Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Năm Triền Cái 9 - Sự Nguy Hại Của Sân Hận 2

2026-03-03 00:54:55
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

NĂM TRIỀN CÁI 9

SỰ NGUY HẠI CỦA SÂN HẬN 2

–Thích Minh Thành–

Bên ngoài càng biến động nhiều chừng nào thì chúng ta càng phải vững trú trong pháp nhiều chừng đó, chúng ta càng phải tu học nhiều hơn bình thường vì yếu đuối là gió thổi bay mất. Hiện tại là dịch bệnh, thiên tai, lũ lụt… có biết bao cảnh thê thảm, khổ đau, bất an, lo lắng và sợ hãi, không biết chúng ta còn sống được bao lâu nữa cho nên ở ngoài càng biến động thì chúng ta càng phải an trú vào pháp thật nhiều.

Minh Thành nhớ khoảng thời gian đi qua Myanmar, ấn tượng suốt đời không quên là lúc vào thăm ngôi chùa của vị Tam tạng pháp sư, đó là một vị thầy học thuộc tạng kinh, tạng luật và tạng luận, hình ảnh không quên được là các thầy, các sư, các chú tiểu đi tới đi lui đọc kinh vang vọng cả ngôi chùa, khi thấy hình ảnh đó thì Minh Thành ao ước Linh Quy của mình cũng có pháp âm vang dội suốt ngày, nếu không thì cũng ngồi thiền, đọc kinh, tụng kinh, pháp đàm. Minh Thành không muốn nghe những lời phải quấy thị phi, không thích nghe những chuyện thế sự, thế ngữ, chỉ mong muốn đạo tràng chúng ta lúc nào cũng có pháp âm vang dội, bất cứ ai cũng có thể chia sẻ, nếu không thì thiền tập, như vậy nếu mình có ra đi bất ngờ cũng không hối hận.

Bây giờ có hơn trăm triệu người bị trầm cảm, có triệu chứng tâm lý trên toàn thế giới vì đại dịch, người ta bị bức bách, bức xúc, mất công ăn việc làm, bị nhốt trong nhà, trong khu cách ly và những sự căng thẳng, lo âu, sợ hãi khác làm người ta đau khổ, cho nên đây là giai đoạn chúng ta cần tu học nhiều hơn bình thường. Minh Thành mong muốn mình có những phương pháp học mới năng động hơn, trình pháp thường xuyên, pháp đàm thường xuyên, ghi chép, viết bài, an trú trong pháp thật nhiều trong giai đoạn này.

Hôm nay chúng ta tìm hiểu năm triền cái, chủ đề này chia sẻ trong trường Phật học được tám buổi nhưng chỉ mới được một phần của tham và đi vào phần đầu tiên của sân, năm triền cái là phần rất quan trọng mà chúng ta phải thấy, phải biết, phải hiểu, phải nhiếp phục, tẩy sạch và đoạn tận nó.

 "- Có năm nguy hại này cho người không kham nhẫn. Thế nào là năm?

Quần chúng không ái mộ, không ưa thích; nhiều người hận thù; nhiều người tránh né; khi mạng chung, tâm bị mê loạn; sau khi thân hoại mạng chung; sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Này các Tỳ-kheo, có năm nguy hại này cho người không kham nhẫn.

Này các Tỳ-kheo, có năm lợi ích này cho người có kham nhẫn. Thế nào là năm?

Quần chúng ái mộ, ưa thích; không có người hận thù; không có nhiều người tránh né; khi mạng chung, tâm không bị mê loạn; sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

Này các Tỳ-kheo, có năm lợi ích này cho người có kham nhẫn". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XXII. Phẩm Mắng Nhiếc. (V). Không Kham Nhẫn (1))

Trên đây Đức Phật dạy chúng ta cách đối trị của sân, sự nguy hiểm và tác hại, sự tổn hại của cảm giác tức giận đem lại đau khổ cho chúng ta. Không tu tập nhúng nhường, không tu tập nhiếp phục các cảm xúc nóng bức, sân hận thì hiện tại không ai thích người mang nhiều hận thù, ai cũng xa lánh, tránh né, khi gần chết tâm hôn mê và rối loạn, sau khi chết sanh và ba đường ác.

Chúng ta cần biết rằng bản kinh chúng ta đang cầm trên tay là máu, mồ hôi, nước mắt và cả sự chứng ngộ của Đức Phật, chỉ riêng cách cầm kinh để xem cũng thể hiện tâm cung kính pháp, quy y tam bảo của mình. Người nào biết nhẫn nhịn, biết nhiếp phục cảm thọ sân hận, tức giận sẽ có năm lợi ích, được mọi người ưa thích, không có kẻ thù, ai cũng thích lại gần, khi sắp chết tâm được tỉnh táo, đời sau được sanh cõi lành, thiên giới hoặc sanh lại cõi đời này cũng được vào nơi tốt lành, có thân thể lành lặn, có trí tuệ sáng suốt, có đầy đủ phương tiện.

Đó là năm lợi ích của người tu tập tâm ly sân, lìa sân, tập cảm thọ an tịnh lắng dịu, không dễ bị bức xúc, người đó đi đâu cũng có nhiều người đến gần. Từ lúc bệnh đến sau khi chết đều được lợi lạc, còn người thường có sự nóng giận, sân hận thì cuộc sống lúc bình thường đã khổ vì cảm thọ thiêu đốt trong tâm, nhiều người xa lánh, nhiều kẻ thù, lúc bệnh thì tâm hôn mê, rối loạn, sau khi chết lại đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đó là cái lợi và cái hại của việc không biết tu tập nhiếp phục cảm thọ sân hận và biết tu tập nhiếp phục.

"- Tỳ-kheo nào, này các Tỳ-kheo, là người gây ra cãi cọ, là người gây ra tranh luận, là người gây ra đấu tranh, là người gây ra các cuộc đấu khẩu, là người gây ra kiện tụng trong Tăng chúng. Vị ấy được chờ đợi năm sự nguy hại. Thế nào là năm?

Không chứng điều chưa chứng được; thối thất điều đã chứng được; tiếng ác đồn khắp; khi mạng chung, tâm bị mê loạn; sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Tỳ-kheo nào, này các Tỳ-kheo, là người gây ra cãi cọ, là người gây ra tranh luận, là người gây ra đấu tranh, là người gây ra đấu khẩu, là người gây ra kiện tụng trong Tăng chúng. Vị ấy được chờ đợi năm sự nguy hại này". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XXII. Phẩm Mắng Nhiếc, (II). Ðấu Tranh)

Chữ "Tỳ-kheo" trong đây dùng cho tất cả người tu, kể cả cư sĩ, sau đây là những hình ảnh, ví dụ liên hệ đến sự sân hận.

"- Này các Tỳ-kheo, có bốn loại rắn. Thế nào là bốn?

Loại rắn có nọc độc, nhưng không ác độc; loại ác độc nhưng không nọc độc; loại có nọc độc và ác độc; loại không có nọc độc, không có ác độc. Này các Tỳ-kheo, có bốn loại rắn độc này.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, có bốn hạng người được ví dụ với các loại rắn này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?

Hạng người có nọc độc nhưng không ác độc; hạng người ác độc nhưng không nọc độc; hạng người có nọc độc, có ác độc; hạng người không có nọc độc, không có ác độc.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người có nọc độc, nhưng không ác độc?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người rất mau phẫn nộ, nhưng phẫn nộ không tồn tại lâu dài. Như vậy là hạng người có nọc độc, nhưng không ác độc. Ví như, này các Tỳ-kheo, loại rắn có nọc độc, nhưng không ác độc ấy, Ta nói rằng, này các Tỳ-kheo, hạng người này giống như ví dụ ấy.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người có ác độc, nhưng không có nọc độc?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người không mau phẫn nộ, nhưng phẫn nộ tồn tại lâu dài. Như vậy là hạng người có ác độc, nhưng không có nọc... giống như ví dụ ấy.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người có nọc độc và có ác độc?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người rất mau phẫn nộ và phẫn nộ tồn tại lâu dài. Như vậy là hạng người có nọc độc và có ác độc... giống như ví dụ ấy.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người không có nọc độc và không có ác độc?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người không mau phẫn nộ và phẫn nộ không tồn tại lâu dài. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là hạng người không có nọc độc, và không có ác độc. Ví như, này các Tỳ-kheo, loại rắn không có nọc độc, không có ác độc ấy, Ta nói rằng, hạng người này giống như ví dụ ấy.

Có bốn hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XI. Phẩm Mây Mưa, (X). Các Con Rắn)

Nói đơn giản là loại rắn thứ nhất có nọc nhưng không độc, loại thứ hai là con rắn dữ nhưng không có nọc độc, loại thứ ba vừa dữ vừa có nọc độc, loại thứ tư là không có nọc cũng không hung dữ. Cũng vậy, hạng người thứ nhất là mau giận nhưng cơn giận mau nguội, như vậy là có sân nhưng cái sân không kéo dài, không âm ỉ trong lòng, hạng người thứ hai là ít giận nhưng khi đã giận là kéo dài, hạng người thứ ba là dễ tức giận và tức giận tồn tại lâu dài, hạng người thứ tư ít giận, nếu có giận thì cái giận cũng mau tan biến. Tùy theo mức độ của tâm sân sâu nặng, mạnh yếu, dày mỏng thế nào thì biểu hiện ra ngoài thế đó, rắn độc là cực kì độc vì tâm sân hận tích chứa để sanh ra chất độc như vậy, đó là sự tích tụ của những cảm thọ sân hận, thù hằn, ác độc.

Trên đời này có rất nhiều con vật nhưng Đức Phật lại ví dụ bốn loại rắn, chúng ta phải chiêm nghiệm điều này, tâm sân hận ác độc tương ứng với hình tướng, cơ thể như vậy và tương ứng với bên trong là những nọc độc nguy hiểm làm người ta đau đớn, chết chóc. Mình phải thường nhìn lại trong bốn hạng người này mình thuộc hạng người nào, mỗi lần tâm sân hận sanh khởi là tác ý "người không muốn làm mà muốn làm rắn hay sao?", "có thân tướng tốt lành không muốn lại muốn một thân chứa đầy nọc độc hay sao?", tác ý như vậy để đánh đuổi những cảm thọ ác, hận thù, độc hại, nguy hiểm. Những hạng người này nếu nặng sẽ rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và rơi vào những thân tướng như Đức Phật nói, nếu nhẹ được làm người thì họ sẽ mang hình dáng hung dữ, trong người chất chứa cảm thọ nhiệt não, có những hành vi đấu khẩu, đấu tranh, kiện tụng. Chúng ta thấy rắn là chúng ta sợ hãi thì chúng ta phải sợ tâm sân, cảm thọ tức giận cũng giống như vậy, đừng để cảm thọ nóng bức, nhiệt não đó khống chế, xâm chiếm thân tâm.

"- Ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người như chữ viết trên đá, hạng người như chữ viết trên đất, hạng người như chữ viết trên nước.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người như chữ viết trên đá?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người luôn luôn phẫn nộ và phẫn nộ của người này tiếp tục lâu dài. Này các Tỳ-kheo, ví như chữ viết trên đá không bị gió hay nước tẩy xóa mau chóng, được tồn tại lâu dài. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có người luôn luôn phẫn nộ và phẫn nộ của người này tiếp tục lâu dài. Này các Tỳ-kheo, đây được gọi là hạng người như chữ được viết trên đá". (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, XIII. Phẩm Kusinàra, Chữ Viết Trên Ðá, Trên Ðất, Trên Nước)

Những cảnh mẹ chồng nàng dâu, chị chồng em dâu giận nhau, hận nhau khổ sở, suốt ngày phải sống với những cảm giác bực tức, giận hờn, hễ nhớ lại là khó chịu, hình bóng, lời nói, suy nghĩ và cảm thọ cứ nung nấu lên thì làm sao sung sướng được. Những cảm giác an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào rất hạnh phúc an lạc nhưng không muốn mà cứ đi chất chứa những cảm xúc này.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người như chữ viết trên đất?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người luôn luôn phẫn nộ và phẫn nộ của người này không tiếp tục lâu dài. Này các Tỳ-kheo, ví như chữ viết trên đất bị gió hay nước tẩy xóa mau chóng, không có tồn tại lâu dài. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có người luôn luôn phẫn nộ và phẫn nộ của người này không có tiếp tục lâu dài. Này các Tỳ-kheo, đây được gọi là hạng người như chữ được viết trên đất". (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, XIII. Phẩm Kusinàra, Chữ Viết Trên Ðá, Trên Ðất, Trên Nước)

Người này rất hay giận, dễ sân giận, cau có nhưng cũng mau hết giận.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người như chữ viết trên nước?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người dầu bị nói một cách kịch liệt, dầu có bị nói một cách ác độc, dầu có bị nói một cách thô lỗ, tuy vậy vẫn dễ dàng hòa hợp, thân thiện, và hoan hỷ. Này các Tỳ-kheo, ví như chữ viết trên nước được mau chóng biến mất, không có tồn tại lâu dài. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, có người dầu bị nói một cách kịch liệt, dầu có bị nói một cách ác độc, dầu có bị nói một cách thô lỗ, tuy vậy vẫn dễ dàng hòa hợp, thân thiện, và hoan hỷ. Này các Tỳ-kheo, đây được gọi là hạng người như chữ được viết trên nước.

Ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời". (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, XIII. Phẩm Kusinàra, Chữ Viết Trên Ðá, Trên Ðất, Trên Nước)

Bị mắng chửi, khinh khi, hủy nhục kịch liệt, bị đối xử thô lỗ nhưng người này vẫn dễ dàng thân thiện, hoan hỉ, giống như chữ viết trên nước.

"- Có sáu gốc rễ đấu tranh này, này các Tỳ-kheo. Thế nào là sáu?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo phẫn nộ và hiềm hận.

Này các Tỳ-kheo, ở đây, vị Tỳ-kheo phẫn nộ, hiềm hận. Này các Tỳ-kheo, ai phẫn nộ, hiềm hận, vị ấy sống không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư, sống không cung kính, không tùy thuận Pháp, sống không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các Học pháp. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo sống không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư, không cung kính, không tùy thuận Pháp, không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các Học pháp, vị ấy khởi lên tranh luận giữa chư Tăng. Tranh luận như vậy khiến nhiều người không hạnh phúc, khiến nhiều người không an lạc, khiến nhiều người không lợi ích, khiến chư Thiên và loài Người không hạnh phúc và đau khổ. Này các Tỳ-kheo, nếu các Thầy thấy ác tranh căn ấy giữa các Thầy hay ngoài các Thầy, này các Tỳ-kheo, các Thầy phải cố gắng đoạn trừ ác tranh căn ấy. Này các Tỳ-kheo, nếu các Thầy không thấy ác tranh căn ấy giữa các Thầy hay ngoài các Thấy, này các Tỷ kheo, các Thầy hãy tác động đừng cho ác tranh căn ấy có cơ hội làm hại trong tương lai. Như vậy là đoạn tận ác tranh căn ấy. Như vậy là ngăn chận nguy hại ác tránh căn ấy trong tương lai". (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, IV. Phẩm Chư Thiên, (VI). Gốc Rễ Của Ðấu Tranh)

Ác là ác độc, căn là gốc rễ, tranh là tranh đấu, ác tranh căn là gốc rễ của sự tranh đấu ác độc, nếu thấy có mầm mống của sự cạnh tranh, đấu tranh thì phải lập tức đoạn trừ. Đức Phật nói gốc rễ của sự tranh đấu là sống không cung kính, không tùy thuận Đức Thế Tôn, bậc đạo sư hướng dẫn mình tu học, không cung kính, không tùy thuận pháp, không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các học pháp, ở bên trong ôm ấp sự tức giận, còn bên ngoài sống không cung kính, tùy thuận bậc đạo sư vì nếu mình cung kính, làm theo lời dạy thì mình không ôm ấp sự hiềm hận. Sống mà cứ chất chứa sự tức giận, những điều không hài lòng, bức xúc còn bên ngoài không nghe lời bậc đạo sư, không thuận theo sự thanh tịnh của chúng Tăng, không có đầy đủ các học pháp để ngăn chặn sự hiềm hận thì làm ra sáu gốc rễ của đấu tranh.

Chư Tăng là chỗ nương dựa của bảy chúng, là chỗ nương tựa của chư thiên và loài người, các phi nhân, Dạ-xoa, ngạ quỷ, các vị Thánh ở thế gian cũng nương tựa vào chúng Tăng, nương tựa pháp nhưng ở đây chúng Tăng lại tranh đấu, chia nhóm thì làm cho chư thiên và loài người bị mất nhiều lợi ích.

"Tại Kosambi, trong tinh xá Ghosita có hai Tỳ-kheo trú ngụ, một vị là luật sư, vị kia là pháp sư, mỗi vị dẫn đầu năm trăm tăng. Một hôm, vị pháp sư sau khi tắm xong đã chừa lại một ít nước trong bồn tắm và đi ra. Kế đó, vị luật sư đi vào thấy nước dư, lúc trở ra ngoài ông hỏi bạn:

- Này huynh, có phải huynh đã chừa nước lại không?

Vị pháp sư đáp:

- Vâng, huynh ạ!

- Nhưng huynh không biết là đã phạm lỗi sao?

- Thật ra tôi không biết.

- Này huynh, đó là một lỗi.

- Như thế, tôi sẽ sám hối về lỗi ấy.

- Dĩ nhiên, này huynh! Nếu huynh không cố ý làm, vô tâm thì không gọi là lỗi.
Nghe vị luật sư bảo thế, vị pháp sư yên chí xem như không có lỗi. Ấy thế mà vị luật sư lại nói với học chúng của mình:

- Vị pháp sư dù đã phạm lỗi vẫn không thấy lỗi.

Và nhóm học chúng này khi gặp nhóm học chúng của vị pháp sư liền kháo nhau:
- Thầy của các anh đã phạm lỗi mà không nhận lỗi.

Học chúng của vị pháp sư về kể lại với thầy mình. Vị pháp sư nghe qua liền đáp:
- Vị luật sư này trước đó đã nói là không lỗi, bây giờ nói có lỗi. Ông ta là người dối trá.

Học chúng của hai bên gặp nhau, rồi lời qua tiếng lại:

- Thầy của các huynh là người dối trá!

Họ tranh cãi nhau. Và vị luật sư thừa cơ hội tuyên án tẩn xuất vị pháp sư vì đã không nhận lỗi. Từ đó, ngay đến những thí chủ cúng dường cho họ cũng chia làm hai phe, ngay cả những cô ni được họ dạy, cả thiện thần hộ pháp, bạn bè và những người thân tín, chư thiên trên trời, lan đến Phạm thiên đều như thế. Mọi người, ngay cả những người chưa quy y cũng chia làm hai phe. Sự tranh cãi lan rộng từ rời Tứ thiên vương cho đến trời Đế Thích.

Đến mức độ đó thì có một Tỳ-kheo tới gần Thế Tôn thưa kể tự sự: "Những người tuyên án tẩn xuất thì giữ quan điểm rằng pháp sư bị tẩn xuất là đúng luật, ngược lại những người bênh vực thì cho rằng trái luật, và tụ họp lại để ủng hộ pháp sư mặc dù những người tuyên bố tẩn xuất cấm họ làm như vậy". Đã hai lần Thế Tôn nhắn hai bên Tỳ-kheo hãy đoàn kết, và đều nhận được câu trả lời:

- Bạch Thế Tôn! Họ không chịu đoàn kết.

Lần thứ ba, Thế Tôn bảo:

- Tăng đoàn đã bị chia rẽ!

Nói xong, Phật đến chỗ các Tỳ-kheo và chỉ cho nhóm vị Tỳ-kheo luật sư, người tuyên bố tẩn xuất, sự sai lầm trong quyết định ấy, và đối với nhóm vị Tỳ-kheo pháp sư, người không nhận lỗi, Ngài cũng chỉ sự sai lầm trong hành động ấy. Một lần nữa, Phật bắt các Tỳ-kheo kiết trai và khiến họ hành sám ngay tại chỗ, trong khu vực giới hạn. Ngài đặt luật cho các Tỳ-kheo, nếu gây gổ trong phòng ăn hoặc các nơi khác, họ bắt buộc phải ngồi chỗ riêng biệt trong trai đường.
Nhưng các Tỳ-kheo vẫn không ngừng gây nhau, đức Phật lại đi đến nơi và khuyên răn:
- Đủ rồi, các Tỳ-kheo! Đừng gây gổ nữa! Gây gổ, đấu tranh, tranh chấp, tranh cãi, mọi thứ này đều nguy hại. Bởi lẽ vì tranh cãi một con chim bé bỏng cũng làm một con voi quý phải chết.

Và đức Phật kể chuyện Bổn Sanh "Con Chim Nhỏ". Ngài dạy tiếp:

- Các Tỳ-kheo, hãy đoàn kết! Hãy dừng tranh cãi, vì sự tranh cãi mà hàng ngàn con chim nhỏ đã mất mạng.

Và Ngài kể chuyện Bổn Sanh 'Những Con Chim'. Nhưng dù vậy họ vẫn không nghe lời Phật, và một ngoại đạo muốn Phật bớt phiền nhiễu, thưa rằng:
- Bạch Ngài, đấng Thế Tôn, đấng Pháp Vương! Hãy ở nhà! Đấng Thế Tôn! Ngài hãy sống một đời vô sự và tự tại ở cõi này. Chúng con có gây gổ, đấu tranh, tranh chấp, tranh cãi nhau mới làm sáng tỏ ai phải ai trái.

Liền đó, đức Phật kể chuyện Bổn Sanh như sau: 'Có một lần, này các Tỳ-kheo, Phạm-ma-đạt trị vì Ba-la-nại, là vua xứ Kāsi. Phạm-ma-đạt gây chiến với vua Dīghati KoSala, đánh chiếm vương quốc và giết vua khi đang cải trang. Con trai của Dīghati là hoàng tử Dīghāvu, mặc dù biết rằng Phạm-ma-đạt là kẻ giết cha mình, vẫn tha mạng kẻ thù. Do đó họ sống hòa bình với nhau'.
Và Ngài huấn thị các Tỳ-kheo:

- Này các Tỳ-kheo, lòng kiên nhẫn và tư cách phong nhã của những ông vua hay sử dụng dao gậy cao đẹp thế đó. Tỳ-kheo, các ông là những kẻ xuất gia được giáo huấn bằng Pháp và Luật chu đáo như thế, phải làm sao chiếu sáng thế gian hơn với lòng kiên nhẫn và tư cách cao nhã của các ông chứ. Dù đã được khuyên nhủ như thế, các Tỳ-kheo vẫn không đoàn kết theo lời Phật. Không vui vì phải sống trong cảnh ồn náo, không thoải mái vì bị quấy rầy, hơn nữa các Tỳ-kheo này không đếm xỉa đến lời Phật dạy, nên Thế Tôn quyết định sống độc cư tránh xa đám người chộn rộn. Sau khi đi khất thực ở Câu-thâm, không từ giã Tăng đoàn, đức Phật đắp y, ôm bát, một mình đi đến Bālaka, chỗ bán muối, tại đây Ngài thuyết pháp cho Trưởng lão Bhagu về đời sống độc cư. Rồi Ngài đến Đông Trúc Lộc Giã, và thuyết pháp cho ba chàng trai gia thế về hạnh phúc an lành của sự hòa hợp. Và từ đó, Ngài đến Pārileyyaka. Ở đó, dưới gốc cây Sala đẹp đẽ, trong rừng Bảo Hộ, đức Thế Tôn đã trải qua một mùa hạ an vui, có voi Pārileyyaka phục vụ.

Khi nhóm cư sĩ ở Câu-thâm đến tinh xá và không gặp đấng Đạo sư, họ hỏi các Tỳ-kheo:

- Thưa chư Tôn giả, đấng Đạo sư đi đâu?

Các Tỳ-kheo đáp:

- Vào rừng Pārileyyaka.

- Tại sao thế?

- Ngài cố gắng hòa hợp chúng tôi, nhưng chúng tôi không hòa hợp được.

- Này chư Tôn giả, có phải các vị, sau khi được chấp nhận là Tỳ-kheo dưới sự lãnh đạo của Đạo sư, lại cãi lời Ngài lúc Ngài yêu cầu các vị hòa hợp?

- Đúng thế, đạo hữu.

Rồi có người nói tiếp:

- Những vị Tỳ-kheo này, sau khi được thu nhận làm Tỳ-kheo dưới sự lãnh đạo của Đạo sư, lại không muốn hàn gắn những rạn nứt theo lời yêu cầu của Ngài. Đây hoàn toàn do lỗi của họ mà chúng ta không được gặp Phật. Đối với những Tỳ-kheo này, chúng ta nhất quyết sẽ không mời ngồi và cũng không bao giờ kính lễ hoặc cúng dường nữa.

Và từ đó họ không thèm cúng kính các Tỳ-kheo nữa. Hậu quả là các Tỳ-kheo bị thiếu vật thực và gần chết đói, nên chỉ sau vài ngày các Tỳ-kheo đã biết phục thiện. Rồi họ sám hối nhau, xin được tha thứ. Họ bảo các cư sĩ:

- Đạo hữu! Chúng tôi đã hòa hợp. Xin đối với chúng tôi như xưa.

- Thưa chư Tôn giả, các vị xin sám hối với đức Thế Tôn chưa?

- Chưa, đạo hữu.

- Vậy thì hãy xin sám hối Thế Tôn. Và ngay khi được Phật tha lỗi, chúng tôi sẽ trở lại với các vị như trước". (Trích Những Vị Tỳ-kheo Hay Cãi Cọ… Ở Xứ Câu Thâm (Kosambi))

Từ câu chuyện này mình suy xét ra trong chùa hay trong nhà mình cũng giống vậy. Không có chuyện gì lớn cả nhưng với tâm sân hận, tức giận là chuyện nhỏ xé to, chuyện to thành chuyện đại sự, chuyện đại sự thành hình sự, còn người tu là chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ thành không. Vì thế nếu thấy có gốc rễ của sự tranh đấu là phải lập tức trừ diệt, đoạn tận, trong đạo tràng, huynh đệ, tỉ muội, thầy trò, trong gia đình phải lập tức trừ diệt, giải tỏa gốc rễ của tranh đấu đó, đừng chất chứa trong tâm, phải diệt tận từ trong những suy nghĩ, cảm thọ chứ đừng để xảy ra bất hòa, tranh cãi.

Người tu là vô tranh, Đức Phật chỉ ra cho mình cội nguồn của sự tranh đấu và bất hạnh trong bài kinh này, không những phải ngăn chặn chuyện đã rồi hoặc chuyện đang xảy ra trong hiện tại mà còn phải tác động tâm ý để ngăn chặn trong tương lai, khi chưa có chuyện phải tác ý, đang có cũng phải tác ý và tác ý ngăn chặn không để sanh khởi trong tương lai. Nếu biết xử lý thì không có một cái gì chất chứa trong tâm, không hề có hiềm hận, oán giận người khác.

"Này các Tỳ-kheo, lại nữa, vị Tỳ-kheo giả dối và não hại... tật đố và xan tham... lừa đảo và man trá... ác dục và tà kiến... chấp trước sở kiến, kiên trì gìn giữ, rất khó rời bỏ. Này các Hiền giả, Tỳ-kheo chấp trước sở kiến, kiên trì gìn giữ, rất khó rời bỏ, vị ấy sống không cung kính, không tùy thuận bậc đạo Sư, không cung kính, không tùy thuận Pháp, không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các Học pháp. Này các Hiền giả, Tỳ-kheo không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư... Pháp... Tăng... không thành tựu đầy đủ các Học pháp, vị ấy khởi lên tranh luận giữa chư Tăng. Tranh luận như vậy khiến nhiều người không hạnh phúc, khiến nhiều người không an lạc, khiến nhiều người không ích lợi, khiến chư Thiên và loài Người không hạnh phúc và đau khổ. Này các Tỳ-kheo, nếu các Thầy thấy được ác tranh căn ấy giữa các Thầy hay ngoài các Thầy, các Thầy phải cố gắng đoạn trừ ác tranh căn ấy. Này các Tỳ-kheo, nếu các Thầy không thấy ác tranh căn ấy giữa các Thầy hay ngoài các Thầy, các Thầy hãy gìn giữ đừng cho ác tranh căn ấy có cơ hội làm hại trong tương lai. Như vậy là sự đoạn tận ác tránh căn ấy. Như vậy là ngăn chặn nguy hại ác tranh căn ấy trong tương lai.

Này các Tỳ-kheo, đây là sáu tranh căn". (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, IV. Phẩm Chư Thiên, (VI). Gốc Rễ Của Ðấu Tranh)

Ngoài phẫn nộ, hiềm hận, Đức Phật nói thêm giả dối, não hại, tật đố, xan tham, ác dục, tà kiến, lừa đảo, man trá, chấp trước cái thấy biết, giữ chặt không từ bỏ… Những cái này cũng là ác pháp đưa đến bất hòa, bất an trong Tăng chúng, dối trá là không chân thật, não hại là làm cho người khác phiền não, tật đố là ganh tỵ, thấy người khác được khen là không thích, người kia giỏi hơn mình là không chịu, thấy người ta được cung kính nhiều hơn là khó chịu, xan tham là tham lam, keo kiệt, man trá là dối trá, ác dục là những tham muốn ác độc, tà kiến là cái thấy sai lầm, mình nắm chặt trong cái thấy biết, giữ chặt cái thấy biết của mình và cho là đúng, ai khuyên, ai bảo cũng không nghe, những cái đó cộng với việc không cung kính, không thuận theo tam bảo, không thành tựu đầy đủ các học pháp sẽ làm sanh khởi lên sự tranh luận trong đoàn thể, làm cho chính người đó bất an, làm cho đoàn thể mất lợi ích, cả chư thiên và loài người đau khổ.

"- Này các Tỳ-kheo, có bảy pháp này được người thù địch ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hay đàn ông. Thế nào là bảy?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: "Mong rằng kẻ này trở thành xấu xí!' Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, người thù địch không hoan hỉ kẻ thù địch của mình có dung sắc. Này các Tỳ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, dầu cho người ấy khéo tắm rửa, khéo chải chuốt, tóc râu khéo sửa soạn, mặc toàn đồ trắng rồi người ấy cũng trở thành xấu xí, vì bị phẫn nộ chinh phục. Này các Tỳ-kheo, đây là pháp thứ nhất, được người thù địch ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: 'Mong rằng kẻ này ngủ một cách khổ sở!' Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, người thù địch không hoan hỉ kẻ thù địch của mình ngủ một cách an lành. Này các Tỳ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, dầu có nằm trên ghế dài, nệm trải bằng len, chăn len trắng, chăn len thêu, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, tấm khảm với lọng che phía trên, ghế dài có đầu gối chân màu đỏ. Tuy vậy, họ vẫn ngủ một cách khổ sở, vì bị phẫn nộ chinh phục. Này các Tỳ-kheo, đây là pháp thứ hai, được người thù địch ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: 'Mong rằng kẻ này không có lợi ích!' Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, người thù địch không hoan hỉ kẻ thù địch của mình có được lợi ích. Này các Tỳ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, thâu hoạch bất lợi, lại nghĩ rằng: 'Ta được lợi ích', thâu hoạch điều bất lợi ích, lại nghĩ rằng: 'Ta không được lợi ích'. Những pháp này được nắm giữ khiến người khác trở thành thù địch, đưa đến không hạnh phúc, đau khổ lâu dài, vì bị phẫn nộ chinh phục. Này các Tỳ-kheo, đây là pháp thứ ba, được người thù ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: 'Mong rằng kẻ này không có tài sản!' Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, người thù địch không hoan hỉ kẻ thù địch của mình có được tài sản. Này các Tỳ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, những tài sản nào của họ thâu hoạch do sự phấn chấn tinh cần, cất chứa do sức mạnh của cánh tay, chồng chất do những giọt mồ hôi, đúng pháp, thâu hoạch hợp pháp. Các tài sản ấy được nhà vua cho chở về ngân khố nhà vua, vì bị phẫn nộ chinh phục. Này các Tỳ-kheo, đây là pháp thứ tư, được người thù ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: 'Mong rằng kẻ này không có danh tiếng!' Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, người thù địch không hoan hỉ kẻ thù địch của mình có được danh tiếng. Này các Tỳ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, nếu có được danh tiếng gì nhờ không phóng dật thâu hoạch được, danh tiếng ấy lánh xa họ, vì bị phẫn nộ chinh phục. Này các Tỳ-kheo, đây là pháp thứ năm, được người thù ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: 'Mong rằng kẻ này không có bạn bè!' Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, người thù địch không hoan hỉ kẻ thù địch của mình có được bạn bè. Này các Tỳ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, nếu người đó có những bạn bè thân hữu, bà con huyết thống gì, họ sẽ xa lánh, từ bỏ người đó, vì người đó bị phẫn nộ chinh phục. Ðây là pháp thứ sáu, được người thù ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: 'Mong rằng kẻ này sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh trong cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục!' Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, người thù địch không hoan hỉ kẻ thù địch của mình sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này! Này các Tỳ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, người đó làm ác hạnh với thân, người đó nói lời ác hạnh với lời, người đó nghĩ đến điều ác hạnh với ý, khi thân hoại mạng chung, người đó sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ðây là pháp thứ bảy, được người thù ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.

Bảy pháp này, này các Tỳ-kheo, được người thù địch ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông". (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, (X). Sân Hận)

Ở đây chúng ta thấy bảy pháp được kẻ thù địch ưa thích nhưng chúng ta cũng thấy bảy điều làm cho một người tức giận bị mất đi những thứ tốt đẹp. Điều thứ nhất là mong muốn người họ thù hận trở nên xấu xí, không đẹp đẽ. Người này bị phẫn nộ chinh phục, bị sự tức giận áp đảo trong tâm nên dù cho có trau chuốt, sửa soạn, ăn mặc đẹp nhưng vẫn xấu xí, một nam vương hay một hoa hậu thế giới mà tức giận lên cũng không ai dám lại gần, cũng xấu xí vì họ bị sự tức giận chinh phục trong tâm. Dù cho mang hình dáng đẹp cỡ nào, thân tướng đẹp cỡ nào nhưng một khi để phẫn nộ chinh phục, sống với những cảm thọ thiêu đốt, nhiệt não, nóng bức, cộc cằn, cau có, hận thù thì những cái đẹp đều không còn giá trị, trở nên xấu xí và kẻ thù rất thích sự xấu xí này, chỉ có tâm từ mới làm cho mình đẹp, chỉ có tâm bi mới làm mình xinh, chỉ có tâm an tịnh lắng dịu mới làm mình tươi trẻ, hoan hỉ. Pháp thứ hai là kẻ thù mong người họ ghét mất ngủ, bị trằn trọc, người nào bị phẫn nộ chinh phục thì dù cho nằm trên những thứ đắt tiền cũng mất ăn mất ngủ, họ có đầy đủ tiện nghi vật chất nhưng lại mang nội tâm sân hận, tức giận thì người này vẫn mất ngủ.

Muốn ăn ngon ngủ yên thì phải tác ý đánh đuổi phẫn nộ, sân hận, bực bội ra khỏi thân tâm, cứ nằm xuống là lại nhớ gương mặt người mình tức giận rồi những cảm thọ, suy nghĩ cứ chạy lòng vòng theo đó thì làm sao ăn ngon ngủ yên được cho nên đừng bỏ ăn mất ngủ vì một hình bóng ảo huyền, đó chỉ là tưởng uẩn, cần xóa sạch những cảm giác phẫn nộ đó. Đừng để kẻ thù đắc ý vì mình càng phẫn nộ thì càng mất ngủ, mà mất ngủ là sự mong muốn của kẻ thù.

Thân trống rỗng không ai trong đó

Chỉ có tâm chấp ngã hơn thua

Ngày đêm thiêu đốt tim gan máu

Đốt cháy tâm can trong giận sân.

Hãy ngọt ngào, yêu thương để ngủ ngon, ngủ yên để khi thức dậy mới có đủ sự minh mẫn ngồi thiền, nghe pháp. Học về chủ đề này sẽ có rất nhiều tư liệu, công cụ, sự suy tư, tác ý để dứt trừ sân giận là triền cái thứ hai. Người tức giận mong kẻ thù không được lợi ích, tức là bị tổn hại, một người bị tức giận, phẫn nộ sẽ mất đi lợi ích, bên trong là những cảm xúc thiêu đốt nóng bức, bên ngoài bị mất lợi ích, mình phải gieo trồng phước báo công đức nhưng mình bị cảm xúc tức giận chi phối, xâm chiếm, áp đảo bên trong, tức giận nên không ngồi thiền được, đọc kinh không được, làm việc cũng không có hiệu quả, đây chính là quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của cơn giận.

Pháp thứ tư là người tức giận mong kẻ thù của họ bị phá sản, tức giận lên rồi cãi nhau, đánh nhau rồi vào tù hoặc dùng tài sản để chữa bệnh, thân bại danh liệt thậm chí mất cả mạng sống, dù cho dùng hết sức lực gom góp tích lũy nhưng khi cái giận sanh khởi lên rồi cãi nhau, đánh nhau, chém nhau, đâm nhau và cuối cùng là tất cả tài sản này tiêu tan cho nên tâm hận thù đưa đến sự phá sản.

Pháp thứ năm là mong rằng người bị hận thù không có danh tiếng, nếu có danh tiếng thì danh tiếng ấy cũng lánh xa vì họ bị phẫn nộ áp đảo, dẫn dắt, đốn củi ba năm thiêu chỉ một giờ, biết bao công lao để nổi tiếng nhưng chỉ cần nổi giận lên là phá hư tiếng tốt của mình.

Pháp thứ sáu là mong rằng kẻ này không có bạn bè để cô đơn, hai người bạn giận nhau rồi đi nói xấu lẫn nhau để không ai chơi với người kia, tức giận lên là ai cũng tránh xa, những mối quan hệ thân hữu biết bao năm mà chỉ cần xích mích, giận nhau là chấm dứt tình bạn, mất hết bạn bè. Đối với mối quan hệ trong nhà cũng vậy, giận lên rồi không nhìn mặt con cái, đến khi hết giận nhớ lại thì hối hận, con cái ra riêng không sống chung nhà nữa, sau cơn giận đó là khổ đau, mất hết tình nghĩa, mất hết ân đức, mình sanh con ra nuôi nấng cực khổ mấy chục năm, thương yêu, hi sinh hết cho nó nhưng khi cơn giận nổi lên rồi mình từ mặt nó, cha con không nhìn nhau, mẹ con không nhìn nhau, anh em không nhìn nhau, thầy trò, huynh đệ, tỉ muội, bạn bè cũng không nhìn nhau, tức là cơn giận này phá tan tình nghĩa, đập vỡ đạo đức, phá nát nghĩa nhân, đó là tác hại của sân giận.

Phải đào bới gốc rễ tức giận này lên nghiền nát nó thành những mảnh nhỏ, đốt thành tro bụi để gió bốn phương tám hướng thổi vào hư không, hoặc là đổ xuống sông xuống biển không để nó sanh khởi trở lại trong tương lai, diệt tận mầm móng của hận thù, không để cho giận bất cứ một ai, người bình thường cũng không giận chứ đừng nói gì những bậc ân đức, những bậc có ân có nghĩa, có tình với mình, ngày nào gốc phẫn nộ còn thì sầu đau còn, ngày nào cái rễ của lòng giận còn thì nước mắt còn chảy, còn tranh đấu, hận thù cho nên phải tác ý diệt tận nó, nuôi dưỡng lòng lắng dịu, từ bi, sự xót thương đối với cả người làm khổ mình, sân giận mình. Tâm sân hận làm không có tình nghĩa, những gì tốt đẹp trên đời này bị cơn sân giận phá sập vì thế khi học cái này mới thấy tam độc tham, sân, si thật sự rất độc hại, mình cần nghiền ngẫm, khai thác mọi lời của Đức Phật dạy từ mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của tâm sân mới thấy tam độc là thứ ác độc nhất trên đời.

Pháp cuối cùng là người thù địch mong kẻ thù địch của mình sau khi chết sanh vào ác thú, đọa xứ, địa ngục, tác hại thứ bảy của cơn giận là khi nó nổi lên sẽ nói lời ác, hại mình hại người, nghĩ điều ác và có những hành động ác cho nên sau khi nhắm mắt sẽ rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đó là kết quả cuối cùng của những cảm thọ thiêu đốt, nhiệt não, đốt cháy, đây là bảy tai hại của tâm sân và cũng là bảy điều kẻ thù mong muốn cho kẻ họ ghét, ngay đây chúng ta thấy được bảy phương diện nguy hiểm và tác hại của phẫn nộ, của những cảm giác tức giận để chúng ta chiêm nghiệm.

Thứ nhất người tức giận dù mặc cái gì cũng thành xấu xí, thứ hai người giận sẽ bỏ ăn mất ngủ, thứ ba là người tức giận sẽ bị tổn hại, thứ tư là người tức giận sẽ phá sản, thứ năm là người tức giận sẽ mất tiếng tăm, thứ sáu là người tức giận không còn bạn bè, người thân, trở nên cô độc, không ai muốn lại gần, thứ bảy là sau khi chết sẽ bị đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Đó là bảy nguy hiểm và tác hại của phẫn nộ, sân giận, nó đưa vào mình ba đường ác nhanh chóng mỗi khi nó sanh khởi cho nên mới có câu "Nhất tinh chi hỏa, năng thiêu vạn khoảng công đức chi sơn" nghĩa là một đóm lửa giận, có thể đốt cháy muôn mẫu rừng công đức.

Trong gia đình bất hòa thì không hạnh phúc, trong công ty thì gây bất an, trong đạo tràng thì không được an ổn cho nên tâm hiền, tâm từ, tâm thương đẹp vô cùng, đẹp tối thượng, chỉ có tâm từ mới cứu khổ hành tinh này cho nên ngày nào cũng cần phải trải tâm từ, nhất là những khi có cảm xúc bực bội thì càng phải trải tâm từ nhiều hơn nữa, thương những người thương mình, thương những người không thương mình và thương luôn những người hại mình, nói xấu mình, hủy nhục, khinh khi mình.

Đó là một tình thương bao la, bao trùm hết tất cả, tuyệt diệu làm sao, vi diệu làm sao là người đệ tử chân chánh của Đức Phật, mình càng học cái này càng biết ơn Đức Thế Tôn, biết ơn bậc thiện tri thức truyền trao pháp cho mình, còn nếu không học, không biết, không thấy gì cả thì mình chết trong tâm phẫn nộ này, chết trong những cảm giác bức xúc nhiệt não, mình bị vây hãm và rơi vào hố than hừng, vì vậy cần học kinh, nghe kinh và nghiền ngẫm kinh thường xuyên, chỉ cần nhớ nghĩ lời của Phật thường xuyên cũng đủ để giúp mình thoát khỏi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh vì cái nghe, cái nhớ đó sẽ đi vào thọ; tưởng; hành của mình để khi gặp hữu sự có thể lấy ra dùng ngay, chính cái đó sẽ đưa mình thoát ra ba đường ác.

Cần phải tẩy sạch để trong tâm hoàn toàn không còn bất cứ cảm thọ sân hận nào nữa, đó mới là con người hiền thiện của Phật giáo, bậc hiền trí thật sự, giận để rồi xấu xí, còn không giận thì sống với tâm thương sẽ trở nên đẹp đẽ, ngủ ngon giấc, ăn ngon, được lợi ích, không bị tổn giảm tài sản, có tiếng thơm, có nhiều bạn bè, thân hữu, người có tâm từ như bóng cây mát, ai cũng muốn đến gần bóng cây mát đó, người có tâm từ sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên cõi lành.

"Bảy pháp này, này các Tỳ-kheo, được người thù địch ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.

Kẻ phẫn nộ xấu xí,

Ðau khổ khi nằm ngủ,

Ðược các điều lợi ích

Lại cảm thấy bất lợi.

Phẫn nộ, nó đả thương,

Với thân với lời nói,

Người phẫn nộ chinh phục,

Tài sản bị tiêu vong.

Bị phẫn nộ điên loạn,

Danh dự bị hủy diệt,

Bà con cùng bạn bè,

Lánh xa người phẫn nộ.

Phẫn nộ sanh bất lợi,

Phẫn nộ dao động tâm,

Sợ hãi sanh từ trong,

gười ấy không rõ biết.

Phẫn nộ không biết lợi,

Phẫn nộ không thấy pháp,

Phẫn nộ chinh phục ai,

Người ấy bị mê ám.

Người phẫn nộ thích thú

Làm ác như làm thiện,

Về sau phẫn nộ dứt,

Bị khổ như lửa đốt,

hư ngọn lửa dầu khói,

Ðược thấy thất thểu cháy,

Khi phẫn nộ lan tràn,

Khi tuổi trẻ nổi nóng,

Không xấu hổ, sợ hãi,

Lời nói không cung kính.

ị phẫn nộ chinh phục,

Không hòn đảo tựa nương.

Việc làm đem hối hận,

Rất xa với Chánh pháp.

Ta sẽ tuyên bố họ,

Hãy nghe như tuyên bố,

Phẫn nộ giết cả cha,

Phẫn nộ giết cả mẹ,

Phẫn nộ giết Phạm chí,

Phẫn nộ giết phàm phu.

Chính nhờ mẹ dưỡng dục,

Người thấy được đời này,

Nhưng phàm phu phẫn nộ,

Giết người cho sự sống.

Chúng sanh tự ví dụ,

Thương tự ngã tối thượng,

Phàm phu giết tự ngã,

Ðiên loạn nhiều hình thức,

Lấy gươm giết tự ngã,

Ðiên loại uống thuốc độc,

Dây tự trói họ chết,

Trong hang động núi rừng,

Những hành động sát sanh,

Khiến tự ngã phải chết.

Họ làm nhưng không biết,

Kẻ phẫn nộ hại người,

Với hình thức phẫn nộ,

Ma bẫy ẩn trong tâm.

Hãy nhiếp phục cắt đứt,

Với tuệ, tấn, chánh kiến,

Bậc trí tuệ cắt đoạn,

Mỗi mỗi bất thiện pháp

Như vậy học tập pháp,

Không để tâm nản chí,

Ly sân, không áo não,

Ly tham, tật đố không,

Nhiếp phục, đoạn phẫn nộ,

Vô lậu, nhập Niết-bàn". (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, (X). Sân Hận)

Xin nguyện trải tâm thương mười phương rộng lớn và bao la. Hòa lẫn khắp mười phương là tâm thương của ta.

./.