Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tâm Hiền - Nghiệp Thiện - Hanh Thánh 6 - Thánh Trí Sanh Diệt Về Ngũ Uẩn 2 - Quán Thọ

2026-03-03 00:54:54
Thánh Trí Sanh Diệt Về Ngũ Uẩn 2

Quán Thọ

Thích Minh Thành

Ngày 16 tháng 01 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sanh diệt vô thường PAGEREF _Toc97041366 \h 1

II. Huấn luyện cảm thọ PAGEREF _Toc97041367 \h 7



I. Sanh diệt vô thường

Kính bạch các bậc hiền trí, tăng ni và quý Phật tử, chúng ta tiếp tục thừa kế các tài sản cao thượng, tối thượng của Đức Thế Tôn trao gửi lại cho chúng ta. Đó là tài sản Thánh trí tuệ.

Lần trước chúng ta đã chiêm nghiệm về sự sanh diệt của sắc uẩn xuyên qua tứ niệm xứ về phần quán thân. Chúng ta nắm kĩ tổng cương lĩnh của toàn bộ kinh tạng Nikāya, tức là năm tổ hợp của thân tâm. Dù cho Thế Tôn có nói về Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Bát Chánh Đạo, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần… Dù cho Ngài có nói bao nhiêu thiện pháp, Chánh pháp hay bao nhiêu bất thiện pháp, tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, tật đố, gian trá, xảo ngụy… Tất cả những pháp đó đều từ nơi ngũ uẩn.

Mình phải nắm vững tổng cương lĩnh này thì sự tu học của mình mới có nền tảng, nếu không thì mình học sẽ thấy cái này khác với cái kia, khác với cái nọ, thấy Tứ Đế khác với ngũ uẩn, Bát Chánh Đạo khác với Thất Giác Chi, Tứ Chánh Cần khác với Tứ Niệm Xứ… Khi chúng ta nắm vững được ngũ uẩn rồi thì quý vị mới thấy được tất cả những gì Đức Phật nói đều ở nơi ngũ uẩn.

Ngoài thân tâm này ra, không có gì để nói thêm. Ngoài hình dáng, hình vóc, cảm giác này, suy nghĩ này, những tưởng, những thức tri nhận thức này, đều không có gì khác. Chúng ta nhớ như vậy thì sự tu học của chúng ta mới thành tựu một trí tuệ minh kiến, một trí tuệ chân xác, có nền tảng, có sự sâu sắc, chính xác, cụ thể, rõ ràng, đúng đối tượng thì chúng ta tu học mới có sự ổn định vững chắc, kiên trú và thể nhập sâu sắc vào sự thấy biết của bậc Thánh.

Chúng ta đang chiêm nghiệm về hai chữ sanh diệt, muốn có trí tuệ thì phải thấy được sự thật, bản chất. Và muốn thấy được như vậy thì phải có sự nhìn ngó, quán xét sự thật bản chất đó, nhìn ngó, quán xét một cách thường xuyên, liên tục, chuyên cần, chú tâm, để tâm, đặt cả tâm mình vào trong sự quán xét đó thì chúng ta mới có thể thể nhập, thẩm thấu và thấy bằng con mắt tâm của mình, thấy bằng con mắt tuệ của mình, bằng con mắt pháp của chính mình. Chúng ta nên nhớ điều đó.

Trong phần gia tài, trí tuệ của bậc Thánh thì Đức Phật có nhấn mạnh hai chữ sanh diệt. Ở các nơi Đức Phật còn dùng nhiều chữ khác như vô thường, khổ đau, trống rỗng, bất an, sợ hãi, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt… Tất cả những chữ đó, đặc tướng, đặc tánh, bản chất, sự thật, chân lý của các pháp. Khi chúng ta học kinh mới biết được là nắm được chữ nào mới quan trọng, những chữ đó là định lý, khẩu huyết, mật mã, cốt lõi, con mắt của mười hai phần giáo, là trái tim của tam tạng kinh điển, là Thánh trí tuệ mà Đức Phật đã chứng ngộ.

Mình phải nắm được những chữ đó, thì khi mình nhìn sự vật, hiện tượng, sự việc, con người thì mình đem những chữ đó ra để mình nhìn nó, thì cái nhìn đó không còn là cái nhìn của phàm phu nữa, mà đó là cái nhìn của bậc Thánh, gọi là Thánh tri kiến, tri kiến Phật, là thấy biết của bậc Thánh, thấy biết của chư Phật, thấy biết của các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

Như vậy thì Đức Phật dạy mình cái nhìn thứ hai là nhìn về cảm giác, dùng trí sanh diệt của mình để nhìn vào cảm giác, cảm giác này như thế nào.

Đức Thế Tôn nói rằng: Ví như trong mùa thu, khi trời mưa thì có những giọt mưa lớn trên mặt nước, các bong bóng nước hiện ra rồi tan biến, khi trời mưa lớn, theo những giọt mưa đó có những bong bóng nước xuất hiện trên mặt nước, các bong bóng nước đó hiện ra rồi tan biến.

“Ví như, này các Tỷ-kheo, trong mùa thu, khi trời mưa những giọt mưa lớn, trên mặt nước, các bong bóng nước hiện ra rồi tan biến. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, bong bóng nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ- kheo, lại có lõi cứng trong bong bóng nước được?”

Bản chất của những bong bóng nước đó hiện rõ ra là trống không, rỗng không, là không có lõi cứng ở bên trong do người có mắt nhìn chuyên chú như lý quán sát nó. Nhìn nó một cách chăm chú, nhìn vào bong bóng đó một cách chuyên chú, chú tâm, để ý, để tâm thì tính chất trống rỗng của bong bóng nước đó hiện rõ ra. Tính chất trống không của bong bóng nước đó hiện lộ ra rỗng không, trống không, tuyệt không, trống rỗng, không có lõi cứng chắc ở bên trong. Những bong bóng nước đó hiện ra rồi tan biến.

“6) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có thọ gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát thọ ấy. Do Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, thọ ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong thọ được?”

(Bài kinh Bọt nước – Phẩm Hoa – Chương Năm mươi kinh ở giữa

- Tương Ưng Bộ Kinh)

Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát, quán xét nó một cách sâu sắc, quán xét nó một cách đúng sự thật thì các cảm thọ ấy hiện rõ ra là trống không, các cảm giác đó hiện rõ ra là rỗng không, là tuyệt không, hiện rõ ra là không có lõi cứng ở bên trong.

“Này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong thọ được?” Chúng ta chịu khó nhìn một cách chăm chú, chuyên chú, chú tâm. Như Đức Thế Tôn từng ví dụ có con mắt, qua câu kinh: “Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó”

Các chữ này không phải đọc đơn giản như trên, cần hiểu “người có mắt” là người nhận diện được năm uẩn, nhìn thấy được năm uẩn. Người không nhìn lại thân xác, không biết nhìn lại cảm giác, không biết thường nhìn lại hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, không nhận diện ra được các thức, người đó Đức Thế Tôn gọi là người mù, kẻ mù, sống trong mù lòa.

Người thường quay lại để nhìn thân thể, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức của mình, thấy đó là năm uẩn, năm tổ hợp, thấy nó là pháp duyên sanh, thấy nó là thứ lắp ráp, kết hợp, cấu tạo, nương tựa, là pháp điều kiện, thì người nhìn được như vậy, Đức Phật gọi người đó có con mắt, đó là trong bài kinh Bọt nước, Tương Ưng Bộ Kinh tập ba.

Chúng ta phải hiểu ý của Đức Phật nói, nên trong kinh không dư hay không thiếu chữ nào cả, nên Đức Phật nói người phải có con mắt, nếu không có con mắt thì làm sao thấy được. Người không nhận diện được năm uẩn là người không có mắt, là mù lòa và dù cho người đó đã học pháp, nhận diện năm uẩn mà lúc đó không nhận diện năm uẩn thì người đó vẫn là kẻ mù lòa trong giáo pháp.

Tiếp theo, khi đã có con mắt thường để ý, nhìn lại cảm giác, nghĩ tưởng, hình bóng, nhận thức trong tâm và người này cần phải nhìn chuyên chú - đây là pháp thứ hai. Chuyên chú là người này tinh cần, tinh tấn, là người này luôn luôn để tâm, chú tâm, nhiệt tâm, đặt tâm mình vào đó thì gọi là chú tâm. Còn cách nhìn một cách hời hợt, qua loa là cách nhìn khác. Chúng ta cùng nhận diện ngũ uẩn nhưng nhìn qua loa, hời hợt, lướt qua, thấy không được bao nhiêu, còn sự chú tâm, nhìn sâu thì thấy sâu sắc hơn. Như vậy, chuyên chú này là sự để tâm ý vào các cảm xúc, cảm giác, cảm thọ của mình thường, luôn. Thường thường và luôn luôn để tâm vào ba cảm xúc đó và phải như lý quán sát.

Chuyên chú để tâm theo cái nhìn tư kiến cá nhân của mình thì trí tuệ, Thánh tuệ không sanh trưởng, để tâm phải như lý quán sát. Quán sát nhưng phải đúng sự thật mà Đức Phật đã dạy mình sanh diệt, biến hoại, vô thường, khổ đau, tham ái, nắm chặt, chấp thủ đó, sầu bi, u não đó, lo lắng, bất an, buồn khổ đó. Như vậy mới gọi là như lý quán sát.

Nhưng chăm chú nhìn nhưng nhìn theo kiểu ái, nhìn cái mình thích, mình khoái rồi mình nhập vào đó luôn thì đó không phải như lý quán sát.

Chúng ta nên nhớ ba bước, thứ nhất là nhận diện ngũ uẩn, là người có con mắt; thứ hai là nhìn chuyên chú, tinh cần, tinh tấn, để tâm, để ý, tập trung tâm ý, nhiệt tâm; thứ ba là như lý quán sát và phải quán sát theo định lý của Đức Phật, nếu không là mình nhìn một lúc là nó dẫn mình đi theo chiều của dục, tham, ái, chiều của bản ngã. Cũng là nhận diện ngũ uẩn nhưng bản ngã dẫn dắt, tham ái điều khiển hay bị sương mờ bao phủ tâm trí, hôn ám, nên phải như lý quán sát.

Khi như lý quán sát thì nó sẽ hiện rõ ra cảm thọ đó là trống không, rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng ở bên trong.

“Này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong thọ được?”

Trong những cảm giác đó làm gì có sự cứng chắc trong đó, giờ chúng ta mới nhìn theo thực tế đời sống, mình làm cả buổi, cả ngày, cả sáng đêm, mình nấu được một món ngon, ăn và đưa vào lưỡi, chạm rồi nuốt xuống. Đi chợ trong bao lâu, lên thực đơn rồi chuẩn bị các món đó mất bao lâu? Nhưng nhiều khi đã thành phẩm nhưng để nguội một lúc là hương vị biến đổi ngay. Mình chạm vào lưỡi được bao lâu nhưng nó chạm vào rồi nuốt xuống, cảm giác của lưỡi – thọ do thiệt xúc sanh. Cảm thọ do lưỡi tiếp xúc sanh khởi được bao lâu? Chỉ tích tắc, nên nhìn kĩ vào để thấy được cảm thọ hiện rõ tính chất của nó là rỗng không, trống không, không có cứng chắc, thoáng qua nhưng bên trong là mệt mỏi, sân hận, chê bai “Ai nấu đi, đừng bao giờ kêu tôi nấu nữa!”

Nhưng chúng ta thấy không có chuyện gì nhưng cứ nói “Đừng kêu tôi nấu nữa, chê thì kiếm ai nấu đi, đừng kêu tôi nấu nữa.” Chúng ta thấy đó là tâm mê. Thậm chí, khi chúng ta đi ngày hay đêm, bay qua nước này nước kia, để dành tiền bao năm chứ không dễ để có tiền mua vé máy bay cả ngàn đô la để đi qua Mỹ, qua Anh, Canada, Úc và đi mấy ngày như vậy là bao nhiêu tiền? Đi tới chỉ để ngắm nhìn rồi lại đi về là mất hàng mấy chục triệu, hàng trăm triệu, đó là chúng ta nói nhà giàu, còn nhà nghèo thì không nói được thêm.

Như vậy, thọ do nhãn xúc sanh, cảm giác do mắt tiếp xúc một chút đó rồi về là hiện rõ ra cảm thọ do con mắt tiếp xúc này là trống không, rỗng không, như khói sương, chỉ được cảm thọ một chút như vậy là thôi, đi về. Chưa kể trong đó là bao nhiêu, bỏ ăn, mất ngủ, lo lắng, bao nhiêu thủ tục chờ đợi, ngồi ngáp hay ngồi gục lên gục xuống ở sân bay rồi mỏi, lạnh, sợ đủ thứ.

Để đổi lấy một chút cảm thọ đó là bao nhiêu nhọc nhằn, vất vả, lo toan, tốn công, tốn sức, tốn tiền, tốn bạc, tốn thời gian mà có khi lại giận hờn, bực bội, sao lại cho tôi ngồi ghế này, xếp hàng đứng chờ lâu quá cũng mỏi chân, rồi ăn uống không vừa miệng và bao nhiêu thứ khác chúng ta thấy. Đi mấy ngày lại trở về, gặp ai thì khoe mấy tấm hình.

Đó là nói theo thuận, còn nghịch là nhìn thôi là phùng mang, trợn mắt, tam bành lục tạch nổi lên. Chỉ thoáng qua nghe một câu là phừng phừng, phựt cháy lên. Cái vui sướng là lướt qua nhẹ rồi tan biến rất nhanh, nhưng những cái khổ, đau, tham, sân, si thì lại chất chứa trong đó, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển, ôm ấp… Thấy khổ không, mê không hay đáng thương cho mình không? Đáng thương nhiều không?

Cái vui, sướng của lưỡi là khi nuốt xuống, chỉ một chút như vậy là xong. Sướng của con mắt là nhìn qua một chút là xong, đi về. Hay những tiếp xúc này nọ kia cũng vậy, thoáng qua một chút là xong hết nhưng những cái buồn, giận, tức hơn thua này kia là âm ỉ, chất chứa bên trong. Mà trong con người mình cảm thọ vui sướng nhiều không? Hay là cảm thọ buồn giận, bức xúc, khổ đau nhiều? Cái nào nhiều hơn? Mà tất cả những cảm thọ đó nhìn sâu sắc vào là sanh diệt, quý vị thấy nó sanh khởi lên rồi một chút lại tan ra. Như khi nổi bong bóng nước lên nhìn thì lấp lánh thì lại bể ngay.

Như câu: các bong bóng nước hiện ra rồi tan biến, chữ tan biến đó là để cho mình thiền quán, tan biến mau và nhanh, lẹ, nhanh chóng, tan biến, tan hoại, biến hoại, tan nát, trống không, trống rỗng. Đó là vì mình không để tâm, không nghe lời Phật dạy, không chịu chú tâm, chuyên chú, như lý quán sát vào trong các cảm giác nên những gì tiếp xúc mình nổi lên đó rồi là mình chụp vào đó: “Tôi đang bực à! Tôi đang giận, đang khó chịu à!” Đó là một chùm vô minh trong đó, sân si, bản ngã trong đó.

Nhưng nếu mình chịu khó có con mắt, để mình nhìn chuyên chú trong các cảm giác đó thì mình mới thấy được tính chất sanh diệt nổi lên rồi nát, nổi lên cảm giác sướng, vui, cười rồi lại nát, nổi lên cảm giác bực bội, sân hận, la lối, phiền muồn, lo lắng, những cảm giác sợ hãi, tranh giành rồi lại nát, tan biến… Cứ như vậy, sanh diệt diệt sanh và mình cứ chạy theo đó, chìm nổi, trôi dạt, đắm chìm, khổ đau, lặn hụp, ngụp lặn trong đó. Nó cuốn mình trôi theo những cảm giác, những dòng cảm giác, bong bóng cảm giác.

Chẳng hạn mình đang bình tĩnh ngồi thì bỗng nhiên có một người sân si, bặm trợn và nói những câu nói rất khó chịu thì lúc đó mình quay trở về kêu cảm giác mình an tịnh, lắng dịu, bình tĩnh. “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu, bình tĩnh, nhìn kĩ nha! Xem cái này đang có chuyện gì!” Mình không bị làn sóng, thác lũ của cảm thọ bức xúc, sân hận của người kế bên cuốn mình trôi, mình trú vững trong thân thọ tâm pháp, trong niệm xứ, chánh niệm tỉnh giác của mình, an trú trong cảm giác bình tĩnh, an tịnh, không để cảm giác bức xúc, nhiệt não thiêu đốt hoặc dòng thác lũ sân hận cuốn mình trôi thì lúc đó mình có bình an không?

Hay thường mình phựt lửa vì bên trong đầy nhiên liệu, đồ để bắt cháy nên nếu bên kia có lửa thì phựt ngay. Còn nếu bên trong là hồ nước mát thì lửa có phựt không? Như ngày trước chúng ta đã có quán về tưởng, tâm mình là một hồ nước mát, thường an trú trong một cảm giác hiền thiện, an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương thì những bực bội, sân hận, thiêu đốt hay những dòng thác lũ của người khác ập tới thì không cuốn trôi, thiêu cháy hay cháy lan qua mình được.

II. Huấn luyện cảm thọ

Còn nếu mình không niệm thọ, mình không có sự chánh niệm, tỉnh giác, an trú trong cảm giác toàn thân, không cho sự nhìn kĩ trong cảm thọ của mình và nhìn cảm thọ của người, không có kiểm soát nhãn xúc, nhĩ xúc, thiệt xúc, khẩu xúc, thân xúc, ý xúc của mình. Không có kiểm soát sự tiếp xúc khi thấy, khi nghe, khi ngửi, khi nếm, khi xúc chạm, nhận thức trong tâm, mình không có chánh niệm tỉnh giác, không kiểm soát sáu thọ nên khi tới nó phựt cháy, tới là cuốn trôi, tới là lan, phát hỏa lên, hỏa hoạn lên, sống thần lên, lũ lụt lên.

Nên trí tuệ, gia tài Thánh trí huệ mà Đức Phật đã trao cho mình là sự thường nhìn ngó một cách chuyên chú, quán sát đúng sự thật về bản chất của các cảm thọ, cảm xúc này. Phải thấy được tính sanh diệt của nó, tính chất bong bóng nước của nó, tính chất nổi lên rồi tan biến của nó.

Ví dụ cảm thọ bực bội, khó chịu như lò lửa, bốc hơi nóng lên. Ví dụ cảm thọ dễ chịu, mát mẻ, ngọt ngào giống như máy điều hòa tỏa ra sự mát mẻ. Giờ chúng ta tu không lẽ muốn làm lò lửa? Có ai tu mà muốn làm lò lửa không? Hay là mình muốn giống máy điều hòa?

Như vậy, sự tu tập các cảm thọ là điều hòa cảm xúc của mình trong mọi lúc mọi nơi. Lúc nào mình thấy nó buông lung, buông thả thì thâu nhiếp lại, lúc nào mình thấy nó co rút quá thì mình phải mở thoáng ra. Lúc nào mình thấy nó lờ mờ thì mình phải làm cho nó tỉnh táo, sáng tỏ, lúc nào cảm thấy nó buồn buồn, buồn chán trong sự tu học thì mình phải làm cho nó hoan hỷ, thích thú, hân hoan, hạnh phúc, hỷ lạc, vui sướng trong sự tu học giáo pháp.

Đó là sự điều hòa các cảm thọ, sự giáo huấn, giáo dục, dạy dỗ, huấn luyện các cảm thọ. Sự dẫn dắt, hướng dẫn, lèo lái các cảm thọ của mình, không để cho cảm thọ dẫn dắt, không để cho cảm thọ sai khiến, không để cho cảm thọ lấn át, xâm chiếm, áp đảo, tác quái. Mà mình phải làm chủ các cảm thọ, điều khiển các cảm thọ bằng sự tác ý, nhắc nhở, quán chiếu và giờ cảm thọ sân hận, bực bội như bếp lửa, mình cần phải dập tắt.

Sự thiêu đốt, nóng bức, nhiệt não của nó thì mình cần phải có sự an tịnh, lắng dịu, tác ý, tâm từ, tâm thương, làm cho mát mẻ, làm cho thanh lương, làm cho cảm thọ ngọt ngào, dễ chịu, mát mẻ, thanh lương, an lành. Còn những cảm thọ đơ đơ, trơ trơ, ngơ ngơ, thì mình phải giải phá những cảm thọ đó bằng những sự tác ý vô thường, khổ.

Nên Đức Phật định nghĩa trí tuệ là như thế nào? Đó là biết được đây là khổ, đây là ngũ uẩn, biết được ngũ uẩn là khổ, biết được nguyên nhân của đau khổ này là sự vô minh và tham ái, biết được sự chấm dứt khổ và biết được đạo lộ, cách thức, phương pháp diệt trừ khổ đau. Nên lúc nào không thấy khổ thì lúc đó là mình vô minh.

Chỗ này là chỗ rất sâu sắc, mình để ý trong tâm mình lúc nào mình thấy vui sướng, thích thú quá thì lúc đó là vô minh, đó là đối với bất thiện pháp, còn đối với thiện pháp là được, mình hoan hỷ theo hỷ vô lượng tâm là khác. Nhưng đối với trạng thái mình tiếp xúc với vật chất, các sắc, thanh, hương, vị, xúc hay những cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm mà mình hoan hỷ, thích thú, sung sướng, khoan khoái trong đó, không thấy được tính chất khổ đau, bất an trong đó. Tính chất tan hoại, biết diệt, sanh diệt, tan biến, diệt vong ở trong đó mà mình không thấy được thì lúc đó mình đang sống trong bóng đêm, bóng tối.

Chúng ta nên nhớ kĩ định nghĩa trí tuệ và vô minh Đức Phật định nghĩa là: vô minh hay trí tuệ là sự thấy và không thấy ngũ uẩn này là khổ. Nếu thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là khổ đau thì lúc đó là minh, là trí. Còn nếu thấy sắc, thọ, tưởng, hành thức này là vui sướng thì đó là vô minh, mê muội. Cần nhớ kĩ vì đây là định lí giải thoát.

Nên trong Tương Ưng Bộ, bài kinh Tùy pháp:

Đức Phật nói với các bậc Đa văn Thánh đệ tử:

“Đối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Vị ấy sống tùy quán vô ngã trong sắc... trong thọ... trong tưởng... trong các hành. Vị ấy sống tùy quán vô ngã trong thức...”

(Bài kinh Tùy pháp – Phẩm Không phải của các ông – Tương Ưng Bộ Kinh)

Thế nào là tùy pháp? Là người này sống nhiều nhàm chán đối với sắc, nhiều nhàm chán đối với những cảm giác, đối với những nghĩ tưởng, đối với những nhận thức, hiểu biết.

Tại sao người này nhàm chán? Vì người này nhìn thấy khổ đau, dù cho có vui thì cái vui đó cũng rất tạm bợ, mong manh, ngắn ngủi. Và thấy được sâu sắc trong bản chất đó là một đống đại khổ uẩn (một khổ to lớn, vĩ đại). Khi người này thấy được khổ thì người đó nhàm chán, người đó thấy được tính vô thường trong ngũ uẩn thì người đó nhàm chán. Người đó thấy được sự trống rỗng, trống không, không có cốt lõi chắc chắn bên trong đó thì người đó nhàm chán đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Người đó gọi là người hành pháp, tùy pháp, một người như vậy chắc chắn là nhập lưu, sẽ đi vào dòng Thánh trí tuệ của Đức Phật.

Nhớ câu Đức Phật dùng từ sống nhàm chán đối với thân xác này. Sống nhàm chán đối với những bệnh tật nơi thân này, sống nhàm chán đối với nó cứ đòi ăn, thèm ăn hoài, đói bụng, thèm khát mãi. Thấy nhàm chán đối với sự tham muốn các món ăn, đối với sự tham muốn, nhìn ngó để nhìn. Nhàm chán đối với cái nhìn, ngó, tìm kiếm. Nhàm chán, không ưa thích đi tìm kiếm, nhìn ngó, thấy nhàm chán đối với các cảm giác sanh khởi lên. Vì đừng nói cảm giác khổ chắc chắn là mình nhàm chán, cảm giác vui mình cũng nhìn trong đó là đau khổ.

Tại sao cảm giác vui mà nhìn vào đó là đau khổ?

Ví như các bà, các cụ ngồi đây có các cháu hai mươi, hai mươi hai tuổi đám cưới, mình nhìn thấy lại cảm thấy “Tội nghiệp nó quá! Nó bắt đầu bước vào con đường đau khổ mà mình đã đi qua!” Đó gọi là bậc Đa Văn Thánh đệ tử nhìn thấy cảm thọ vui sướng mà thấy đó là đau khổ.

Các con ơi, chuẩn bị đi con! Chuẩn bị bụng bầu, chuẩn bị đẻ! Chuẩn bị nuôi nấng, dạy dỗ, chuẩn bị lo toan, cơm áo, gạo tiền, chuẩn bị thành gia lập thất… Bao nhiêu những cái trong đó là lo lắng, suy tư. Cái nhìn đó là cái nhìn của người lớn, của bậc trưởng lão. Cũng vậy, đối với Đức Phật, đối với những cái mình cho là vui thì khổ ở trong đó.

Ví dụ trong một bàn tiệc ăn nói, cười vui hỷ hạ có thấy vui không? Có thấy ngon, sướng, đã miệng không? Xong khi về nói 44:43 bà tám, sau đó khổ không? Đó có phải là vui mà khổ trong đó không?

Hay trong bàn nhậu nào là anh em, tình huynh đệ, đào viên, kết nghĩa, nói rất hay nhưng uống vô rồi lại đập bàn đập chén, đập tô, đánh nhau. Vậy thì cái vui có khổ trong đó không? Hoặc khi thành vợ thành chồng quá vui nhưng sau khi ở với nhau rồi lại thấy ngao ngán nhau, phiền não nhau?

Vậy nên Thánh trí tuệ là cái nhìn sâu sắc vào bản chất, thấy được các thực tướng của các Pháp, không phải là cách nhìn lướt qua bên ngoài, nhìn bề ngoài, biểu diện, lòe loẹt màu sắc của bên ngoài.

Đi sâu sắc vào bên trong, Đức Thế Tôn nói:

“Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ.”

(Bài kinh Sống một mình – Phẩm Sống một mình – Tương Ưng Bộ Kinh)

Tức là tất cả cảm giác của mình đều nằm trong đau khổ vì tính chất nó là sanh diệt, vô thường, biến đổi, dịch chuyển, tan hoại. Khi cảm giác vui sướng kết thúc thì nó trở thành khổ. Nên chúng ta nhìn sâu sắc, nhìn thật sâu như vậy để thấy được tính sanh diệt của nó.

Sang bậc Đa văn Thánh đệ tử nhìn thấy vô thường đó nhàm chán, thấy được tính chất khổ đau của các cảm giác đó nhàm chán, thấy được tính chất trống rỗng, duyên sanh vô ngã đó không có cốt lõi chắc chắn thì nhàm chán, không tham muốn nữa.

Vậy nên tham nhiều khổ nhiều, tham ít, khổ ít, hết tham là không khổ. Câu vừa rồi nhân gian hay nói nhưng nghĩa rất sâu sắc, tham nhiều thì khổ nhiều, tham ít thì khổ ít, không tham thì không khổ. Nhưng đây là tham đối với gì? Đối với ngũ uẩn, đối với những cảm giác vui sướng, thích thú, lạc thọ, khoan khoái đó, cứ đi tìm những cảm giác đó.

Đức Thế Tôn cũng dạy mình quán:

“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị Tỷ- kheo thấy sắc, chuyên chú, như lý quán sát sắc. Do vị Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát sắc, sắc ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ- kheo, lại có lõi cứng trong sắc được?Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng ở trong cảm thọ được?”

Ví dụ, giờ mình được yêu thương rất nhiều, nhưng người yêu thương mình xảy ra tai nạn, nhiễm dịch bệnh hoặc qua đời, cầm trên tay mình là hủ tro cốt của người thương. Khi mình nhớ lại hình bóng đó, cảm giác yêu thương, thân ái của quá khứ đó hay những cử chỉ trìu mến, âu yếm, ngọt ngào đó làm cho hai dòng lệ của mình tuôn xuống, chảy xuống, tràn ra, trào ra, xót xa, đau khổ. Vì từ nay về sau mình đã mất những cảm giác trìu mến, yêu thương, ngọt ngào, thân ái đó đã không còn nữa.

Ông bà, cha mẹ, vợ chồng hay người thương yêu khi ra đi, từ giã, hay những món đồ, những tài sản mà mình yêu dấu, tích lũy, chất chứa, gom góp, cất giữ, dành dụm. Một lúc nào đó người thân yêu của mình ra đi, tiền của mình bị biến đổi, thậm chí thân xác này tan hoại thì những hình bóng, cảm giác đó mình tiếc nuối, tiếc luyến, xót xa, đau khổ vì bị mất đi.

Nếu mình nhìn sâu sắc hơn vào bên trong thì có con mắt chú tâm, quán sát, như lý quán sát thì mình sẽ thấy những cảm giác đó trống rỗng, trống không, là những chùm bong bóng nước hiện ra rồi tan biến.

Những chùm bong bóng nước nổi lên rồi tan biến, hiện ra rồi biến mất, bọt tan, vỡ tan, tan vỡ đã bao lần. Bao lần tan vỡ hỡi tâm mê, bao lần tan vỡ những cảm giác yêu thương này, bao lần tan biến những cảm giác thân ái này, bao lần tan nát cõi lòng này rồi hỡi tâm mê.

Hãy nhìn những cảm giác dễ tan dễ vỡ, dễ nát dễ hoại này. Hãy nhìn thật kĩ những cảm giác vỡ tan, tan vỡ đã bao lần. Bao lần cảm giác hợp rồi tan, bao lần cảm giác sanh rồi diệt, bao lần cảm giác đã khóc than. Khóc than, than khóc đã bao lần, bao lần than khóc hỡi tâm mê.

Bao nhiêu lần cảm giác sân hận nổi lên rồi hủy hoại mình, hủy hoại người. Bao nhiêu lần những cảm giác tham muốn, tham dục khởi lên, sanh khởi lên, làm khổ mình làm khổ người. Bao nhiêu lần những cảm giác hơn thua, bản ngã sanh khởi lên rồi tan biến và để lại những di chứng buồn đau, hối hận. Bao nhiêu lần mình đã khóc than, bao nhiêu lần mình đã hợp tan, vì cảm giác này sai khiến mình, nó đòi hỏi, thúc giục, khát khao mà mình phải mệt mỏi, nhọc nhằn, đau khổ với nó.

Bao nhiêu lần khóc than, than khóc, bao nhiêu lần mình đau khổ, khổ đau. Bao nhiêu lần mình đẫm lệ, bao nhiêu lần mình rơi lệ, ứa lệ, tuôn lệ. Hãy nhìn kĩ những cảm giác này chỉ là những luồn hơi, luồng khí bốc lên bên trong, thổi lên, phình lên bên trong. Nên dùng cây kim Thánh trí để chọc thủng bong bóng nước này cho nó xì hơi, vỡ ra, bốc hơi, cho nó tan biến hoàn toàn để mình có một nội tâm an tịnh, lắng dịu, mát mẻ, thanh lương, ngọt ngào và bình yên ngay trong giây phút hiện tại này.

“Ví như, này các Tỷ-kheo, trong mùa thu, khi trời mưa những giọt mưa lớn, trên mặt nước, các bong bóng nước hiện ra rồi tan biến. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, bong bóng nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ- kheo, lại có lõi cứng trong bong bóng nước được?

6) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có thọ gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát thọ ấy. Do Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, thọ ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong thọ được?”

(Bài kinh Bọt nước – Phẩm Hoa – Chương Năm mươi kinh ở giữa

- Tương Ưng Bộ Kinh)

Đừng nên tham đắm theo cảm giác, đừng nắm chặt vào cảm giác, đừng cho cảm giác này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Hãy chuyên chú và nhìn thật sâu sắc thì chúng sẽ hiện rõ ra là: trống rỗng, trống không là những cảm giác này, những làn hơi này, những thứ khí độc này là “trống không” là rỗng không, là tuyệt không và không có chút nào có lõi cứng chắc bên trong này được.

“Này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong thọ được?”

“Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ.”

Hãy chánh niệm tỉnh giác, quán sát tất cả các cảm thọ có sự tự chủ, sự tỉnh táo, đừng để các cảm thọ dối lừa, gạt gẫm thì mình sẽ có được tâm bình an, an tịnh, ngọt ngào, thanh lương.

Nhiệm màu là cảm thọ tu tập, quán thọ trên tất cả cảm thọ này.