Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Pháp đàm Nikaya - Tu trên gương mặt - Tu trong lời nói -Lam sao trải tâm từ - Công dụng của ý căn A

2026-03-03 00:54:55
Tinh hoa Nikāya

TU TRÊN GƯƠNG MẶT- TU TRONG LỜI NÓI - LÀM SAO TRẢI TÂM TỪ ?

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tu trên gương mặt PAGEREF _Toc101185149 \h 1

II.Tầm quan trọng của việc hỏi pháp, trình pháp PAGEREF _Toc101185150 \h 3

III.Nền tảng của tâm từ PAGEREF _Toc101185151 \h 5

IV.Bước đầu tu tập PAGEREF _Toc101185152 \h 7

Tu trên gương mặt

Trong quá trình tu học, chúng ta cần thường xuyên cảm giác toàn thân, để ý đến khuôn mặt để kiểm soát cảm thọ của mắt, cảm thọ của môi, cảm thọ của khuôn mặt và thường làm cho cảm thọ được nhẹ nhàng, tươi sáng, từ ái trên khắp khuôn mặt mình. Cho nên, ngoài việc ngồi thiền, cũng phải để ý nhận diện cảm giác trên khuôn mặt.

Nếu không có sự để ý, chúng ta sẽ không biết được khuôn mặt của mình đang như thế nào. Có khi trạng thái trên gương mặt là sự trì độn, không tinh minh; cũng có khi cảm thọ bức xúc biểu hiện trên gương mặt; hoặc trên gương mặt, trong ánh mắt là một sự phóng dật nhưng chính bản thân mình không biết những trạng thái đó. Thế nên, nếu có sự tu tập chúng ta sẽ thấy rất hay, vì tự mình kiểm soát được dung diện của chính mình. Dù đang ở đâu, làm việc gì thì cũng biết được khuôn mặt mình có từ ái, dễ chịu, tươi tắn không, hay đang hôn trầm, phóng dật, bức xúc, buồn rầu? Vì vậy, chỉ có tu tập mới giúp chúng ta kiểm soát được từng chút một. Ví dụ, trong ánh nhìn của bản thân, đôi khi là ánh nhìn thả lỏng, phóng dật; hoặc là ánh nhìn có sự định tĩnh, trầm tĩnh; hoặc ánh nhìn chất chứa sự sân hận thì mình đều có thể nhận biết được. Khi người đối diện nói chuyện, hỏi thăm mình, nếu mình không nhìn họ, mà cứ nhìn xuống thì người đó sẽ cảm thấy bị xem thường, đây là trường hợp giữa những người bình thường, ngang hàng nhau.

Ngoài ra, chúng ta còn phải tu từ ở trong tâm, có hai thái cực của tâm:

• Trạng thái phóng dật

• Trạng thái co rút

Trong hai thái cực này, một là thả không còn gì và một là chui vào vỏ ốc. Để nhận diện được hai trạng thái này thì sự thực hành cảm giác toàn thân, cảm giác trên gương mặt là vô cùng quan trọng. Sư phụ của Minh Thành trong mọi vấn đề đều tu tập rất kỹ, Ngài để ý từng chút một, trên gương mặt của Ngài luôn nở nụ cười nhẹ dù đang trong lúc hết sức căng thẳng. Còn những lúc nói chuyện vui vẻ mà mặt mình vẫn vui là điều bình thường. Cho nên, những lúc căng thẳng mà vẫn giữ được nét mặt hiền hòa, tươi vui thì đó là nội lực được thể hiện ở trên khuôn mặt. Còn chúng ta vui buồn đều thể hiện hết trên khuôn mặt, buồn thì mặt nặng, còn có chuyện vui thì như hoa nở, hí ha hí hở, tung tăng, thiếu điều nhảy cẫng lên thì đó chính là bởi tâm chưa được điều phục, chế ngự. Gặp chuyện vui thì lập tức quên đi bản thân, đó là bị cảm thọ vui cuốn đi, hay gặp chuyện gì buồn thì mặt bí xị, chằm dằm một đống, nhìn là biết liền ngay hôm nay có chuyện buồn.

Ví dụ thực tế, trong tất cả Phật tử đang theo Minh Thành tu học, mỗi khi nghe pháp thì có một số người ngồi tránh tầm nhìn của thầy, để không bị gọi trình pháp. Đó chính là bản ngã đang hoạt động, chúng ta luyến ái tự ngã nhưng không nhìn thấy. Điều này chứng tỏ bản thân chúng ta đang quý trọng cái tôi hơn quý trọng pháp, không suy nghĩ rằng khi thầy gọi trình pháp là thầy đang quan tâm, dòm ngó, hướng dẫn, chỉ dạy mình. Vậy mà mình không xem đó là điều hạnh phúc, không xem đó là phước báu nên lẫn tránh thầy, đó là chúng ta Phi Như lý tác ý trong sự tu tập này. Vị thầy của mình nhìn thấy hết, chỉ là thầy không nói. Một nội tâm như vậy thì không thể học sâu được pháp, vì pháp thì rất sâu, mà chúng ta lại coi trọng bản ngã hơn trọng Thánh pháp.

Khi trú vào trong trí ngũ uẩn, chúng ta sẽ nhìn thấu hết nội tâm của chính mình và tâm của hữu tình chúng sanh. Tâm này hoạt động thế nào sẽ được nhìn thấy rõ ràng, từng cái nhỏ nhiệm nhất sẽ hiển lộ ra. Để được như vậy, cần phải để tâm rất nhiều, vì muốn chánh giác, muốn diệt tận tham, sân, si và cắt đứt vòng luân hồi sanh tử không phải là chuyện đơn giản. Trong trí phàm phu, vô minh, tâm nhỏ hẹp, bản ngã nếu không được tôi luyện, đẽo gọt, chặt phá thì không thể đi đến chỗ giải thoát được. Vì thế, càng tu thì sẽ càng nhận diện rõ được cấp độ của vô minh và lậu hoặc. Đôi khi ngồi nói chuyện, sinh hoạt bình thường với nhau như vậy nhưng thật ra là đang ở trong vô minh mà chúng ta không biết, không nhận ra. Cho nên, cần có bậc trí tuệ, bậc hiền triết đã thấy biết chỉ dẫn cho chúng ta trong sự tu học này.

Cần thường xuyên để ý cảm giác toàn thân, trong đó gồm: cảm giác trong tâm, cảm giác lồng ngực, cảm giác cơ thể, đặc biệt trong đó có cảm giác gương mặt. Có nhiều Phật tử lên trình pháp với Minh Thành, chưa cần nói gì, chỉ cần qua nhìn nét mặt là Minh Thành đã biết là có chuyện phiền não. Cho nên chúng ta cần để ý nhận diện trên khuôn mặt, ánh mắt của mình, nhất là khi chúng ta nóng giận, phải xem trên khuôn mặt có còn từ ái không, ánh nhìn sẽ như thế nào trong lúc nóng giận; hoặc khi trong tâm có tham thì khuôn mặt, ánh mắt mình hoạt động như thế nào? Phải bám sát từng cảm giác, từng suy nghĩ, từng tư tưởng để chúng không thể qua mặt, lừa gạt mình.

Tầm quan trọng của việc hỏi pháp, trình pháp

Trong sự tu học này, cần phải có những câu hỏi xung quanh pháp học và pháp hành, tuy nhiên, nhiều người tu học hàng tháng trời nhưng không có câu hỏi nào, mà không có nghi vấn thì không sáng tỏ được pháp. Hoặc hỏi mà hỏi lung tung lang tang, không không vào trọng tâm của vấn đề thì càng làm cho tâm dao động. Vì vậy, tâm này rất dễ đi vào hai thái cực khác nhau.

Vô minh rất ghê sợ, bao phủ khắp thân tâm của chúng ta, để thấy được vô minh thì phải có vị chánh kiến chỉ dạy cho mình. Tâm của chúng ta còn trẻ con, còn dại khờ, nên đã học là phải hỏi thì mới tỏ pháp, thể hiện được tâm cầu pháp. Thế nhưng, ở đây một là không hỏi, hai là hỏi những chuyện không quan trọng, hỏi chuyện người này người kia, chẳng hạn như hỏi: “Mai mốt con chứng quả thì con sẽ thế nào?”, đây là những câu hỏi mông lung, không liên quan nhiều đến sự tu học của mình. Là người mới đến, chúng ta có thể hỏi: “Thưa thầy , thưa sư cô con mới đến đây, con cần phải học cái gì?”, người đó mới là người có tâm cầu pháp chân chánh. Có người thì nghĩ bản thân đã giỏi rồi, không cần học như những người Phật tử, không học giống như những người mới tu thì đó là bản ngã.

Có câu “Học phi vấn biện – Vô do phát minh”, trong đó, “vấn” tức là hỏi, “biện” là biện luận pháp đàm, nghĩa là học mà không hỏi, không bàn luận thì sẽ không tỏ pháp. Vì thế, tu học mà không cần hỏi ai, không cần bàn luận với những bậc tri thức thì sẽ mãi mãi ở trong sự thấy biết như “ếch ngồi đáy giếng”. Nghĩa là chúng ta mãi học trong tri kiến của phàm phu, trong cái thấy biết hạn hẹp, hạ liệt, thấp kém. Bởi vì lẽ đó, mỗi khi giảng pháp, Minh Thành hay hỏi: “Quý vị đại chúng có ai cần hỏi gì không, có gì trình pháp không?” và cuối cùng nhận được ở quý Phật tử là câu im lặng, tức là không có gì để hỏi, không có gì để trình pháp, điều này chứng tỏ tâm chúng ta không có nhiệt tâm đối với pháp. Cho nên trong tu học, cần hỏi những điều đáng để hỏi trong khi trình pháp.

Tâm trạo cử, thân tâm trạo cử là vấn đề mà ai cũng gặp phải trong sự tu học, vì đây là một trong năm triền cái. Ở đây, năm triền cái tức là năm màn ngăn che làm cho con người không thấy được tâm mình tham lam, sân hận, trạo cử, hôn trầm, nghi ngờ. Năm triền cái là chướng ngại chính cản trở sự thành công trong hành thiền và phát tuệ giải thoát.

Khi thân tâm bị trạo cử, chúng ta cần phải niệm an tịnh, niệm lắng dịu, niệm tâm lặng yên tâm dễ chịu, đây chính là tác ý và tu tập chỉ. Trong sự tu này chúng ta nhận diện được ngũ uẩn, đây chính là điều đặc biệt và lợi thế nhất. Nhờ có sự nhận diện ngũ uẩn mà chúng ta nhìn ra được những lúc đang ngồi tu thì trong tâm mình có sự thúc giục; đang đi cũng có sự thúc giục; đang học kinh thì bản thân lại muốn đi ra ngoài… Khi thấy được những sự thúc giục trong cảm giác, trong ý hành thì chúng ta lập tức tác ý, chế ngự, ngăn chặn những sự dao động đó lại và bắt nó vào khuôn phép của bản thân.

Để được như vậy thì cần phải tập từ từ, nhất là đang giai đoạn tuổi trẻ, tuổi năng động thì chúng ta càng phải kiên trì tu học hơn bao giờ hết. Nhiều người ban đầu mới về tu họcthì rất siêng năng, tinh tấn, thưa hỏi trình pháp đều đặn nhưng khi ở một thời gian thì không còn trình pháp gì nữa. Tâm người này bị chai lì, không còn tha thiết với pháp, thậm chí thầy giảng pháp cũng không thèm ra nghe. Đây là sự thối đọa trong tu học. Minh Thành nhìn vào cũng chỉ biết thương chứ không thể làm gì được, trừ khi người đó có tâm cầu tiến thì mới có thể vượt qua và nỗ lực như lúc đầu. Rất khó có được tâm kiên trì, tâm này ví như cô dâu mới về nhà chồng, đây là bài kinh mà chúng ta phải học nằm lòng vào trong tủy não. Những gì còn mới mẻ thì mọi người thường sốt sắng, thích thú, năng động, nhiệt tâm, qua một thời gian thì tàn phai, phai nhòa, dần dần trở thành không có xúc cảm đối với pháp, tâm bị trơ ra.

Nền tảng của tâm từ

Vấn đề tiếp theo chúng ta cần tìm hiểu đó là “tâm từ”. Tâm từ được hiểu là lòng thương yêu cao thượng, vô lượng và vô hạn đối với tất cả chúng sanh, không phân biệt chủng loại, biên giới.

Có nhiều người khi trải tâm từ đến người mình thương thì lưu luyến, còn khi trải đến người mình ghét thì khó chịu, đó là do không phải trải tâm từ mà là tâm ái luyến. Cho nên, tâm từ không phải đặt nền tảng trên thương ghét. Tâm từ cũng không phải thương người này người kia, mà khởi nguồn của tâm từ, nguồn cội của tâm từ là thương chính mình, thương bản thân mình bị tham, sân hành hạ, thương mình bị bản ngã này hãm hại. Tâm từ này giải quyết rất nhiều vấn đề ở trong đời sống, người tu không thực tập được tâm từ thì tu sẽ không tiến.

Thật vậy, trên gương mặt người tu nếu không thực tập tâm từ thì trông rất dữ dằn, bên trong cảm thọ là một cảm giác bức xúc, khó chịu, hung hăng, không toát ra được diện mục của tình thương và từ ái. Cho nên khi người khác nhìn vào sẽ không có thiện cảm, không thấy ngọt ngào, bởi vì tâm từ của chúng ta chưa được tu tập. Ví dụ vui là do Minh Thành tu tập tâm từ chưa tới nên có nhiều Phật tử gặp Minh Thành sẽ trốn, còn nếu tu tập tâm từ thành tựu thì Phật tử sẽ tự tìm đến, vì thế chúng ta cần phải tu tập tâm từ.

Như vậy, nền tảng, căn nguyên, sự phát khởi của tâm từ là thương chính mình. Chúng ta phải thương vô minh bao phủ tâm mình; thương mình bị tham, sân, si hành hạ; thương mình bị bản ngã bủa vây, vây hãm và thấy mình thật sự là một nạn nhân của tham, sân, si, vô minh, bản ngã mà đau khổ. Nhờ sự thương mình sâu sắc khi mình phải chịu đau khổ trong ngũ uẩn này, đồng thời mở rộng cái thấy đó đến mọi người xung quanh thì chúng ta sẽ không còn sự phân biệt người đó là người yêu hay người ghét, bởi vì ai cũng bị tham, sân, si, vô minh hành hạ.

Cho nên, tâm từ là nhìn mọi loài ở trên sự tham, sân, si, bản ngã, chứ không còn nhìn trên sự thương ghét. Cái nhìn của tâm từ là nhìn vào nỗi khổ đau bao trùm hết tự thân mình cùng hữu tình chúng sanh, tất cả đều chìm đắm trong dục vọng, trong sự thiêu đốt của cảm giác sân hận, trong sự ác độc của bản ngã… Từ cái nhìn đó, mở rộng ra và nhìn khắp tất cả thế giới này đều bị dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã thiêu đốt, bao phủ, tàn phá, tàn hại và nhiệt não. Đây mới là cái nhìn của tâm từ, còn cái nhìn thương ghét là cái nhìn của tình cảm, của phàm phu.

Khi tâm từ trải ra thì không trú trong thương ghét. Nguời chúng ta thương cũng có vô minh, có tham ái, có sân hận, có bản ngã, cũng vậy, người mà chúng ta ghét thì cũng có vô minh, có sân hận, có bản ngã, có tham vọng, có dục ái. Cho nên, tâm từ sở dĩ đuợc vô lượng, vô biên, đại từ đại bi, bình đẳng, bởi vì tâm từ không nhìn trên thương ghét, thương ghét chỉ là cảm xúc, cảm thọ theo nhân duyên, hôm nay thương, hôm sau ghét, có sự thay đổi. Còn dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã là vĩnh hằng, từ vô lượng kiếp cho đến ngày nay, xưa hay nay cũng đều vậy và tiếp tục sau cũng vậy…. Trừ những vị đã thành tựu chánh kiến, bốn nơi tám chúng hiền thánh mới là ngoại lệ, còn tất cả chúng sanh hữu tình đều chìm nổi trong khổ đau của tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Bởi vậy, tình thương của tâm từ là bình đẳng, phổ quát, bao trùm.

Ví như Phật tử vừa mới lên núi tu tập, nói tới thì nước mắt tràn ra, phải nuôi mẹ nằm một chỗ 10 năm, sau lại nuôi thêm bao những người khác, giờ đến chồng chuẩn bị đi chạy thận. Khi nói ra là nước mắt trào ra, bao nhiêu những cảm thọ đau khổ dâng lên. Không ai chạm tới thì thôi, chỉ cần chạm tới những nỗi đau đó là nước mắt cô tuôn rơi, chạm tới là buồn đau, bản chất khổ rõ ràng như vậy.

Chúng ta thường thường tác ý, nhìn sâu, quán chiếu, tư duy, suy ngẫm thì tâm từ mới tăng trưởng, thấm đẫm, thấm đượm, thấm nhuần, đó là cách làm cho tâm từ rộng lớn. Một khi tâm từ thấm đẫm rồi thì nhìn vào sẽ tự thấy xót thương cho tấm thân này, hình hài này. Mỗi khi giận lên bản thân sẽ thấy mình thật tội nghiệp, mỗi khi bản ngã sanh khởi lên bản thân sẽ thấy mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh này: “Ta thấy ta thương mày quá, hỡi cái tâm ngu ngơ ơi”. Và chúng ta có thể tuôn trào nước mắt ra được, có thể giàn giụa nước mắt ra, xót xa, bi cảm. Chúng ta cần có tình thương như vậy đối với tự thân này thì sau đó mới trải được tâm rộng lớn. Còn chưa thấy thương mình thì việc tu tập tâm từ còn xa, tâm từ vẫn chưa khởi động được.

Vì vậy, bước đầu tiên của sự tu tập tâm từ là chúng ta tự nhìn lại và thấy tủi cho thân này, thấy thương cho thân này, tội nghiệp cho thân này quá, đau khổ cho thân này quá, thương cho tâm mê này, tội nghiệp cho tâm ngu này, tội nghiệp cho tâm sân này, thương những cảm thọ ngu xuẩn này và thấy tham, sân, si, vô minh, bản ngã này thật vô cùng đáng thương. Mỗi khi ngồi thiền quán, tác ý thì nước mắt chúng ta đầy mặt, tràn trụa vì thấy xót xa kiếp người, xót xa sự sống này. Bởi vì cuộc sống này vận hành trong dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Đối với tự thân này chúng ta cũng vô cùng xót thương bằng một cảm thọ sâu tận cùng tới tim, gan, xương, tủy của mình, khi đó tình thương bên trong chúng ta bắt đầu khởi động.

Nếu chúng ta chưa thật sự thấy mình đáng thương, chưa thấy mình khổ thì tình thương, từ tâm vẫn chưa trải được. Có thương thì cũng chỉ thương trên ý hành chứ thọ chưa sanh khởi, nếu có sanh khởi cũng chỉ phớt phớt, còn mạch nguồn, suối nguồn của tình thương chưa tuôn trào ra được, đây là chỗ chúng ta cần để ý. Khi tâm từ được khởi động tuôn trào thì các phiền não, lậu hoặc thô thiển, tàn hại, nhiệt não sẽ tự động dần dần lắng dịu, sân hận, bản ngã sẽ giảm xuống từ từ, vô minh sẽ bị phá bỏ. Bởi tâm từ này có được là bắt nguồn từ sự thấu hiểu, sau đó mới phát triển thành tình thương và sự hiểu này chính là trí tuệ.

Bước đầu tu tập

Trong sự tu tập này, chúng ta không nên tác ý theo chiều tiêu cực, bởi đang học lớp 1 mà cứ nhìn lên lớp 10 thì học lớp 1 hoài không xong. Cần đi thật chậm, bước nào chắc bước nấy, cứ tập thực hành ba pháp, nhận diện ngũ uẩn, tập nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã. Khoan hãy nói về lậu hoặc, hay nghĩ về những điều sâu xa, vô minh, bởi đó là kiến thức ở những lớp học cao hơn. Chúng ta nghe pháp là để thành tựu sự thấy đúng, nhưng trong sự tu học thì phải tu từng chút. Nhiều khi cứ nghe pháp nhiều rồi không biết bản thân đang ở đâu, cứ muốn đoạn tận lậu hoặc trong khi việc cơ bản chưa làm xong, như vậy thì lớp 1 học không được, mà lớp 10 cũng không đi đến.

Cho nên, giai đoạn đầu tu học thì chú tâm vào các pháp căn bản: thực hành ba pháp, nhận diện năm uẩn, nhiếp phục các cảm thọ lăng xăng, trạo cử, nói nhiều, nói nhan. Sự thực tập trong hoàn cảnh khó khổ lại chính là bậc thầy của chính ta. Trường hợp của cô Phật tử vừa trình pháp, khi cô đi bán vé số, cô sẽ cảm nhận được nỗi khổ đau của cuộc đời, khó khăn của cuộc sống, cô sẽ nhìn thấy được những hoàn cảnh còn khổ hơn mình. Từ đó, thực tập tâm sâu lắng, tâm suy ngẫm, tâm ưu tư và quán chiếu về sự đau khổ trùm khắp, tràn ngập khắp hành tinh này. Đồng thời xót thương cho thân phận của mình, vì nghiệp quả của quá khứ mà đời sống của bản thân như hiện tại. Dù có khó khăn nhưng cô nhớ dành vài gói mì, vài đồng bạc lẻ để bố thí, gieo phước lành, mong cho sau này cũng như những kiếp sau được thuận duyên hơn để tu học.

Bên cạnh đó, mỗi ngày cần kiểm tra ngũ uẩn, xem tập khí bản thân nặng ở đâu thì chĩa mũi dùi vào chỗ đó. Tập trung tâm lực, trí lực, sức lực vào tập khí nặng nhất để tác ý trừ diệt, sám hối. Nếu tâm dao động nhiều, khiến cho cái thấy không được trầm tĩnh và sâu sắc thì phải tập tâm trầm tĩnh, tập tu thiền chỉ, an trú ba pháp nhiều hơn. Đồng thời tập tâm hiền, tâm từ, nhiếp phục cảm thọ để tháo gỡ đội kết của mẹ con với nhau, vì gia đình phải an ổn thì mới tu được, gia đạo bất ổn thì không thể nào tu được.

Nhờ sự nhận diện năm uẩn một cách sâu sắc, trung thực, chân xác, chính xác thì sẽ tự nhìn ra được tập khí nào còn nặng để lo xử lí. Cần lập kế hoạch để điều trị, đưa ra chiến lược để đánh phá các phiền não trong tâm và tác chiến mỗi ngày mỗi giờ bằng nhiệt tâm bằng sự tin cậy, bằng con tim cháy bỏng, rực cháy. Chúng ta phải tác chiến, phải chiến đấu, lập ra chiến lược của nội tâm, chứ không phải sống dần dà qua ngày chờ chết. Như vậy thì thật uổng cho cuộc đời này, thật uổng khi gặp Thánh pháp này, thật uổng khi có những cảm xúc hiền thiện, trí tuệ này!

./.