Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Đạo Lộ Tu Học Tuần Tự 1 - Kinh Ganaka Moggallana - Trung Bộ III

2026-03-03 00:54:55
KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI - ĐẠO LỘ TU HỌC TUẦN TỰ 1

KINH GANAKA MOGGALLANA - TRUNG BỘ III

Thích Minh Thành

Bản thân Minh Thành đi xuất gia đã thao thức và trăn trở rất nhiều trong pháp hành, trong sự thực tập đời sống tu sĩ. Mình suy nghĩ trong gần 30 năm từ ngày xuất gia không chấp nhận những điều đang thực hành xung quanh mình. Mình cứ thắc mắc phải có một điều gì đó chứ không thể Đức Thế Tôn và các bậc thánh Tăng ngày xưa có thể tu học như vậy được, chính tự thân mình không có khả năng nhiếp phục và đoạn tận dục ái, sân si, bản ngã nên không hài lòng với những gì đang có xung quanh mình. Đó là sự khích lệ để tìm cầu, tìm kiếm và cuối cùng sau 30 năm xuất gia cũng tìm thấy được thánh pháp. Chúng ta chia sẻ thực lòng với nhau, những cái mà chúng ta đang thực tập có khả năng diệt tận tham sân si không? Không có khả năng, nhưng tại sao mình vẫn hài lòng, bằng lòng với nó, không đi tìm kiếm một thứ khác? Mình đem một bài kinh lên đọc thì có hết tham sân si không? Lấy một câu niệm có hết bản ngã không? Tại sao mình không thao thức, trăn trở, không tìm kiếm rồi cuối cùng đời tu của mình không đi đến đâu hết, chỉ là xưa bày nay làm, người ta sao mình vậy chứ thật sự không đi đến kết quả của người xuất gia, đây là điểm cực kì quan trọng. Sau khi ở trong chùa hàng chục năm thì mình có thấy mình đã đi gần đến mục đích đặt ra lúc ban đầu không? Đó là Niết-bàn, có ai thấy được Niết-bàn chưa? So với mục đích ban đầu là diệt tận tham sân si thì sau 10-15 năm ở trong chùa đã làm được đến đâu rồi? Hoàn toàn không biết, chẳng khác gì một người lang thang ngoài đường, hỏi đi đâu cũng không biết, đang ở đâu cũng không hay, vậy người đó là người không có phương hướng, không có mục tiêu, không có đích đến, sự tu của mình nếu không tha thiết tìm kiếm cũng giống một người đi lang thang trong vô định, thậm chí rất đau lòng và xót xa là càng tu sự tham muốn càng phát triển, càng ở trong chùa lâu thì bản ngã, cái tôi càng lớn theo năm tháng, sự sân hận cũng tăng trưởng theo phẩm vị trong chùa. Đây là một sự thật đầy xót xa, đau đớn và cay đắng, không thấy mục đích ở đâu hết. Sự hành trì của mình là cái gì? Có phải đem một bài ra đọc mà không biết gì hết hoặc nói trên trời dưới đất trong khi mình đang muốn nhiếp phục tham sân si lại làm không được, lại hứa hẹn điều viễn vông sau khi chết sẽ được thế này thế nọ.

Thật là đau khổ cho một sự tu hành như vậy!

Thật là đau lòng và đau xót!

Bây giờ là thời đại 4.0, khoa học, công nghệ, kiến thức, tri thức đang ở một tầm cao mới nên chúng ta không thể học theo thời xưa mở sách chữ Nho ra đọc rồi không biết gì hết. Mọi người có ưu tư, có suy nghĩ như vậy không hay là thấy sống như vậy là an ổn rồi, chỗ ngủ, xe cộ, xăng nhớt, ăn uống không cần lo. Không phải như vậy, mình có mối lo rất nặng, cha mẹ, ông bà cô bác đang ở nhà vậy mà mình đang đi một con đường không có điểm đến thì làm sao? Cho nên hôm nay chúng ta sẽ học con đường tuần tự, bài kinh này cực kì quan trọng, trong đó Đức Phật sẽ nói người tu phải tu như thế nào, phải trải qua những giai đoạn gì và đích đến tận cùng là gì. Đây là những bài kinh tinh hoa của tạng kinh Nikāya nên đại chúng phải để tâm học hỏi, còn không cuộc đời tu của mình không những trống rỗng mà còn mang nợ, kiếp sau làm trâu bò trả nợ chứ không phải tu không được thì thôi. Mượn tiền không trả đã bị thưa kiện, hâm dọa, đánh chém, đằng này không những mượn tiền mà còn lừa gạt vì hình thức của mình là một bậc tu hành thanh tịnh, xuất sĩ, xuất ly mà trong tâm mình không có gì xuất ly hết, tham sân si còn lớn hơn, đây là chỗ phải suy nghĩ thật nhiều.

Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi, Pubbarama, nơi lâu đài của Migaramatu (Ðông Viên Lộc Mẫu Giảng đường). Rồi Bà-la-môn Ganaka Moggallana đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Ganaka Moggallana bạch Thế Tôn:

-- Ví như, thưa Tôn giả Gotama, tại lâu đài Migaramatu này, có thể thấy được một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là những tầng cấp của lầu thượng cuối cùng; thưa Tôn giả Gotama, cũng vậy, đối với những vị Bà-la-môn này, được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là sự học hỏi (các tập Veda). Thưa Tôn giả Gotama, cũng vậy, đối với những vị bắn cung này, được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là nghệ thuật bắn cung. Cũng vậy, thưa Tôn giả Gotama, đối với chúng con là những người toán số, sống nhờ nghề toán số, cũng được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là toán số. Thưa Tôn giả Gotama, vì rằng khi có được người đệ tử, trước hết chúng con bắt người ấy đếm như sau: "Một, một lần, hai, hai lần, ba, ba lần, bốn, bốn lần, năm, năm lần, sáu, sáu lần, bảy, bảy lần, tám, tám lần, chín, chín lần, mười, mười lần". Và thưa Tôn giả Gotama, chúng con bắt đếm tới một trăm. Có thể trình bày chăng, thưa Tôn giả Gotama, trong Pháp và Luật này, cũng có một tuần tự học tập, một tuần tự công trình, một tuần tự đạo lộ như vậy? (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)

Lâu đài có các tầng lầu, nghệ thuật bắn cung có từng bước học tập, môn toán học có những con số từ 1, 2, 3 …100. Như vậy phương pháp giáo dục đào tạo, huấn luyện, dạy dỗ, giáo hóa của ngài có trình tự như thế nào, ngài có thể nói để con nghe không? Đây là một ông thầy dạy toán hỏi Đức Phật, nếu chúng ta không học bài kinh này mà có một người hỏi thì mình sẽ trả lời là giới – định – tuệ – văn – tư – tu; nhân giới sanh định, nhân định phát tuệ; thứ cơ thành tựu thánh đạo, bất phụ xuất gia chi chí hỷ. Không phải vậy, không đơn giản như vậy, cho nên có khi một người xuất gia cho đến chết cũng chưa được học bài kinh này, chưa được nghe, chưa được đọc.

- Có thể trình bày, này Bà-la-môn, trong Pháp và Luật này, có một tuần tự học tập, có một tuần tự công trình, có một tuần tự đạo lộ. Ví như, này Bà-la-môn, một người huấn luyện ngựa thiện xảo, sau khi được một con ngựa hiền thiện, trước tiên luyện tập cho nó quen mang dây cương, rồi tập luyện cho nó quen các hạnh khác; cũng vậy, này Bà-la-môn, Như Lai khi được một người đáng được điều phục, trước tiên huấn luyện người ấy như sau: "Hãy đến Tỳ-kheo, hãy giữ giới hạnh, hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới". (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)

Mình phải biết kiềm chế, điều phục, mình huấn luyện con ngựa không cho nó trở về bản tánh hoang dã.

Có năm tâm hoang vu này. Thế nào là năm?

Này các Tỳ-kheo, ở đây vị Tỳ-kheo nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín đối với bậc Ðạo Sư. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín đối với bậc Ðạo Sư, Tỳ-kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Khi tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn, như vậy gọi là tâm hoang vu thứ nhất.

Này các Tỳ-kheo, lại nữa, vị Tỳ-kheo nghi ngờ đối với Pháp.... (như trên...) đối với Tăng... (như trên...) đối với Học pháp... tức giận đối với các vị đồng Phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu. Này các Tỳ-kheo, khi một vị Tỳ-kheo phẫn nộ đối với vị đồng Phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu, Tỳ-kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh thần. Như vậy gọi là tân hoang vu thứ năm.

Này các Tỳ-kheo, để đoạn tận năm tâm hoang vu này... Bốn niệm xứ cần phải tu tập (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương IX. Chín Pháp, VII. Phẩm Niệm Xứ, (IX) Năm Tâm Hoang Vu).

Tâm của mình là một cái tâm rừng rú hoang vu cho nên khi mới tu thì phải giữ giới, nếu không sẽ thất bại ngay từ đầu vì tâm chúng ta là tâm hoang dã của những tập khí, thói quen phàm tục, chỉ cần lơi là một chút là buông lung phóng dật, sân si, hơn thua, ganh tị cho nên phải nhờ giới bổn chặn lại, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn. Người mới thọ giới là mỗi ngày đều phải tụng giới chứ không được đợi đến nửa tháng mới tụng, đó là dây cương để trị cái tâm hoang dại, rừng rú của những tập khí thế tục. Vì thế mà ngồi thiền cực kì khó khăn, còn buông lung là cực kì dễ dàng cho nên giữ gìn giới hạnh là tuyệt đối quan trọng. Không cần biết người đó ở trong chùa bao lâu, học đến bằng cấp gì nhưng nếu không có giới đức, giới hạnh là sụp đổ từ đầu, không có oai nghi tế hạnh, không có giới luật là đã sụp đổ từ đầu dù cho học tới đâu, làm được gì thì chỉ là thế gian pháp. Trong giới luật của bậc thánh phải như vậy, căn bản giới phải được thành tựu, bốn giới trọng. Từ căn bản giới, từ sự chế ngự với sự chế ngự của giới bổn mở rộng ra đầy đủ oai nghi chánh hạnh, có bốn oai nghi chính là đi, đứng, nằm, ngồi, ngoài những cái này còn có co, duỗi, cúi, ngước, im, nói, nín, đại tiểu tiện, đây là những oai nghi phụ, phải có đầy đủ hết các oai nghi này, muốn được như vậy thì phải học Thân Hành Niệm. Cử chỉ, hành vi của mình phải có chánh hạnh, luôn có sự hộ trì chánh niệm tỉnh giác trong tất cả cử chỉ, hành vi. Chánh hạnh là không có tà mạng, không có tà ngữ, tà nghiệp, không làm những nghề không phải là nghề của người xuất gia, buôn bán không phải là nghề của người xuất gia vì buôn bán tức là tà hạnh, vì thế mà mình cứ làm rồi bị mất giới, mất giới thì làm sao có định, không có định thì làm sao có tuệ, cuối cùng không có giới – định – tuệ thì làm sao có các bậc thánh Tăng Sơ quả, Nhị quả, Tam quả, Tứ quả A-la-hán có mặt trên đời? Pháp bị hoại diệt, pháp bị ô nhiễm nên luật bị ô nhiễm, luật bị ô nhiễm nên pháp bị ô nhiễm, pháp luật bị ô nhiễm nên thành tích, thành quả, thánh quả không hiện hữu trên đời nữa. Một trong những pháp được Đức Phật nói làm cho chánh pháp cửu trụ được tồn tại lâu dài ở thế gian là tôn kính giới luật, tôn kính thiền định.

Và có năm pháp, này Kassapa, đưa đến sự an trú, bền vững, không biến mất của diệu pháp. Thế nào là năm?

Ở đây, này Kassapa, các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống kính trọng, tùy thuận bậc Ðạo Sư, sống kính trọng, tùy thuận Chánh pháp, sống kính trọng, tùy thuận chúng Tăng, sống kính trọng, tùy thuận học giới, sống kính trọng tùy thuận Thiền định.

Chính năm pháp này, này Kassapa, đưa đến sự an trú, bền vững, không biến mất của diệu pháp. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), XIII. Tượng Pháp)

Mình không tôn kính mà lại xem thường giới, bước đầu tiên đã làm không được thì những bước tiếp theo làm sao thành tựu được? Nền móng căn nhà không có thì làm sao căn nhà đứng vững được? Học những cái này để củng cố lại nền tảng sự tu học của tự thân chúng ta và của những người sau này có duyên với chúng ta. Chánh hạnh là không làm những việc lén lút, mờ ám mà phải quang minh chánh đại, đó gọi là minh chánh, trung trực.

Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng: "Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời". (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua) 

Vì thế mình không được làm những việc tà hạnh, lén lút, giấu giếm mà phải trong sạch, minh bạch, minh chánh, đó gọi là đầy đủ oai nghi chánh hạnh. Còn việc làm lén lút, che giấu là việc làm bất minh, không có đầy đủ oai nghi chánh hạnh. Thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, một lỗi nhỏ thôi mà nhìn thấy sự nguy hiểm trong đó, ví dụ đi ngang thầy giáo thọ mà không chắp tay xá vì thấy chuyện đó nhỏ nhặt, bình thường nhưng lâu ngày thì tâm cung kính, tôn trọng biến mất, trong ba cái quy y Phật, pháp, Tăng thì mình đã mất quy y Tăng, đang nghe pháp lại ngủ, uống nước không còn trang nghiêm, cung kính nữa vì những chuyện này quá bình thường. Chính những cái nhỏ nhặt đó sẽ phá vỡ tất cả giới đức, giới hạnh của người tu và người này từ từ sẽ bất kính đối với Tam Bảo, thối đọa trong thánh pháp, thiện pháp. Thật sự rất khủng khiếp chứ không phải chuyện nhỏ, chiếc thuyền bị chìm cũng vì lỗ thủng nhỏ, cháy nhà có thể vì một mồi lửa nhỏ thôi cho nên phải thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt. Câu này rất quan trọng, tất cả chúng ta không thành công vì xem thường "chuyện đó nhỏ thôi mà", tất cả chuyện đại sự trên đời này đều bắt nguồn bị chuyện nhỏ, chỉ vì hát karaoke mà xảy ra án mạng thì ca hát là chuyện nhỏ hay chuyện lớn? Tiếng đốt pháo 29 Tết, hàng xóm nghe giật mình chạy qua chém chết người, vậy đốt pháo là chuyện nhỏ hay chuyện lớn? Hai chị em nói qua nói lại là giận không nhìn mặt nhau nữa, cả tháng không nói chuyện thì cái nói đó là chuyện nhỏ hay chuyện lớn? Cho nên mình hay xem thường mọi việc, không có chánh niệm tỉnh giác, không để tâm, lần đầu vào học ngồi ngủ là để cho ngủ luôn vậy là nguyên năm học cứ ngủ hoài. Ác pháp sanh, tội lỗi sanh, nghiệp chướng sanh từ chỗ xem thường cái nhỏ, lúc đầu đói bụng ban đêm xuống bếp nấu mì ăn thấy ngại ngùng, nấu nhanh lẹ rồi rón rén bưng tô mì vào phòng, đến lần 2, lần 3, lần thứ n là không còn ngại gì nữa, từ chuyện nhỏ phá hư hết tất cả công trình tu tập, ác pháp sanh khởi phát triển bành trướng thân tâm mà mình không thấy, cứ nghĩ là chuyện nhỏ "làm gì dữ vậy, thôi đừng có chấp", mình chết với câu này. Nếu không chấp thì đói bụng chút đâu có sao, chấp vào cái đói làm gì để xuống nấu mì ăn? Đừng chấp thì giờ học sao lại nói chuyện, ngủ gục? Không chấp thì đừng ngủ, đừng nói chuyện riêng. Cho nên đó chỉ là sự ngụy biện của những lậu hoặc, của những sự buông lung phóng dật vì thế phải thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt. Có nhiều người được thông báo tin bão nhưng không chuẩn bị sớm mà đợi bão vào rồi mới đi gia cố nhà cửa, chuồng trại nên bị gió bão thổi bay rớt nóc nhà chết tại chỗ, đó là sự nguy hiểm trong những cái nhỏ nhiệm, không cẩn thận. Vừa chạy xe vừa livestream, cười nói không chú ý gây tai nạn làm chết 5 mạng người trên xe, cười nói thì có gì quan trọng nên xem thường nó rồi gây tai nạn nghiêm trọng. Trong sự tu của mình còn hơn như vậy rất nhiều, tâm lậu hoặc chỉ cần bị phớt lờ là nó giết mình không cần dao, đừng xem thường dục tham ái, sân si, bản ngã, nó đã giết mình vô lượng vô biên kiếp rồi. Chỉ cần lơ đễnh chút thôi là sẽ bị thối đọa ngay cho nên học cái này rất hay, nó sâu sắc, nhỏ nhiệm, vi tế để mình hành trì rồi sẽ thấy hiệu quả bất ngờ của nó, khi tiếp xúc với huynh đệ cũng như cư sĩ đều phải có chánh niệm tỉnh giác, không phải vui rồi muốn nói gì là nói, không phải giận rồi muốn nói gì là nói mà phải biết chế ngự khẩu nghiệp, lời nói đã thốt ra rồi không bao giờ lấy lại được, suốt đời ray rứt không thoát ra được, có khi chỉ vì một lời nói không có chánh niệm, một lời nói phát ra từ tâm sân, bản ngã làm thầy trò chia cách mãi mãi, huynh đệ không nhìn mặt nhau.

Thọ trì và học tập các học giới, thọ là nhận, trì là giữ, thọ trì là tiếp nhận và giữ gìn. Nếu không chấp nhận thì không có sự giữ gìn, học thì học nhưng ý hành lại khởi lên "làm gì khó dữ vậy", như vậy là không thọ, đã không thọ thì không trì, không giữ gìn cái pháp đó cho nên thọ là tâm mình chấp nhận và giữ gìn pháp đó và khi có chuyện gì xảy ra cũng đem cái pháp đó ra thực tập thì mới gọi là thọ trì 24 oai nghi và 100 pháp chúng học. Tất cả những cái pháp trong giới đó phải được tụng niệm hằng ngày, phải được ôn tập, nhắc nhở, tiếp nhận và giữ gìn những điều đó, phải chấp nhận học pháp.

Này Bà-la-môn, khi vị Tỳ-kheo giữ giới hạnh, chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỳ-kheo, hãy hộ trì các căn, khi mắt thấy sắc chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị Tỳ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng.... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị… thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các pháp ác bất thiện khởi lên, Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn". (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)

Hộ trì các căn khi con mắt nhìn thấy sắc nhưng không nắm giữ tướng chung, tướng riêng của sắc đó. "Do duyên có con mắt, có sắc, sanh khởi lên sự rõ biết các sắc" là duyên sanh pháp của con mắt, nếu không học khi tiếp duyên xúc cảnh sẽ không biết tu như thế nào. Sự tu học trong kinh Nikāya là bằng trí tuệ để nhìn thấy các pháp đang có mặt, đang vận hành trong 6 căn. Đức Phật nói do có con mắt, do có các sắc khởi lên sự rõ biết các sắc, ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau tạo ra sự tiếp xúc của con mắt gọi là nhãn xúc. Khi con mắt tiếp xúc sanh thọ do nhãn xúc sanh, sanh ra cảm giác, nếu không học mình hoàn toàn không biết duyên sanh pháp mà chỉ thấy món đồ đó đẹp, người đó dễ thương/dễ ghét, chùa lớn hay nhỏ chứ không thấy được các pháp. Khi nhìn cái gì đó thì mình biết rằng do có con mắt, do có sắc khởi lên sự rõ biết sắc, ba pháp này hội tụ tạo thành sự tiếp xúc con mắt, khi con mắt tiếp xúc sanh ra cảm thọ, cảm giác. Nếu tiếp xúc với cái dễ thương sanh ra cảm giác tham ái, nếu tiếp xúc với cái không ưa sanh ra cảm giác sân, nếu tiếp xúc với cái không ghét không thương sanh ra si, không thấy cái pháp cho nên nếu không có chánh kiến, không có sự quán chiếu thì cái nào cũng chết, thương cũng chết, ghét cũng không, không thương không ghét cũng chết. Không thực hành pháp sẽ chết trong bóng đêm của vô minh, tham ái, si ám và chấp thủ, không thấy được sự thật bản chất của pháp vì thế học duyên sanh pháp để biết hộ trì căn.

Bây giờ làm sao để nhìn một sắc mà không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng? Khi nhìn bao quát một người là tướng chung, để ý từng chi tiết trên cơ thể là tướng riêng. Tiếp xúc hình bóng, vóc dáng đó trở về nhà rồi mà còn hiện lại trong tâm mình thì đó là nắm giữ, cho nên không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng là cả một công phu khi con mắt tiếp xúc với sắc, chính vì vậy mà các bậc chân tu không nhìn chằm chằm, không nhìn thẳng vào một đối tượng nào đó, nhìn mà có sự phòng hộ, bảo hộ trong đó, không phải chỉ có con mắt mà tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều phải có sự phòng hộ khi tiếp xúc. Nếu không khéo khi nhìn sẽ thu nhập tướng chung, tướng riêng rồi đi vào tâm, thọ cái pháp đó khi trở về hình bóng đó sẽ hiện ra trong tâm. Ví dụ khi ở trong chùa không sao nhưng khi bước vào chợ, đi vào chỗ đông người sẽ thế nào? Mình sẽ bị các sắc xâm chiếm, áp đảo do không thấy đó chỉ là sắc pháp, tứ đại vô thường, thấy cái gì đẹp là muốn chụp hình lưu lại, phải chụp vài kiểu mới được chứ một kiểu không đủ, chụp lại rồi dùng phần mềm chỉnh ảnh cho da mặt căng mịn ra, chụp lại là mê sắc pháp rồi còn làm cho mê chồng mê để giả dối, lừa gạt. Khi nhìn tấm hình rồi ái là thích, mê là tham và chấp thủ vào đó, giữ tấm hình lại để mai đây thờ tự, nhưng nhớ mình sẽ chết còn đỡ đằng này không nhớ đến cái chết, cứ nghĩ mình còn hoài. Vì thế khi mắt nhìn sắc mà không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng là cả một công phu kĩ lưỡng, thận trọng, vi tế của tâm, còn mình thấy cảnh đẹp, người đẹp đều nắm bắt hết, khi nắm bắt thì tham, ái, ưu, bi khởi lên trong tâm, nếu cảnh đẹp thì ham thích, lưu giữ trong tâm còn cảnh xấu thì bực, khó chịu, không thì lo lắng, sợ hãi, đó là các pháp sanh khởi xâm chiếm làm nội tâm bất an, bất định, không thiền định được vì đã nắm giữ tướng chung, tướng riêng của sắc pháp. Khi nội tâm đầy rẫy mọi thứ thì ngồi lại là nó hiện lên những hình bóng, nghĩ tưởng thì làm sao mình định được? Gặp cái gì cũng nắm bắt, nắm giữ thì đó là nội tâm cấu uế, ô nhiễm. Cái phòng ngủ một ngày quét mấy lần? Ít nhất cũng 1-2 lần mà căn phòng nội tâm lại bỏ quên không quét dọn, chính vì không sạch sẽ, gọn gàng nên khi ngồi đối diện nội tâm chịu không nổi, bao nhiêu hình bóng, nghĩ tưởng, cảm giác sanh khởi liên tục làm mình bất an không ngồi thiền được vì không có sự hộ trì. Tai nghe một tiếng nói thôi là sôi sùng sục lên hoặc cũng có thể chỉ vì một tiếng nói trong điện thoại thôi có thể gây thương nhớ ngày đêm, nghe xong một lời nói đường mật ngọt ngào là tơ tưởng, khoái chí, dính mắc trong đó, thanh tưởng cứ vang trong tâm còn khi nãy là sắc tưởng, hình bóng của sắc tưởng đó xâm chiếm, ám ảnh nội tâm nên khi thiền thì hình bóng đó hiện ra, vì vậy mà tham ái cũng chết, sân hận cũng chết, còn si thì khỏi cần nói, thọ nhận rồi là ngu mê luôn, không còn biết gì nữa. Vì thế mà 6 trần rất khủng khiếp, 6 trần là 6 thứ bụi bay vào dính trong người nên phải hộ trì tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Khi mũi tiếp xúc với mùi mà thơm tho thì tham, còn mùi khó chịu thì sân, đi nhanh ra khỏi đó. Cái lưỡi ngoài việc nói thị phi, đôi co, phải quấy còn ăn nữa, đưa vị vào lưỡi là cả triệu dây thần kinh hoạt động liên tục./.