như thế nào? Thầy không chịu, là tại sao vậy? Chỗ đó tuy nó nhỏ xíu vậy thôi nhưng trong đó đã có ái, có sân, bản ngã sanh khởi lên. Đó, thấy nó ghê gớm vậy đó, chứ không phải là mình nói cái tu của mình nó thâm sâu, nó trí huệ là tự mình thấy vậy thôi. Đó là những cái hết sức ở bên ngoài, đơn giản thôi mà đụng vô là tham, sân si, bản ngã, chứ đừng nói đến là chạm tới cái thân thể này, hết sức là cứng chắc. Cho nên sự chấp thủ, hai cái chữ này nó hay lắm, chấp thủ là nắm chặt, là yêu, là thích, là dục, tham, ái, là bám, là bấu,víu, nắm, giữ - đó là nghĩa của chữ chấp thủ. Cho nên sự luân hồi này là gì, là điểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với chúng sanh, và Đức Phật ví dụ: biển cả có lúc nó khô cho đến đáy biển, nhìn thấy được đáy của biển cả, mà con người, chúng sanh không thoát khỏi vô minh và khát ái, khủng khiếp như vậy. Đức Phật cũng nói có một lúc trái đất này nó tan biến thành giống như tim đèn, thành bụi nhưng mà sự vô minh và khát ái của chúng sanh là không thể chấm dứt nếu mà không gặp được Thánh đạo, Thánh trí. Con nghe đến chỗ này là con nổi da gà, run sợ, khiếp sợ, hoảng sợ, và vui mừng; vừa mừng mà vừa sợ. Sợ là vì cái này là chính Đức Phật tuyên bố, biền cả khô rồi còn thấy đáy, người đời đến chết không biết được vô minh và tham ái. Cho đến trái đất này, qua bao nhiêu lần nó tan hoại, thành hoại, chúng sanh vẫn không đi đến chỗ chấm dứt được vô minh và tham ái, khủng khiếp. Khi ngồi thiền phải lấy cái này làm đề mục mà quán chiếu, quán chiếu thật là sâu sắc. Khi con nghe bài Đại Niệm Xứ, con rúng động, tham ái ở đâu Đức Phật chỉ ra. Con mắt này là nơi trú ẩn của tham ái, cái lỗ tai này, lỗ mũi, cái miệng, cái môi, ngón tay này, bàn chân này, tất cả những cái này đều là chỗ trú ẩn của tham ái. Kinh Đại Niệm Xứ chỉ chỗ trú ẩn của tham ái ở đâu? Cái sắc này là chỗ trú ẩn của tham ái, những sắc vóc, vật chất, tài sản này, tham ái nó nằm trong này. Thử một hồi đứng dậy, kiếm cái điện thoại không có, xem cói quýnh quáng không, ghê gớm lắm, chứ đừng nói mình tu mà dạng sơ sơ, lơ tơ mơ. Đức Phật dùng từ trong này là chí tâm tu tập, chí là cùng cực, cùng tột, tột bật, cho nên sự tu phải giống như các nhà khoa học, nhà bác học bỏ ăn, bỏ ngủ, quên ngày đêm, tư duy tu tập quán chiếu thì mới đi đến chỗ diệt tận các lậu hoặc. Chứ không phải các sự tu thông thường mà có thể chấm dứt, đoạn tận được vô minh, tham ái, chấp thủ, phá vỡ được luân hồi, chuyện đó không thể xảy ra. Với sự tu mà quên ăn, bỏ ngủ, quên ngày, quên giờ, chăm chăm niệm đạo, chí tâm tu tập, giống như lửa cháy đầu để cầu chứng cảnh giới bất động, không lúc nào quên. Thân mình là bên trong, còn bên ngoài, ái cư trú ở sắc, âm thanh, mùi, ái cư trú trong đó đó, ta có ái cái mùi không. Rồi vị, có ái cái vị khi để vô cái lưỡi không, có thích không, rồi sự tiếp xúc có ái không? Thời tiết giờ này mà cho trở về, lấy cái mền trùm lại, thì ôi chao, đó, ái nó nằm trong cái mền dày đó nó rõ lắm. Nhưng giờ mà ở dưới miền Tây, bắt trùm mền dày, tấm nệm dày nằm đó thì không có ái, mà lại là sân, nhưng mà ở đây thì chịu, thì tham, thấy không? Ở đâu dính đó, ở chỗ nào quen chỗ nấy, thậm chí cái cầu tiêu thì ái siêu luôn, có không? Nhìn đi mới thấy, thấy rồi thì khiếp lắm. Đi vô cây xăng, bước vô toilet, mà hậu quả của tiền nhiệm để lại, thấy người đi trước để gia tài của họ lại là liền sân si, bực bội, tức giận lên; còn đi vô cây xăng mà gặp nơi sạch sẽ, trắng trẻo, thơm tho, ngồi đó có nhạc nữa, nhiều khi ở nước ngoài để dầu thơm, hoa hồng tươi nữa, thì sao, thì cầm tờ báo ngồi đọc hoài trong đó, để bên ngoài người khác chờ quýnh lên luôn, đến cái toilet mà cũng ái nữa. Cho nên mình nhìn thì sẽ thấy khủng khiếp lắm, mình phải đoạn tận ái tất cả bất động tâm giải thoát. Cái gì cũng ái hết, cái gì cũng sân được hết, phải không? Cái tâm này là gì, mình đã học trong một thời gian dài, cái tâm này bị tham, dục, ái, bị sân hận, nóng giận, bị si mê vô minh làm cho cấu nhiễm, làm cho nhiễm ô. Nó còn hơn là mấy cái đường cống, ống cống, dưới đó nó đen, dơ như vậy, do vô lượng vô biên kiếp rồi nó cứ chất chứa bao nhiêu thứ dục tham, sân, si vô minh, bản ngã, ganh ty, đố kị, ích kỷ, hơn thua, hẹp hòi, ta đây, nhân ngã, bỉ thử cho nên lại gần bốc mùi đó ra. Có nghe mùi ống cống chưa, lại gần trong này nó nói ra nghe là muốn chạy ngày vì nó bốc cái mùi của tham, sân, si, bản ngã. Đức Phật nói một thời gian dài cái tâm này bị làm cho ô nhiễm, cho nên mấy bài kinh này mình học ba buổi cũng chưa hết, phải học kỹ. Mỗi câu, mỗi chữ trong này toàn là Thánh trí, chánh đẳng, chánh giác, khẩu quyết, bí quyết, tuệ giác vô lượng kiếp chứ không phải mình đọc ro ro là xong, mà phải nghiền ngẫm, quán chiếu, thâm sâu lắm. Từng lời, từng chữ của Đức Phật là thánh ngôn, cho nên mình mới lạy kinh chứ. Mấy thầy tối có đọc kinh này không, thâm sâu lắm.
Hễ mà ở đâu là dính đó, gặp cái gì là vướng nấy, mà chạm tới đâu là sân tới đó, đụng đâu thì cái bản ngã cũng phình lên, bất cứ cái gì cũng vậy. Bây giờ con nói cái chuyện đơn giản thôi, thí dụ có vị cư sĩ nào lại, kêu sư cô xuống kia cô ngồi đi, cô để ghế này cho con ngồi, thì coi lúc đó xem coi thọ, tưởng, hành nó vận hành như thế nào, thấy không, khủng khiếp không. Mình đặt những trường hợp hết sức đơn giản thôi, là mình chịu không nổi với nó. Giờ tới cái lúc mà mình tai nạn, rồi bệnh hoạn, rồi đối đầu với cái chết thì lúc đó sao, làm sao mà không rối loạn, làm sao mà không hoảng loạn, khủng khiếp lắm. Bây giờ mà mình không có sự quán chiếu, không có sự tư duy, không có sự tu tập, không có niệm, định, tuệ, không đặt mình vô những trường hợp sanh tử, thống khổ, quán chiếu những nguy hại đó thì một khi nó đến lúc đó trở tay không kịp hoảng loạn, bấn loạn, kinh hãi. Làm sao mà mình được bất động, làm sao được an nhiên thị tịch. An nhiên thị tịch dùng nghe nó cao siêu, mà bệnh chết luôn chứ an nhiên thị tịch gì, để từ này cho nó sang cho nó kiêu thôi. An nhiên thị tịch là đối với các bậc ít nhất là các bậc Bất Lai, Tam Hỏa cho đến Tứ Hỏa nhưng cũng chưa chắc, tùy theo cái nghiệp. Cũng như ngài Mục Kiền Liên bị tai nạn, hay là có một số vị mà mình coi ở trong Kinh là các ngài bị bệnh nặng, đau đớn, quằn quại luôn nhưng mà cái thân ngài đau còn cái tâm thì không động. Mình đừng có nhìn cái hình thức là phải ngồi im re kiết già xong rồi đi thì mới thành đạo, không phải như thế. Tại vì thân tứ đại ngũ uẩn này nó phải vô thường, phải bại hoại nhưng bậc chứng được cái tâm bất động, phá được vô minh và khát ái này, lấy đó là thước đo, mà cái này ai đo được, chỉ có tự thân người đó hoặc là các bậc Thánh mới có thể nhìn và biết được. Một vô văn phàm phu thì không biết được ai là phàm ai là Thánh, mình đánh giá trật hết. Cho nên nếu mà nói ra thì tham ái này nó ghê gớm lắm. Lúc nãy mình nói căn, trần, thức, cái sự nhận thức, cái rõ biết của mình có ái không? Lúc nãy tôi nghe thầy nói rõ ràng là như vậy, người kia nói không, giờ thầy đổi ý rồi, không có nói như vậy nữa; hoặc người kia nói tôi thấy như vậy, người đó là như vậy, người kia nói không, tôi thấy người đó không phải như vậy, rồi sau họ đó có cãi không? Hoặc nhìn một cái nhà, một người nói đẹp, một người nói xấu chứ đẹp gì đâu, rồi hai bên có cãi không? Cái đó là cái gì mà đem ra cãi, là ái cái thức, cái biết của mình, mình dính mắc vô cái biết, tham cái biết, mình ái cái biết, mình chấp thủ vô cái biết. Rồi xúc, tiếp xúc, xúc chạm, mình có ái không, ái ra sao? Giờ nói sư cô, thôi cô đừng ở trong thất nữa, ra đây bảy ngày đi, ra ở ngoài chung với mấy cô, lúc đó xem sao. Đó là bài tập đó, coi thọ, tưởng, hành của mình vận hành như thế nào. Mai mốt tu lâu là con sẽ có cho làm bài tập, coi mình luyện công tới đâu. Chứ mình vô đóng cửa hoài, đâu ai biết mình làm gì trong đó, vận công ra sao, mình ra mình dám cái bảng hiệu là tôi nhập thất, nhập thất sao ra đây thử coi. Ghê gớm không, cái ái cái thủ khiếp lắm. Mình phải nhìn ra được hết căn trần thức xúc thọ ai thủ như thế nào phải nhìn ra được hết, thấy ra hết cái quy trình vận hành của tâm pháp, phải sợ sắc, thọ, tưởng hành thức này. Ái chỗ nào, ái cái gì, ái ra làm sao, nó khát như thế nào, khao như thế nào, phải nhìn thấy. Không nhìn thấy làm sao phát giác, phát hiện, làm sao mà nhiếp phục, đoạn tận. Mới nói cái ngoài thôi đó, còn cái hình bóng trong tâm có ái không? Có những hình bóng không bỏ, mười năm rồi nó hiện lên là phải nói chuyện chút, tâm sự này nọ một chút. Cái hình bóng trong tâm, có không? Có những hình bóng mà bỏ không được, có không, sắc tưởng của quá khứ, có những cảm giác đã từng trải qua rồi đó, khi mà nhớ lại những cảm giác đó hiện về, cảm giác của quá khứ mình thấy nó ngọt ngào hay là cay đắng. Những cảm giác này mình dám bỏ không, dám không? Tại sao mình có thương và ghét, yêu và hận? Đó là sắc tưởng quá khứ, những cái thọ, cái hành, cái thức của quá khứ, mình không bỏ được, mình nuôi dưỡng, ôm ấp, lưu giữ cho nó tồn trữ ở trong. Cho nên nhiều khi có những người đã có gia đình, đi tu một thời gian rồi trở về nhà, do những hình bóng, cảm giác, những suy nghĩ, nhận thức đó của quá khứ, sắc, thọ, tưởng hành, thức của quá khứ bỏ không được. Mà cái đó ở đâu, ở ngoài đâu có thấy đâu, nhưng bên trong nó vận hành. Ngồi nhớ hình bóng của đứa con 4, 5 tuổi gì đó, dễ thương, không biết giờ nó sao. Rồi hiện hình bóng của vợ yêu thương ra sao, này nọ kia, nó hiện lên cảm giác những hình bóng, những suy nghĩ đó, ái không, dục không, ham muốn không, rồi kéo xuống núi, về, mới có ông xuống núi rồi đó. Ghê gớm vậy đó, nên một chữ tham ái này mình học ba tháng chưa hết nữa, chứ đừng nghĩ kinh mình đọc ào ào vậy đó là xong. Dùng trí để mình nhìn ra những cái nhỏ nhiệm, vi tế, toàn là ái không, tham không, dục không trong đó. Khi ngồi thiền hoặc khi sinh hoạt tập nhìn, tập nhận diện các pháp, tập nhìn ra thọ, tưởng, hành, thức, trong đó có cái gì khi mình thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc, nhận thức pháp ở bên trong này. Phải nhìn ra cái sự vận hành của nó. Cho nên hồi khuya con nghe cái này, con không ngủ, tỉnh luôn, và con nói, thôi chút xuống núi rồi nên mình đem ra chia, cái này con nghe con chấn động. Giống như Đức Phật đưa hình ảnh con chó, dùng một sợi dây thừng buộc một con chó vô cây cột, thì nó có đi, có đứng, có ngồi, có nằm, có sủa, có ngủ, có thức gì thì nó cũng vòng vòng cây cột đó. Cũng vậy kẻ vô văn phàm phu không nhìn thấy được năm uẩn, không biết được trí tuệ này, không thực tập, tu tập cái này, thì nếu người đó nếu như có đi thì người đó chỉ đi đến gần năm thủ uẩn, nghe cái này nổi da gà, nếu người ấy có đứng, người chỉ đứng gần năm thủ uẩn. Nếu người ấy ngồi, người ấy chỉ ngồi gần năm thủ uẩn. Nếu người ấy có nằm, người ấy chỉ nằm gần năm thủ uẩn này. Nó thấm thía làm sao, tối thượng trí tuệ này. Đi, đứng, nằm ngồi không đi xa năm uẩn, có đi cho đến đâu đi nữa, thì cũng đi đến gần năm uẩn. Có đi đến Mỹ thì có đi xa năm uẩn không, hay còn dính hơn nữa. Vật chất nhiều, tiền bạc nhiều, cảnh đẹp nhiều, còn đi gần năm uẩn hơn nữa. Cho nên nhiều khi ở Việt Nam, ngheò nghèo chút, lên núi thì nó xa xa được chút. Núi nghèo nghèo, khó khó, khổ khổ chút mà nó dễ tu. Còn giàu, có tiền rồi thì tham, dục, ái sanh khởi nhiều hơn, nặng hơn. Thành ra mình học thì phải quán chiếu như vậy, dù có đi xa tới đâu đi nữa thì cũng là đi trong năm uẩn, chứ sao đi ra khỏi năm uẩn, trừ bậc hướng dự lưu, và nhập lưu, bốn đôi tám chúng thôi thì mới bắt đầu có hướng đi ra. Phải cho nó ngấm, nó thẩm thấu, cho nó rung chấn, rung cảm, rung động, chuyển động ở trong thâm tâm của mình, cảm thọ của mình phải trào dâng. Thế Tôn ơi, Đức Thế Tôn ơi, chúng con khổ lắm rồi, khổ vì những cái tham dục, năm uẩn này, bao nhiêu nước mắt của con rơi rồi, bao nhiêu dòng máu của con đổ xuống, bởi những sân hận trong vô lượng vô biên kiếp với những dục, ái, tham của con. Thế Tôn ơi, Thế Tôn ơi, lạy dập đầu xuống, con là kẻ khốn nạn, khốn đốn và hoạn nạn, bị trói buộc vào các dục tham, năm uẩn. Con là kẻ bệnh hoạn đối với năm uẩn này. Con là kẻ tai nạn vì con mê đắm vô các sắc uẩn, các cảm giác nghĩ tưởng này, con bị tai nạn, hoạn nạn, khổ nạn, ách nạn, nguy nan. Thế Tôn ơi, dập đầu xuống, con khổ quá rồi, con đau đớn quá rồi, con cay đắng quá cuộc đời này, con đã luân chuyển hoài, quay cuồng hoài trong dục, trong tham, trong muốn, con đi tìm hoài, tìm mãi, tìm đến bạc đầu, chạy đến thân tàn ma dại. Thế Tôn ơi, dập đầu xuống, ngày nay con đã thấy được những cảm giác dục, tham, những cảm giác khao khát, thèm muốn, con ngao ngán rồi, con chán ngán, chán chường, ê chề, não nề, u mê vô lượng vô biên kiếp của con. Con chạy vòng vòng cái cột năm uẩn đó, có đi, có đứng, có ngồi, có nằm gì cũng vòng vòng quanh tham, sân, si, vô minh và bản ngã trong năm uẩn. Con cảm giác con nghĩ tưởng gì cũng lòng vòng cái tôi và cái của tôi đau đớn, cay đắng này. Tham ái nó trói cột, còn vô minh thì nó che đậy, sống trong bóng đêm tối ngày suốt cuộc đời cứ chạy theo tìm dục tìm ái tìm tham rồi cuối cùng lọt vào cái hố đen, không có gì hết. Mình quán chiếu không có gì đâu, cả cuộc đời mình tìm kiếm cái gì, kiếm những thứ mình muốn, kiếm không được thì khổ, mà kiếm được rồi thì dính mắc trong đó, rồi lo sợ nó mất, nó mất đi rồi thì càng khổ hơn, ba thời đều khổ. Cho nên cái bài kinh hồi nãy chúng ta đọc, bài kinh Vô Thượng, cái tu tập quán tưởng vô thường, thấy được tính chất vô thường của nó do tu tập, làm cho sung mãn. Sự quán tưởng về vô thường, tất cả dục, tham được đoạn tận. Tu tập vô thường cái gì, tu tập Quán tứ đại, tu tập Quán 32 thể trượt, tu tập chín giai đoạn của một của tử thi, quý thầy sẽ mở cho các Phật tử mới lên để quán mỗi ngày trong giờ ngồi thiền. Tu tập bao tử, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, một đống bộ đồ lòng như vậy, máu mủ trong đây, phân với nước tiểu, nhìn cho nó xuyên lớp da này ra, lột cái da mặt xuống, chẻ hộp sọ ra là một cục não chứ đâu có gì trong này. Mổ, rạch cái bụng ra thì trong này là bao tử, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, phèo, phổi tràn ra một đống bầy nhầy, chứ có cái gì đâu. Ngày nào cũng mổ, xẻ, tự giải phẫu, lấy Thánh trí mà giải phẫu chính mình, dùng đao trí huệ mà giải phẫu khi mình ngồi thiền hoặc khi mình ở ngoài. Mỗi khi nhìn vô trong gương mình cảm nhận về cái tôi, mình giải phẫu liền, không có cái tôi nào ở đây hết, cái đống thịt bầy nhầy này, cái đống phèo phổi ruột gan, cái bộ đồ lòng này, đống máu mủ phân và nước tiều này, tập nhìn bằng trí tuệ thâm sâu, cái đống này sớm muộn gì cũng bại hoại, cũng tan nát rã rời hết. Quán chín giai đoạn một tử thi là nó nhuần nhuyễn luôn thì bất cứ lúc nào mình muốn cho nó chết là mình nó chết, mình nhắm mắt lại là nó nằm chết liền ngay tại chỗ đó, nó tắt hơi, nó phình trương ra, nó sình lên, nó sưng bầm đen nám nứt nẻ, nước vàng, mủ máu chảy ra, giòi bọ nó ăn hết như vậy rồi lòi ra bộ xương, cuối cùng bộ xương mòn dần dần, rồi rã rời ra, nát ra cát bụi hết. Mình quán như vậy để làm chi, làm cho sung mãn sự quán tưởng về vô thường của thân xác này, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, những ham muốn về dục được đoạn tận, chấm dứt. Những ham muốn về sắc, mà chữ sắc ở đây nó rộng lắm chứ không phải sắc là nam nữ không đâu, thí dụ tượng Phật này cũng là sắc chứ không phải là Phật, đừng có hiểu lầm, tối ngày lại cái bàn thờ cứ lạy hoài, nghĩ là Phật ở đó. Lúc nãy mình niệm câu “Ai thấy ta người đó thấy ta, ai thấy pháp người đó thấy ta”, pháp ở đây là sự vô thường, tan hoại của năm uẩn này, là sự rã rời, sự vô ngã trống rỗng của năm uẩn này, của đời sống. Thấy được như vậy là thấy được Phật, thấy được Như Lai, chứ không thấy bức tượng hay tấm hình đó, bức tượng rồi cũng bể, tấm hình rồi cũng rách cũng hư, cũng mục. Mà cái trí nhìn thấy được sự vô thường, sự khổ não, sự trống rỗng của ngũ uẩn này, đó là cái trí không mục, không rã, đó gọi là bất hoại pháp, bất tử. Mình tu là để mình đạt được trí tuệ bất tử đó.
Phần 2:
Do tu tập làm cho sung mãn sự quán tưởng về vô thường, tất cả các dục tham được chấm dứt, tất cả các cái tham về sắc được dứt hết. Tất cả các cái tham về hữu, chữ hữu này nghĩa của nó thâm sâu, về những sự hiện hữu ở trong ngũ uẩn được đoạn tận. Tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ. Đức Phật ví dụ giống như là người làm ruộng dùng cày cắt đứt hết tất cả những cái rễ trong khi cày. Lúc mình làm ruộng thì máy cày nó cày, nó chạy, rễ của mấy cây lúa nó nhỏ lắm, trong khi lưỡi của máy cày nó bén lắm nên đi tới đâu là nó bật lên bật lên đứt hết. Cũng vậy, sự quán tưởng của mình cũng bén giống như lưỡi cày, còn phiền não, dục, tham, ái, sân si thì được ví dụ như rễ của mấy cọng cỏ, cây lúa thôi. Vậy nên đòi hỏi trí quán vô thường của mình phải hết sức là sắc bén, phải có công năng đào xới, cắt đứt tận gốc rễ. Chứ còn yếu hay lục thì không thể nào cắt đứt, làm cho nó bật gốc được. Cho nên ta thấy hai chữ vô minh che đậy và khát ái trói buộc hết sức là thâm sâu để mà làm đề tài cho chúng ta quán chiếu.
Lưu chuyển luân hồi là gì, là mình cứ quay vòng vòng, vòng vòng hoài, thí dụ, cứ tham cái này, thích cái kia, rồi khoái cái nọ, rồi giận người này, xong rồi giận cái kia, trong một cơn giận thôi là nó luân hồi liên tục, chứ không phải giận là giận có cái. Thí dụ nghe câu nói đó giận, thì bắt đầu nhớ lại những hành động lúc trước, nhớ những gì hai, ba chục năm trước mà lôi hết ra xử một lần, có không? Người ta làm một điều thôi là bắt đâu lôi ra hết ra tính sổ, cộng từ 3 tháng, 6 tháng, 7 năm về trước, kể hết ra, bao nhiêu tội là hài hết ra. Trong một cơn sân như vậy, tất cả các pháp, thọ, tưởng, hành nó vận hành khiếp lắm. Lôi ra những cái sắc tưởng quá khứ, thanh tưởng quá khứ, những hình bóng hồi xưa: nói ra sao, làm cái gì, cư xư như thế nào nó hiện về và bị lôi ra. Cho nên, mình học kinh Nikaya này hay lắm, mình thấy được hết tất cả những thành phần, ngõ ngách, cách vận hành của các lậu hoặc, phiền não ra làm sao, còn mình không học cái này, không nhận diện cái này,mình không có biết, cái tâm mình nhận biết trật lất hết. Cái này nó chính xác từng cái, từng cái luôn, thanh tưởng của quá khứ nó lôi ra, hồi đó nói tôi như vậy đó, rồi lúc đó có những suy nghĩ về tôi như vậy, những hành động như vậy, đối xử như vậy móc hết ra tất cả. Xúc của quá khứ dọn hết ra mà hạch tội, cộng sổ hết tất cả. Giống như 5 cuốn sổ dày 200 trang mình ghi pháp lâu lâu mở ra đọc thì còn đỡ, còn này thì không có ghi pháp, mà ghi ra các cái tham, sân, si, bản ngã, đụng chuyện rồi thì mở sổ tử thần đó ra, cộng hết, rồi bình phương, nhân theo cấp số nhân, rồi ngồi đó thọ, tưởng hành, thức vận hành. Dục, ái cũng vậy, nó cũng lôi những cái sắc của quá khứ, những cái thọ, tưởng, hành của quá khứ, sau đó nó nhân lên, rồi nó tượng tượng ra, rồi tiếp tục tham muốn nữa, có không? Nó vận hành cái tâm của mình đó, cứ tham muốn nữa rồi nói từ nay về sau phải dẹp nhe, chấm dứt nhe, nhứt định phải tu nhe. Nhưng mà lâu lâu lại khởi nữa, lôi mấy cái đó ra nữa, nó dụ, nó nói, thỏ thẻ, thì thầm ngọt ngào gì đó, xong thì lại phạm. Rồi nó lại nói lần này là lần cuối cùng nhe, mai mốt không có sân, tham này nữa, xong tiếp tục lâu lâu khởi lại nữa, tái đi tái lại như vậy gọi là luân hồi, quay vòng vòng hoài. Dục nó cũng quay, tham nó cũng quay, ái nó cũng quay, sân nó cũng quay, bản ngã nó cũng quay, rồi sự buông lung phóng giật nó cũng quay. Tự nó cho phép, nó nói thôi hỗm nay làm mệt, cho nó thoải mái chút đi, bình thường nó còn trang nghiêm một chút, có công chuyện mà khách của phái đoàn chừng một trăm người tới thôi là nó luýnh quýnh, lăn xăn, bản ngã hiện ra, sân hiện ra, làm thì mệt mà còn bị rầy, nó ghê gớm lắm. Nó mượn cớ ghê lắm, mượn cớ làm mệt, thôi nghỉ tu đi, sáng nghe rồi, trưa còn nghe nữa, thôi nghe một lần thôi, cho nên buổi trưa xuống trốn hết mấy người, nó ghê gớm lắm. Mình nhìn mình thấy tại mình đi qua rồi. Mượn cớ ghê lắm, mà nó làm được một chút, bắt đầu nó phình lên. Bình thường, rất dễ thương, bầu lên phó trụ trì hay bầu lên quản chúng hay trị sự, bắt đầu thay đổi tánh, bắt đầu dựa dô chức vụ, dựa vô mấy công việc, làm được cái gì đó bắt đầu gá vô đó để nó phình lên. Nếu mắt mình không có tròng vàng như Tôn Ngộ Không là mình không biết yêu tinh là con nào, em bé buộc trên cây kêu“cứu mạng, cứu mạng”, Đường Tăng cứ kêu mở mở, còn Tôn Ngộ Không nói mày hả con, để ông nội mày cõng mày nha, cõng lên đến chỗ đó rồi quăng xuống, nó biến mất, trong bụng nó lửa không. Vậy thì người bình thường không thấy giống như Tam Tạng không thấy vậy, còn đôi mắt vàng của Thánh trí mới nhìn thấy được các lậu hoặc, yêu tinh, ma mị trú ẩn, dựa dẫm trong đó. Cho nên càng làm nhiều chừng nào, càng có chức vụ, gánh vác cán sự này nọ kia thì hết sức cẩn thận, làm cái đó một thời gian là chết nếu không có tu tập. Nó cho phép, cho nó một cái quyền nâng đẳng cấp, bản ngã nó lên, nó ghê gớm lắm. Cho nên ta dùng cái từ Kính chiếu yêu, người mà tu tập thánh trí ngũ uẩn là có Kính chiếu yêu, đưa cái kính đó lên là hiện nguyên hình hết, không có con ma, con quái nào lọt qua cái kiếng đó hết thì mới được. Nhớ câu “Tâm đầu đẹp tựa hiền thánh vậy, mà nay ma quỷ cũng tránh xa”, ma nó kêu mình bằng sư phụ, còn hơn nữa là kêu bằng ông, vua ma của tôi nữa, riết còn hơn ma nữa, tu một thời gian là thành yêu tinh luôn. Không còn chân chất hiền hoà, dễ nghe, dễ bảo, dễ dạy, dễ nói, dễ gần nữa mà nó thành một con quỷ quyệt, khéo léo, gian trá, xảo quyệt, xảo ngụy, trá lên một lớp hiền lành, cái này khủng khiếp lắm. Hình ảnh yêu tinh trong Tây Du Ký đó, là tâm mình đó. Ôi chao, ghê lắm.
Đức Phật nói đa dạng trong tất cả cái đa dạng, phức tạp trong tất cả cái phức tạp chính là tâm này, thọ, tưởng, hành, thức nó vận hành. Mới lên chùa thì dễ thương, đi đâu cũng cúi hết, đi đâu cũng thầy, sư phụ. Chừng 3 tháng, 6 tháng, một thời gian, là lên giọng đi đâu đó đi đâu đây, làm gì đó, kênh kiệu, lên mặt, hống hách, ta đây, mới là chú tiểu thôi mà vậy đó, lên trụ trì nữa rồi là xong luôn, chết, chết chết, bản ngã nó giết người đó. Ăn hết gạo ở trong chùa rồi, những cái này là con đã đi qua tất cả, nên nhìn thấy như vậy thương lắm, nhìn thấy lậu hoặc sợ lắm, sợ cái bộ mặt của nó, phải nhìn ra được. Mới vô chùa hiền vô cùng, đi đâu cũng khép nép, vô cái bếp rồi giao cái bếp, mới có một tháng, là không ai vô được hết trơn, “đừng có ai vô đây mà nấu nghe không?”, sợ quá, hết sức sợ. Tu vậy rồi thì phải làm sao, tu cái gì, tu mà làm cho bản ngã càng ngày lên, ái ngày càng nặng, chấp thủ ngày càng nhiều. Tu riết rồi, dòm thầy cũng như ngang hàng với mình, thấy cũng như không thấy, chết không. Người ta tu, ngày càng cung kính Đạo sư, cung kính Pháp, cung kính Tăng, cung kính thiền định, cung kính giới, còn này tu riết rồi không còn trên dưới gì hết trơn, gì cũng không hết, đó là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Bây giờ nó dẫy đầy, tự mình nhìn lại thân tâm, hồi đó mới vô mà nghe được thời pháp, được học, được thầy dạy, được lên lớp mừng vui lắm, mới vô trường mấy ngày đầu tiên, khi thầy vô chắp tay đứng xa xa không dám lại gần. Tới chừng học đến năm thứ ba, vỗ tay lẹ lẹ để ổng về cho nghỉ sớm,vậy thì chắc chắn thất bại hết trơn rồi, như vậy là học cái gì? Tiêu tùng hết rồi, hư hết rồi, tâm cung kính mất rồi, sự tôn trọng không còn nữa. Ba pháp quy y không hình thành thì làm sao tu thành tựu được khi mình không còn cung kính Phật, không cung kính Pháp, không cung kính Tăng nữa. Cho nên bây giờ thật sự con không muốn nhận người xuất gia nữa. Bây giờ toàn là như vậy không, ngao ngán lắm, con thà có một hai người đệ tử thôi mà phải nhập lưu hết, phải đi vô bốn đôi tám chúng, còn không thì không nhận, không cần đông, một vài người cùng tu thôi. Trong một thời gian dài, mà tâm này bị tham, sân, si, ô nhiễm như vậy, mình không chịu để tâm mà nhìn, cứ tưởng là mình tu ngon là chết ngay thôi. Luôn luôn phải canh chừng cẩn mật, rà soát và kiểm tra liên tục cái tham, dục, sân, si và bản ngã. Thấy nó là mình bắn liền, thấy nó là mình triệt hạ liền, thấy nó là mình đánh liền, thì như vậy mình mới đi đến chỗ thanh tịnh.
Sau đây là chỗ ghê gớm, “những loài thú vật, súc sanh do tâm tư duy mà thành”, câu này ghê lắm, cần phải suy nghĩ, bao nhiêu loài thú vật, súc sanh đều từ suy nghĩ mà nó thành ra hình dáng như vậy. Hung dữ quá thành cọp beo, thâm độc quá thì thành rắn rít, cái tâm nó nhỏ nhen nó trở thành những con kiến, những con muỗi, rệp, rận, vi trùng, vi khuẩn chút xíu vậy mà trong người mình nó đầy. Nó cũng là một đời sống, nó cũng là một chúng sanh. Trong người mình tùm lum hết, có khi người ta lấy ra từ trong lỗ tai toàn là giòi, mình có quán chiếu trong mấy bài mình có mở lên mình coi đó. Còn trong đường ruột mình mà mổ ra là lấy được năm, bảy chục con dài hai, ba, bốn tất, toàn là sán, lãi bên trong người mình. Tất cả các đời sống, các thân thể đó đều từ suy nghĩ ác nghiệp, nên phải cẩn thận với các suy nghĩ. “Này các Tỷ-kheo, ta tuyên bố rằng tác ý tức là nghiệp, tác động tâm ý đó là nghiệp”, kiểm tra các suy nghĩ là thiện hay bất thiện, nhất là các bậc ân đức của mình, nhất là cha mẹ, ông bà, thầy tổ, những người ân đức, ân nghĩa với mình quan trọng lắm. Khi như lý tác ý mà mình nghĩ sai, nghĩ trật, mình khinh thường, mình ngạo mạn, mình bất kính, bất hiếu, vô ơn thì rất dễ đi vào các đường ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh nhanh như tên bắn. Giờ mình thấy, mỗi ngày đều có những tin tức đăng về đâm, chém, giết bất kể ông bà cha mẹ, đó toàn là ngạ quỷ, súc sanh không. Cái câu này mình phải quán chiếu và khiếp sợ đối với ba đường ác ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh. Vào trong địa ngục thì một ngày là 1 ngàn năm của mình, 500 năm của mình, hàng trăm năm của mình, tuổi thọ của trái đất này thành rồi hoại 100 lần, 1 ngàn lần, 1 tỷ lần, mình cũng chưa ra khỏi địa ngục nữa. Khủng khiếp lắm. Mình phải quán chiếu và cảm thấy hoảng sợ, run sợ, khiếp sợ đối với các ác nghiêp, các ác bất thiện pháp, những giới pháp mình đã thọ, những bậc đáng kính, những bậc ân nghĩa. Còn những suy nghĩ này thì còn đưa mình vào ngạ quỷ, súc sanh, thú vật, ác nghiệp, khổ thú, con đường khổ, đọa xứ là chỗ bóng đêm, bóng đen vĩnh viễn, có khi là giống như là đời sống của thực vật, lâu dài, không biết bao nhiêu là vô số, vô lượng kiếp. Mình thấy những loại cây cỏ, giống như là có cảm giác, mình cho ăn ngãi, ăn con gà, nó ăn hết luôn, ghê lắm, loại đó nó cũng có đời sống, mà vô những loài đó thì biết bao giờ mới lên thành người. Những con nòng trước giờ ở trên hồ nước của mình biết bao giờ lên thành người, rồi những con kiến, con muỗi, con heo cũng biết đến bao giờ? Khủng khiếp lắm cho nên phải sợ vòng luân hồi, phải sợ các ác nghiệp.
Chỗ này là chỗ chấn động nhất nữa, như thế này, “một người họa sĩ, trên một tấm giấy, tấm vải, có màu sắc, họ vẽ ra tất cả người đàn bà, hai người đàn ông mà đầy đủ tất cả các chi tiết mắt, tai, mũi, lưỡi, cũng vậy kẻ phàm phu không nghe chánh pháp liên tục làm cho hiện hữu sắc, làm cho hiện hữu thọ, làm cho hiện hữu tưởng, làm cho hiện hữu hành, làm cho hiện hữu thức, liên tục làm cho ngũ uẩn hiện hữu”. Điều này nó thâm sâu lắm, Thánh trí của Đức Phật mới nói ra nổi cái này, kẻ phàm phu vô minh và khát ái cứ vẽ ra những hình ảnh của ngũ uẩn, làm cho liên tục hiện hữu hoài, mình thấy trong tâm mình các hình bóng cứ hiện lên, hết hình này tới hình kia, hết cảm giác này tới cảm giác kia. Rồi mình muốn đi tìm cảm giác chứ ở yên như vậy tu thì thấy buồn, thấy sao mà nó nhạt nhẽo, nó lẻ loi, hay đi đâu chơi, hay là đi tới chỗ bên kia có tổ chức pháp hội không có chuyện gì cũng chạy qua, qua để làm gì, làm cho nó sanh khởi cảm giác hoặc cho nó tiếp xúc với sắc, xúc thực đó, thức thực đó. Ngồi một mình thì bắt đầu tư niệm thực, ngồi một mình là hết nhớ cái này tới nhớ cái kia, lôi hết cái này rồi lo cái kia, suy nghĩ rồi nhớ, chứ không để lắng dịu thọ, tưởng, hành, thức, không tu tập tâm lắng định, an dịu, mà cứ làm cho nó hiện hữu những hình bóng, hết nghĩ cái này tới cái kia, cứ hiện lên, hiện hữu liên tục những hình bóng, những suy nghĩ, những cảm giác đó. Các bậc Thánh thì có tâm lắng dịu yên tịnh, thọ yên tịnh, lắng dịu tưởng, hành, thức trong sáng, bình an. Còn mình không biết tu thì cứ vậy mà làm cho nó hiện hữu hoài thôi. Cho nên tại sao nói xong, kết thúc thì Đức Phật hỏi “Này các Tỷ-kheo các ông nghĩ sắc này là thường hay vô thường?” Đây là khẩu quyết của kinh Nikaya, tại vì thấy sắc vô thường nên đừng có nghĩ, đừng có ham, đừng có muốn, đừng có tìm, đừng có khao, đừng có khát nữa. Những cảm giác cũng vậy, thấy nó vô thường, tan hoại và biến đổi thì đừng có khao, đừng khát, đừng đòi, đừng hỏi, đừng kiếm, đừng truy tìm nữa, hãy nhàm chán đối với vô thường, thứ khổ não, trống rỗng này đi, chạy theo những cái ảo ảnh này để làm gì, chạy theo đống thịt này để làm cái gì, chạy theo những suy nghĩ mông lung hoài để làm cái gì? Vô thường cho nên khổ, vậy mà bây giờ có nhiều người còn giảng là “cảm ơn vô thường”, mình thấy hoàn toàn trái ngược với Thánh trí của Đức Phật, giảng những bài vô thường không có đáng sợ hết, còn giảng nhờ vô thường mà có cái này cái nọ cái kia. Thành ra những cái này nó thâm sâu lắm, không có chánh tri kiến thì sẽ không nhìn thấy được, không biết được ý của Đức Phật nói vô thường là gì, đó là để cho mình nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, không còn đam mê ngũ uẩn nữa. Mà giờ mình khuyến khích vô thường đẹp lắm, vô thường không có gì đáng sợ hết, phải cảm ơn vô thường nữa, cái đó là làm gì vậy, là làm cho chúng sanh tham mê, tham đắm vô những thứ vô thường này, hết sức là nguy hiểm. Cho nên, trong sự tu tập, Đức Phật dạy mình phải có sự tinh tấn.
Bài kinh Cán Búa “do biết cái gì, do thấy cái gì, này các Tỷ-kheo, mà các lậu hoặc được đoạn tận, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt, thấy cái duyên sanh của ngũ uẩn, sự tập khởi của ngũ uẩn, sự tan diệt của ngũ uẩn, thấy được tính chất sanh diệt vô thường của nó thì các lậu hoặc sẽ được đoạn tận”. “Này các Tỷ-kheo, như có Tỷ-khi sống mà không chí tâm trong sự tu tập, nhớ chữ chí tâm trong sự tu tập, tức là sự dốc lòng tu tập, mà khởi lên ước muốn mong rằng tâm của ta sẽ được giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ”, tuy rằng tâm dễ mong muốn như vậy, nhưng mà người ấy không dễ giải thoát các lậu hoặc. Vì sao vậy, phải nói rằng vị ấy không có tu tập. Đức Phật nói rằng, người không có chí tâm tu, không có tu tập Bốn Niệm Xứ, Bốn Chánh Cần, Bốn Như Ý Túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Giác Chi, không có tu tập Thánh đạo Tám ngành thì dầu cho người đó có mong muốn được giải thoát, đoạn tận lậu hoặc cũng không được. Mà người có tu tập bằng tất cả tấm lòng chân thành, dù không có mong muốn người đó cũng đạt được kết quả. Giống như Đức Phật đưa ra hình ảnh con gà ấp trứng, nó ấp, nó nằm đúng cách, dưỡng đúng cách, dầu cho con gà đó có khởi lên hay là không khởi lên ý muốn mong những con gà con sẽ làm bể vỏ trứng, tức là được sanh ra một cách an toàn, mong muốn hay không mong muốn thì những con gà đó cũng sẽ được sanh ra một cách tốt lành nếu mà nó ấp đúng cách; còn nếu nó không ấp đúng cách thì dầu cho nó có mong muốn gì đi nữa thì cũng không đạt được. Quan trọng là phải đúng cách, cũng như tu là phải đúng cách, đúng pháp thì mới có kết quả. Còn nếu mình tu sai, như con gà nó ấp sai thì không thể có được con gà con, mình tu sai thì không thể đoạn tận các lậu hoặc, dầu mình có mong muốn, có cầu nguyện đi chăng nữa. Thí dụ dễ hiểu: giờ mình đói bụng mà mình không vô bếp mình ăn, mà cứ lạy Phật cầu cho con no, thì được không? Hoặc thí dụ, bác sĩ đưa toa, mình về mình không uống thuốc, mà cứ quỳ trước bàn Phật sáng trưa chiều cầm toa đọc cầu cho con hết bệnh, thì hết không? Cũng vậy Đức Phật nói sự tu tập của mình phải đúng pháp, đúng cách thì mình mới thành công.
Như vậy, hôm nay Minh Thành chia sẻ với đại chúng về vô mình và khát ái, chúng ta không biết là từ hồi nào tới bây giờ, vô thỉ kiếp, bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc. Có thể biển cả khô rồi thấy đáy, có thể trái đất này tan hoại thành cát bụi, nhưng sự chấm dứt vô minh và tham ái của chúng sanh là không thể xảy ra. Chúng ta còn tiếp nối dài dài trong vô minh và tham ái đối với ngũ nếu chúng ta không thành tựu được chánh kiến. Không thấy và thực hành đúng Thánh đạo thì dòng lưu chuyển xoay vòng này sẽ hoài hoài giống như con chó bị buộc vô cây cột, chạy quẩn chạy quanh dù có đi đứng ngồi nằm, nó có sủa thức ngủ gì thì vẫn vòng vòng cây cột. Giống như chúng sanh vô văn phàm phu không nghe chánh pháp, dù có đi đứng nằm ngồi thì cũng đi đứng nằm ngồi ở gần nằm uẩn, có làm gì đi nữa thì cũng làm trong năm uẩn, và sự tu của chúng ta là thành tựu cái trí về năm uẩn, thấy được tính chất vô thường khổ não của nó để mà nhàm chán, xa lìa, thoát ra, từ đó mình chấm dứt, giải thoát đối với năm uẩn.
./.
-THÍCH MINH THÀNH-
Phần 1:
“Ai thấy pháp người đó thấy ta
Ai thấy ta người đó thấy pháp”
Xin thưa đại chúng, khuya nay hơn 2 giờ con giật mình thức dậy, sau đó nghe Tương Ưng Uẩn, rất thấm thía, có một cảm xúc hết sức chấn động, hân hoan cho nên là tỉnh luôn, không có ngủ lại, tới bây giờ mà cảm xúc vẫn chưa có tan.
Về phần Tương Ưng Uẩn, bài kinh có tựa đề là Vô Thường Tánh “Do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tánh, vô thường tướng. Do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người làm ruộng, vào mùa thu, dùng một cái cày lớn cắt đứt tất cả rễ mọc trong khi cày. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ.” Đức Phật đưa ra ví dụ thứ hai giống như “một chùm xoài bị cắt đứt từ cành, thời các trái xoài cùng dính vào cành đều bị đứt theo. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, sự quán tưởng về vô thường, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ.” Hình ảnh ví dụ thứ ba giống như “một ngôi nhà có nóc nhọn, phàm có rui kèo nào, tất cả đều đi đến nóc nhọn, hướng đến nóc nhọn, quy tụ về nóc nhọn, và nóc nhọn là tối thượng hơn tất cả chúng”. Đức Phật đưa ra rất nhiều ví dụ, “ánh sáng của các loại sao gì, tất cả các ánh sáng ấy, không bằng 1/16 ánh sáng của mặt trăng. Ánh sáng của mặt trăng được xem là tối thượng trong tất cả các ánh sáng ấy”. Cũng vậy mình tu tập sự quán tưởng, quán chiếu về sự vô thường là sự tu tập tối thượng, rất nhiều các bài kinh trong phần Tương Ưng Uẩn này, hay lắm.
Trong bài kinh Dây Thằng, bài kinh này chúng ta phải học tới học lui nhiều lần, phải học thuộc lòng.
“Vô thỉ, này các Tỷ-kheo, là sự luân hồi này. Ðiểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi. Như một con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột hay cột trụ vững chắc, nếu nó có đi chỉ đi gần cây cột, nếu nó có đứng nó chỉ đứng gần cây cột, nếu nó ngồi nó chỉ ngồi gần cây cột, nếu có năm nó chi. Cũng vậy, kẻ phàm phu không có nghe chánh pháp. Cho rằng thân xác này sắc pháp này, sắc uẩn này, cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi. Cho rằng những cảm giác này là tôi, của tôi. Cho rằng những hình bóng trong tâm tưởng là tôi, là của tôi. Cho rằng mọi suy nghĩ, hành uẩn đó là tôi, là của tôi. Cho rằng cái rõ biết, nhận thức đó là tôi, là của tôi. Như vậy, nếu người ấy có đi, người ấy chỉ đi tới năm thủ uẩn này. Nếu người ấy có đứng, người chỉ đứng gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy ngồi, người ấy chỉ ngồi gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy nằm, người ấy chỉ nằm gần năm thủ uẩn này. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải luôn quán sát tâm của mình như sau, trong một thời gian dài tâm này bị tham, sân, si ô nhiễm, do tâm ô nhiễm, này các Tỷ-kheo, chúng sanh bị ô nhiễm. Do tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh.Các ông có thấy một bức họa, bức tranh gọi lại danh họa không?
-Dạ thưa có, bạch Đức Thế Tôn.
Bức danh họa ấy do tâm tư họa mà thành. Do vậy, này các Tỷ-kheo, tâm còn đa dạng hơn cả danh họa ấy. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải luôn luôn quán sát tâm của mình như sau: "Trong một thời gian dài, tâm này bị tham dục, sân hận, si mê, vô minh làm cho nhiễm ô, ô uế, ô nhiễm. Do tâm nhiễm ô, này các Tỷ-kheo, chúng sanh bị nhiễm ô. Do tâm trong sạch, chúng sanh được trong sạch.”
Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một bộ loại nào khác lại đa dạng như tâm, không thấy có một cái gì trên đời này nó đa dạng, nhiều kiểu, nhiều dáng, nhiều sự phức tạp giống như là tâm. Như các hữu tình thuộc loại bàng sanh (tức là các loài vật, những con thú vật),này các Tỷ-kheo, do tâm tư duy mà thành, do tâm suy nghĩ mà thành. Do vậy, này các Tỷ-kheo, tâm ấy lại đa dạng hơn các hữu tình thuộc loại bàng sanh”.
Vậy ý Đức Phật nói là như thế nào, các ông có nhìn thấy những cái loài thú vật không, rất là nhiều loài: con mèo, kiến, gián, sâu, con muỗi, con ễnh ương, con ếch, con beo, con voi, con sư tử, có biết bao nhiêu là loài rắn, loài rết, loài trùng, loài kiến, loài chim,... vô số loài. Đức Phật nói rằng, bao nhiêu loài thú vật đó mà nó còn chưa có nhiều, chưa có đa dạng bằng cái tâm, nhưng mà các loại thú vật bàng sanh ấy, do tâm suy nghĩ mà thành. Do vậy, các vị cần phải luôn luôn quán sát cái tâm của mình, trong một thời gian dài cái tâm này bị ô nhiễm cấu uế, dơ bẩn bởi những dục tham, ước muốn, bởi những lòng tức giận sân hận, bị ô nhiễm bởi những sự si mê, vô minh, không nhìn, không thấy, không biết. Do cái tâm bị ô nhiễm nên chúng sanh bị ô nhiễm. Do tâm thanh tịnh nên tâm chúng sanh được thanh tịnh.
“Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ nhuộm hay một họa sĩ, nếu người ấy có thuốc nhuộm, hay lạc, hay nghệ, hay màu xanh, hay màu đỏ tía, hay một tấm gỗ khéo bào, hay một bức tường, hay một tấm vải. Người ấy có thể vẽ hình người đàn bà hay hình người đàn ông với đầy đủ tất cả chi tiết: mắt, mặt, đầu, lỗ tai, miệng, mình, chân, cánh tay, ngón tay, bàn tay. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ phàm phu không nghe chánh pháp, liên tục làm cho hiện hữu sắc; liên tục làm cho hiện hữu các cảm giác, cảm thọ; liên tục làm cho hiện hữu các hình bóng trong tâm, tưởng; liên tục làm cho hiện hữu các suy nghĩ, các hành; liên tục làm cho hiện hữu thức.” Chỗ này là chỗ mà con nghe, con chấn động, liên tục làm cho hiện hữu ngũ uẩn, đây là ý nghĩa của từ chúng sanh-chúng nó sanh khởi liên tục.
“Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?
- Vô thường, bạch Thế Tôn.
Cái câu mà Đức Phật luôn luôn hỏi sau khi giảng pháp
- Thọ, tưởng, hành, thức là thường hay vô thường?
- Bạch Thế Tôn, là vô thường
- Vô thường là khổ, là vô ngã. Mà cái vô thường, khổ, vô ngã như vậy, có nên chăng, các ông cho rằng cái này là tôi, đây là của tôi?
- Dạ bạch Thế Tôn, không.”
Lúc đó nhìn thấy được vô thường, khổ, vô ngã, không thấy nó là tôi, là của tôi. Vì vậy thánh đệ tử, thấy vậy nhàm chán không còn ham muốn nữa và giải thoát, thoát ra khỏi ngũ uẩn.
Như vậy, ở đây chúng ta thấy điều gì trong hai bài kinh vừa rồi? Vô thỉ tức là không có đầu mối, không biết từ hồi nào tới bây giờ, chữ thỉ là bắt đầu. Sự luân hồi là sự quay vòng vòng, điểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc. Cho nên, cứ lưu chuyển, trôi nổi, quay cuồng, cứ hoài như thế. Hai yếu tố làm cho mình quay cuồng và trôi nổi mãi, là vô minh che đậy và khát ái trói buộc. Vô minh là không thấy được năm uẩn. Không thấy được mấy chục kí lô thịt này là sắc. Không thấy được những cảm giác bên trong là thọ. Không thấy được những hình bóng nội tâm là tưởng. Không thấy được các suy nghĩ là hành, không thấy được sự rõ biết là thức. Không thấy, không biết được ngũ uẩn cho nên gọi là vô minh. Do vì vô minh nên nó che đậy tri kiến, nó mới nhận lầm một cái tự ngã nó bám chặt vào trong chấp thủ, nắm chặt vào trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nó nắm chặt trong năm uẩn này, cho nên vô minh chấp thủ. Nắm chặt vô đây, cho nên yêu thích tự thể của nó. Những cái này có thể thấy được, quán chiếu được trong sinh hoạt hằng ngày. Nhìn trong gương thấy đôi mắt, chân mày, đôi môi, lỗ mũi, cái bóng của mình, nhìn có thích không? Sư cô lắc đầu, cho nên cô có nghe pháp này, có quán chiếu, nhưng mà lắc đầu chỉ có một lúc thôi, chứ thật sự mà lắc đầu luôn thì phải lên hàng Thánh, mà Thánh là không phải Thánh vừa, từ Nhị quả cho tới Tam quả. Dầu cho xấu cỡ nào, nhìn vô gương coi cũng được, đó là gì? Là tự thể ái, vô minh và tham ái đối với sắc thủ uẩn. Dầu cho xấu đau, xấu đớn, dầu cho ăn xin, cùi hủi đi nữa, mà khi đối diện họ vẫn thấy họ đẹp, bằng lòng và chấp nhận. Chứ nếu mà họ thấy họ xấu xí, không chấp nhận, họ ngao ngán, họ chán nản là họ nhập lưu hết rồi. Nếu họ không chịu cái này nữa, họ muốn từ bỏ, họ muốn chấm dứt, họ muốn ly tham, họ không còn muốn ưa thích cái thân xác này nữa, thì họ vô các thánh quả. Nhưng mà họ không thích cái này mà thích cái kia, muốn được thân thể giống như người kia, nhưng không phải muốn là được. Cho nên mới nói là tìm hỷ lạc chỗ này chỗ kia, mình học trong Tứ Thánh Đế đó. Cho nên cái gọi là vô minh và tham ái, khát ái rất là khủng khiếp. Trong suốt một ngày như vậy, nếu mình không có sự quán chiếu và thực tập như lý tác ý, thì toàn là sống trong vô minh và khát ái. Từ sáng cho đến chiều tối, thậm chí trong đêm ngủ mà cũng trong vô minh và khát ái, điều này nó khủng khiếp lắm. Cho nên mình phá được khát ái là tâm giải thoát, phá được vô minh là tuệ giải thoát, là bậc A la Hán, phá hai cái này tận cùng là A La Hán. Tại vì tham ái, khát ái làm cho tâm mình bị trói cột, cho nên nói khát ái trói buộc, sự khao khát, ưa thích, đam mê, khoan khoái, sự yêu mến, lưu luyến nó trói buộc mình ở trong này, nên đi ra không được.Vì thế, tâm của mình là tâm bị trói buộctrong tham ái. Con ví dụ những cái hết sức là bình thường thôi, ví dụ nhờ thầy Pháp An ở trên phòng trên đó, bữa nay xuống đây ngủ một bữa đi, thì cảm giác của thầy như thế nào? Thầy không chịu, là tại sao vậy? Chỗ đó tuy nó nhỏ xíu vậy thôi nhưng trong đó đã có ái, có sân, bản ngã sanh khởi lên. Đó, thấy nó ghê gớm vậy đó, chứ không phải là mình nói cái tu của mình nó thâm sâu, nó trí huệ là tự mình thấy vậy thôi. Đó là những cái hết sức ở bên ngoài, đơn giản thôi mà đụng vô là tham, sân si, bản ngã, chứ đừng nói đến là chạm tới cái thân thể này, hết sức là cứng chắc. Cho nên sự chấp thủ, hai cái chữ này nó hay lắm, chấp thủ là nắm chặt, là yêu, là thích, là dục, tham, ái, là bám, là bấu,víu, nắm, giữ - đó là nghĩa của chữ chấp thủ. Cho nên sự luân hồi này là gì, là điểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với chúng sanh, và Đức Phật ví dụ: biển cả có lúc nó khô cho đến đáy biển, nhìn thấy được đáy của biển cả, mà con người, chúng sanh không thoát khỏi vô minh và khát ái, khủng khiếp như vậy. Đức Phật cũng nói có một lúc trái đất này nó tan biến thành giống như tim đèn, thành bụi nhưng mà sự vô minh và khát ái của chúng sanh là không thể chấm dứt nếu mà không gặp được Thánh đạo, Thánh trí. Con nghe đến chỗ này là con nổi da gà, run sợ, khiếp sợ, hoảng sợ, và vui mừng; vừa mừng mà vừa sợ. Sợ là vì cái này là chính Đức Phật tuyên bố, biền cả khô rồi còn thấy đáy, người đời đến chết không biết được vô minh và tham ái. Cho đến trái đất này, qua bao nhiêu lần nó tan hoại, thành hoại, chúng sanh vẫn không đi đến chỗ chấm dứt được vô minh và tham ái, khủng khiếp. Khi ngồi thiền phải lấy cái này làm đề mục mà quán chiếu, quán chiếu thật là sâu sắc. Khi con nghe bài Đại Niệm Xứ, con rúng động, tham ái ở đâu Đức Phật chỉ ra. Con mắt này là nơi trú ẩn của tham ái, cái lỗ tai này, lỗ mũi, cái miệng, cái môi, ngón tay này, bàn chân này, tất cả những cái này đều là chỗ trú ẩn của tham ái. Kinh Đại Niệm Xứ chỉ chỗ trú ẩn của tham ái ở đâu? Cái sắc này là chỗ trú ẩn của tham ái, những sắc vóc, vật chất, tài sản này, tham ái nó nằm trong này. Thử một hồi đứng dậy, kiếm cái điện thoại không có, xem cói quýnh quáng không, ghê gớm lắm, chứ đừng nói mình tu mà dạng sơ sơ, lơ tơ mơ. Đức Phật dùng từ trong này là chí tâm tu tập, chí là cùng cực, cùng tột, tột bật, cho nên sự tu phải giống như các nhà khoa học, nhà bác học bỏ ăn, bỏ ngủ, quên ngày đêm, tư duy tu tập quán chiếu thì mới đi đến chỗ diệt tận các lậu hoặc. Chứ không phải các sự tu thông thường mà có thể chấm dứt, đoạn tận được vô minh, tham ái, chấp thủ, phá vỡ được luân hồi, chuyện đó không thể xảy ra. Với sự tu mà quên ăn, bỏ ngủ, quên ngày, quên giờ, chăm chăm niệm đạo, chí tâm tu tập, giống như lửa cháy đầu để cầu chứng cảnh giới bất động, không lúc nào quên. Thân mình là bên trong, còn bên ngoài, ái cư trú ở sắc, âm thanh, mùi, ái cư trú trong đó đó, ta có ái cái mùi không. Rồi vị, có ái cái vị khi để vô cái lưỡi không, có thích không, rồi sự tiếp xúc có ái không? Thời tiết giờ này mà cho trở về, lấy cái mền trùm lại, thì ôi chao, đó, ái nó nằm trong cái mền dày đó nó rõ lắm. Nhưng giờ mà ở dưới miền Tây, bắt trùm mền dày, tấm nệm dày nằm đó thì không có ái, mà lại là sân, nhưng mà ở đây thì chịu, thì tham, thấy không? Ở đâu dính đó, ở chỗ nào quen chỗ nấy, thậm chí cái cầu tiêu thì ái siêu luôn, có không? Nhìn đi mới thấy, thấy rồi thì khiếp lắm. Đi vô cây xăng, bước vô toilet, mà hậu quả của tiền nhiệm để lại, thấy người đi trước để gia tài của họ lại là liền sân si, bực bội, tức giận lên; còn đi vô cây xăng mà gặp nơi sạch sẽ, trắng trẻo, thơm tho, ngồi đó có nhạc nữa, nhiều khi ở nước ngoài để dầu thơm, hoa hồng tươi nữa, thì sao, thì cầm tờ báo ngồi đọc hoài trong đó, để bên ngoài người khác chờ quýnh lên luôn, đến cái toilet mà cũng ái nữa. Cho nên mình nhìn thì sẽ thấy khủng khiếp lắm, mình phải đoạn tận ái tất cả bất động tâm giải thoát. Cái gì cũng ái hết, cái gì cũng sân được hết, phải không? Cái tâm này là gì, mình đã học trong một thời gian dài, cái tâm này bị tham, dục, ái, bị sân hận, nóng giận, bị si mê vô minh làm cho cấu nhiễm, làm cho nhiễm ô. Nó còn hơn là mấy cái đường cống, ống cống, dưới đó nó đen, dơ như vậy, do vô lượng vô biên kiếp rồi nó cứ chất chứa bao nhiêu thứ dục tham, sân, si vô minh, bản ngã, ganh ty, đố kị, ích kỷ, hơn thua, hẹp hòi, ta đây, nhân ngã, bỉ thử cho nên lại gần bốc mùi đó ra. Có nghe mùi ống cống chưa, lại gần trong này nó nói ra nghe là muốn chạy ngày vì nó bốc cái mùi của tham, sân, si, bản ngã. Đức Phật nói một thời gian dài cái tâm này bị làm cho ô nhiễm, cho nên mấy bài kinh này mình học ba buổi cũng chưa hết, phải học kỹ. Mỗi câu, mỗi chữ trong này toàn là Thánh trí, chánh đẳng, chánh giác, khẩu quyết, bí quyết, tuệ giác vô lượng kiếp chứ không phải mình đọc ro ro là xong, mà phải nghiền ngẫm, quán chiếu, thâm sâu lắm. Từng lời, từng chữ của Đức Phật là thánh ngôn, cho nên mình mới lạy kinh chứ. Mấy thầy tối có đọc kinh này không, thâm sâu lắm.
Hễ mà ở đâu là dính đó, gặp cái gì là vướng nấy, mà chạm tới đâu là sân tới đó, đụng đâu thì cái bản ngã cũng phình lên, bất cứ cái gì cũng vậy. Bây giờ con nói cái chuyện đơn giản thôi, thí dụ có vị cư sĩ nào lại, kêu sư cô xuống kia cô ngồi đi, cô để ghế này cho con ngồi, thì coi lúc đó xem coi thọ, tưởng, hành nó vận hành như thế nào, thấy không, khủng khiếp không. Mình đặt những trường hợp hết sức đơn giản thôi, là mình chịu không nổi với nó. Giờ tới cái lúc mà mình tai nạn, rồi bệnh hoạn, rồi đối đầu với cái chết thì lúc đó sao, làm sao mà không rối loạn, làm sao mà không hoảng loạn, khủng khiếp lắm. Bây giờ mà mình không có sự quán chiếu, không có sự tư duy, không có sự tu tập, không có niệm, định, tuệ, không đặt mình vô những trường hợp sanh tử, thống khổ, quán chiếu những nguy hại đó thì một khi nó đến lúc đó trở tay không kịp hoảng loạn, bấn loạn, kinh hãi. Làm sao mà mình được bất động, làm sao được an nhiên thị tịch. An nhiên thị tịch dùng nghe nó cao siêu, mà bệnh chết luôn chứ an nhiên thị tịch gì, để từ này cho nó sang cho nó kiêu thôi. An nhiên thị tịch là đối với các bậc ít nhất là các bậc Bất Lai, Tam Hỏa cho đến Tứ Hỏa nhưng cũng chưa chắc, tùy theo cái nghiệp. Cũng như ngài Mục Kiền Liên bị tai nạn, hay là có một số vị mà mình coi ở trong Kinh là các ngài bị bệnh nặng, đau đớn, quằn quại luôn nhưng mà cái thân ngài đau còn cái tâm thì không động. Mình đừng có nhìn cái hình thức là phải ngồi im re kiết già xong rồi đi thì mới thành đạo, không phải như thế. Tại vì thân tứ đại ngũ uẩn này nó phải vô thường, phải bại hoại nhưng bậc chứng được cái tâm bất động, phá được vô minh và khát ái này, lấy đó là thước đo, mà cái này ai đo được, chỉ có tự thân người đó hoặc là các bậc Thánh mới có thể nhìn và biết được. Một vô văn phàm phu thì không biết được ai là phàm ai là Thánh, mình đánh giá trật hết. Cho nên nếu mà nói ra thì tham ái này nó ghê gớm lắm. Lúc nãy mình nói căn, trần, thức, cái sự nhận thức, cái rõ biết của mình có ái không? Lúc nãy tôi nghe thầy nói rõ ràng là như vậy, người kia nói không, giờ thầy đổi ý rồi, không có nói như vậy nữa; hoặc người kia nói tôi thấy như vậy, người đó là như vậy, người kia nói không, tôi thấy người đó không phải như vậy, rồi sau họ đó có cãi không? Hoặc nhìn một cái nhà, một người nói đẹp, một người nói xấu chứ đẹp gì đâu, rồi hai bên có cãi không? Cái đó là cái gì mà đem ra cãi, là ái cái thức, cái biết của mình, mình dính mắc vô cái biết, tham cái biết, mình ái cái biết, mình chấp thủ vô cái biết. Rồi xúc, tiếp xúc, xúc chạm, mình có ái không, ái ra sao? Giờ nói sư cô, thôi cô đừng ở trong thất nữa, ra đây bảy ngày đi, ra ở ngoài chung với mấy cô, lúc đó xem sao. Đó là bài tập đó, coi thọ, tưởng, hành của mình vận hành như thế nào. Mai mốt tu lâu là con sẽ có cho làm bài tập, coi mình luyện công tới đâu. Chứ mình vô đóng cửa hoài, đâu ai biết mình làm gì trong đó, vận công ra sao, mình ra mình dám cái bảng hiệu là tôi nhập thất, nhập thất sao ra đây thử coi. Ghê gớm không, cái ái cái thủ khiếp lắm. Mình phải nhìn ra được hết căn trần thức xúc thọ ai thủ như thế nào phải nhìn ra được hết, thấy ra hết cái quy trình vận hành của tâm pháp, phải sợ sắc, thọ, tưởng hành thức này. Ái chỗ nào, ái cái gì, ái ra làm sao, nó khát như thế nào, khao như thế nào, phải nhìn thấy. Không nhìn thấy làm sao phát giác, phát hiện, làm sao mà nhiếp phục, đoạn tận. Mới nói cái ngoài thôi đó, còn cái hình bóng trong tâm có ái không? Có những hình bóng không bỏ, mười năm rồi nó hiện lên là phải nói chuyện chút, tâm sự này nọ một chút. Cái hình bóng trong tâm, có không? Có những hình bóng mà bỏ không được, có không, sắc tưởng của quá khứ, có những cảm giác đã từng trải qua rồi đó, khi mà nhớ lại những cảm giác đó hiện về, cảm giác của quá khứ mình thấy nó ngọt ngào hay là cay đắng. Những cảm giác này mình dám bỏ không, dám không? Tại sao mình có thương và ghét, yêu và hận? Đó là sắc tưởng quá khứ, những cái thọ, cái hành, cái thức của quá khứ, mình không bỏ được, mình nuôi dưỡng, ôm ấp, lưu giữ cho nó tồn trữ ở trong. Cho nên nhiều khi có những người đã có gia đình, đi tu một thời gian rồi trở về nhà, do những hình bóng, cảm giác, những suy nghĩ, nhận thức đó của quá khứ, sắc, thọ, tưởng hành, thức của quá khứ bỏ không được. Mà cái đó ở đâu, ở ngoài đâu có thấy đâu, nhưng bên trong nó vận hành. Ngồi nhớ hình bóng của đứa con 4, 5 tuổi gì đó, dễ thương, không biết giờ nó sao. Rồi hiện hình bóng của vợ yêu thương ra sao, này nọ kia, nó hiện lên cảm giác những hình bóng, những suy nghĩ đó, ái không, dục không, ham muốn không, rồi kéo xuống núi, về, mới có ông xuống núi rồi đó. Ghê gớm vậy đó, nên một chữ tham ái này mình học ba tháng chưa hết nữa, chứ đừng nghĩ kinh mình đọc ào ào vậy đó là xong. Dùng trí để mình nhìn ra những cái nhỏ nhiệm, vi tế, toàn là ái không, tham không, dục không trong đó. Khi ngồi thiền hoặc khi sinh hoạt tập nhìn, tập nhận diện các pháp, tập nhìn ra thọ, tưởng, hành, thức, trong đó có cái gì khi mình thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc, nhận thức pháp ở bên trong này. Phải nhìn ra cái sự vận hành của nó. Cho nên hồi khuya con nghe cái này, con không ngủ, tỉnh luôn, và con nói, thôi chút xuống núi rồi nên mình đem ra chia, cái này con nghe con chấn động. Giống như Đức Phật đưa hình ảnh con chó, dùng một sợi dây thừng buộc một con chó vô cây cột, thì nó có đi, có đứng, có ngồi, có nằm, có sủa, có ngủ, có thức gì thì nó cũng vòng vòng cây cột đó. Cũng vậy kẻ vô văn phàm phu không nhìn thấy được năm uẩn, không biết được trí tuệ này, không thực tập, tu tập cái này, thì nếu người đó nếu như có đi thì người đó chỉ đi đến gần năm thủ uẩn, nghe cái này nổi da gà, nếu người ấy có đứng, người chỉ đứng gần năm thủ uẩn. Nếu người ấy ngồi, người ấy chỉ ngồi gần năm thủ uẩn. Nếu người ấy có nằm, người ấy chỉ nằm gần năm thủ uẩn này. Nó thấm thía làm sao, tối thượng trí tuệ này. Đi, đứng, nằm ngồi không đi xa năm uẩn, có đi cho đến đâu đi nữa, thì cũng đi đến gần năm uẩn. Có đi đến Mỹ thì có đi xa năm uẩn không, hay còn dính hơn nữa. Vật chất nhiều, tiền bạc nhiều, cảnh đẹp nhiều, còn đi gần năm uẩn hơn nữa. Cho nên nhiều khi ở Việt Nam, ngheò nghèo chút, lên núi thì nó xa xa được chút. Núi nghèo nghèo, khó khó, khổ khổ chút mà nó dễ tu. Còn giàu, có tiền rồi thì tham, dục, ái sanh khởi nhiều hơn, nặng hơn. Thành ra mình học thì phải quán chiếu như vậy, dù có đi xa tới đâu đi nữa thì cũng là đi trong năm uẩn, chứ sao đi ra khỏi năm uẩn, trừ bậc hướng dự lưu, và nhập lưu, bốn đôi tám chúng thôi thì mới bắt đầu có hướng đi ra. Phải cho nó ngấm, nó thẩm thấu, cho nó rung chấn, rung cảm, rung động, chuyển động ở trong thâm tâm của mình, cảm thọ của mình phải trào dâng. Thế Tôn ơi, Đức Thế Tôn ơi, chúng con khổ lắm rồi, khổ vì những cái tham dục, năm uẩn này, bao nhiêu nước mắt của con rơi rồi, bao nhiêu dòng máu của con đổ xuống, bởi những sân hận trong vô lượng vô biên kiếp với những dục, ái, tham của con. Thế Tôn ơi, Thế Tôn ơi, lạy dập đầu xuống, con là kẻ khốn nạn, khốn đốn và hoạn nạn, bị trói buộc vào các dục tham, năm uẩn. Con là kẻ bệnh hoạn đối với năm uẩn này. Con là kẻ tai nạn vì con mê đắm vô các sắc uẩn, các cảm giác nghĩ tưởng này, con bị tai nạn, hoạn nạn, khổ nạn, ách nạn, nguy nan. Thế Tôn ơi, dập đầu xuống, con khổ quá rồi, con đau đớn quá rồi, con cay đắng quá cuộc đời này, con đã luân chuyển hoài, quay cuồng hoài trong dục, trong tham, trong muốn, con đi tìm hoài, tìm mãi, tìm đến bạc đầu, chạy đến thân tàn ma dại. Thế Tôn ơi, dập đầu xuống, ngày nay con đã thấy được những cảm giác dục, tham, những cảm giác khao khát, thèm muốn, con ngao ngán rồi, con chán ngán, chán chường, ê chề, não nề, u mê vô lượng vô biên kiếp của con. Con chạy vòng vòng cái cột năm uẩn đó, có đi, có đứng, có ngồi, có nằm gì cũng vòng vòng quanh tham, sân, si, vô minh và bản ngã trong năm uẩn. Con cảm giác con nghĩ tưởng gì cũng lòng vòng cái tôi và cái của tôi đau đớn, cay đắng này. Tham ái nó trói cột, còn vô minh thì nó che đậy, sống trong bóng đêm tối ngày suốt cuộc đời cứ chạy theo tìm dục tìm ái tìm tham rồi cuối cùng lọt vào cái hố đen, không có gì hết. Mình quán chiếu không có gì đâu, cả cuộc đời mình tìm kiếm cái gì, kiếm những thứ mình muốn, kiếm không được thì khổ, mà kiếm được rồi thì dính mắc trong đó, rồi lo sợ nó mất, nó mất đi rồi thì càng khổ hơn, ba thời đều khổ. Cho nên cái bài kinh hồi nãy chúng ta đọc, bài kinh Vô Thượng, cái tu tập quán tưởng vô thường, thấy được tính chất vô thường của nó do tu tập, làm cho sung mãn. Sự quán tưởng về vô thường, tất cả dục, tham được đoạn tận. Tu tập vô thường cái gì, tu tập Quán tứ đại, tu tập Quán 32 thể trượt, tu tập chín giai đoạn của một của tử thi, quý thầy sẽ mở cho các Phật tử mới lên để quán mỗi ngày trong giờ ngồi thiền. Tu tập bao tử, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, một đống bộ đồ lòng như vậy, máu mủ trong đây, phân với nước tiểu, nhìn cho nó xuyên lớp da này ra, lột cái da mặt xuống, chẻ hộp sọ ra là một cục não chứ đâu có gì trong này. Mổ, rạch cái bụng ra thì trong này là bao tử, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, phèo, phổi tràn ra một đống bầy nhầy, chứ có cái gì đâu. Ngày nào cũng mổ, xẻ, tự giải phẫu, lấy Thánh trí mà giải phẫu chính mình, dùng đao trí huệ mà giải phẫu khi mình ngồi thiền hoặc khi mình ở ngoài. Mỗi khi nhìn vô trong gương mình cảm nhận về cái tôi, mình giải phẫu liền, không có cái tôi nào ở đây hết, cái đống thịt bầy nhầy này, cái đống phèo phổi ruột gan, cái bộ đồ lòng này, đống máu mủ phân và nước tiều này, tập nhìn bằng trí tuệ thâm sâu, cái đống này sớm muộn gì cũng bại hoại, cũng tan nát rã rời hết. Quán chín giai đoạn một tử thi là nó nhuần nhuyễn luôn thì bất cứ lúc nào mình muốn cho nó chết là mình nó chết, mình nhắm mắt lại là nó nằm chết liền ngay tại chỗ đó, nó tắt hơi, nó phình trương ra, nó sình lên, nó sưng bầm đen nám nứt nẻ, nước vàng, mủ máu chảy ra, giòi bọ nó ăn hết như vậy rồi lòi ra bộ xương, cuối cùng bộ xương mòn dần dần, rồi rã rời ra, nát ra cát bụi hết. Mình quán như vậy để làm chi, làm cho sung mãn sự quán tưởng về vô thường của thân xác này, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, những ham muốn về dục được đoạn tận, chấm dứt. Những ham muốn về sắc, mà chữ sắc ở đây nó rộng lắm chứ không phải sắc là nam nữ không đâu, thí dụ tượng Phật này cũng là sắc chứ không phải là Phật, đừng có hiểu lầm, tối ngày lại cái bàn thờ cứ lạy hoài, nghĩ là Phật ở đó. Lúc nãy mình niệm câu “Ai thấy ta người đó thấy ta, ai thấy pháp người đó thấy ta”, pháp ở đây là sự vô thường, tan hoại của năm uẩn này, là sự rã rời, sự vô ngã trống rỗng của năm uẩn này, của đời sống. Thấy được như vậy là thấy được Phật, thấy được Như Lai, chứ không thấy bức tượng hay tấm hình đó, bức tượng rồi cũng bể, tấm hình rồi cũng rách cũng hư, cũng mục. Mà cái trí nhìn thấy được sự vô thường, sự khổ não, sự trống rỗng của ngũ uẩn này, đó là cái trí không mục, không rã, đó gọi là bất hoại pháp, bất tử. Mình tu là để mình đạt được trí tuệ bất tử đó.
Phần 2:
Do tu tập làm cho sung mãn sự quán tưởng về vô thường, tất cả các dục tham được chấm dứt, tất cả các cái tham về sắc được dứt hết. Tất cả các cái tham về hữu, chữ hữu này nghĩa của nó thâm sâu, về những sự hiện hữu ở trong ngũ uẩn được đoạn tận. Tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ. Đức Phật ví dụ giống như là người làm ruộng dùng cày cắt đứt hết tất cả những cái rễ trong khi cày. Lúc mình làm ruộng thì máy cày nó cày, nó chạy, rễ của mấy cây lúa nó nhỏ lắm, trong khi lưỡi của máy cày nó bén lắm nên đi tới đâu là nó bật lên bật lên đứt hết. Cũng vậy, sự quán tưởng của mình cũng bén giống như lưỡi cày, còn phiền não, dục, tham, ái, sân si thì được ví dụ như rễ của mấy cọng cỏ, cây lúa thôi. Vậy nên đòi hỏi trí quán vô thường của mình phải hết sức là sắc bén, phải có công năng đào xới, cắt đứt tận gốc rễ. Chứ còn yếu hay lục thì không thể nào cắt đứt, làm cho nó bật gốc được. Cho nên ta thấy hai chữ vô minh che đậy và khát ái trói buộc hết sức là thâm sâu để mà làm đề tài cho chúng ta quán chiếu.
Lưu chuyển luân hồi là gì, là mình cứ quay vòng vòng, vòng vòng hoài, thí dụ, cứ tham cái này, thích cái kia, rồi khoái cái nọ, rồi giận người này, xong rồi giận cái kia, trong một cơn giận thôi là nó luân hồi liên tục, chứ không phải giận là giận có cái. Thí dụ nghe câu nói đó giận, thì bắt đầu nhớ lại những hành động lúc trước, nhớ những gì hai, ba chục năm trước mà lôi hết ra xử một lần, có không? Người ta làm một điều thôi là bắt đâu lôi ra hết ra tính sổ, cộng từ 3 tháng, 6 tháng, 7 năm về trước, kể hết ra, bao nhiêu tội là hài hết ra. Trong một cơn sân như vậy, tất cả các pháp, thọ, tưởng, hành nó vận hành khiếp lắm. Lôi ra những cái sắc tưởng quá khứ, thanh tưởng quá khứ, những hình bóng hồi xưa: nói ra sao, làm cái gì, cư xư như thế nào nó hiện về và bị lôi ra. Cho nên, mình học kinh Nikaya này hay lắm, mình thấy được hết tất cả những thành phần, ngõ ngách, cách vận hành của các lậu hoặc, phiền não ra làm sao, còn mình không học cái này, không nhận diện cái này,mình không có biết, cái tâm mình nhận biết trật lất hết. Cái này nó chính xác từng cái, từng cái luôn, thanh tưởng của quá khứ nó lôi ra, hồi đó nói tôi như vậy đó, rồi lúc đó có những suy nghĩ về tôi như vậy, những hành động như vậy, đối xử như vậy móc hết ra tất cả. Xúc của quá khứ dọn hết ra mà hạch tội, cộng sổ hết tất cả. Giống như 5 cuốn sổ dày 200 trang mình ghi pháp lâu lâu mở ra đọc thì còn đỡ, còn này thì không có ghi pháp, mà ghi ra các cái tham, sân, si, bản ngã, đụng chuyện rồi thì mở sổ tử thần đó ra, cộng hết, rồi bình phương, nhân theo cấp số nhân, rồi ngồi đó thọ, tưởng hành, thức vận hành. Dục, ái cũng vậy, nó cũng lôi những cái sắc của quá khứ, những cái thọ, tưởng, hành của quá khứ, sau đó nó nhân lên, rồi nó tượng tượng ra, rồi tiếp tục tham muốn nữa, có không? Nó vận hành cái tâm của mình đó, cứ tham muốn nữa rồi nói từ nay về sau phải dẹp nhe, chấm dứt nhe, nhứt định phải tu nhe. Nhưng mà lâu lâu lại khởi nữa, lôi mấy cái đó ra nữa, nó dụ, nó nói, thỏ thẻ, thì thầm ngọt ngào gì đó, xong thì lại phạm. Rồi nó lại nói lần này là lần cuối cùng nhe, mai mốt không có sân, tham này nữa, xong tiếp tục lâu lâu khởi lại nữa, tái đi tái lại như vậy gọi là luân hồi, quay vòng vòng hoài. Dục nó cũng quay, tham nó cũng quay, ái nó cũng quay, sân nó cũng quay, bản ngã nó cũng quay, rồi sự buông lung phóng giật nó cũng quay. Tự nó cho phép, nó nói thôi hỗm nay làm mệt, cho nó thoải mái chút đi, bình thường nó còn trang nghiêm một chút, có công chuyện mà khách của phái đoàn chừng một trăm người tới thôi là nó luýnh quýnh, lăn xăn, bản ngã hiện ra, sân hiện ra, làm thì mệt mà còn bị rầy, nó ghê gớm lắm. Nó mượn cớ ghê lắm, mượn cớ làm mệt, thôi nghỉ tu đi, sáng nghe rồi, trưa còn nghe nữa, thôi nghe một lần thôi, cho nên buổi trưa xuống trốn hết mấy người, nó ghê gớm lắm. Mình nhìn mình thấy tại mình đi qua rồi. Mượn cớ ghê lắm, mà nó làm được một chút, bắt đầu nó phình lên. Bình thường, rất dễ thương, bầu lên phó trụ trì hay bầu lên quản chúng hay trị sự, bắt đầu thay đổi tánh, bắt đầu dựa dô chức vụ, dựa vô mấy công việc, làm được cái gì đó bắt đầu gá vô đó để nó phình lên. Nếu mắt mình không có tròng vàng như Tôn Ngộ Không là mình không biết yêu tinh là con nào, em bé buộc trên cây kêu“cứu mạng, cứu mạng”, Đường Tăng cứ kêu mở mở, còn Tôn Ngộ Không nói mày hả con, để ông nội mày cõng mày nha, cõng lên đến chỗ đó rồi quăng xuống, nó biến mất, trong bụng nó lửa không. Vậy thì người bình thường không thấy giống như Tam Tạng không thấy vậy, còn đôi mắt vàng của Thánh trí mới nhìn thấy được các lậu hoặc, yêu tinh, ma mị trú ẩn, dựa dẫm trong đó. Cho nên càng làm nhiều chừng nào, càng có chức vụ, gánh vác cán sự này nọ kia thì hết sức cẩn thận, làm cái đó một thời gian là chết nếu không có tu tập. Nó cho phép, cho nó một cái quyền nâng đẳng cấp, bản ngã nó lên, nó ghê gớm lắm. Cho nên ta dùng cái từ Kính chiếu yêu, người mà tu tập thánh trí ngũ uẩn là có Kính chiếu yêu, đưa cái kính đó lên là hiện nguyên hình hết, không có con ma, con quái nào lọt qua cái kiếng đó hết thì mới được. Nhớ câu “Tâm đầu đẹp tựa hiền thánh vậy, mà nay ma quỷ cũng tránh xa”, ma nó kêu mình bằng sư phụ, còn hơn nữa là kêu bằng ông, vua ma của tôi nữa, riết còn hơn ma nữa, tu một thời gian là thành yêu tinh luôn. Không còn chân chất hiền hoà, dễ nghe, dễ bảo, dễ dạy, dễ nói, dễ gần nữa mà nó thành một con quỷ quyệt, khéo léo, gian trá, xảo quyệt, xảo ngụy, trá lên một lớp hiền lành, cái này khủng khiếp lắm. Hình ảnh yêu tinh trong Tây Du Ký đó, là tâm mình đó. Ôi chao, ghê lắm.
Đức Phật nói đa dạng trong tất cả cái đa dạng, phức tạp trong tất cả cái phức tạp chính là tâm này, thọ, tưởng, hành, thức nó vận hành. Mới lên chùa thì dễ thương, đi đâu cũng cúi hết, đi đâu cũng thầy, sư phụ. Chừng 3 tháng, 6 tháng, một thời gian, là lên giọng đi đâu đó đi đâu đây, làm gì đó, kênh kiệu, lên mặt, hống hách, ta đây, mới là chú tiểu thôi mà vậy đó, lên trụ trì nữa rồi là xong luôn, chết, chết chết, bản ngã nó giết người đó. Ăn hết gạo ở trong chùa rồi, những cái này là con đã đi qua tất cả, nên nhìn thấy như vậy thương lắm, nhìn thấy lậu hoặc sợ lắm, sợ cái bộ mặt của nó, phải nhìn ra được. Mới vô chùa hiền vô cùng, đi đâu cũng khép nép, vô cái bếp rồi giao cái bếp, mới có một tháng, là không ai vô được hết trơn, “đừng có ai vô đây mà nấu nghe không?”, sợ quá, hết sức sợ. Tu vậy rồi thì phải làm sao, tu cái gì, tu mà làm cho bản ngã càng ngày lên, ái ngày càng nặng, chấp thủ ngày càng nhiều. Tu riết rồi, dòm thầy cũng như ngang hàng với mình, thấy cũng như không thấy, chết không. Người ta tu, ngày càng cung kính Đạo sư, cung kính Pháp, cung kính Tăng, cung kính thiền định, cung kính giới, còn này tu riết rồi không còn trên dưới gì hết trơn, gì cũng không hết, đó là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Bây giờ nó dẫy đầy, tự mình nhìn lại thân tâm, hồi đó mới vô mà nghe được thời pháp, được học, được thầy dạy, được lên lớp mừng vui lắm, mới vô trường mấy ngày đầu tiên, khi thầy vô chắp tay đứng xa xa không dám lại gần. Tới chừng học đến năm thứ ba, vỗ tay lẹ lẹ để ổng về cho nghỉ sớm,vậy thì chắc chắn thất bại hết trơn rồi, như vậy là học cái gì? Tiêu tùng hết rồi, hư hết rồi, tâm cung kính mất rồi, sự tôn trọng không còn nữa. Ba pháp quy y không hình thành thì làm sao tu thành tựu được khi mình không còn cung kính Phật, không cung kính Pháp, không cung kính Tăng nữa. Cho nên bây giờ thật sự con không muốn nhận người xuất gia nữa. Bây giờ toàn là như vậy không, ngao ngán lắm, con thà có một hai người đệ tử thôi mà phải nhập lưu hết, phải đi vô bốn đôi tám chúng, còn không thì không nhận, không cần đông, một vài người cùng tu thôi. Trong một thời gian dài, mà tâm này bị tham, sân, si, ô nhiễm như vậy, mình không chịu để tâm mà nhìn, cứ tưởng là mình tu ngon là chết ngay thôi. Luôn luôn phải canh chừng cẩn mật, rà soát và kiểm tra liên tục cái tham, dục, sân, si và bản ngã. Thấy nó là mình bắn liền, thấy nó là mình triệt hạ liền, thấy nó là mình đánh liền, thì như vậy mình mới đi đến chỗ thanh tịnh.
Sau đây là chỗ ghê gớm, “những loài thú vật, súc sanh do tâm tư duy mà thành”, câu này ghê lắm, cần phải suy nghĩ, bao nhiêu loài thú vật, súc sanh đều từ suy nghĩ mà nó thành ra hình dáng như vậy. Hung dữ quá thành cọp beo, thâm độc quá thì thành rắn rít, cái tâm nó nhỏ nhen nó trở thành những con kiến, những con muỗi, rệp, rận, vi trùng, vi khuẩn chút xíu vậy mà trong người mình nó đầy. Nó cũng là một đời sống, nó cũng là một chúng sanh. Trong người mình tùm lum hết, có khi người ta lấy ra từ trong lỗ tai toàn là giòi, mình có quán chiếu trong mấy bài mình có mở lên mình coi đó. Còn trong đường ruột mình mà mổ ra là lấy được năm, bảy chục con dài hai, ba, bốn tất, toàn là sán, lãi bên trong người mình. Tất cả các đời sống, các thân thể đó đều từ suy nghĩ ác nghiệp, nên phải cẩn thận với các suy nghĩ. “Này các Tỷ-kheo, ta tuyên bố rằng tác ý tức là nghiệp, tác động tâm ý đó là nghiệp”, kiểm tra các suy nghĩ là thiện hay bất thiện, nhất là các bậc ân đức của mình, nhất là cha mẹ, ông bà, thầy tổ, những người ân đức, ân nghĩa với mình quan trọng lắm. Khi như lý tác ý mà mình nghĩ sai, nghĩ trật, mình khinh thường, mình ngạo mạn, mình bất kính, bất hiếu, vô ơn thì rất dễ đi vào các đường ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh nhanh như tên bắn. Giờ mình thấy, mỗi ngày đều có những tin tức đăng về đâm, chém, giết bất kể ông bà cha mẹ, đó toàn là ngạ quỷ, súc sanh không. Cái câu này mình phải quán chiếu và khiếp sợ đối với ba đường ác ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh. Vào trong địa ngục thì một ngày là 1 ngàn năm của mình, 500 năm của mình, hàng trăm năm của mình, tuổi thọ của trái đất này thành rồi hoại 100 lần, 1 ngàn lần, 1 tỷ lần, mình cũng chưa ra khỏi địa ngục nữa. Khủng khiếp lắm. Mình phải quán chiếu và cảm thấy hoảng sợ, run sợ, khiếp sợ đối với các ác nghiêp, các ác bất thiện pháp, những giới pháp mình đã thọ, những bậc đáng kính, những bậc ân nghĩa. Còn những suy nghĩ này thì còn đưa mình vào ngạ quỷ, súc sanh, thú vật, ác nghiệp, khổ thú, con đường khổ, đọa xứ là chỗ bóng đêm, bóng đen vĩnh viễn, có khi là giống như là đời sống của thực vật, lâu dài, không biết bao nhiêu là vô số, vô lượng kiếp. Mình thấy những loại cây cỏ, giống như là có cảm giác, mình cho ăn ngãi, ăn con gà, nó ăn hết luôn, ghê lắm, loại đó nó cũng có đời sống, mà vô những loài đó thì biết bao giờ mới lên thành người. Những con nòng trước giờ ở trên hồ nước của mình biết bao giờ lên thành người, rồi những con kiến, con muỗi, con heo cũng biết đến bao giờ? Khủng khiếp lắm cho nên phải sợ vòng luân hồi, phải sợ các ác nghiệp.
Chỗ này là chỗ chấn động nhất nữa, như thế này, “một người họa sĩ, trên một tấm giấy, tấm vải, có màu sắc, họ vẽ ra tất cả người đàn bà, hai người đàn ông mà đầy đủ tất cả các chi tiết mắt, tai, mũi, lưỡi, cũng vậy kẻ phàm phu không nghe chánh pháp liên tục làm cho hiện hữu sắc, làm cho hiện hữu thọ, làm cho hiện hữu tưởng, làm cho hiện hữu hành, làm cho hiện hữu thức, liên tục làm cho ngũ uẩn hiện hữu”. Điều này nó thâm sâu lắm, Thánh trí của Đức Phật mới nói ra nổi cái này, kẻ phàm phu vô minh và khát ái cứ vẽ ra những hình ảnh của ngũ uẩn, làm cho liên tục hiện hữu hoài, mình thấy trong tâm mình các hình bóng cứ hiện lên, hết hình này tới hình kia, hết cảm giác này tới cảm giác kia. Rồi mình muốn đi tìm cảm giác chứ ở yên như vậy tu thì thấy buồn, thấy sao mà nó nhạt nhẽo, nó lẻ loi, hay đi đâu chơi, hay là đi tới chỗ bên kia có tổ chức pháp hội không có chuyện gì cũng chạy qua, qua để làm gì, làm cho nó sanh khởi cảm giác hoặc cho nó tiếp xúc với sắc, xúc thực đó, thức thực đó. Ngồi một mình thì bắt đầu tư niệm thực, ngồi một mình là hết nhớ cái này tới nhớ cái kia, lôi hết cái này rồi lo cái kia, suy nghĩ rồi nhớ, chứ không để lắng dịu thọ, tưởng, hành, thức, không tu tập tâm lắng định, an dịu, mà cứ làm cho nó hiện hữu những hình bóng, hết nghĩ cái này tới cái kia, cứ hiện lên, hiện hữu liên tục những hình bóng, những suy nghĩ, những cảm giác đó. Các bậc Thánh thì có tâm lắng dịu yên tịnh, thọ yên tịnh, lắng dịu tưởng, hành, thức trong sáng, bình an. Còn mình không biết tu thì cứ vậy mà làm cho nó hiện hữu hoài thôi. Cho nên tại sao nói xong, kết thúc thì Đức Phật hỏi “Này các Tỷ-kheo các ông nghĩ sắc này là thường hay vô thường?” Đây là khẩu quyết của kinh Nikaya, tại vì thấy sắc vô thường nên đừng có nghĩ, đừng có ham, đừng có muốn, đừng có tìm, đừng có khao, đừng có khát nữa. Những cảm giác cũng vậy, thấy nó vô thường, tan hoại và biến đổi thì đừng có khao, đừng khát, đừng đòi, đừng hỏi, đừng kiếm, đừng truy tìm nữa, hãy nhàm chán đối với vô thường, thứ khổ não, trống rỗng này đi, chạy theo những cái ảo ảnh này để làm gì, chạy theo đống thịt này để làm cái gì, chạy theo những suy nghĩ mông lung hoài để làm cái gì? Vô thường cho nên khổ, vậy mà bây giờ có nhiều người còn giảng là “cảm ơn vô thường”, mình thấy hoàn toàn trái ngược với Thánh trí của Đức Phật, giảng những bài vô thường không có đáng sợ hết, còn giảng nhờ vô thường mà có cái này cái nọ cái kia. Thành ra những cái này nó thâm sâu lắm, không có chánh tri kiến thì sẽ không nhìn thấy được, không biết được ý của Đức Phật nói vô thường là gì, đó là để cho mình nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, không còn đam mê ngũ uẩn nữa. Mà giờ mình khuyến khích vô thường đẹp lắm, vô thường không có gì đáng sợ hết, phải cảm ơn vô thường nữa, cái đó là làm gì vậy, là làm cho chúng sanh tham mê, tham đắm vô những thứ vô thường này, hết sức là nguy hiểm. Cho nên, trong sự tu tập, Đức Phật dạy mình phải có sự tinh tấn.
Bài kinh Cán Búa “do biết cái gì, do thấy cái gì, này các Tỷ-kheo, mà các lậu hoặc được đoạn tận, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt, thấy cái duyên sanh của ngũ uẩn, sự tập khởi của ngũ uẩn, sự tan diệt của ngũ uẩn, thấy được tính chất sanh diệt vô thường của nó thì các lậu hoặc sẽ được đoạn tận”. “Này các Tỷ-kheo, như có Tỷ-khi sống mà không chí tâm trong sự tu tập, nhớ chữ chí tâm trong sự tu tập, tức là sự dốc lòng tu tập, mà khởi lên ước muốn mong rằng tâm của ta sẽ được giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ”, tuy rằng tâm dễ mong muốn như vậy, nhưng mà người ấy không dễ giải thoát các lậu hoặc. Vì sao vậy, phải nói rằng vị ấy không có tu tập. Đức Phật nói rằng, người không có chí tâm tu, không có tu tập Bốn Niệm Xứ, Bốn Chánh Cần, Bốn Như Ý Túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Giác Chi, không có tu tập Thánh đạo Tám ngành thì dầu cho người đó có mong muốn được giải thoát, đoạn tận lậu hoặc cũng không được. Mà người có tu tập bằng tất cả tấm lòng chân thành, dù không có mong muốn người đó cũng đạt được kết quả. Giống như Đức Phật đưa ra hình ảnh con gà ấp trứng, nó ấp, nó nằm đúng cách, dưỡng đúng cách, dầu cho con gà đó có khởi lên hay là không khởi lên ý muốn mong những con gà con sẽ làm bể vỏ trứng, tức là được sanh ra một cách an toàn, mong muốn hay không mong muốn thì những con gà đó cũng sẽ được sanh ra một cách tốt lành nếu mà nó ấp đúng cách; còn nếu nó không ấp đúng cách thì dầu cho nó có mong muốn gì đi nữa thì cũng không đạt được. Quan trọng là phải đúng cách, cũng như tu là phải đúng cách, đúng pháp thì mới có kết quả. Còn nếu mình tu sai, như con gà nó ấp sai thì không thể có được con gà con, mình tu sai thì không thể đoạn tận các lậu hoặc, dầu mình có mong muốn, có cầu nguyện đi chăng nữa. Thí dụ dễ hiểu: giờ mình đói bụng mà mình không vô bếp mình ăn, mà cứ lạy Phật cầu cho con no, thì được không? Hoặc thí dụ, bác sĩ đưa toa, mình về mình không uống thuốc, mà cứ quỳ trước bàn Phật sáng trưa chiều cầm toa đọc cầu cho con hết bệnh, thì hết không? Cũng vậy Đức Phật nói sự tu tập của mình phải đúng pháp, đúng cách thì mình mới thành công.
Như vậy, hôm nay Minh Thành chia sẻ với đại chúng về vô mình và khát ái, chúng ta không biết là từ hồi nào tới bây giờ, vô thỉ kiếp, bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc. Có thể biển cả khô rồi thấy đáy, có thể trái đất này tan hoại thành cát bụi, nhưng sự chấm dứt vô minh và tham ái của chúng sanh là không thể xảy ra. Chúng ta còn tiếp nối dài dài trong vô minh và tham ái đối với ngũ nếu chúng ta không thành tựu được chánh kiến. Không thấy và thực hành đúng Thánh đạo thì dòng lưu chuyển xoay vòng này sẽ hoài hoài giống như con chó bị buộc vô cây cột, chạy quẩn chạy quanh dù có đi đứng ngồi nằm, nó có sủa thức ngủ gì thì vẫn vòng vòng cây cột. Giống như chúng sanh vô văn phàm phu không nghe chánh pháp, dù có đi đứng nằm ngồi thì cũng đi đứng nằm ngồi ở gần nằm uẩn, có làm gì đi nữa thì cũng làm trong năm uẩn, và sự tu của chúng ta là thành tựu cái trí về năm uẩn, thấy được tính chất vô thường khổ não của nó để mà nhàm chán, xa lìa, thoát ra, từ đó mình chấm dứt, giải thoát đối với năm uẩn.
./.