Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nương Tựa Vào Đâu 1

2026-03-03 00:54:54
Kinh Nikāya Giảng Giải

Nương Tựa Vào Đâu 1?

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nương tựa Chánh Pháp PAGEREF _Toc213838518 \h 1

II. Tôn quý và trân trọng Chánh Pháp PAGEREF _Toc213838519 \h 11

III. Tu tập định PAGEREF _Toc213838520 \h 15

I. Nương tựa Chánh Pháp

Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, hôm nay theo truyền thống là ngày tưởng niệm Đức Phật thành đạo. Con cũng cố gắng nói được nhiêu thì nói, cũng còn hơi ho ho một chút, nãy giờ chúng ta nghe cái bài kinh mà bậc đạo sư liệt vào cái bản kinh Chánh Đẳng Giác, trong cái mục Chánh Đẳng Giác. Trong cái bản kinh đó nhiều pháp nghĩa rất là sâu rộng, vì Đức Thế Tôn thị tịch không có bao lâu hết thì sự kiện xảy ra là ngài A-nan ghé thăm cái chỗ của ông Bà-la-môn, bài kinh này bậc đạo sư đề là "Định Nghĩa Bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác" thì chúng ta sẽ hiểu ra được về nhiều vấn đề rất là quan trọng trong cái bản kinh này.

Có Bà-la-môn hỏi rằng có thể chăng một Tỳ-kheo thành tựu trọn vẹn một cách đầy đủ tất cả pháp mà Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác đã thành tựu không, có một Tỳ-kheo nào thành tựu hết tất cả các pháp mà Đức Thế Tôn đã thành tựu không? Ngài A-nan nói không thể có, không có một vị Tỳ-kheo nào thành tựu đầy đủ hết tất cả các pháp mà Đức Thế Tôn thành tựu.

"-- Không thể có một Tỳ-kheo, này Bà-la-môn, thành tựu một cách trọn vẹn, một cách đầy đủ tất cả các pháp mà Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thành tựu. Này Bà-la-môn, Thế Tôn là bậc làm khởi dậy con đường trước đây chưa được hiện khởi, làm cho biết con đường trước đây chưa từng được biết, nói lên con đường trước đây chưa từng được nói; là bậc hiểu đạo, biết đạo và thiện xảo về đạo. à nay các đệ tử là những vị sống hành đạo và tùy hành, và sẽ thành tựu (những pháp ấy) về sau. (Trung Bộ Kinh, 108. Kinh Gopaka Moggallàna)

Đây là sự khác biệt của một bậc A-la-hán và một bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, bài kinh này hồi xưa con được bậc đạo sư dạy cái pháp này đầu tiên, ngài dạy cho con phân biệt một Tỳ-kheo giải thoát khác với bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác. Bây giờ mình tu một hồi là mình muốn ngang với Phật, khi một bậc A-la-hán thì cái tâm thanh tịnh như tâm Phật vậy đó nhưng mà vị A-la-hán này là được Đức Phật dạy, được Đức Phật chỉ cho nên Đức Phật là bậc đại đạo sư, chúng ta nhớ kỹ phân biệt cái này. Tại sao kinh Nikāya nói các Tỳ-kheo là các vị giải thoát, là bậc thánh giả nhưng mà tất cả các bậc giải thoát, các bậc thánh này, các bậc A-la-hán này là đệ tử của Đức Như Lai hết? Tại vì Thế Tôn là bậc khởi dậy con đường trước đây chưa được hiện khở,i làm cho biết con đường trước đây chưa từng được biết, không ai biết hết và nói lên con đường trước đây chưa từng được ai nói hết, là bậc hiểu đạo, biết đạo và thiện xảo về đạo, nay các đệ tử là những vị sống hành đạo, đi theo con đường đó, đi theo cái đạo lộ đó, tùy hành là làm theo cái phương pháp đó và sẽ thành tựu những pháp ấy về sau.

Chỗ này chúng ta phân biệt thật kỹ, một bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác và các bậc A-la-hán, học kinh hay lắm, nhiều điểm từng chút chứ không phải đơn giản. Lúc đó có ông đại thần đi ghé ngang thì cuộc nói chuyện bị gián đoạn, vị đại thần này mới hỏi câu quan trọng, những cái này những cái vấn đề lớn không à.

"-- Thưa Tôn giả Ananda, có một vị Tỳ-kheo nào được Tôn giả Gotama sắp đặt: 'Vị này, sau khi Ta diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông, và các Ông nay sẽ y chỉ vị này'.

-- Này Bà-la-môn, không có một vị Tỳ-kheo nào được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sắp đặt: 'Vị này, sau khi Ta diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông, và các Ông sẽ y chỉ vị này'." (Trung Bộ Kinh, 108. Kinh Gopaka Moggallàna)

Khi Đức Thế Tôn còn tại thế ngài có sắp đặt rằng sau khi ngài nhắm mắt, viên tịch thì có một người nào thay thế ngài làm chỗ nương dựa cho chúng ta không? Y chỉ là nương tựa, ngài A-nan trả lời là không có vị Tỳ-kheo nào được Thế Tôn, bậc tri giả, kiến giả, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác sắp đặt như vậy hết, Thế Tôn không có nói vậy, không có sắp đặt một người nào. Chúng ta thấy cái chỗ này lạ không? Hồi đó mình học và mình nhớ là ngày Maha Ca-diếp phải không? Mình học mình biết vậy đó nhưng mà không phải, mình phải bám sát vô Nikāya, ngài không có dặn là khi ngài mất thì giao lại cho người nào, không có một vị Tỳ-kheo nào mà Thế Tôn sắp đặt như vậy hết, rồi bây giờ ông đại thần này hỏi thêm:

"-- Thưa Tôn giả Ananda, có một vị Tỳ-kheo nào được chúng Tăng thỏa thuận và một số đông các vị Tỳ-kheo Trưởng lão sắp đặt: 'Vị này, sau khi Thế Tôn diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông, và các Ông nay sẽ y chỉ vị này?'

-- Không có một vị Tỳ-kheo nào, này Bà-la-môn, được chúng Tăng thỏa thuận và được số đông các vị Tỳ-kheo Trưởng lão sắp đặt: 'Vị này, sau khi Thế Tôn diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi, và chúng tôi nay sẽ y chỉ vị này'." (Trung Bộ Kinh, 108. Kinh Gopaka Moggallàna)

Bây giờ Như Lai không sắp đạt nhưng mà toàn thể Tăng chúng có sắp đặt và tôn vị đó lên để làm chỗ nương tựa, làm chỗ y chỉ hết cho chúng ta, có hay không? Ngài A-nan cũng trả lời không có một vị nào được Tăng chúng sắp đặt sau khi Thế Tôn diệt độ để làm chỗ nương tựa, y chỉ cho mọi người. Như vậy là hai việc, một là Thế Tôn không có sắp đặt người lãnh đạo Tăng đoàn, hai là trong chúng Tăng cũng không có sắp đặt một người làm chỗ nương tựa cho tất cả Tăng chúng.

"-- Và như vậy là không có chỗ nương tựa, thưa Tôn giả Ananda, như vậy do nhân gì, Quý vị có thể hòa hợp?" (Trung Bộ Kinh, 108. Kinh Gopaka Moggallàna)

Cái vấn đề này đặc biệt, như vậy thì không có một người lãnh đạo Tăng đoàn, từ Đức phật không chỉ định và trong chúng Tăng cũng không bầu ra, không có công cử ra, như vậy thì không có chỗ nương tựa, giống như rắn không có đầu rồi. Như vậy thì làm sao thưa tôn giả Ananda, vì cái nhân duyên gì, vì cái lý do gì, cái nguyên nhân gì mà quý vị có thể hòa hợp. Đây đều là những vấn đề lớn, đại vấn đề, đại tiền đề, vấn đề lớn ở trong Tăng chúng sau Đức Phật nhập diệt, cái này Đức Thế Tôn mới nhập diệt không bao lâu vậy thì không có chỗ nương tựa, là rắn mất đầu nhưng mà tại sao lý do gì mà quý vị có thể hòa thuận, hòa hợp, sống chung an lạc tu tập với nhau.

-- Này Bà-la-môn, chúng tôi không phải không có chỗ nương tựa. Này Bà-la-môn, chúng tôi có chỗ nương tựa, và Pháp là chỗ nương tựa của chúng tôi." (Trung Bộ Kinh, 108. Kinh Gopaka Moggallàna)

Nhiều khi con muốn chúng ta lên đây không cần gì nhiều, chỉ cần đọc lại kinh thôi, lâu lâu chúng ta phải có một thời khóa lên ngồi mở kinh nghe rồi sau đó thiền chiêm nghiệm bài kinh mình nghe thôi. Chúng ta không phải không có chỗ nương tựa, pháp là chỗ nương tựa cho chúng ta, từ đây mà sau này có câu "y Pháp bất y nhân" nghĩa là nương pháp mà không dựa người, có những cái bản kinh Đức Phật có những lỗi lầm cho người chỉ nương tựa một người thôi, nếu vị đó không phải bậc thánh mà mình nương tựa thì cũng mệt lắm. Như vậy pháp là chỗ nương tựa của chúng tôi, quý vị có nương tựa pháp không? Có nhiều không?

Chữ pháp này bao gồm luôn pháp và luật, mười hai năm đầu khi Thế Tôn thành đạo là chưa có chế ra giới luật, không có ai phạm giới hết, tất cả vô là thấy được Khổ Thánh Đế rồi đi thẳng tới thánh quả cho nên mười hai năm đầu là không có chế giới, từ năm thứ mười trở về sau bắt đầu Phật giáo phát triển nên có nhiều thành phần vô trong Tăng chúng và trong đó có những thành phần không có chân chánh tu hành thì có ra rất nhiều vấn đề, Đức Phật chế giới từ từ ra mấy trăm giới, thì trước đó là không có, chỉ có pháp. Chúng ta để ý thấy bậc đạo sư dạy chúng ta đó là pháp không à, ngài là đi từ cái pháp mà đi vào cái sự thành tựu cho nên đó là căn cơ tối thượng, không phải đơn giản. Cái chữ giới hạnh của ngài giải là nó bao gồm cả giới, định, tuệ trong đó, chữ đức hạnh, chữ giới hạnh, chữ đạo hạnh của ngài là bao gồm trong đó, Bát Chánh Đạo cho đó luôn chứ không phải như sau này học giới là điều này, điều nọ, điều kia không được, cái này không được, rồi tối ngày cứ nghiên cứu hoài ở trong đó.

Mình học bài kinh Chân Nhân mình thấy tôi giữ người kia không giữ đã rơi vô cái chấp thủ ở trong cái giới gọi giới cấm thủ, hoặc là đi vào trong cái mạn, cái ta, cái tôi, nó tăng trưởng cái ngã, còn cái giới mình đọc là đi đến thiền định, đi đến cái tâm hoàn toàn vắng lặng vì cái giới đó được chánh kiến dẫn đầu. Thành ra có nhiều cái vấn đề để chúng ta chiêm nghiệm lắm, cho nên pháp là chỗ nương tự của chúng tôi. Bây giờ con cứ chiêm nghiệm mấy ngày nay hễ rời Pháp ra là khổ liền, rời pháp ra là thấy toàn sầu, bi, khổ, ưu, não không, sân si, hơn thua, bao nhiêu người tới báo cáo chuyện này, chuyện nọ, chuyện kia, toàn tham, sân, si không, hơn thua, bản ngã không nên thôi trở về pháp đi, ở căn nhà tối thượng. Cứ hễ lìa pháp cái là khổ ngay lập tức, tức thời là khổ, chỉ cần lìa pháp thôi là khổ cho nên vừa rồi Nguyên Mỹ ở bên Mỹ trình pháp "dù cho con tắt thở con cũng không có đi ra khỏi cái pháp này".

Thành ra pháp là chỗ nương tựa, người nào mà ngán pháp, ớn pháp, chán pháp là người này bật ngửa rồi. Người tu bất cứ lúc nào mà nghe pháp là hân hoan, hoan hỉ, sung sướng, thích thú giống như mình được chở về nhà mình. Lúc nào mình chán nghe pháp, mình không thích nghe pháp nữa là điềm báo mặt trời sắp lặn, hoàng hôn cho nên pháp là chỗ nương tựa chúng tôi. Nương tựa pháp sướng lắm, hạnh phúc lắm, nhiều khi những cái chuyện đáng giận nhưng mà mình thương, khổ muốn chết nà không lo, ở đó lo chuyện gì đâu không, đó là không thấy pháp, toàn là thấy phi pháp. Ngài A-nan nói các đệ tử là những vị sống hành đạo tức là hành pháp, tùy pháp và thành tựu pháp, đi ở trên pháp, nghĩ ở trong pháp, làm ở trong pháp, nói ở trong pháp, thọ ở trong pháp, tưởng ở trong pháp, hành trong pháp, thức trong pháp, ăn trong pháp, uống trong pháp, thở trong pháp, ngủ, thức, nói, nín, động, tịnh ở trong pháp, bất cứ thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, nhận thức đều ở trong pháp hết. Lúc nào ra khỏi pháp là lúc đó sống với vô minh, sống với phi pháp.

Một ngày sống trong pháp được mấy tiếng? Thời khóa của mình một ngày bình quân là tám tiếng, mình có chọn vẹn tám tiếng đó không? Đi ra khỏi cái thời đó rồi tâm có trú với pháp không?

"Nhưng thưa Tôn giả Ananda, ý nghĩa lời nói này cần phải hiểu như thế nào?" (Trung Bộ Kinh, 108. Kinh Gopaka Moggallàna)

Thưa tôn giả Ananda ý nghĩa lời nói này cần phải hiểu như thế nào? Sao ngài nói khó hiểu quá, giờ Thế Tôn cũng không sắp đặt người lãnh đạo Tăng đoàn, chúng Tăng cũng không có đề cử ra một ai để làm chỗ nương tựa mà các ngài nói là các ngài có chỗ nương đó là nương tựa với pháp, như vậy thì giờ phải hiểu lời nói này như thế nào, phải hiểu làm sao đây?

"-- Này Bà-la-môn, Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thi thiết học pháp, đã tuyên bố giới bổn Patimokkha (Ba-la-đề-mộc-xoa) cho các Tỳ-kheo. Trong những ngày Bố-tát (Uposatha) chúng tôi cận trú ở chung một thôn điền, tất cả chúng tôi hội họp với nhau tại một chỗ; sau khi tụ họp, chúng tôi hỏi những gì đã xảy ra cho mỗi một người. Nếu trong khi hỏi nhau như vậy, có Tỳ-kheo phạm tội, phạm giới, chúng tôi bảo vị ấy làm đúng Pháp, đúng lời dạy. Thật vậy, không phải các Tôn giả xử sự chúng tôi, chính pháp xử sự chúng tôi." (Trung Bộ Kinh, 108. Kinh Gopaka Moggallàna)

Cái này hết sức là sâu sắc, mình thực hành được như cái này là như nước với sữa hòa hợp mới đúng cái tinh thần là thanh tịnh, hòa lạc. Thế Tôn đã thi thiết học pháp, đã tuyên bố giới bản, rồi trong nửa tháng mình bố tác một lần tụng giới và chúng cận trú là ở gần chung với nhau trong cả một cái thôn làng, tới cái ngày tụng giới, tới ngày bố tát thì tất cả hội hợp trở lại một chỗ, không phải chỉ một chỗ mình đây đâu. Thí dụ như ở dưới chỗ này, chỗ kia chư Tăng hợp hết lại, nếu trong khi hỏi nhau trong nửa tháng qua thầy tu sao, có sai phạm điều gì không, cô tu sao, có sai phạm điều gì, có phạm tội, phạm giới gì không thì các vị đó sẽ bước ra để sám hối, người nào phạm cái gì sai, cái gì là chân thật trình bày ra rồi sám hối. Làm đúng theo cái luật định mà Đức Phật đã chế định như vậy thì không phải là các tôn giả xử sự chúng tôi, chính pháp xử sự chúng tôi, cái câu này chúng ta mới thấy nó nhất quán, tuyệt đối là nhất quán, chúng ta nhớ trong cái bài phải nương tựa chính mình, lấy chánh pháp làm ngọn đèn, lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa với một cái điều gì khác.

Đó là chỗ nhất quán, mình học Nikāya đặc biệt là vậy đó, mình học bất cứ ở trong cái trang kinh nào, cái đoạn kinh nào, cái bài kinh nào rồi mình xâu kết nó lại là một sự nhất quán, không có sự mâu thuẫn hồi nói vậy, hồi nói khác. Như vậy tại sao lại được như vậy? Cái đoạn kinh vừa đọc đó là chất liệu để xây dựng ra Tăng đoàn, nó chính là những cái yếu tố quyết định để làm nên những hội chúng tinh ba thâm sâu, hiền thánh. Chúng ta thấy giờ này còn hay không? Tại sao không còn? Thứ nhất thật sự đó chúng ta không có quy y pháp một cách triệt để, trọn vẹn, không có tôn kính pháp một cách tuyệt đối, trong những cái pháp mà chúng ta đã học Tăng Chi Bộ, nguyên nhân đưa đến diệu pháp hỗn loạn thì trong đó là không cung kính pháp, không cung kính Đức Thế Tôn, không cung kính Tăng, không cung kính thiền định, không cung kính giới luật, không cung kính tiếp đón.

Chúng ta không có học và hiểu pháp một cách đúng mức như giờ mấy cô, mấy sư xuất gia chùa dưới quê nghĩ hai thời công phu, rồi cúng kiến vậy là thấy làm gì tròn bổn phận là được rồi phải không? Đa số là vậy đó, mình đâu có học được chánh pháp đâu, mà không có học một cách đầy đủ, trọn vẹn, chưa có thành tựu được chánh kiến cho nên khi mình chưa thấy đúng về pháp thì mình không có tôn trọng pháp một cách đúng mức, đầy đủ, mà không tôn trọng thì làm sao mình nương tựa, mà không nương tựa pháp tức là không có viên mãn pháp, quy y pháp.

Chỗ này chỗ rất quan trọng, đó là cái quan trọng thứ nhất, quan trọng thứ hai là người tu mất đi bốn cái đức hạnh, đức hạnh đầu tiên là bốn thánh hạnh, có chỗ thì nói là trực hạnh, cái tâm ngay thẳng, thành thật, chân chánh hạnh đó, ứng lý hạnh đó. Bây giờ cái này mất thì con người không có thành thật mà giấu giếm, tốt khoe xấu che, những cái sai phạm mình giấu, từ ít lần lần nó tăng trưởng rồi cuối cùng nó nhiều, thậm chí nó nghiêm trọng cũng giấu luôn. Khi giấu vậy thì cái pháp mất rồi tức là những cái pháp mà bậc A-la-hán Chánh Đảng Chánh Giác đã thi thiết học pháp, đã tuyên bố giới bổn thì các vị này không có làm đúng pháp, đúng lời dạy. Như vậy là xong rồi, đó là cái lý do tại sao pháp mai một là vậy đó, pháp còn đó, con đường còn đó, cái đạo lộ còn đó được bậc đạo sư truyền cho chúng ta, chúng ta may mắn được thấy rõ con đường đi, nếu không giờ này vẫn còn quờ quạng, mò mẫm.

Bây giờ chúng ta may mắn là chúng ta được ngài mở cho mắt mù ra, phần còn lại còn nhiều cái, cái tâm chân thành, chân thật, thành thật, có che giấu không, có thành thật với mình không, có chân thật với mình không, có chân thành với mình không, có chân thành với pháp không, chúng ta không có cái này, không có trực hạnh, không có chân chánh hạnh, diệu hạnh cũng không có, những cái hạnh nhỏ nhiệm, vi tế thì khi mất cái này rồi tức là pháp không được tôn trọng, không được thực hành đúng, Đức Phật thì nhập diệt rồi. Thế Tôn thì nhập diệt, pháp không rõ ràng, lờ mờ, tượng pháp, cái người thì không có cái thành thật, không có trung thực, không có chân thành, chân chánh, che giấu tội lỗi, không phát lộ, không bài lộ, không tỏ lộ, bị năm triền cái nó bủa vây, nó che mờ, nó áp đảo, nó xâm chiếm, nó làm cho mù lòa thì xong rồi. Đức Phật thì nhập diệt, pháp không sáng tỏ, không thực hành đúng pháp, con người thì không có tâm chân thành, chân chánh, chân thật, che đậy, ngụy biện, quanh co giấu lỗi lầm thì pháp càng ngày mai một lần lần, con người cũng mai một, không có những chân nhân nữa.

Chân chánh hạnh là chân nhân đó, người thật, người tu thật, người dám nhận lỗi, dám bày tỏ hết cái xấu của mình ra để sửa đổi, ăn năn, sám hối, làm mới, làm sạch, làm đẹp, chứ im ru không nói gì hết, thầy dạy gì cũng im ru giấu hết thì các lậu hoặc, các cấu uế còn ở trong cái bóng đen, bóng tối, bóng đêm, nó không được phơi bày, nó không có được soi rọi, nó chưa được đem ra ánh sáng. Đó là nguyên nhân cho nên ngược trở lại thì chúng ta thấy trong câu kinh, các ngài làm đúng vậy hết cho nên không phải các bậc tôn giả, trưởng lão xử sự chúng tôi mà là pháp xử sự chúng tôi. Chỗ này quá tuyệt vời luôn, tôn kính pháp tuyệt đối, pháp là mẹ sanh ra Chư Phật, chữ pháp ở đây tầm rất rộng lớn, chúng ta thấy cái bài kinh này có nhiều cái rất quan trọng ở trong Tăng đoàn.

"-- Thưa Tôn giả Ananda, có Tỳ-kheo nào mà nay Quý vị cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường, sau khi cung kính, tôn trọng, Quý vị nương tựa?

-- Này Bà-la-môn, có Tỳ-kheo mà nay chúng tôi cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường, và sau khi chúng tôi cung kính, tôn trọng, chúng tôi nương tựa" (Trung Bộ Kinh, 108. Kinh Gopaka Moggallàna)

Có các vị mà chúng tôi cung kính, đảnh lễ, tôn trọng, cúng dường và nương tựa, như vậy ông Bà-la-môn này cũng ngạc nhiên lắm. Dạ thưa tôn giả Ý nghĩa lời nói ấy cần phải hiểu như thế nào mà hồi nãy nói là không có người nương tựa, bây giờ nói là có cung kính, đảnh lễ, cúng dường, nương tựa. Như vậy thì sao, ngài nói vậy bây giờ hiểu là sao?

"-- Này Bà-la-môn, có mười khả hỷ pháp được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Giữa chúng tôi, vị nào có đầy đủ mười pháp này, chúng tôi nay cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường vị ấy; sau khi cung kính, tôn trọng, chúng tôi an trú, nương tựa vị ấy. Thế nào là mười?

Ở đây, này Bà-la-môn, Tỳ-kheo có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, sau khi thọ trì, học tập trong các học pháp.

Vị ấy là bậc đa văn, thọ trì những điều đã nghe, cất chứa những điều đã nghe; những pháp nào sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa, với văn, nói lên Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh, những pháp ấy đều được nghe nhiều, được thọ trì, được lời nói làm cho quen thuộc, được ý tư niệm, được chánh kiến khéo ngộ nhập.

Vị ấy biết đủ đối với các vật thực dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.

Vị ấy là người tùy theo ý muốn, không có khó khăn, không có mệt nhọc, chứng được bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm hiện tại lạc trú.

Vị ấy thực hiện các loại thần thông sai biệt, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, như đi ngang hư không; độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như trên đất liền; ngồi kiết- già đi trên hư không như chim có cánh; với bàn tay, vị ấy chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến Phạm thiên.

Vị ấy với thiên nhĩ thuần tịnh siêu nhân, nghe được âm thanh của chư Thiên và loài người, gần cũng như xa.

Sau khi đi sâu vào tâm chúng sanh, tâm loài Người với tâm của mình, vị ấy được biết như sau: Tâm có tham, biết tâm có tham. Tâm không tham, biết tâm không tham. Tâm có sân, biết tâm có sân. Tâm không sân, biết tâm không sân. Tâm có si, biết tâm có si. Tâm không si, biết tâm không si. Tâm chuyên chú, biết tâm chuyên chú. Tâm tán loạn, biết tâm tán loạn. Ðại hành tâm, biết là đại hành tâm; không phải đại hành tâm, biết không phải đại hành tâm. Tâm chưa vô thượng, biết tâm chưa vô thượng. Tâm vô thượng, biết tâm vô thượng. Tâm Thiền định, biết tâm Thiền định. Tâm không Thiền định, biết tâm không Thiền định. Tâm giải thoát, biết tâm giải thoát. Tâm không giải thoát, biết tâm không giải thoát.

Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ như một đời, hai đời... nhớ đến các đời sống quá khứ.

Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.

Với sự đoạn diệt các lậu hoặc, sau khi với thượng trí đã chứng ngộ, vị ấy chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát." (Trung Bộ Kinh, 108. Kinh Gopaka Moggallàna)

Trong ở trên thì nói có mười điều nhưng ở dưới viết ra số thì viết có chín điều, chúng ta cứ nói mười điều tại vì trong này một điều trong có nhiều cái lắm. Trong mười điều này chúng ta có được cái nào chưa? Có đi sâu vào tâm của chúng sanh biết tha tâm thông chưa? Có túc mạng thông chưa? Nhớ lên đời sống quá khứ của mình, điều thứ nhất có giới hạnh đầy đủ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, có phải là bậc đa văn thọ trì tất cả những điều đã được nghe không, ngộ nhập được chánh kiến không, biết đủ hay là chứng được tứ thiền, có những thần thông sai biệt. Vậy là chưa có điều nào hết hả? Vậy mà nhiều khi lại nghĩ rằng "tôi tu giờ cũng ngon rồi", thấy chưa? Mười điều này nhìn kỹ lại chúng ta thấy xấu hổ, thấp kém, hạ liệt. Thứ nhất là có giới hạnh, thứ hai là bậc đa văn, thứ ba là biết đủ, thứ tư là chứng được bốn thiền, thứ năm là thực hiện các thần thông, thứ sáu là đi sâu vào tâm của chúng sanh và nội tâm tham, sân, si mình biết chúng sanh có tham, sân, si và các cái loại tâm ở trong Tứ Niệm Xứ mà mình quán tâm trên tâm, túc mạn thông, thiên nhãn thông và lậu tận thông.

Người nào đạt được mười cái pháp này đó thì đó là bậc đáng cung kính, đáng đảnh lễ, đáng cúng dường, là đáng nương tựa cho Tăng chúng cho nên bây giờ ngồi cho quý vị lạy xuống thì thật sự con cứ cái đầu thấp xuống và phải quán nhiều lắm vì mình chưa có đạt được cái pháp nào viên mãn hết. Tàm quý, xấu hổ, nhục nhã và mình phải cố gắng nỗ lực để đạt được những pháp trong đây, cho nên cái sự tinh tấn của mình nó hạ liệt lắm, mình không có cái hướng thượng mạnh mẽ, sắc bén, nếu mình có hướng thượng mạnh mẽ, sắc bén thì mình sẽ không sống như bây giờ. Mình luôn luôn thay đổi để phát triển, luôn luôn làm mới mình, ai đạt được mười pháp này là người đáng được cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường, là cái chỗ an trú và nương tựa cho chúng Tăng.

Nhìn sâu sắc lại thấy cả đời tu được cái gì? Nhiều khi được một đống tham, sân, si, bản ngã cho nên làm sao mình sẽ luôn luôn khao khát, luôn luôn khắc khoải, luôn luôn ước mong đức hạnh của mình được cao lên, tăng thêm lên, được hướng thượng lên, không có ngày nào mình không có cái suy nghĩ đó hết, không có giờ nào mình quên cái ý nghĩ đó hết. Mình tác ý phải sống thanh cao, cao thượng, thánh thiện, mình phải sợ những cái tội lỗi nhỏ nhặt, thấy sự nguy hiểm trong đó, mình phải có đầy đủ oai nghi chánh hạnh, mình tác ý nhắc nhở, thậm chí mình đem ra mình đọc tụng, không có đợi lên thiền đường, lên chánh điện, lên đâu hết mà mình lấy mấy cái bài kinh quan trọng này ra bụi tre, ra tảng đá dưới gốc cây ngồi đọc, khắc sâu vô rồi cảm thọ. Mình phải coi lại cái oai nghi chánh hạnh của mình, cái đi, đứng, ngồi, nằm, cái cách ăn cách nói, cách hành xử của mình, mình phải có cái này mới đáng được cho người ta cung kính, đảnh lễ, tôn trọng, cúng dường, còn không mình ngồi ở dưới đó cho người ta quỳ lạy dâng bao thư lên.

Mình có phải là bậc đa văn thọ trì những điều đã nghe, cất chứa những điều đã nghe, nghĩa văn đầy đủ hết, thiện lành ban đầu, thiện lành chặng giữa, thiện lành sau cùng với nghĩa với văn, "nói lên Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh, những pháp ấy đều được nghe nhiều, được thọ trì, được lời nói làm cho quen thuộc, được ý tư niệm, được chánh kiến khéo ngộ nhập", những cái chữ này rất là sâu sắc. Mình nghe cho tới cái mức mà mình nhận, mình nhớ, mình giữ rồi lời nói làm cho quen thuộc, những cái câu kinh đó là mình thuộc lòng, mình nói chữ với nhau, nói chuyện với nhau là nói từ trong kinh không à. Tại vì mình nghe tới nghe lui, nghe đi nghe lại, tụng tới tụng lui, lặp đi lặp lại, học tới học lui học rồi đó thuộc, trong sinh hoạt bình thường mình nói những cái từ ở trong kinh.

Đối với những cái khó như thần thông mình chưa chứng nhưng mấy cái này mình học được, có thể học được mà. Phải làm sao mình nói ra riết rồi mình nói toàn là mấy lời trong kinh Nikāya không chứ không phải toàn nói chuyện đời không, không thấy có câu nào câu kinh hết. Khi mình đã thuộc kinh, nhớ được lời kinh thì ý phải tư niệm, nếu mà mình chưa từng nghe câu sợ hãi trong các tội lỗi nhỏ nhặt, mình chưa từng nghe được cái câu đó thì làm sao mình nhớ, làm sao mình tư niệm về cái câu đó được. Do vì mình nghe cái câu đó, mà nghe tới nghe lui nhiều lần, nhắc tới nhắc lui rồi mình thuộc cái câu đó, nhớ cái câu đó, bắt đầu mình chiêm nghiệm về câu đó. Khi mình chiêm nghiệm, suy tư, tư niệm thì đó là niệm giác chi, đó là chánh tư duy, đó là tư huệ, là văn – tư – tu là huệ đó, sau khi nghe rồi mình tư duy cho nên được chánh kiến khéo ngộ nhập.

Mình tư duy như vậy, mình nhớ hoài, mình nghĩ hoài, mình chiêm ngiệm hoài thì từ từ mình mới có cái khả năng đẩy mấy cái bất thiện, mình đẩy mấy cái bát tà đạo ra để mình đi vô Bát Chánh Đạo, mình đuổi cái tà kiến ra để mình đi vào trong chánh kiến. Vì thế cứ thực hành hoài tới lui, nhớ hoài, nhắc hoài, nghĩ hoài "ráng nha, phải phấn đấu nha, phải tăng thượng giới nha, phải tăng thượng cái tâm định này nha, phải tăng thượng cái trí tuệ nha", mình cứ nhắc nhớ và thuộc lòng mấy cái câu căn bản trí, nếu không mình sẽ là con lừa đi sao đàn bò. Mình nhắc hoài, phải có ước muốn sắc bén nhắc mình thuộc, mình nhắc hoài vậy cho nên mình nhớ câu chuyện con hay nhắc hoài là ông thầy Tỳ-kheo đang đi khất thực thì có cô dâu mặc đồ đẹp đi ngang qua, vàng đeo đỏ tay đầy mình đi ngang, sau đó có người hỏi nãy giờ có thấy cô dâu nào mặc đồ đẹp, đeo vàng đỏ tay đầy mình đi ngang không thì vị Tỳ-kheo phải chỉ thấy cái bộ xương.

Mình nhớ hoài thì nó thành cái định tướng cho nên nhiều khi mình chiêm nghiệm mới thấy cái tu khó tại vì cái tâm của mình nó làm biếng lắm, nó rất dễ buông lung phóng dật nên mình bắt nó vô một cái định tướng khó lắm, nó giẫy giụa, nó không chịu. Hồi đó con bị bậc đạo sư ép con tu là con cũng khó chịu nữa, tới bây giờ mình mấy tiếc, ngài ép vô là được, bây giờ mình nghĩ mình được. Bây giờ làm sao cái hình ảnh con giòi đó cứ nhớ hoài như vậy, lúc nào cũng thấy hình ảnh hết thì khó lắm nhưng mình làm thì sẽ được, phải làm kiên trì, làm bền chí, làm thường luôn, mình phải kham nhẫn chiến đấu. Thí dụ cái nùi giẻ rách nhớ hoài "mày nùi giẻ nha, mày đừng có kênh kiệu, đừng có kiêu căng nghe không. Mày đừng có ta đây nha cái nùi giẻ". Mình nhắc hoài, nhắc riết rồi có hình nùi giẻ trong tâm, cái tưởng nó hiện ra rồi đột nhiên cái hành sanh khởi, cái thọ trú ở trong cái quỳ lạy mọp xuống, cúi xuống, sụp xuống, đổ xuống, nằm xuống để cho người ta đạp lên, trú được cái đó hoài không có mất thì như vậy đạt được, chứng được, đắc được cái nùi giẻ.

II. Tôn quý và trân trọng Chánh Pháp

Ngoài đời người ta đi kiếm hột xoàn, đi tìm kim cương, vàng bạc, đô la, kiếm xe, kiếm danh lợi, còn mình đi kiếm cái nùi giẻ, tuyệt vời không? Con nhớ hình như có cái bài nào con làm trong đó có câu "quý nhất trên đời là cái nùi giẻ rách". Mình coi trong tâm mình thích cái định tướng nào chứ không có ép được, mỗi người có cái căn duyên riêng, cái sở thích riêng, thí dụ mình thích cái nùi giẻ rách, người thì thích bộ xương, người thì thích giòi, người thì thích chín giai đoạn tử thi, người thì thích cái đống cát bụi, người thích cái hũ cốt, người thì thích tâm từ thì cứ nhắm vô trong đó. Nhưng có khi có những cái mình thích chưa đủ mà mình phải coi cái nào mình bệnh nặng nhất là mình dập vào cái đó chứ thích là tốt, nhưng mà có những cái mình đang bệnh nặng thì mình phải trị cái đó trước.

Đầu tiên là vị này thọ trì những điều đã nghe, cất chứa những đều đã nghe, nghe xong cái thời pháp ra là tiếp tục chiêm nghiệm nữa. Khi mà mình có chiêm nghiệm nhiều thì đến khi trình pháp sẽ có pháp trong này tuôn ra như thác đổ, như suối chảy dào dạt. Còn đằng này kêu trình pháp thì không biết nói cái gì vì có hành pháp đâu mà nói vì vậy mình phải tư niệm pháp hoài, mình chiêm nghiệm hoài, chừng chạm tới cái là tuôn pháp ra, pháp ở trong người mình, trong ngũ uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhiều pháp hơn là cái phi pháp, nó nhiều trí hơn là cái tình, nó nhiều đạo hơn là cái phi đạo, nhiều tuệ hơn là cái si. Tất cả cái đó là nhờ vị này nghe rồi chất chứa những điều đã nghe, thọ trì, nhận những điều đó rồi giữ điều đó, được những lời nói đó làm cho quen thuộc, được ý tư niệm, được chánh kiến thể nhập.

Hôm trước con có nói chuyện với vị trưởng lão ở bên Nam tông, ở trong các đường tu Đức Phật dạy mình có khi định trước tuệ sau, tuệ trước định sau, định tuệ cùng tu, còn có một con đường từ niệm đi đến tuệ mà mình đang đi con đường đó. Từ niệm đi đến đi đến cái tỉnh giác đi vào trong cái tuệ, niệm là chánh niệm, là nhớ pháp, là niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp cho nên mình cứ nghe hoài rồi mình thiền quán hoài, mình nhắc tâm, mình tác ý hoài tức là chánh niệm. Chữ niệm là nhớ mà, từ cái niệm đó nó nhắc cho mình nhớ thì mình tỉnh giác, từ cái tỉnh giác đó đi vào thể nhập vô cái tuệ, nó giống đoạn tận các lậu hoặc cho nên mình đi con đường là từ niệm đi vào tuệ, mà niệm là phải nhớ pháp, không phải chỉ lúc mình lên học pháp hay là lên thiền quán mới nhớ pháp, mà lúc mình ra ngoài mình vẫn nhớ pháp, bất cứ lúc nào cứ nhớ pháp, suy tư pháp, quán chiếu về pháp, từ cái niệm đó mình tới cái chỗ tỉnh giác đi vào trong tuệ.

Mình muốn niệm, mình muốn nhớ pháp thì mình phải biết pháp, phải học pháp. Con nói tệ nhất luôn là mình chưa có được cái tu tuệ mà mình được cái tư tuệ là cũng ngon lắm chứ, thí dụ mình chưa được cái tư tuệ sâu sắc nhưng mình được cái văn tuệ cũng đỡ hơn không có cái tuệ nào hết trơ. Nhất trí không? Giờ con giờ cũng chưa có tu nổi nhiều nữa, giờ ngồi lên mà bỏ hết trơn vô thiền ngồi không nổi, chưa nổi thì bây giờ con phải mượn nghe pháp, đọc pháp rồi thiền quán, chia sẻ pháp rồi trú ở trong pháp để tư duy pháp, văn tuệ, tư tuệ, lần lần mình đi tới cái tu tuệ.

Bây giờ mình nói không muốn nghe, muốn vô tu tuệ liền là tu cái gì? Tu tệ thì có, không có tu tuệ, thành ra cái nghe pháp là quan trọng và sau khi nghe, ở đây Đức Phật dùng lời nói làm cho quen thuộc, được ý tư niệm, đây là văn, tư, tu tuệ thôi chứ không có gì hết, chánh kiến khéo được ngộ nhập. Mình cứ nghe, cứ nhớ hoài, nhắc tới nhắc lui, tác ý nhắc chừng hoài "mày nhớ cái nùi giẻ không mày? Mày nhớ cái bộ xương không? Mày nhớ cái cầu tiêu không? Mày nhớ bậc đạo sư nói cầu tiêu di động không? Mày nhớ cái bản ngã ác độc không? Mày nhớ dục tham làm cho mày khổ đau, huyết lệ, nước mắt máu đào mày nhớ không? Mày nhớ không hỡi cái tâm ngu, cái tâm mê, cái tâm si, mày nhớ không? Mày tỉnh chưa? Mày thức hay là mày đang ngủ?".

Mình nhắc hoài những cái pháp được học, tư niệm pháp, nhớ nghĩ pháp, tư duy pháp rồi xong thời gian được chánh kiến khéo ngộ nhập. Mình nghĩ riết thì nó trở thành lối mòn trong suy tư, chúng ta thấy mấy cái đường mòn không, mình đi riết hay nước mưa nó chảy rết thành cái lối mòn vậy đó, nước chảy xuống chỗ đó chứ không chảy vào những chỗ khác nữa. Cái tâm thức của mình cũng vậy đó, hồi xưa cái lối mòn của nó là cái lối mòn của dục, của ái, của tham, của sân si, của vô minh, bản ngã, bây giờ mình cho lối mòn của thánh trí, mình cho cái lối mòn "Trời ơi khổ lắm con ơi, trời đất ơi khổ lắm con ơi. Trời ơi khổ nha con, khổ, khổ, khổ đó con", hồi xưa thì thấy vui còn giờ thì nhắc khổ hoài, sắc khổ, thọ khổ, hành khổ, tưởng khổ, thức khổ, mắt khổ, tai khổ, mũi khổ, lưỡi khổ, thân khổ, ý khổ, sắc khổ, thanh khổ, hương khổ, vị khổ, xúc khổ, pháp khổ. Sáu căn này khổ, sáu trần này khổ, sáu thức này khổ, sáu xúc này khổ, sáu thọ này khổ, sáu ái này khổ.

"Trời đất ơi, khổ biết bao nhiêu, một đống khổ to lớn vậy mà mày ngu cái giống gì vậy hả cái tâm mê này, mày ngu nha". Cứ nhắc hoài, nhắc riết thành cái lối mòn, mỗi lần nó nhìn là "trời ơi khổ tới rồi, bà kia sân tới, khổ tới", ông kia kiếm chuyện "Trời đất ơi khổ tới nữa rồi, thôi khởi tâm từ nha, chuẩn bị tinh thần nha". Trong tâm mình có lối mòn thì cứ vậy, hễ nó nghĩ theo cái lối mòn đó riết rồi thể nhập chánh kiến, khéo ngộ nhập. Thật sự con không ham quý vị vỗ tay đâu nhưng mà không vỗ quý vị ngủ, con nhìn xuống có một số vị ngủ nên thôi kệ cho khởi động chút, nhiều khi con làm vậy để cho quý vị có cái phấn khởi lên, có cái cảm thọ lên chứ nhiều khi lên mà con ngồi nhìn thấy khổ. Trưa ngủ dậy, sáng ngủ dậy, tối chuẩn bị ngủ lúc nào mắt cũng lờ đờ, nhìn con mắt thấy khổ cho nên phải làm đủ thứ kiểu hết trơn, bày đủ thứ trò hết để cho tỉnh.

Thật ra quý vị thấy mà con cứ làm bài về núi là con đang chuẩn bị cái lối mòn đó, cái tác ý hoài như vậy để bỏ hết những cái ở bên ngoài, bây giờ muốn bỏ dữ lắm mà chưa bỏ được cho nên phải tác ý hoài đến khi nào bỏ được thì thôi, con đang cho nó chuẩn bị cho cái lối mòn để một lúc nào đó mà nó bỏ được luôn là khỏe. Định hướng tư duy của mình đặt tâm đúng hướng mà mình muốn vậy thì phải có nghe nhiều và chiêm nghiệm nhiều, mười pháp này học biết bao lâu, về mỗi người chiêm nghiệm thêm, viết bài rồi pháp đàm, trình pháp chứ một mình con sao mà cứ pháp đàm hoài, sao còn hơi để nói, hết hơi rồi, kêu pháp đàm không chịu ai pháp đàm hết, ngồi đó thiền không à, tới giờ thiền thì không chịu thiền, tới giờ pháp đàm thì thiền.

"Vị ấy biết đủ đối với các vật thực dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh." (Trung Bộ Kinh, 108. Kinh Gopaka Moggallàna)

Mình cứ tác ý "mày là khất sĩ, mày ăn xin, người ta cho cái gì ăn ấy, không được đòi hỏi", phải cái tâm vậy đó, cho cái gì ăn cái nấy không được đòi hỏi, chẳng những ta cho mà còn phải nhiếp phục, chế ngự lòng dục, lòng tham ở trong thức ăn đó chứ đừng nói chi mình muốn đòi hỏi. Vì vậy mình phải giáo dục cái tâm, dạy dỗ cái tâm, quản giáo cái tâm, làm như vậy hoài thì mình sẽ dễ sống, dễ nuôi lắm, dễ ăn, dễ ngủ, dễ ở, dễ mặc, cái gì cũng dễ hết, không có gì khó nữa hết, chết cũng dễ chết luôn, không có gì khó nữa hết, sao cũng được hết. Cuộc đời này sao cũng được hết, con cứ suy nghĩ hoài, con cứ tìm hoài có một cái gì hơn cái pháp này không, sao con tìm hoài mà không có cái nào hơn cái pháp tối thượng này hết, cứ tìm hoài, suy nghĩ coi có cái gì nữa không mà suy nghĩ hoài không thấy có cái gì hết, suy nghĩ bể cái đầu, nát cái đầu không có một cái gì hơn cái thánh pháp tối thượng này hết.

Cho nên giảng xong là hết ho luôn, thần dược, thánh dược, Phật dược, pháp dược, phải tập hạnh biết đủ. Nhiều khi đi hộ thất đem đồ nhiều là con khổ lắm, thật sự vậy, con nói mấy cái chuyện nhỏ xíu thôi mà mình bị tham chút là mình dính bẫy liền, bị hai lần rồi, cái bụng yếu mà thấy sữa đậu nành gửi qua "không được nghe, cái bụng yếu nha", bây giờ sợ bỏ uổng, sáng thì không dám uống để tới chiều hai, ba giờ mới uống, uống vô xong là cả người lạnh toát, lâu lâu mình kỹ mà nó cũng bị, tức thiệt là tức, tức vì tham.

Như bữa đó cho nha đam với đậu xanh ở Bửu Liên, cái tội là sợ tội bỏ đồ rồi tới chiều uống vô là đau bụng cho nên cái này mai mốt chắc mấy vị nấu thì con phải cho học khóa về thực dưỡng mới được, chứ con thấy ăn đồ độc không. Tại vì chính bản thân con, quý thầy bắt mạch coi là bị âm hàn là phải ăn đồ dương, mà đa số chúng ta ở xứ lạnh rất dễ bị cái này mà mình không có biết, mấy người nấu ăn cái gì ngon là "cái này ngon lắm cho sư phụ", "cái này tốt lắm để cho sư phụ" là chết sư phụ luôn. Nhất trí không? Phải được sức khỏe chứ không phải ngon, con thưa thật với quý ngài con giờ còn ngon dở gì nữa, răng cũng không được như xưa, giờ già rồi ăn một bữa có nửa chén cơm, đối với con càng dọn đồ nhiều lên là còn mệt, ngán nữa, con chỉ ăn cái đồ thanh nhẹ, mấy bữa nhập thất con luộc nồi rau để có ăn mà thấy nhẹ nhàng, khỏe khoắn cho nên các vị nấu bếp phải học thực dưỡng cho con.

Con tính lâu lắm rồi mà công chuyện cứ quên hoài, phải cho những cái buổi học thực dưỡng. Đừng có ăn đồ ngon mà ăn đồ cho có sức khỏe, tốt cho sức khỏe, những món chế biến sẵn như đồ hộp hạn chế tối đa mà ăn rau mình trồng, giá mình làm, tàu hủ tự mình làm ra, hạn chế tối đa những món làm sẵn vì toàn là độc không, tham là độc, tham là chết người. Thành ra nói cái biết đủ này hay lắm, cái biết đủ này hay vô cùng hay, mình ăn có thiếu một chút nhưng lại được minh mẫn, nhẹ nhàng thân tâm, còn dư sẽ nặng nề, ngồi thiền không nổi, tư duy pháp không được thì cái bụng nặng nề, trì trệ, ngược lại ăn vừa đủ để bụng nhẹ nhàng. Khi ăn thì chỉ nên ăn từ bảy mươi đến tám mươi phần trăm thôi, những người trẻ thì tám mươi lăm phần trăm, đừng có ăn tới chín chục, vừa rồi có nhiều trường hợp bị ngộ độc thức ăn cho nên cái biết đủ hay lắm.

III. Tu tập định

"-- Thưa Tôn giả Ananda, có phải Veluvana là một chỗ khả ái, ít tiếng động, ít tiếng ồn, được che khỏi gió, xa lánh dân cư đông đúc, thích hợp Thiền tịnh?

-- Thật vậy, này Bà-la-môn, Veluvana (Trúc Lâm) là một khả ái, ít tiếng động, ít tiếng ồn, được che khỏi gió, xa cách dân cư đông đúc, thích hợp Thiền tịnh, xứng đáng với những vị hộ trì và thủ hộ như Ngài.

-- Thật vậy, thưa Tôn giả Ananda, Veluvana là một chỗ khả ái, ít tiếng động, ít tiếng ồn, được che khỏi gió, xa lánh dân cư đông đúc, thích hợp Thiền tịnh, xứng đáng với những người tu Thiền và tánh thiên về Thiền định như quý vị Tôn giả. Và chư vị Tôn giả là những vị tu Thiền và tánh thiên về Thiền định. Thưa Tôn giả Ananda, một thời Tôn giả Gotama ở tại Vesali, Ðại Lâm, ở Kutagarasala (Trùng Các giảng đường). Rồi, thưa Tôn giả Ananda, tôi đi đến Mahavana (Ðại Lâm), Kutagarasala, đến Tôn giả Gotama. Ở đấy, Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện nói về Thiền định luận. Tôn giả Gotama thật là vị tu Thiền và tánh thiên về Thiền định. Và Tôn giả Gotama tán thán tất cả Thiền định." (Trung Bộ Kinh, 108. Kinh Gopaka Moggallàna)

Vị Bà-la-môn này hỏi ngài A-nan có phải Đức Thế Tôn tán thán tất cả thiền định không, có phải Đức Phật khen hết tất cả thiền định không?

"-- Này Bà-la-môn, Thế Tôn ấy không tán thán tất cả Thiền định, không không tán thán tất cả Thiền định." (Trung Bộ Kinh, 108. Kinh Gopaka Moggallàna)

Tức là có loại thiền định thì Đức Phật khen nhưng mà có loại thiền định thì Đức phật không có khen.

"Và này Bà-la-môn, loại Thiền định nào Thế Tôn ấy không tán thán? Ở đây, này Bà-la-môn, một số vị sống với tâm thấm nhuần dục tham, bị dục tham chi phối, và không như thật biết sự giải thoát khỏi dục tham đã được khởi lên. Vị ấy lấy dục tham làm đối tượng tối hậu, Thiền tu, Thiền tư, Thiền định, Thiền nhập. Vị ấy sống với tâm thấm nhuần sân hận, bị sân hận chi phối, và không như thật biết sự giải thoát khỏi sân hận đã được khởi lên. Vị ấy lấy sân hận làm đối tượng tối hậu, Thiền tu, Thiền tư, Thiền định, Thiền nhập. Vị ấy sống với tâm thấm nhuần hôn trầm thụy miên, bị hôn trầm thụy miên chi phối, và không như thật biết sự giải thoát khỏi hôn trầm thụy miên đã được khởi lên. Vị ấy lấy hôn trầm thụy miên làm đối tượng tối hậu, Thiền tu, Thiền tư, Thiền định, Thiền nhập. Vị ấy sống với tâm thấm nhuần trạo hối, bị trạo hối chi phối và không như thật biết sự giải thoát khỏi trạo hối đã được khởi lên. Vị ấy lấy trạo hối làm đối tượng tối hậu, Thiền tu, Thiền tư, Thiền định, Thiền nhập. Vị ấy sống với tâm thấm nhuần nghi hoặc, bị nghi hoặc chi phối và không như thật biết sự giải thoát khỏi nghi hoặc đã được khởi lên. Vị ấy lấy nghi hoặc làm đối tượng tối hậu, Thiền tu, Thiền tư, Thiền định, Thiền nhập. Này Bà-la-môn, Thế Tôn ấy không tán thán loại Thiền định như vậy." (Trung Bộ Kinh, 108. Kinh Gopaka Moggallàna)

Thế Tôn không tán thán, không có khen ngợi các vị thiền ở trong năm triền cái cho nên các vị rảnh thì nghe lại loạt bài năm triền cái con đã chia sẻ rất là kỹ, cách phá năm triền cái, tại sao có năm triền cái, năm triền cái vận hành, sanh khởi trong tâm như thế nào và làm thế nào diệt tận năm triền cái. Chúng ta nghe lại loạt bài năm triền cái đó, một số vị sống với tâm thấm nhuần dục tham, bị dục tham chi phối mà không biết cách đúng đắn để đi ra khỏi dục tham ấy, vị ấy tu thiền ở trong cái dục tham. Mình tu ở trong tham hết mà mình không có biết, thiền ở trong năm triền cái, ở trong cái ham muốn, hồi xưa con cũng tu thiền thời gian dài mấy chục năm, bữa nào mà nó lắng hết vọng tưởng, nó im ru, nó rỗng lặng, nó thanh tịnh, nó nhẹ nhàng thì thích, khoái, mà mình muốn trở lại cái trạng thái đó, thậm chí có những lúc nguyên một ngày thanh tịnh.

Lúc đó con nhập thất ở dưới chùa sư phụ ở dưới Đồng Tháp là suốt nguyên ngày không có khởi niệm, mình nói đó là cái thô thôi chứ cái vi tế là chắc có nhưng mà nó nhẹ như bông gòn, nó nhẹ giống như mây nổi vậy đó. Thế là mình ham cái đó, mình thích cái đó, mình khoái cái đó, mình ái trước trong cái đó thì cái đó là thiền ở trong tham, trong ái dầu cho cái đó là tốt. Tại vì nó yên lặng, nó nhẹ nhưng mà nó không thấy chánh kiến, nó không thấy ngũ uẩn, mà không thấy ngũ uẩn thì có cái tôi, nó có cái tự ngã, nó ở trong thọ; tưởng; hành; thức không đi ra được, đâu thấy khổ, đâu có thấy khổ tập, không thấy thánh đạo tám ngành, không thấy con đường để thoát khổ thì làm sao cái đó là thánh chánh định được. Cho nên bây giờ mình tu mà cái tâm mình yên là nó khác à, tâm yên nhưng vẫn thấy ngũ uẩn, cái tưởng nó lặng, cái hành nó lặng, cái thọ nó lắng dịu thì giống như bầu trời không mây, thuần thanh tuyệt điểm, cái thức tinh minh, trong sáng.

Chỗ này rất khó nhìn, rất là tinh vi và đa số người ta tu cứ tưởng chỗ này là rốt ráo, là chân tâm, là Phật tánh, là bạn thể này nọ kia, bản lai diện mục, có nhiều cái từ lắm nhưng không phải, đó chỉ là bầu trời không mây. Nó không có tưởng, không có hình bóng nào trong tâm, nó không có hành, nó không có nói suy nghĩ gì hết, cái thọ lắng dịu thì cái thức nó tinh minh, sáng tỏ, trong sáng, thân tâm khinh an, nhẹ nhàng thì trong bảy giác chi cũng có khinh an giác chi đó. Nhưng vấn đề ở đây là không có cái trí ngũ uẩn cho nên người ta lầm tưởng cái này là cái tâm rỗng rang, thanh tịnh, cái biết mà lúc đó ngũ uẩn còn y nguyên, chẳng qua là nó lắng dịu xuống thôi.

Chúng ta thấy phía dưới hồ cặn lắng đọng một lớp ở dưới đó nhưng mà ở trên nó trong vắt, vậy thì đâu có nói là cái hồ sạch được, chỉ cần có người bước vô là cái hồ đục nước, chính vì vậy mà tất cả các thiền định của ngoại đạo là phàm phu định. Tại vì không thấy ngũ uẩn, mà không thấy ngũ uẩn tập khởi, không thấy ngũ uẩn đoạn diệt, không thấy vị ngọt của ngũ uẩn, không thấy sự nguy hại của ngũ uẩn và không thấy sự xuất ly ngũ uẩn. Cái chỗ quý của thánh trí ngũ uẩn chúng ta là vậy, nó động hay nó yên thì nó cũng là ngũ uẩn thôi. Bây giờ con mèo hay là con chó mà nó nằm yên thì nó cũng là con mèo, con chó chứ không phải nó nằm yên là không có con đó sao, nó sủa, nó la, nó chạy, nó nhảy thì nó cũng là cái con chó mà nó nằm ngủ im ru thì nó cũng là con chó chứ, hoặc là nó thức mà nó không sủa, nó nằm yên thì nó cũng là con chó.

Cho nên cái vấn đề quan trọng ở đây là không phải cái tâm yên, cái tâm yên chỉ là cái phương tiện phụ để cho trí quán của mình thâm sâu vô thôi mà cái vấn đề đây là ta nói cho người thấy, ta nói cho người biết, ta không nói cho người không thấy, ta không nói cho người không biết. Thấy cái gì, biết cái gì? Thấy ngũ uẩn, biết ngũ uẩn, thấy sự tập khởi ngũ uẩn, sự đoạn diệt của ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã trong ngũ uẩn, thấy được lậu hoặc trong ngũ uẩn, thấy được cấu nhiễm bên trong ngũ uẩn và công cuộc của chúng ta là đánh phá nó, viễn ly nó, xả ly, xuất ly nó.

"- Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy: có như lý tác ý và không như lý tác ý. Này các Tỳ-kheo, do không như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng. Này các Tỳ-kheo, do như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt." (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)

Nếu như một người cứ ngồi im ru hoài như vậy thì bây giờ đâu có biết ngũ uẩn, giống như người ngồi im ru, nhắm mắt im re thì mình nghĩ là thanh tịnh nhưng mà rắn độc bò kế bên, hổ mang chúa bò sắp tới rồi, đằng kia nó đưa cái súng vô vậy mà nhắm mắt im ru. Cũng vậy, sanh, già, bệnh, chết, bản ngã, những cái nguy hiểm, tai nạn nó vây hãm cùng khắp mọi nơi, ở trong tam giới là nhà lửa nhưng người này ngồi im ru, an ổn, thanh tịnh nhưng không phải vậy, có thể một chút nữa sẽ có động đất sụp đổ hết, nếu bên ngoài không động thì trong tâm cũng bệnh, đột nhiên nghe tin bị ung thư giai đoạn cuối chưa trổ ra. Có đủ thứ tai họa nhưng người này không thấy không biết, người này cứ tưởng là bình an, có một cảm giác bình an giả tạo mà mình không biết thì như vậy là tu trong vô minh, nó sâu sắc cho nên cái thánh trí ngũ uẩn, sự tập khởi ngũ uẩn và sự đoạn diệt ngũ uẩn khủng khiếp lắm, ngày nào cũng phải lạy cảm ơn Phật, cảm ơn tam bảo, cảm ơn bậc đạo sư.

Chúng ta nghĩ tám tỷ trên hành tinh này được mấy người được thấy, được biết về ngũ uẩn? Chúng ta có thấy hạnh phúc không? Phải suy nghĩ như vậy thì mình mới vui sướng, mình phấn đấu, mình thích thú, mình hân hoan hoài không có chán, càng ngày mình càng thích, càng ngày mình càng khoái, càng ngày mình càng thâm sâu, càng ngày mình càng thể nhập. Thành ra vấn đề ở đây là đoạn diệt các lậu hoặc với thượng trí là thượng nhân pháp, là thánh trí, cái nhìn đó mới đưa đến bất tử, ra khỏi sanh tử thì nó bất tử, vô sanh là bất tử, bậc A-la-hán là bậc vô sanh, con đường chúng ta đi là con đường bất tử. Đó là ý nghĩa liễu sanh thoát tử, giải thoát sanh tử, khi mình thấm thấy vô cái khổ rồi nó sướng lắm, vi diệu, tuyệt diệu. Mình đâu có ở đây đâu ai muốn làm gì làm, giành giật, hơn thua có gì đâu, không sao hết, mình ngoài cuộc, chịu không? Mình làm người ngoài cuộc.

Xin đừng đem dạ tưởng mà mơ

Trăm năm cuộc thế như cờ bị vây

Rút gươm huệ dứt dây tham ái

Kiếp tìm thầy cầu phái qui y.

Kiên trì ngũ giới tam qui,

Mở lòng từ nhẫn sân si phải chừa.

Sám Thảo Lư - Sám Hồi Tâm I (Tổ Huệ Đăng)

Tu hành sớm tối lo lường,

Đừng ham những cảnh vô thường thế gian.

Cho hay hoa nở cũng tàn,

Pháo mà kêu lớn càng tan xác nhiều.

Chi bằng tìm chốn tiêu diêu,

Nương theo cõi Phật khỏi điều thị phi."

(Sám Tu Là Cội Phúc)

Bây giờ pháo bắt đầu kêu rồi đó, Hàn Quốc, Triều tiên đập cái biểu tượng mà hai người nắm tay nhau, khơi màu khởi sắc của sự chiến tranh cùng khắp hết, không phải một nơi mà nơi nơi thiên hạ đại loạn. Bởi vậy mình phải đi mau, đi lẹ, đi nhanh, thoát mau, thoát lẹ, thoát nhanh, một ngày còn trong đây là ngày còn khổ, ngày còn mang các cái thân này là một ngày còn sầu, một ngày mà còn những cái thọ; tưởng; hành; thức này là một ngày còn mệt mỏi, chán chường, nặng nề, nó uể oải, nó ngao ngán cho nên bỏ cái này càng sớm càng tốt. Ngày xưa mỗi lần con đi thăm ngài hộ pháp là "sư biết sư có cái lỗi là sư chưa có chết", ngày nào lại thăm là "sư biết sư có cái lỗi, 80 tuổi rồi còn sống hoài chưa chết".

Cho nên mình tu ngược đời, nó đã lắm, người ta thì ham sống sợ chết, mình tu không sao, chết khỏe vì được giải thoát. Vì vậy chúng ta phải nhớ tác ý sáng, trưa, chiều, tối, đừng quên tác ý, từ từ mai mốt con bắt làm bài tập bất thình lình, trình pháp thọ; tưởng; hành ngay tại chỗ đang bổ (bửa) củi:

Thưa sư phụ, con đang bửa cái ngã con ra.

Được, có thưởng.

Nếu đang bằm ớt là:

Con đang cắt cái sân này ra, con đang bằm cái sân ra.

Tốt, có điểm.

Nếu đang chiên xào nấu nướng, nướng bánh tráng thì:

Bây giờ con đang là diệt hết những cái ngọn lửa cho nó trở thành tro tàn, cho nó mát lạnh, thanh lương, tịch tịnh.

Tốt.

Chúng ta gặp cái gì cũng tác ý, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, y cứ xả ly, từ bỏ. Đó chính là thánh pháp ấn, có cái này là lá bùa bình an tối thượng, tu bất cứ cái gì, bất cứ pháp môn gì cũng viễn ly, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ ngũ uẩn, từ bỏ tham, sân, si, từ bỏ bản ngã, dục ái, tu bất cứ cái gì cũng hướng tới cái đó hết thì cái đó là hướng tới Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn, nghiêng về Niết-bàn, nhập vào Niết-bàn. Thí dụ mình đang rửa chén tự nhiên có người lại nói nặng nói nhẹ mình "không biết rửa gì hết, đi chỗ khác cho người ta rửa" thì mình "hiền giả rửa thì con nhường cho hiền giả rửa, con cám ơn". Bất cứ cái gì cũng viễn ly, ly tham, đoạn diệt tham, sân, si ngu ngốc này, đoạn diệt cái bản ngã ác độc này, từ bỏ nó, những câu này cần phải thuộc lòng để bất cứ nơi nào cũng đọc nó lên. Mình bị người ta chửi thì "từ bỏ cảm giác khó chịu này đi, từ bỏ cái thân này luôn, từ bỏ cái tên này luôn, từ bỏ cái mặt mũi này luôn, từ bỏ cái lỗ tai này, từ bỏ cái âm thanh kia, từ bỏ cái sự rõ biết âm thanh kia, từ bỏ sự tiếp xúc này luôn, từ bỏ cái cảm thọ sanh khởi này, từ bỏ sân này, bỏ hết tất cả". Có được không?

Từ bỏ thân này là nó hết bệnh chứ từ bỏ bệnh thì nó còn bệnh, đừng có quán từ bỏ bệnh mà phải quán từ bỏ thân, đó là quán từ cái gốc, đừng quán cái ngọn. Mình đang bệnh quán từ bỏ bệnh mà bệnh nó không hết rồi mình phiền não, phải từ bỏ thân thì nó mới hết bệnh vì bệnh là cái gốc do cái thân, có thân thì mới có bệnh, bây giờ mình quán từ bỏ bệnh mà thân này còn thì làm sao từ bỏ bệnh được, cho nên quán từ bỏ thân là từ bỏ cái gốc. Nó bệnh thì kệ nó, khổ từ nhiều đời nhiều kiếp rồi chứ đâu phải mới bệnh đây đâu, quán riết là bệnh nặng thành nhẹ, nhẹ thành hết, còn không thì chết, cái nào cũng được hết trơ, cho nên được cái nào cũng được hết.

"Và này Bà-la-môn, loại Thiền định nào Thế Tôn ấy tán thán? Ở đây, này Bà-la-môn, Tỳ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Bà-la-môn, loại Thiền như vậy, Thế Tôn ấy tán thán" (Trung Bộ Kinh, 108. Kinh Gopaka Moggallàna)

Mình nhớ kỹ là bốn thiền này là chánh kiến dẫn đầu thì cái này mới là thánh chánh định, không có thánh trí ngũ uẩn ở trong tứ thiền thì cái thiền đó tuy chứng tứ thiền bát định nhưng vẫn gọi là phàm phu định, không phải thánh chánh định. Chúng ta nhớ kỹ điều này, dù có chứng được tứ thiền luôn cho nên người ta quán vô sở hữu xứ là không có cái gì hết, ngồi lại nhắm mắt tưởng ra không có cái gì hết, trống rỗng, vô sở hữu, người ta quán không vô biên xứ là trống không vô cùng vô tận, vô lượng vô biên, trống rỗng hết, cứ ngồi quán hoài, sống trong cái đó, thích trong cái đó, an trú trong cái đó thường xuyên. Còn thức vô biên xứ là cái biết trùm khắp rỗng lặng, cái biết cùng khắp hết, cái tâm trống rỗng nhưng rõ biết trong đó. Phi tưởng với phi tưởng xứ là cái tưởng rất vi tế, giống như có tưởng mà cũng giống như là không có tưởng, rất vi tế. Vô sở hữu xứ là không có gì hết nhưng lại có cái ngã mà người ta lại không thấy, không có gì hết nhưng lại có dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu lắng đọng dưới đáy hồ, do cái hồ sâu nên chỉ nhìn được trên mặt hồ thì thấy nước trong vắt nhưng không nhìn thấy đáy hồ được thì tưởng cái hồ sạch nhưng mà nó nằm dưới thì đó là lậu hoặc.

Chỉ có thánh Trí mới nhìn ra được, không có thánh trí là không nhìn ra được, thánh trí Chánh Đẳng Giác là vậy đó, thấu suốt tận cùng tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ. Thế Tôn chỉ tán thán bốn cái chánh định của bậc thánh.

"-- Này Bà-la-môn, có phải chúng tôi đã nói với Ông: 'Không có một Tỳ-kheo nào, này Bà-la-môn, thành tựu mười pháp ấy một cách trọn vẹn, một cách đầy đủ, những pháp mà Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thành tựu. Này Bà-la-môn, vị Thế Tôn ấy là bậc làm cho khởi dậy con đường trước đây chưa từng được hiện khởi, làm cho biết con đường trước đây chưa từng được biết, nói lên con đường trước đây chưa từng được nói; là bậc hiểu đạo, biết đạo và thiện xảo về đạo. Và nay các đệ tử Ngài là những vị sống hành đạo và tùy hành đạo, và sẽ thành tựu những pháp ấy về sau'." (Trung Bộ Kinh, 108. Kinh Gopaka Moggallàna)

Không có một Tỳ-kheo nào thành tựu mười pháp ấy một cách trọn vẹn, một cách đầy đủ những pháp mà bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác đã thành tựu, không có ai đầy đủ hết mười pháp đó trừ Đức Như Lai. Chúng ta học xong bài kinh này, nhân ngày hôm nay là ngày kỷ niệm Đức Phật thành đạo, dù ho nhưng mà kệ cũng ráng nhưng cũng được để chúng ta tưởng nhớ Đức Phật, pháp, thánh chúng.

Tâm biết ơn này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm biết ơn này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.