Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 25 - 4 Trầm (Tĩnh - Tư - Mặc - Lặng)

2026-03-03 00:54:56
Tinh Hoa Nikāya

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 25

4 Trầm (Tĩnh - Tư - Mặc - Lặng)

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhắc nhở nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc201584933 \h 1

II. Thu thúc – phòng hộ các căn PAGEREF _Toc201584934 \h 3

III. Vô minh PAGEREF _Toc201584935 \h 6

IV. Siêng năng đúng đắn PAGEREF _Toc201584936 \h 7

I. Nhắc nhở nhận diện ngũ uẩn

Chúng ta phải tập nhận diện ngũ uẩn thường xuyên, môn của chúng ta là môn pháp hành nên phải thực tập, nếu mình không có thực tập tới lúc nhận diện trình pháp là mình sẽ lọng cọng. Thời gian chúng ta gặp nhau rất là ít, nửa tháng có một lần thôi, nếu gặp nhau sớm thì cũng phải là trừ thời gian ra cho nên chúng ta về mà chúng ta không thực tập thì mai mốt mình sẽ quên hết. Phần sắc là mình phải nhận diện cái thân của mình chứ không phải nhận diện bên ngoài, bên ngoài là phụ thôi tại vì nếu mình nhận diện bên ngoài chung trà hay là những huynh đệ này nọ kia thì lúc đó mình không có thấy cái sắc này tập khởi là do thức ăn tập khởi.

Sắc này do thân tạo thành, thân làm bằng tứ đại cho nên mình nhận diện cái ấm trà, cái chung trà, mọi người xung quanh thì mình không có thấy được tứ đại. Mình thấy có mình, có người, có đồ vật thì cái đó không phải nhận diện sắc, mình phải thấy được thân này là do cha mẹ sanh, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, tứ đại tạo thành, vô thường, biến hoại, không có một tự ngã thì cái đó mới là nhận diện sắc. Còn nếu mình nhận diện có một người đang ngồi uống trà thì cái đó rất là bình thường, cảm thọ dễ chịu thì dễ rồi, bây giờ khi mình nhận diện lại là nguyên cái hình bóng lúc đó là tưởng, có mình rồi có mọi người trong đó tại vì nhận diện ngay bây giờ chứ không phải là nhận diện lúc đó, ngồi tại đây nhận diện về lúc đó. Thành ra là mình để ý, học là mình học sâu sắc nhưng khi làm bài tập thực tế là mình chưa có thực tập được bao nhiêu hết cho nên rất là uổng.

Đa số mình nhận diện bên ngoài nhiều hơn bên trong, cái tâm của người tu là phải đặt vào bên trong nhiều hơn bên ngoài, phải nội quán. Chúng ta quen làm công việc nhưng mà chúng ta có một cái công việc quan trọng hơn tất cả các công việc chính là quản lý cái tâm của mình, nhiếp phục và chế ngự những cái tham, sân, si, dục, bản ngã, đó mới là công việc tối thượng của người xuất gia. Nếu mà chúng ta không làm được công việc này thì tất cả công việc khác đều là không có ý nghĩa thật sự, dù cho mình làm được bên ngoài rất nhiều nhưng mình vẫn sầu, bi, khổ, ưu, não. Thành ra mình muốn giúp cho người thì mình phải có một cái nội tâm khỏe mạnh, nội tâm bình an, một cái nội tâm tràn đầy cái sự từ mẫn và thấu hiểu thì mình mới giúp người ta được.

Bây giờ tâm mình mới vừa chạm chút xíu thôi là mình sừng sộ lên, bực bội lên, sân hận lên thì làm sao mình giúp người ta được? Mình muốn có một nội lực, nội công thì mình phải có một cái sự huân tu rất là thâm sâu, thâm hậu, sự huân tu thâm sâu, thâm hậu đó là cái sự thường xuyên hướng nội, nội quán, nội tỉnh, nội chiếu, nội soi, nội công, tức là công phu nội lực ở bên trong của mình. Cho nên bất cứ chuyện gì ở bên ngoài xảy ra không quan trọng mà quan trọng là cái cảm thọ của mình nó như thế nào và mình xử lý cái cảm thọ đó ra sao. Với một người hướng ngoại, một cái tâm yếu ớt thì chỉ cần một tiếng động ở bên ngoài thôi là bắt đầu mình khó chịu rồi, mình bị phân tán, tâm không có tập trung, nhưng mà với một người có nội công, công phu thì những thứ bên ngoài không có gì quan trọng, người ta chỉ giữ tâm người ta thôi.

Chúng ta để ý chỗ này, khi mình trình pháp, chia sẻ là đa số chúng ta chia sẻ chuyện ở bên ngoài nhiều hơn thì cái này mình cần phải đặt tâm đúng hướng và nhận diện sâu sắc; thọ; tưởng; hành; thức của mình, không có nói chuyện bên ngoài nhiều. Nếu mình nhận diện một cuộc uống trà thì không có pháp trong đó, nó chỉ có tình thường, huynh đệ thôi, không có thấy pháp trong đó tại vì trong cái cuộc nhận diện đó thì con sẽ đọc ra được cái trí tuệ của chúng ta, sự tu tập của chúng ta, sự quán chiếu của chúng ta, những gì con đã chia sẻ cho chúng ta trong thời gian vừa qua thể hiện trong việc trình pháp ít nhiều, sâu cạn. Thành ra cái này còn phải cố gắng nhiều hơn.

Mình phải nhận diện những cảm xúc, những hình bóng, những suy nghĩ trong nội tâm của mình, người xuất gia thời Đức Phật còn tại thế thì thu nhiếp lục căn rất quan trọng, đó là giới của người xuất gia cho nên ngài Xá-lợi-phất nghe một bài kinh là phát tâm cung kính, chứng nhập thánh quả liền thì cái oai nghi, tế hạnh, phong thái, thần thái của các bậc thánh Tăng, Tỳ-kheo thời đó trang nghiêm đến mức độ nào. Ngài Xá-lợi-phất không phải một con người thông thường, ngài là một triết nhân, bác học lỗi lạc thời đó, nổi tiếng đương thời, chỉ cần nhìn thấy phong thái, phong cách, dáng vẻ, trang nghiêm, thanh cao, cao thượng, thánh thiện là ngài đến hỏi pháp thì Tỳ-kheo Mã Thắng đã nói lên bài kệ:

"Các pháp do duyên sinh, lại cũng do duyên diệt. Thầy tôi là Ðức Phật, thường giảng dạy như vậy".

(Chư pháp tùng duyên sinh, Diệt phục tùng duyên diệt, Ngã Phật đại sa môn, Thường tác như thị thuyết.)

Ngài Xà-lợi-phất nghe xong thời pháp ngắn đó là Nhập Lưu thánh quả, đắc pháp nhãn tịnh vào cảnh giới của Dự Lưu nhưng bây giờ người xuất gia lại chú trọng công việc làm mà không đặt nặng sự tu, đây là tình trạng chung bây giờ, chỗ này làm thất thoát rất nhiều những người có tâm chân tu thật học tha thiết. Vì mình đặt tâm sai hướng, mình thấy người kia nổi tiếng, làm nhiều công việc Phật sự, mình ngưỡng mộ những cái bề ngoài mà mình không biết rằng cội gốc thật sự của người tu không phải cái đó. Cái cội gốc đầu tiên là giới đức, thứ hai là thiền định, thứ ba là trí tuệ, trong giới đức thì đầu tiên phải có đầy đủ oai nghi, chánh hạnh thâu nhiếp lục căn và có sự sợ hãi trong các cái lỗi nhỏ nhặt. Đây là cái đức hạnh thứ nhất của bậc hữu học nhưng bây giờ điều đầu tiên là cái vỏ của phạm hạnh mình đã không có, mình cứ nhìn, cứ nghe, cứ nói, cứ tung tăng, thả lỏng các căn.

II. Thu thúc – phòng hộ các căn

Bước đầu tiên đã không có thì làm sao những bước sau có được? Nếu mình muốn tu học cho tốt, học kỹ lại bài kinh Minh Thành có chia sẻ ở Việt Nam Quốc tự ở trường hạ là "Làm sao để trở thành một cái người xuất gia đúng nghĩa", Đức Phật dạy trình tự của người xuất gia phải học như thế nào, làm sao để tác thành Sa-môn hạnh. Mình chú trọng công việc và mình chú trọng sự học ở trên bằng cấp, tri thức, kiến thức mà mình không có chú trọng nhiều vào trong đức hạnh của người tu, đây là một cái khuyết điểm, cái thiếu cần phải bổ khuyết rất là lớn, cái lỗ hỏng rất lớn, mà thiếu cái này thì coi như là không có nền móng dầu cho mình có xây lên cao cỡ nào đi nữa nó cũng sụp đổ nay mai sớm chiều, bất thình lình nó đổ xuống tại nó không có móng, không có nền.

Nền móng này được xây bằng cái đầu tiên là thu thúc, thu nhiếp, phòng hộ, bảo vệ sáu xúc xứ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình, nói gọn là thân, miệng, ý. Bây giờ mình nhìn cái sắc hay là mình nói chuyện, mình tiếp xúc thì cái thọ đi vào bên trong, tiếp xúc sanh ra thọ, thọ sanh dục, sanh ái, sanh ra nghiệp. Bởi vì ở bên trong cái gốc của mình là cái gốc vô minh và khát ái cho nên cái ái bao trùm, chiếm lĩnh trong tâm của mình rất là nhiều. Mình gặp cái gì dễ chịu, dễ thương, dễ nhìn, dễ nghe là mình yêu, mình thích, mình khoan, mình khoái, mình dục, mình ái cho nên khi tiếp xúc rồi thích, sau đó là muốn, khi đã muốn rồi thì nắm giữ, khi đó gặp trúng nghiệp cũ thì rất mệt mỏi. Gặp đúng là người là cố nhân gặp lại tức là người xưa, người đã từng yêu thích trong quá khứ giờ gặp lại thì nghiệp cũ bùng lên liền cho nên ngoài đời gọi là tiếng sét ái tình, gặp rồi không buông ra được, đó là nghiệp cũ.

Nếu mình không có phòng hộ sáu căn, không có bảo vệ, không có thu thúc, không có chế ngự thì những cái này sẽ ào ào tới, như vậy thì làm sao thiền định, tâm mình làm sao yên, hình ảnh đó cứ ám ảnh trong tâm mãi thôi. Hồi tưởng câu nói đó là thanh tưởng cứ vang vang trong đầu, cái hình bóng cứ chập chờn ám ảnh, cảm giác dễ chịu hay là khó chịu cứ ẩn ẩn hiện hiện trong tâm mình thì làm sao mình thiền, làm sao tâm mình yên. Đó là năm sợi dây trói buộc, đó là năm triền cái, dục tham là sợi dây thứ nhất, ngồi lại là nhớ cái nhà, nhớ chiếc xe, nhớ con người, nhớ món đồ, nhớ cảnh vật tại vì những cái đó là tham tùy miên, nó đi theo miên man ở trung tâm của mình thì làm sao tâm bình yên được. Mình không có cái cách nào để cắt sợi dây này, mình không có thần đao, thánh kiếm thì làm sao mình cắt nổi những cái sợi dây kiết sử trói cột, ràng buộc cứng chắc, mình không có như lý tác ý, không có thiền quán, mình không có sự đánh phá bên trong thì làm sao nó lung lay cho nên những sợi dây đó ngày càng cột chặt mình và sợi dây đầu tiên là dục tham.

Đối với cái sân khi mình xảy ra chuyện thì cảm giác nó khác và ngày hôm sau mình có sự nhiếp phục, chế ngự thì cảm giác khác chứ không giống lúc đầu, nó chỉ là nhẹ hơn chút, đỡ hơn chút nhưng nó vẫn còn nằm đó, bây giờ hi nhắc lại thì cái hình bóng nó hiện ra, cái cảm xúc đó rồi những cái suy nghĩ đó hiện lại thì trong tâm mình vẫn có gợn lên sự khó chịu. Thành ra chỗ khó tu là chỗ mình không thu thúc lục căn, không có phòng hộ, bảo vệ, nhiếp phục, chế ngự sáu xuất xứ hay là sáu căn, sáu cái chỗ tiếp xúc. Thấy cái gì khả ái, dễ thương dù không muốn nhìn thì phải nhìn, nhìn một hồi là quên mình đang nhìn, nhiều khi người kế bên vỗ vai kêu cũng không biết, đó là lúc mình mất chánh niệm. Hoặc mình có những cái cử chỉ hành động mình không thấy nhưng mà người khác nhìn thấy, có sự dính mắc, có sự tham ái, có sự ưa thích.

Đầu tiên là phải từ ở trong đó mà mình không có nhìn ra được lúc đầu tiên đó, nếu mà mình có thực hành cảm giác toàn thân thì trong này n có cái sự động chuyển, có sự thúc giục để nhìn, mình nhiếp phục cái đó thì nó sẽ ngồi yên, không cho nó nhìn, bắt nó nhìn xuống, chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác, không cho nó nhìn nghiêng qua. Ngặt nỗi cái hướng nào có người đẹp là cứ nhìn nghiêng qua hướng đó, không ngồi thẳng mà ngồi xéo qua hướng có người đẹp, sức hút đó ghê lắm. Hay là cảnh đẹp cũng vậy, món đồ đẹp cũng vậy, thí dụ mình ngồi đây nhưng sau lưng có một cái món đồ mà mình thích như cái chiếc xe đời mới đúng ý mình thì tự nhiên ngồi một hồi cũng quay ra sau lưng nhìn, đó là sức hút của chiếc xe, đó là dục, ái và tham.

Trong cảm thọ của mình có một sự thúc giục, có một sự muốn, có cái khoái và nó có dục tầm, dục tứ tức là cái tâm nó tầm cầu và nó muốn bám đi theo đối tượng, đó dục tầm, dục tứ, suy tầm về dục. Mình muốn nắm bắt đối tượng muốn thì đó là dục tầm, dục tứ, còn dục tưởng là hình bóng mà nó muốn, dục tư là suy nghĩ về những cái nó muốn. Nếu mình không có trí tuệ thì lúc đó mình không biết gì hết, mình thấy cái đó là bình thường, đó là trình tự vận hành của các pháp, hình bóng của cái món đồ đó, của cái cảnh đó, của con người đó, suy nghĩ về món đồ đó, con người đó, cái cảnh vật đó, tâm muốn tầm cầu, muốn hướng tới, muốn đi tìm kiếm.

Ví dụ trên đây có những bông hoa rất đẹp thì khi mình hướng lên đây mình nhìn chỗ những cái bông đẹp nhất, đó là dục tầm, dục tứ. Cái nào đẹp là cái tâm sẽ hướng tới cái chỗ đó hoài, không hướng đến những chỗ khác, cái nào mà nó thích, nó ái, nó khoái thì nó sẽ hướng về đó, nó bám theo cái đối tượng đó. Thí dụ như trong chùa của mình, mình giận một người nào đó thì lâu lâu mình có để ý người đó không? Từ từ trả lời, phải bằng trí tuệ trả lời, không có trả lời theo dục, không có trả lời theo bản ngã, suy nghĩ kỹ thì trả lời, mình phản ứng trong vô minh tức là không có cái trí sáng suốt để nhìn vấn đề đó một cách thâm sâu là sau này mình sẽ gặp nguy hiểm rất nhiều khi những chuyện quan trọng đến, thói quen của mình là không có chánh niệm cho nên cần phải trầm tư, trầm mặc, trầm lặng và trầm tĩnh.

Thế tôn là bậc an tịnh trầm lặng, cái gì cũng phải trầm tĩnh, đừng có vội vàng, hấp tấp, phải học bốn cái trầm này thì mình mới sâu sắc. Tất cả chuyện gì đến với mình đừng có vội vàng kết luận, đừng vội vàng phản ứng, đừng vội vàng phán đoán, phán quyết là mình chết, cứ bình tĩnh từ từ suy xét. Lúc mình suy xét nhanh là lúc đó phản ứng bằng cái dục, sự thúc giục bên trong, hoặc là phản ứng bằng cái sân, sự khó chịu ở trong cái cảm thọ, hoặc nó phản ứng bằng cái bản ngã, một cái tôi của tôi, "tôi giỏi lắm, tôi hay lắm, tôi không có như vậy đâu, đừng nói tôi vậy", đó là phản ứng bằng bản ngã, tất cả cái đó là vô minh. Những cái này rất sâu sắc, rất khó để nhìn thấy được nó, chỉ có trí năm uẩn mới nhìn thấy, lúc đó cái tâm không có sáng tỏ về ngũ uẩn, nó không biết cái gì đang điều khiển, mình giống như con rối vậy đó, ở bên trong giật dây cái gì là bên ngoài đi theo.

Ví dụ như cái gì mà mình gặp mình thích rồi là cái dục ở trong này thúc giục, mình không thấy cái thúc giục đó hoặc là mình xúc một cái gì mà bực bội, khó chịu, lúc đó cái sân vận hành lên mà mình không thấy cái cảm thọ mình sân hận, tức giận đó.

III. Vô minh

Mình tiếp xúc cái gì mà lúc đó chạm tự ái, cái tôi của mình phình to ra, nó ưỡn ngực, hất mặt, vênh váo mà mình cũng không biết, mình bị che mờ, tất cả những cái này là từ vô minh.

"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, một ngôi nhà có nóc nhọn cao, phàm có những cây kèo xa nào, tất cả chúng đều đi đến góc nhọn, đều quy tựa vào góc nhọn, đều châu đầu vào góc nhọn, tất cả chúng đều đâm đầu vào một gốc.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, phàm có những bất thiện pháp nào, tất cả chúng đều lấy vô minh làm cội rễ, đều lấy vô minh làm điểm tựa, đều châu đầu vào vô minh, tất cả chúng đều đâm đầu vào một gốc.

Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: 'Chúng ta hãy sống không phóng dật'." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương XI. Tương Ưng Thí Dụ, I. Chóp Mái)

Khi mình gặp một chuyện là mình phản ứng liền lập tức thì cái đó vẫn là buông lung phóng dật vì mình không có một sự trầm tĩnh, trầm tư, trầm mặc, trầm lặng. Sau khi mình trầm tĩnh, trầm tư, trầm mặc, trầm lặng thì mình mới quán xét, sau khi quán xét nó là thiện hay bất thiện, nó đúng hay sai, nó tội hay phước, nó lợi hay hại thì sau này mình mới đưa ra cái kết luận. Như vậy cái kết luận của mình ít bị lầm lỗi, ít bị sai quấy cho nên phải thực hiện bốn cái trầm này trước rồi sau đó mới quán xét, khi quán xét là dựa trên cái gì tiêu chí thiện và bất thiện cho nên những cái này ít có ai chỉ mình. Ví dụ như sư phụ mới vừa kêu lên nói:

Con làm vậy là sai.

Đâu có đâu, tại sư huynh kia chứ đâu phải tại con.

Đó là trả lời bằng dục, giả dối, khoe khoang, phô bản ngã, ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm. Khi nghe bất cứ cái gì mình đừng vội phản ứng liền mà phải trầm tĩnh, sau đó trầm tư, trầm mặc, yên lặng, tiếp theo là suy xét lại mình, nhìn nhận lại coi cái đó có phải không, có đúng không, nếu đúng thì mình nhận lỗi, mình điều chỉnh lại, còn nếu là sai, mình không phải như vậy thì từ từ mình thưa thỉnh, không có vội vàng phản ứng. Nếu mình thưa trong cái thúc giục thì mình sẽ có lỗi, nếu mình nói trong sự bực bội sẽ sai lầm, nếu biện luận trong cái tôi, cái ta, cái bản ngã thì hư chuyện vì vậy cần phải trầm tĩnh quán xét rồi mới đưa ra kết luận. Dựa vào pháp để quán xét thiện hay bất thiện, chánh hay tà, trí hay tình, mình là người tu hay là người đời, mình phải quán xét theo chiều hướng nào, chứ không phải nhìn nhận vấn đề theo người đời, phải lấy cái chuẩn của pháp, cái chuẩn của trí tuệ, cái chuẩn của phạm hạnh để nhìn vấn đề.

Thí dụ hai tỷ muội cãi với nhau, khó chịu, sân si với nhau lên thưa với sư phụ thì xử thế nào? Ai đúng, ai sai? Cả hai đều sai hết, có bản ngã là sai, phải dùng chánh pháp để phán xét, bây giờ mình tu rồi, đầu tròn áo vuông rồi mà hai chị em tỷ muội cãi nhau sôi mồm mép thì có đúng không, ai là người đúng, cả hai đều sai hết, bản ngã là sai, sân là sai, cự cãi với nhau là sai, không có thuận hòa là sai. Nếu mình góp ý với nhau một cách nhẹ nhàng, từ tốn, từ ái thì được, còn nếu sân si với nhau để mình tranh hơn, tranh thua, tranh đúng, tranh sai với nhau để kêu sư phụ xử là sai hết. Thành ra nhiều khi mình xuất gia nhưng lại là nhìn vấn đề tiếp theo người thế gian, mình xuất thế nhưng xử sự theo thế tục là đâu có được, phải dùng cái pháp xuất thế để xử lý vấn đề.

Thường thường khi mình làm, mình nói, mình nghĩ đều theo dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã mà mình không biết. Chẳng hạn đang ngồi học để ly nước kế bên, khát nước là lấy ra uống, không được như vậy, phải uống nước lúc ra chơi hoặc uống trước khi đi vô học, giờ học pháp là không được uống, ngay giờ học chính là giờ tu cũng chính là giờ thiền quán. Ngày xưa khi Minh Thành còn đi học là khác với bây giờ nhiều lắm, càng ngày lại càng đi xuống từ từ, vậy là không được, thiếu gì giờ để mình uống, giờ học không phải là giờ uống nước. Ngay cả con khi chia sẻ pháp chừng nào cổ họng chịu hết nổi rồi mới dám uống, còn bình thường là không dám uống vì đây không phải chỗ ăn uống cho nên chỉ khi nghiêm túc với bản thân thì khi suy xét mới thấy cái nào đúng, cái nào sai, nếu không là "có gì đâu thầy ơi, sao thầy khó quá vậy", không phải khó mà pháp là như vậy.

IV. Siêng năng đúng đắn

Phải đánh phá năm triền cái, nhiều khi tu suốt cuộc đời mình đâu có trị nổi năm triền cái, đó là dục tham, sân, hôn trầm, trạo hối, hoài nghi, năm cái này mình không có diệt tận nó là không vào sơ thiền được. Nếu không để tâm thì làm sao mình diệt được nó thành ra phải làm sao vận dụng được pháp vào trong đời sống thực tế, còn học như cách học bây giờ là không thể thành công được, mình học một đằng rồi mình sống một nẻo, không có cái gì dính dáng với nhau.

Đầu mồm nói suốt trăm phần diệu

Dưới gót không ly một điểm trần...!!

Nói trên trời dưới đất mà giữ gìn oai nghi của một người tu cũng không có thì học cái gì? Dù có học lên bằng cấp cao nhất mà không có oai nghi, không có cái chất của một người xuất gia thì cũng giống như ngoài đời là thầy giáo dạy học vậy thôi. Thành ra cái quan trọng đầu tiên là thu thúc lục căn, oai nghi, tế hạnh của một người xuất gia, các thầy các cô đọc ba quyển "Xuất gia toàn tập" của con, bây giờ cái chất của người tu giảm, thấy rất rõ, niềm tin vào tam bảo suy sụp. Con thưa thật với các thầy các cô là các thầy các cô phải thao thức, trăn trở, phải ưu tư đối với tự thân mình và đối với đàn em sau này trong giới tu hành của mình. Phải có sự ưu tư, trăn trở, thao thức, ray rứt, nhức nhối, làm thế nào để mình có thể càng ngày càng đưa chánh pháp trở về được chứ không nói phát triển, mình phát triển để tương ưng với chánh pháp bởi vì chánh pháp là thánh pháp thì làm gì có chuyện thay đổi, phát triển được, chỉ có mình phát triển để tương ứng với chánh pháp.

Mình nói là phát triển chánh pháp của Phật nhưng phát triển một hồi là thành tà pháp, thật ra là mình phát triển con người mình để tương ưng với cái pháp thì lúc đó mới là thánh nhân, thánh Tăng. Phải nhớ kĩ thánh pháp của Phật đã là chí cao vô thượng, cực viên, cực mãn chí tôn, mình chỉ tu học sao để phù hợp với chánh pháp là thành thánh nhân chứ mình không có phát triển chánh pháp, cho nên suy xét ra sẽ thấy rất nhiều vấn đề. Bây giờ làm sao để cuộc sống tương ưng được những lời dạy của Phật là thành hiền thánh Tăng nhưng mình không chịu làm theo lời Phật dạy, mình muốn làm cái gì mới thôi rồi lập ra tông này phái kia vì thế rất là nguy hiểm. Chính vì vậy từ từ Phật giáo bị mai một, cái bản sắc của Phật giáo, bản tính của Phật giáo, cái bản chất của Phật giáo, bản vị của Phật giáo lần lần bị mất, nó dần dần phai nhòa, nhợt nhạt, nó lai căng, nó mất gốc là do mình không có tôn kính, cung kính, tôn trọng thánh pháp, thánh trí, thánh đạo, thánh quả của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya.

Chúng ta phải để ý những cái này thật kĩ, ngày nay chúng ta học cái gì? Thấy ông kia hay quá là học theo giống như ông đó, thấy ông nọ có bằng cấp cao quá thì ráng học lên giống ông đó. Tại sao không ráng giống như Đức Phật, ráng giống như các bậc thánh Tăng, đó là chỗ đặt tâm sai hướng và cái nhìn của mình cạn cợt, phải uống nước tận nguồn. Đức Phật tu như thế nào, thực hành như thế nào, thành tựu như thế nào, các bậc thánh Tăng tu như thế nào, thực hành như thế nào, thành tựu như thế nào thì mình đi theo y như vậy là mình thành tựu đạo lộ của Đức Phật. Nếu mình đặt tâm cạn cợt, thiển cận thì mình cũng đạt được những cái phàm phu pháp, những cái thấp kém thường tình của thế gian thôi, dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, không giải quyết được vấn đề đau khổ thật sự bên trong nội tâm của mình thì làm sao cứu giúp được cha mẹ, anh em, những ân nhân của mình, tứ trọng ân.

Vào mùa lễ là bận rộn thì tu cái gì? Cứu độ được cái gì? Đó là những vấn đề mình cần thao thức, trăn trở, để tâm thật nhiều vào sự thực hành, phải trầm tư, trầm tĩnh, trầm mặc, trầm lặng, chiêm nghiệm trong đó, quán chiếu trong đó. Phải soi rọi lại chính mình trong từng giây từng phút, soi rọi trong từng cử chỉ, hành động, suy nghĩ, cảm thọ, hình bóng ở trong tâm của mình có tương ưng với pháp không. Cái suy nghĩ này có phải là cái suy nghĩ ly tham không hay là nó đang suy nghĩ tham, suy nghĩ này có phải lìa sân, hết giận không, từ bỏ cái giận hay là đang suy nghĩ giận, bực, khó chịu, bất mãn, bức xúc. Cái suy nghĩ có đưa đến tâm từ, tâm thương rộng lớn hay là cái suy nghĩ muốn hại người khác, ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy là những pháp cần phải thuộc lòng.

Cảm thọ này là cảm thọ của thánh trí hay của vô minh, cảm xúc này là của dục tham hay là cảm xúc của xuất ly, thoát ra khỏi tham, sân, si. Cái cảm giác này là cái cảm giác của bản ngã hay là một cảm giác khiêm cung, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm hạ, khiêm nhã, cảm giác quỳ mọp, cảm giác phá vỡ ảo tưởng về tự ngã.

Nay con xin tập hạnh hiền nhân,

Chẳng để hơn thua dẫn dắt mình.

Lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kỹ

Nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm.

(Nghi thức tu học Nikāya)

Lắng nghe thọ; tưởng; hành rồi dẫn chúng về tâm hiền, tâm từ, dẫn chúng về sự khiêm cung, khiêm hạ, trí tuệ vô ngã, dẫn chúng về từ, bi, hỷ, xả, tứ vô lượng tâm, dẫn nó về tâm hiếu thảo, tâm nghĩa tình, tâm cung kính, tâm biết ơn chứ không để nó vô ơn, bất kính, không để cho nó bản ngã, lúc nào cũng trú trong cảm thọ biết ơn liên tục, tất cả mọi người đều biết ơn chứ đừng nói chi những bậc đại ân nhân của mình. Chúng ta nhìn những người thợ làm nhà thì có thấy họ là những người ân nhân của mình không? Chúng ta nhìn thấy những người Phật tử quét nhà, dọn toilet thì mình có khởi lên suy nghĩ cảm ơn những người này không? Đó chính là cái tâm biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn. Những người dưới bếp nấu cơm cho mình ăn thì mình có ngồi quán niệm tri ơn, cảm ơn, nhớ ơn, biết ơn không hay là mình ăn một cách hồn nhiên, tự nhiên, nghĩ rằng chuyện này là đương nhiên, có gì mà phải cám ơn.

Mình phải nuôi dưỡng cảm thọ của bậc chân nhân, biết ơn và nhớ ơn đối với người có ơn. Ai quét phòng cho mình học? Mình có nhớ ơn, biết ơn, cung kính thật sự những bậc tôn trưởng, những bậc trưởng lão, trưởng thượng, những bậc mở con mắt trí tuệ cho mình, khai tâm cho mình, truyền dạy cho mình những cái thấy biết thượng nhân pháp, mình có biết ơn họ không hay họ nói một câu mình đáp lại hai câu trong một cái tâm ngã mạn, bất kính. Phải nhìn cho được những cái tâm lậu hoặc, ác độc, vô ơn, bất kính, bất hiếu, vô tình vô nghĩa, mình phải nhìn ra được những cái tâm đó và đánh phá nó, làm cho những cái tâm hiền thiện sanh khởi, tăng trưởng, phát triển lớn mạnh đầy ắp trong thân tâm của mình, không có một ý nghĩ dám bất kính với thầy dạy đạo cho mình, một ý nghĩ cũng không cho sanh chứ đừng nói gì đến khẩu hành hay thân hành, khi nó sanh khởi lên là phải diệt liền thì đó mới là tâm của bậc chân nhân.

Từ lúc mình muốn đi tu tới lúc cạo đầu, đắp y là dễ hay khó? Dù khó nhưng mình làm được, cạo đầu khó nhưng mình làm được, bây giờ cạo cái tâm mình cũng phải làm được vậy đó. Phải có một ý chí trượng phu mạnh mẽ như vậy, thành ra mình phải đào luyện, khổ luyện, rèn luyện, tu luyện, phải mạnh mẽ lên, Đức Phật là bậc vô năng thắng, bậc đại thắng, bậc toàn thắng, bậc vô thượng chiến thắng, với một cái tâm thụ động, không nỗ lực, quyết tâm, không tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, mạnh mẽ thì tu một ngàn kiếp cũng là phàm phu đầy rẫy dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã. Mình phải đưa ra nhiều phương pháp, nhiều chiến thuật, tác chiến, những chiến lược để đánh trận nội chiến trong tâm, năm triền cái là ma, dục tham là ma, sân là ma, hôn trầm là con ma ngủ nhập vào người, hoài nghi cũng là ma, trạo cử là ngồi không yên, lắc qua lắc lại, sửa áo này nọ, đó là con ma trạo cử.

Giờ tu không chịu tu, giờ thiền không chịu thiền, giờ học không chịu học, giờ làm việc thì không chịu làm, làm chơi chơi cuối cùng kết quả không được gì hết rồi mình hờn trách, oán hờn, mình không thấy được nhân quả. Mình tu Nikāya này sẽ thấy được hết tất cả, có rất nhiều phương pháp tuyệt vời, thiết thực, hiện tại, rõ ràng, cụ thể, không đợi đến lúc nào hết, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, có hiệu quả tức thời, được người trí tự mình giác hiểu. Thành ra phải rất phấn đấu và nỗ lực rất nhiều trong sự tu học, rất nhiều sự thao thức, trăn trở, băn khoăn, ăn không ngon, ngủ không yên, nửa đêm thức dậy ngồi thiền, nửa đêm thức dậy mở kinh ra tụng, nửa đêm thức dậy trầm tư mặc tưởng làm sao diệt được dục, nó cứ xâm chiếm, đốt mình hoài, cái bản ngã ác độc này cứ sanh khởi lên hoài, bây giờ phải làm sao diệt được nó. Mình đi hỏi các bậc tôn đức, các bậc thiện tri thức, các bậc chánh tri kiến, các bậc tôn thượng rồi mình thực hành ngày đêm, nỗ lực rèn luyện còn chưa thấy gì, đằng này trơ trơ ra, sống như lục bình trôi sông, nước lên thì nó lên, nước xuống thì nó xuống rồi đời tu không đi tới đâu hết.

Mình chỉ thích được khen, thích cái gì đẹp, nghe cái gì cho êm tai, còn nói gì mà hơi khó chịu chút là sân si, bực bội, khó chịu, bản ngã lên thì như vậy khúc cây đó vĩnh viễn để cho người ta đạp lên chứ làm sao được chùi giấy nhám, đẽo, đục thành tượng Phật cho người ta lạy, bảy mươi năm vẫn là một khúc gỗ dưới sình cho người ta đạp lên chứ không thể thành tượng Phật trên cao cho trăm ngàn người lạy. Muốn thành tuyệt phẩm thánh tượng thì phải chịu cực, tạt nước vào rửa sạch sình, phơi nắng, bị người ta chà, bào, đục, đẽo rồi từ từ mới thành bức tượng.

./.