Tịnh Tín Là Gì - Những Hình Ảnh Tuyệt Đẹp Của Chánh Pháp
Kinh Nikāya Giảng Giải
Tịnh Tín Là Gì ?
Những Hình Ảnh Tuyệt Đẹp Của Chánh Pháp!
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Những hình ảnh tuyệt đẹp của Chánh Pháp PAGEREF _Toc139893043 \h 1
II. Dòng cảm thọ ngọt ngào PAGEREF _Toc139893044 \h 8
I. Những hình ảnh tuyệt đẹp của Chánh Pháp
Hôm nay chúng ta nghe nhiều bài kinh và chúng ta sẽ niệm Đức Phật, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ở giữa bài kinh. Những sự kiện này giống như chúng ta được quay trở về 26 thế kỉ trước, đi thăm viếng bậc Chánh Đẳng Giác, thăm viếng các bậc hiền Thánh và các vị Bà-la-môn du sĩ, cư sĩ ngày xưa. Đầu tiên chúng ta sẽ nghe bài kinh một vị Bà-la-môn tán thán Đức Phật, ca ngợi diệu pháp với nhiều hình ảnh rất tuyệt diệu, vi diệu.
"Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì, tại Mahàvana, chỗ giảng đường có nóc nhọn. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kàranapàli đang xây dựng nhà cho Licchavì. Bà-la-môn Kàranapàli thấy Bà-la-môn Pingiyàni từ đường xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Bà-la-môn Pingiyàni:
- Tôn giả Pingiyàni đi từ đâu đến sớm như vậy?
- Thưa Tôn giả, tôi đi từ chỗ Sa-môn Gotama về.
- Tôn giả Pingiyàni nghĩ thế nào về trí tuệ sáng suốt của Sa-môn Gotama? Ngài có nghĩ vị ấy là một bậc Hiền trí chăng?
- Tôi là ai, thưa Tôn giả, lại có thể biết được trí tuệ sáng suốt của Sa-môn Gotama. Chỉ có ai như vị ấy, mới có thể biết được trí tuệ sáng suốt của Sa-môn Gotama" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (IV).Bà-La-Môn Kàranapàli)
Tôi là ai mà có thể biết được trí tuệ của bậc Đại Giác? Chỉ có người ngang tầm mới có thể biết được trí tuệ sáng suốt của ngài.
"Thật là cao thượng lời Tôn giả Pingiyàni tán thán Sa-môn Gotama. 'Tôi là ai, thưa Tôn giả, lại có thể nói lời tán thán Sa-môn Gotama'. Ðược tán thán bởi những bậc được tán thán là Tôn giả Gotama, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (IV).Bà-La-Môn Kàranapàli)
Đức Thế Tôn là bậc được khen ngợi bởi những bậc được người khác khen ngợi, được xưng tán bởi những người được mọi người xưng tán. Những người được xã hội tôn kính, tán dương, tôn trọng thì những bậc này lại rất cung kính, tán dương Đức Phật, ngài là bậc tối tôn, tối thượng trong ba cõi, cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc, ngài là bậc tối tôn, tối thượng giữa loài hai chân, bốn chân, nhiều chân, ngài là bậc tối tôn, tối thượng trong bốn loài chúng sanh, noãn sanh, thai sanh, hóa sanh, thấp sanh, sanh bằng trứng, sanh bằng bào thai, sanh ra từ chỗ ẩm thấp và sanh ra trong sự biến hóa của nghiệp. Có câu "thiên nhân chi đạo sư, tứ sanh chi từ phụ" nghĩa là ngài là bậc đạo sư của trời và người, là đấng cha lành của bốn loại chúng sanh, ngài là bậc tốn tôn, tối thượng trong tất cả chúng sanh hữu tình, ngài là bậc tối thắng.
"Tôn giả Pingyiàni thấy những lợi ích gì lại cực lực tin tưởng Sa-môn Gotama như vậy?
- Thưa Tôn giả, ví như một người đã thỏa mãn với vị ngọt tối thượng sẽ không còn thèm muốn các vị ngọt hạ liệt khác. Cũng vậy, thưa Tôn giả, khi đã nghe pháp của Tôn giả Gotama, như Khế kinh, Phúng tụng, Ký thuyết, Vị tằng hữu pháp.., thời không còn thèm muốn các lý thuyết của những người khác, của các Sa-môn, Bà-la-môn thấp kém" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (IV).Bà-La-Môn Kàranapàli)
Lời dạy của Đức Phật là vị ngọt tối thượng, những sự giảng dạy của những phàm phu là những vị ngọt thấp kém, một khi đã thể nhập, nếm được vị ngọt tối thượng của Thánh pháp này thì người đó sẽ không còn thèm muốn vị ngọt hạ liệt của ai nữa, còn người nào còn thèm muốn những vị ngọt khác là người đó chưa nếm được vị ngọt tối thượng trong Thánh pháp này.
Chỉ có người thành tựu tịnh tín bất động mới hiểu được, trong đạo tràng chúng ta sẽ hiểu được nhiều với những người đã có lòng tin thâm sâu, đọc những lời kinh này sẽ bổ dưỡng, vi diệu. Một khi đã nghe chánh pháp của Đức Phật thì không còn thèm muốn tất cả những học thuyết, lý thuyết khác của các Sa-môn thấp kém, hạ liệt khác. Cái này con cảm nhận được 100%, khi con vào dòng pháp Nikāya rồi thì tất cả những kiến thức tích tụ 28 năm trước nhất thời đều rơi rụng, tích tắc quăng bỏ cùng một lúc, cũng như cầm được viên kim cương thật sự thì những viên giả khác đều quăng bỏ. Thật sự hy hữu, vi diệu tối thượng.
Mình là người xuất gia mà có khi lòng tin của mình còn chưa bằng những vị Bà-la-môn này vì những người này thật sự hiểu được chánh pháp, vì vậy tín căn, tín lực rất quan trọng trong sự tu tập của mình.
"Ví như, thưa Tôn giả, một người bị đói lả và mệt mỏi, tìm được một bánh mật, cứ mỗi miếng vị ấy được nếm, cứ mỗi miếng vị ấy được thưởng thức vị ngọt thuần nhất. Cũng vậy, thưa Tôn giả, khi đã được nghe pháp của Tôn giả Gotama, như Khế kinh, Phúng tụng, Ký thuyết, Vị tằng hữu pháp...vị ấy được hoan hỉ, tâm được tịnh tín" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (IV).Bà-La-Môn Kàranapàli)
Một người vừa đói vừa mệt có được miếng bánh mật thì hạnh phúc, sung sướng đến dường nào. Ở trên nói rằng khi nghe pháp Đức Phật thì không còn muốn nghe bất kì một học thuyết nào khác, còn ở đây nói rằng khi thưởng thức được vị ngọt thuần nhất của bánh mật Thánh trí ngũ uẩn thì vị này sẽ hoan hỉ, tâm tịnh tín, vui sướng, lòng tin trong sáng, lòng tin không có một chút do dự, phân vân, nghi ngờ gì cả.
Tất cả lời dạy của Đức Phật trong Nikāya không có một chút nào nghi ngờ thì gọi là tâm được tịnh tín, khi con nghe đại chúng trình pháp là con đang thưởng thức bánh mật, thân có mỏi nhưng tâm hân hoan, hoan hỉ. Khi đến giờ nghe pháp là chuẩn bị được ăn bánh mật, chuẩn bị được uống sữa Thánh cho nên ngày nào chúng ta cũng đãi cỗ lớn rồi mới ăn đoàn thực.
Những vị nào chỉ thích đoàn thực, quý trọng tấm thân này thì khi đến đây tu người ta sẽ không hoan hỉ, không quý cái pháp nhiều, với người quý pháp sẽ biết mỗi sáng đều được ăn bánh mật của Thế Tôn, mình được uống Thánh nhũ của Như Lai. Sung sướng biết bao nhiêu, tâm được tịnh tín biết bao nhiêu, trong xanh, trong sạch, trong veo, không có do dự, không có lưỡng lự, không có phân vân như mỗi sáng chúng ta đọc "từ bỏ nghi ngờ, sống với tâm không nghi ngờ, không phân vân, lưỡng lự…".
Bánh mật của Đức Phật là cái bánh ngon nhất trên đời, ăn vào sẽ bất tử, hiện tại chúng ta cũng đang thưởng thức bánh mật. Cho đến khi nào chúng ta nghe pháp, chúng ta thiền quán hay pháp đàm cũng cảm nhận đang ăn bánh mật thì lúc đó chúng tiến lên, chúng ta có được cảm giác giống như vậy thì sự tu của mình mới có hi vọng, còn ngồi nghe pháp, thiền quán hay pháp đàm mà thấy vô vị, mệt mỏi, thấy lâu thì sự tu vẫn còn xa lắm, còn đói khát lắm, chưa được thưởng thức bánh mật.
"Ví như, thưa Tôn giả, một người tìm được một cành cây chiên-đàn, chiên-đàn vàng hay chiên-đàn đỏ, chỗ nào người ấy ngửi hoặc từ nơi rễ, hoặc từ nơi chặng giữa, hoặc từ nơi ngọn, người ấy được hương thơm thuần diệu. Cũng vậy, thưa Tôn giả, khi đã được nghe pháp của Tôn giả Gotama, như Khế kinh, Phúng tụng, Ký thuyết, Vị tằng hữu pháp...thời vị ấy được thưởng thức hân hoan, được thưởng thức hoan hỉ" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (IV).Bà-La-Môn Kàranapàli)
Gỗ chiên-đàn là đệ nhất danh hương, được dùng làm rất nhiều trong dược liệu, mỹ phẩm, có giá trị rất cao cho nên một người tìm được cành cây chiên-đàn thì chỗ nào người ấy ngửi ngay cả với rễ, với thân hay ngọn đều được hương thơm. Mình nghe pháp có cảm giác này không? Mình pháp đàm có cảm giác này không?
Nếu chưa có thì phải quán để sanh khởi, nếu có rồi thì làm cho tăng trưởng, cho nên khi đã nghe pháp Đức Phật thì vị ấy được thưởng thức sự hân hoan, sự hoan hỉ sanh khởi trong lòng, vui thích, thích thú, hứng thú. Khi đã vào dòng pháp này tu tập sẽ có vô số cung bậc cảm xúc vì mình được ngửi chiên-đàn hương, là vua mộc, vua của tất cả loài gỗ thơm trên thế giới.
Mình hãy đốt lò trầm trong tâm, đàn hương, hãy đem ngọn lửa để mồi lên gỗ huỳnh đàn trong lòng mình chứ đừng tu mà đơ đơ, trơ trơ, ngơ ngơ không có cảm thọ, vô cảm với pháp thì rất uổng, nếu chưa có thì làm cho có, có rồi phải làm cho lớn mạnh.
Cảm thọ hạnh phúc trong con đang lan tỏa từ đảnh đầu đến gót chân, chúng ta cho cảm thọ này lan tỏa mạnh mẽ, sung mãn, tràn ngập châu thân của mình ngay trong giây phút hiện tại, cho nó thấm đượm, thấm đẫm, thấm nhuần, cho nó thấm thía trong từng lỗ chân lông, từng tế bào, từng làn da, từng thớ thịt, từng ngõ ngách trong xương, trong tủy mình, để nó thấm thía cảm thọ thần diệu này, hoan hỉ này, tịnh tín này, hân hoan này.
"Ví như, thưa Tôn giả, một người bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, rồi có vị lương y lập tức chữa cho khỏi bệnh. Cũng vậy, thưa Tôn giả, khi đã được nghe pháp của Tôn giả Gotama, như Khế kinh, Phúng tụng, Ký thuyết, Vị tằng hữu pháp...khi ấy, sầu bi khổ ưu não đi đến tiêu diệt" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (IV).Bà-La-Môn Kàranapàli)
Khi bệnh nặng có dược sư, có y vương, pháp dược, có thần dược, diệu dược chữa cho thì người bệnh nhân này lập tức khỏi bệnh, cũng vậy, khi nghe pháp của Đức Phật thì sầu, bi, khổ, ưu, não bị tiêu diệu. Thật là tuyệt vời! Sầu bi là khổ đau, ưu não là lo lắng, buồn phiền, những thứ này đều bị tiêu diệt, diệt tận, diệt vong khi một người đã được nghe pháp, thực hành theo pháp Nikāya này, lặp tức được chữa khỏi bệnh ngay khi thực hành pháp, còn quên thực hành pháp là bệnh trở lại. Khi thấy ngũ uẩn là không thấy có cái tôi nên lúc đó mình bớt bệnh, giảm bệnh được đôi phần, nếu thực hành thuần thục thì hết bệnh, thấy dục, ái, vô minh, tham, sân, si này rành rành, thấy rõ được khổ và nguyên nhân của khổ rất minh bạch, tường tận, rõ ràng, trong sáng. Còn niềm hạnh phúc nào bằng ngay bây giờ chúng ta đang được thưởng thức? Ngôn từ chỉ nói được phần nào chứ không thể diễn tả hết được niềm hỷ lạc tối thượng trong Thánh pháp này.
"Ví như, thưa Tôn giả, một hồ sen, có nước trong, có nước ngọt, có nước mát, có nước mát trong, có bờ hồ khéo sắp đặt, đẹp đẽ, rồi một người đi đến, bị nóng nhiệt não, bị nóng bức bách, mệt mỏi, thèm uống nước, khát nước. Người ấy, sau khi lặn xuống trong hồ sen ấy, sau khi tắm rửa, uống nước, tất cả khổ cực mệt mỏi, nhiệt não đều được lắng dịu. Cũng vậy, thưa Tôn giả, khi đã được nghe pháp của Tôn giả Gotama, như Khế kinh, Phúng tụng, Ký thuyết, Vị tằng hữu pháp...khi ấy tất cả khổ cực, mệt mỏi, nhiệt não đều được chỉ tức" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (IV).Bà-La-Môn Kàranapàli)
Ngày nào mình cũng được tắm hồ sen thì làm sao không mát cho được, ngày nào cũng được ăn bánh mật tối thượng thì làm sao không khỏe, ngày nào cũng được thần dược, pháp dược, diệu dược, linh dược, Phật dược chữa cho thì làm sao không hết bệnh. Nếu người nào không hết bệnh, không bớt bệnh thì người đó thật sự tệ, người đó cứng đầu cứng cổ, mê chấp, bản ngã. Một người đã được những thứ này mà còn đói khát, mệt mỏi, còn bức xúc, nhiệt não, bệnh hoạn, khổ đau, còn khổ cực thì rất uổng phí, tội nghiệp chính mình, mình phải thưởng thức những cái này mỗi ngày mỗi giờ. Các thầy, các cô đi khất thực, pháp đàm mà con hạnh phúc, hoan hỉ, làm lắng dịu hết tất cả những mệt mỏi, nhọc nhằn.
Bây giờ chúng ta đang lắng dịu, đang dễ chịu, ngọt ngào, chúng ta đang thưởng thức một hồ sen nước trong, nước sạch, nước mát, nước ngọt, xung quanh chúng ta ngồi là hoa sen đua nở, trong cảm thọ chúng ta là liên hoa đang khai mở, trong nội tâm này, trong hình hài này là hoa sen đang nở, là nước mát, là nước trong, nước ngọt. Hãy lắng dịu tất cả những thứ hơn thua, sân si, phải quấy, đấu đá ngoài đời, hãy lắng dịu tất cả những cái tâm đúng sai, những sự kiến chấp, si mê của thường tình, phàm tình, hãy diệt tận hết đi, hãy tan biến hết thành mây, thành khói, thành hư không để mình có cảm thọ thật nhẹ nhàng, thật dễ chịu, thật bình yên, tươi mát, thanh lương. Hãy thưởng thức sự hân hoan này đi, hãy thưởng thức sự hoan hỉ này đi, tiêu diệt tất cả những sầu, bi, khổ, ưu, não này đi, tâm được tịnh tín, trong xanh, trong veo, trong sạch, không còn thèm muốn bất kì lý thuyết nào của những Sa-môn thấp kém nào khác.
Còn ai hạnh phúc bằng chúng ta trong giờ phút tối thượng này? Chúng ta hãy cho cảm thọ này nở hoa đi, cho nó tỏa hương đi, cho nó thấm đẫm, thấm đượm, thấm thía, thẩm thấu vào từng lỗ tế bào, từng làn da, vào trong xương trong tủy của mình. Hãy để nó ngấm vào nơi sâu thẳm nhất trong cảm thọ, hãy cất giữ những cảm giác này, cất chứa cảm thọ này, cất kĩ cảm xúc này, giữ gìn, thọ trì, trân quý, trân trọng và tiếp tục tưới tẩm, nuôi dưỡng, phát triển làm cho nó sung mãn, tràn ngập khắp thân tâm để mình hạnh phúc trong sự tu học này, hạnh phúc trong sự rời xa, thoát ra này, hạnh phúc trong sự viễn ly, xuất ly này, thoát ly này, đoạn ly này, xả ly này. Hãy thưởng thức thật là sâu sắc giây phút này, hãy thấm đẫm, lan tỏa, hãy cho hỷ lạc này sung mãn, cho nó song ướp, cho nó dạt dào, ngọt ngào. Hãy thưởng thức sự hỷ lạc không liên hệ đến vật chất này, sự hỷ lạc cao thượng này, sự hỷ lạc tối thượng này, sự hạnh phúc cao tột này, hãy cho tâm này thưởng thức đại tiệc Thánh pháp này.
- Thiền thứ nhất, hướng tâm rõ biết:
Hiện tại thân tâm chẳng dục tham,
Bình yên, an tịnh trong người
Không như lúc bị dục tham làm phiền,
Thân bức xúc không yên ổn được,
Đứng, đi, ngồi, nằm rất bất an
Giờ đây xả dục, ly tham
Nên thân tâm được bình an, yên lành.
Quán hạnh phúc khi mình ly dục
Quán bình an lúc chẳng tham sân
Hân hoan sanh khởi trong lòng
Tâm vui, thân lạc vì rời dục tham
Cho lạc hỷ này lan tỏa khắp
Toàn thân này lạc hỷ thấm nhuần
Như xà bông rửa chén dơ
Hỷ lạc này rửa dục nhơ trong lòng.
Giờ đây khi xưng tán giáo pháp của Thế Tôn thân tâm mình hạnh phúc, hoan hỉ. Ngay giây phút chúng ta niệm Phật, niệm pháp này không có tham, sân, si, tâm được tịnh tín, được hân hoan, hoan hỉ. Thật là hân hoan, thật là hỷ lạc, thật là tịnh tín đối với Đức Thế Tôn, đối với Thánh pháp, tất cả khổ cực, mệt mỏi, nhiệt não đều được lắng dịu, dừng lại trong giây phút này.
Khi đã được nghe pháp của Đức Phật thì không còn thèm muốn các lý thuyết của những người khác, của các Sa-môn thấp kém khác. Một người bị đói và mệt mỏi mà được bánh mật thì mỗi miếng được thưởng thức là vị ngọt thuần nhất, vị này hoan hỉ, tâm được tịnh tín. Một người tìm được gỗ chiên-đàn, thân cũng thơm, gỗ cũng thơm, rễ cũng thơm, một hương thơm thần diệu, vị ấy hân hoan, hoan hỉ khi được nghe pháp của Đức Thế Tôn. Một người bị bệnh nặng được lương y chữa khỏi bệnh, khi nghe pháp Đức Phật thì sầu, bi, khổ, ưu, não bị tiêu diệt. Một người bị mệt mỏi, bức bách mà gặp được hồ sen trong mát, ngọt ngào, người này được rửa tay, rửa mặt, rửa chân, được tắm mình trong hồ nước mát, tất cả khổ cực, mệt nhọc, nhiệt não đều lặng yên.
"Khi được nói vậy, Bà-la-môn Karanapàli từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y qua một bên vai, đầu gối bên phải quỳ trên mặt đất, chắp tay hướng đến Thế Tôn, và ba lần thốt lên lời cảm hứng sau đây:
- Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác!
Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác!
Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác!
- Thật vi diệu thay, Tôn giả Pingiyàni! Thật vi diệu thay, Tôn giả Pingiyàni! Thưa Tôn giả Pingiyàni, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những kẻ đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Thưa Tôn giả Pingiyàni, con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và chúng Tỳ-kheo. Tôn giả Pingyàni hãy chấp nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (IV).Bà-La-Môn Kàranapàli)
Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Đức Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Bạch Thế Tôn, chúng con xin quy y Thế Tôn, chúng con xin quy y chánh Pháp, chúng con xin quy y chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận chúng con làm đệ tử. Từ nay cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.
II. Dòng cảm thọ ngọt ngào
Kính bạch chư tôn hiền đức sáng nay chúng ta thiền quán xưng tán tam bảo. Chúng ta cố gắng giữ gìn những cảm thọ hiền thiện, quý báo này, mình học dòng pháp này có hai dòng cảm thọ hỷ và ưu để phá vỡ cảm thọ si, những buổi thiền quán là đánh phá hết tất cả và làm cho mình thấm thía khổ đau đến tận cùng, đó là dòng ưu tư, ưu não, ưu buồn, lo lắng, sợ hãi, bất an, làm động lực thúc đẩy mình tiến về phía trước.
Dòng cảm thọ thứ hai giống như hôm nay là dòng cảm thọ hân hoan, hoan hỉ, hứng thú, thích thú để mình mạnh mẽ tiến lên. Ngoài ra còn có sự an tịnh, tịnh chỉ để tâm mình lắng dịu xuống để nhìn sâu vào bên trong tự thân và những sự thật. Ba dòng cảm thọ này đều nhằm phá tham, sân, si, để diệt tận bản ngã cho nên có lúc mình khổ tột cùng, có lúc vui tột bậc nhưng hỷ và ưu này là của thiện pháp, của Thánh trí chứ không phải cái khổ, cái vui của được mất, khen chê ngoài đời.
Đức Phật nói khi niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng thì lúc đó mình sẽ từ bỏ được tham, sân, si. Khi niệm Phật là nhớ ân đức của Phật, nhớ trí tuệ của Phật, nhớ từ bi của Phật, nhớ công năng tuyệt diệu của giáo pháp thì lúc đó tâm mình lìa tham, sân, si, mình được tịnh tín, được hân hoan sanh khởi là hỷ vô lượng tâm, người nào khéo lắm sẽ được hỷ vô lượng tâm, còn không thì được hỷ lạc thấm nhuần.
Một cảm giác tàm quý, xấu hổ, sợ hãi cũng đưa đến để mình chuyển cảm thọ vô minh, thấp hèn, những cảm thọ ngu si, ngu muội được chuyển hóa cho nên mỗi một góc độ, một phương diện là Đức Phật đánh phá vào khía cạnh của vô minh. Mỗi một cảm thọ của thiện sẽ đối trị lại cảm thọ của bất thiện, nó sẽ tẩy rửa, lau chùi bên trong nội tâm mình, nếu mình khéo nhìn thấy sẽ phát hiện ra những cái rất thiện xảo, tuyệt diệu, trí tuệ, từ bi của Đức Phật.
Chúng ta phải dùng rất nhiều phương tiện để rửa tâm cấu nhiễm, cấu uế chứ không phải chỉ tu từ vô lượng tâm là đủ, nếu không nhận diện ngũ uẩn thì làm sao biết được mình tu tâm từ ở mức độ nào, nếu không quán về khổ thánh trí thì làm sao tâm từ của mình được viên mãn, được thâm sâu, còn quán khổ thánh trí mà không có sự hỷ lạc trong sự thấy biết sự thật thì mình sẽ nghiêng về tiêu cực, mình bị trì trệ trong cái khổ mà mình không biết thấy được cái khổ chính là cái vui khi thấy được khổ. Chúng ta khéo léo nhìn nhận sẽ thấy được sự giáo dục toàn diện của Đức Phật, tám mặt của Bát Chánh đánh vào tám mặt của bát tà, tám mặt của chánh kiến đánh vào tám mặt của tà kiến, ngoài ra còn rất nhiều thiện pháp để đánh vào bất thiện pháp.
Hôm nay chúng ta tưới tẩm như vầy thì lòng tin của mình sẽ được thêm lớn, sẽ được tăng trưởng, phát triển, một khi lòng tin được tăng trưởng, phát triển thì mình sẽ nỗ lực để thực hành, khi thực hành thì mình sẽ nhớ pháp, khi nhớ pháp một cách nhiệt tâm thì mình sẽ tập trung, khi tập trung thì trí của mình sẽ sáng tỏ, sẽ soi thấu, đó chính là tín – tấn – niệm – định – huệ, nếu mình quán ngũ uẩn thật kĩ thì mình sẽ thấy pháp vận hành, sẽ đi theo với nhau theo lộ trình tâm, nếu mình khéo lái, khéo điều chỉnh sẽ đi đúng theo đạo lộ của Đức Phật.
Nếu mình chỉ có tín không thì buông ra sẽ không có tấn, còn nếu có tinh tấn nhưng mình lại không khéo an trú niệm của chánh niệm thì cái tinh tấn đó ở trong dao động, do đó phải khéo lái tâm để tinh tấn nhưng có chánh niệm, khi đã có chánh niệm thì có định, có được định thì có tuệ, vậy là đầy đủ tín – tấn – niệm – định – huệ, mình phải khéo thấy được để sử dụng tâm cho nhu nhuyến, thuần thục, thiện xảo, khéo léo.
Các vị mới chưa biết nhiều nhưng phải để ý học hỏi, khi đang trình bày, tác ý về ân đức tam bảo thì mình tác ý giống như vậy, đừng có đi lệch qua cái khác. Khi mình có nhận diện ngũ uẩn sâu sắc thì mình sẽ biết khi đang tác ý về ân đức Phật, ân đức pháp thì tập trung vào đó, đừng đi ra cái khác, mình nghe lại lời trình pháp của mình rồi viết ra khi tâm rẽ những hướng khác, có khi mình được giao công việc rồi mình bị công việc đó ám ảnh trong tâm, lúc đó cái pháp không hiện rõ hoặc tâm bị năm triền cái thì cái pháp không rõ.
Khi có chủ đề niệm ân đức của Phật, của pháp thì mình tập trung tất cả những gì về ân đức của Phật, của pháp, cái tâm mình lúc đó tùy văn nhập quán thì khi trình pháp sẽ không bị lạc đề. Còn cái tâm lúc đó đang đi lang thang thì khi trình pháp lại đi xa hơn nữa, nói không đâu vô đâu cho nên đây là cái khó nhưng tập từ từ sẽ được.
Khi mình đang xưng tán Phật và giáo pháp của Phật thì tất cả thọ; tưởng; hành của mình phải đặt đúng hướng, khi mình nghe và đặt tâm đúng hướng thì khi trình pháp cũng đúng vào hồng tâm. Khi mình thiền quán, trình pháp hay khi pháp đàm thì phải tập trung vào cái gì đang nghe, đang học, mình xoáy sâu vào đó thì mới đi sâu, nếu không dù là thiện pháp nhưng sẽ bị loãng, không có sức mạnh tập trung gọi là định lực vì thế khi nghe pháp cũng đang vận dụng ngũ căn, ngũ lực. Khi nghe mà có sự tập trung vào bài pháp, có chánh niệm thì cái tuệ mình trong lúc đó khai mở vì thế 37 phẩm trợ đạo sử dụng mọi lúc mọi nơi, khi mình hoan hỉ trong pháp thì mình sẽ tinh tấn trong pháp, khi tinh tấn sẽ nhớ pháp, khi nhớ pháp thì tâm sẽ tập trung vào pháp, khi tập trung như vậy thì mình có tuệ, mình thấy được sự vận hành của nó.
Khi mình đã có chìa khóa ngũ uẩn mở ra thì tất cả 37 phẩm trợ đạo đều ở trong lòng bàn tay của mình, mình phát triển thêm phần quán pháp trong pháp thì cái tâm mình từ từ sẽ tế nhị, sẽ vi tế, sẽ tinh vi, sẽ sắc bén, mềm mại, dễ sử dụng. Sau này mình sẽ làm chủ tâm, mình muốn như thế nào thì nó sẽ thế đó, mình muốn trú vào tâm từ thì sẽ có tâm từ, mình muốn trú vào tâm niệm ân đức Phật thì trú vào tâm niệm ân đức Phật, mình muốn trú vào tâm hỷ thì trú vào tâm hỷ, mình muốn trú vào tâm xả thì ở trong tâm xả. Con muốn cho đại chúng trú vào tâm gì thì mình sẽ tác ý theo hướng đó, hôm nay con muốn đại chúng có sự hoan hỉ trong pháp cho nên con nói bài này.
Mình phải tập làm tài xế lái chiếc xe, muốn đi đường nào là do mình quyết định, mình tập dẫn tâm mình trong khi thiền quán, trong khi nghe pháp chứ không để nó đi mông lung, không cho nó đi lòng vòng và mình phải có sự nhất quán, kết thúc là kết thúc chứ nhiều người muốn kết thúc nhưng cố nói thêm chút nữa. Chúng ta nhìn thấy sự vận hành của tâm, chúng ta trình pháp như vậy là tốt lắm rồi nhưng con muốn tốt hơn nữa, chúng ta khéo an trú vào những hình ảnh này trong suốt ngày hôm nay, người nào nếm được vị ngọt tối thượng trong lời kinh Nikāya sẽ không còn ưa thích những vị ngọt thấp kém của các Sa-môn khác, một người đói mệt được ăn bánh mật, một người tìm thấy gỗ chiên-đàn hương, huỳnh đàn, xích chiên-đàn, thưởng thức được mùi thơm tho, người bệnh nặng được chữa khỏi bệnh, một người khát nước, nóng bức lại gặp được hồ sen trong mát, tắm mình trong đó, khi ấy tất cả khổ cực, mệt mỏi, nhiệt não đều biến mất, lắng dịu.
Lấy những cái này làm đề mục quán chiếu, trong suốt ngày mình cứ tác ý, ngồi thiền cũng lấy đề tài này quán chiếu để thể nhập sâu vào đó, không bị mất trong tâm, sau này có việc cần khởi lên là có, còn nghe phất phơ là bị mất hết không giữ lại được, đó là một trong những sự tinh cần chính là hộ trì các thiện pháp. Khi nhớ đến Phật là những hình ảnh bánh mật, thầy thuốc hay, xích chiên-đàn, chiên-đàn hương, hồ sen sẽ hiện ra, mình có tư liệu, đề mục để quán tưởng, khi trình bày sẽ có nhiều hình ảnh để nói vì nó đi vào trong tâm và ở trong đó không mất đi, nếu không nghe rồi mất đi, Đức Phật gọi là trí tuệ bắp vế như để bánh kẹo trên đùi, đứng dậy là mất hết. Mình phải niệm ân đức Phật, ân đức pháp, ân đức Tăng, đó là thiền biết ơn, là ân đức của bậc chân nhân.
./.
Tịnh Tín Là Gì ?
Những Hình Ảnh Tuyệt Đẹp Của Chánh Pháp!
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Những hình ảnh tuyệt đẹp của Chánh Pháp PAGEREF _Toc139893043 \h 1
II. Dòng cảm thọ ngọt ngào PAGEREF _Toc139893044 \h 8
I. Những hình ảnh tuyệt đẹp của Chánh Pháp
Hôm nay chúng ta nghe nhiều bài kinh và chúng ta sẽ niệm Đức Phật, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ở giữa bài kinh. Những sự kiện này giống như chúng ta được quay trở về 26 thế kỉ trước, đi thăm viếng bậc Chánh Đẳng Giác, thăm viếng các bậc hiền Thánh và các vị Bà-la-môn du sĩ, cư sĩ ngày xưa. Đầu tiên chúng ta sẽ nghe bài kinh một vị Bà-la-môn tán thán Đức Phật, ca ngợi diệu pháp với nhiều hình ảnh rất tuyệt diệu, vi diệu.
"Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì, tại Mahàvana, chỗ giảng đường có nóc nhọn. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kàranapàli đang xây dựng nhà cho Licchavì. Bà-la-môn Kàranapàli thấy Bà-la-môn Pingiyàni từ đường xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Bà-la-môn Pingiyàni:
- Tôn giả Pingiyàni đi từ đâu đến sớm như vậy?
- Thưa Tôn giả, tôi đi từ chỗ Sa-môn Gotama về.
- Tôn giả Pingiyàni nghĩ thế nào về trí tuệ sáng suốt của Sa-môn Gotama? Ngài có nghĩ vị ấy là một bậc Hiền trí chăng?
- Tôi là ai, thưa Tôn giả, lại có thể biết được trí tuệ sáng suốt của Sa-môn Gotama. Chỉ có ai như vị ấy, mới có thể biết được trí tuệ sáng suốt của Sa-môn Gotama" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (IV).Bà-La-Môn Kàranapàli)
Tôi là ai mà có thể biết được trí tuệ của bậc Đại Giác? Chỉ có người ngang tầm mới có thể biết được trí tuệ sáng suốt của ngài.
"Thật là cao thượng lời Tôn giả Pingiyàni tán thán Sa-môn Gotama. 'Tôi là ai, thưa Tôn giả, lại có thể nói lời tán thán Sa-môn Gotama'. Ðược tán thán bởi những bậc được tán thán là Tôn giả Gotama, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (IV).Bà-La-Môn Kàranapàli)
Đức Thế Tôn là bậc được khen ngợi bởi những bậc được người khác khen ngợi, được xưng tán bởi những người được mọi người xưng tán. Những người được xã hội tôn kính, tán dương, tôn trọng thì những bậc này lại rất cung kính, tán dương Đức Phật, ngài là bậc tối tôn, tối thượng trong ba cõi, cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc, ngài là bậc tối tôn, tối thượng giữa loài hai chân, bốn chân, nhiều chân, ngài là bậc tối tôn, tối thượng trong bốn loài chúng sanh, noãn sanh, thai sanh, hóa sanh, thấp sanh, sanh bằng trứng, sanh bằng bào thai, sanh ra từ chỗ ẩm thấp và sanh ra trong sự biến hóa của nghiệp. Có câu "thiên nhân chi đạo sư, tứ sanh chi từ phụ" nghĩa là ngài là bậc đạo sư của trời và người, là đấng cha lành của bốn loại chúng sanh, ngài là bậc tốn tôn, tối thượng trong tất cả chúng sanh hữu tình, ngài là bậc tối thắng.
"Tôn giả Pingyiàni thấy những lợi ích gì lại cực lực tin tưởng Sa-môn Gotama như vậy?
- Thưa Tôn giả, ví như một người đã thỏa mãn với vị ngọt tối thượng sẽ không còn thèm muốn các vị ngọt hạ liệt khác. Cũng vậy, thưa Tôn giả, khi đã nghe pháp của Tôn giả Gotama, như Khế kinh, Phúng tụng, Ký thuyết, Vị tằng hữu pháp.., thời không còn thèm muốn các lý thuyết của những người khác, của các Sa-môn, Bà-la-môn thấp kém" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (IV).Bà-La-Môn Kàranapàli)
Lời dạy của Đức Phật là vị ngọt tối thượng, những sự giảng dạy của những phàm phu là những vị ngọt thấp kém, một khi đã thể nhập, nếm được vị ngọt tối thượng của Thánh pháp này thì người đó sẽ không còn thèm muốn vị ngọt hạ liệt của ai nữa, còn người nào còn thèm muốn những vị ngọt khác là người đó chưa nếm được vị ngọt tối thượng trong Thánh pháp này.
Chỉ có người thành tựu tịnh tín bất động mới hiểu được, trong đạo tràng chúng ta sẽ hiểu được nhiều với những người đã có lòng tin thâm sâu, đọc những lời kinh này sẽ bổ dưỡng, vi diệu. Một khi đã nghe chánh pháp của Đức Phật thì không còn thèm muốn tất cả những học thuyết, lý thuyết khác của các Sa-môn thấp kém, hạ liệt khác. Cái này con cảm nhận được 100%, khi con vào dòng pháp Nikāya rồi thì tất cả những kiến thức tích tụ 28 năm trước nhất thời đều rơi rụng, tích tắc quăng bỏ cùng một lúc, cũng như cầm được viên kim cương thật sự thì những viên giả khác đều quăng bỏ. Thật sự hy hữu, vi diệu tối thượng.
Mình là người xuất gia mà có khi lòng tin của mình còn chưa bằng những vị Bà-la-môn này vì những người này thật sự hiểu được chánh pháp, vì vậy tín căn, tín lực rất quan trọng trong sự tu tập của mình.
"Ví như, thưa Tôn giả, một người bị đói lả và mệt mỏi, tìm được một bánh mật, cứ mỗi miếng vị ấy được nếm, cứ mỗi miếng vị ấy được thưởng thức vị ngọt thuần nhất. Cũng vậy, thưa Tôn giả, khi đã được nghe pháp của Tôn giả Gotama, như Khế kinh, Phúng tụng, Ký thuyết, Vị tằng hữu pháp...vị ấy được hoan hỉ, tâm được tịnh tín" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (IV).Bà-La-Môn Kàranapàli)
Một người vừa đói vừa mệt có được miếng bánh mật thì hạnh phúc, sung sướng đến dường nào. Ở trên nói rằng khi nghe pháp Đức Phật thì không còn muốn nghe bất kì một học thuyết nào khác, còn ở đây nói rằng khi thưởng thức được vị ngọt thuần nhất của bánh mật Thánh trí ngũ uẩn thì vị này sẽ hoan hỉ, tâm tịnh tín, vui sướng, lòng tin trong sáng, lòng tin không có một chút do dự, phân vân, nghi ngờ gì cả.
Tất cả lời dạy của Đức Phật trong Nikāya không có một chút nào nghi ngờ thì gọi là tâm được tịnh tín, khi con nghe đại chúng trình pháp là con đang thưởng thức bánh mật, thân có mỏi nhưng tâm hân hoan, hoan hỉ. Khi đến giờ nghe pháp là chuẩn bị được ăn bánh mật, chuẩn bị được uống sữa Thánh cho nên ngày nào chúng ta cũng đãi cỗ lớn rồi mới ăn đoàn thực.
Những vị nào chỉ thích đoàn thực, quý trọng tấm thân này thì khi đến đây tu người ta sẽ không hoan hỉ, không quý cái pháp nhiều, với người quý pháp sẽ biết mỗi sáng đều được ăn bánh mật của Thế Tôn, mình được uống Thánh nhũ của Như Lai. Sung sướng biết bao nhiêu, tâm được tịnh tín biết bao nhiêu, trong xanh, trong sạch, trong veo, không có do dự, không có lưỡng lự, không có phân vân như mỗi sáng chúng ta đọc "từ bỏ nghi ngờ, sống với tâm không nghi ngờ, không phân vân, lưỡng lự…".
Bánh mật của Đức Phật là cái bánh ngon nhất trên đời, ăn vào sẽ bất tử, hiện tại chúng ta cũng đang thưởng thức bánh mật. Cho đến khi nào chúng ta nghe pháp, chúng ta thiền quán hay pháp đàm cũng cảm nhận đang ăn bánh mật thì lúc đó chúng tiến lên, chúng ta có được cảm giác giống như vậy thì sự tu của mình mới có hi vọng, còn ngồi nghe pháp, thiền quán hay pháp đàm mà thấy vô vị, mệt mỏi, thấy lâu thì sự tu vẫn còn xa lắm, còn đói khát lắm, chưa được thưởng thức bánh mật.
"Ví như, thưa Tôn giả, một người tìm được một cành cây chiên-đàn, chiên-đàn vàng hay chiên-đàn đỏ, chỗ nào người ấy ngửi hoặc từ nơi rễ, hoặc từ nơi chặng giữa, hoặc từ nơi ngọn, người ấy được hương thơm thuần diệu. Cũng vậy, thưa Tôn giả, khi đã được nghe pháp của Tôn giả Gotama, như Khế kinh, Phúng tụng, Ký thuyết, Vị tằng hữu pháp...thời vị ấy được thưởng thức hân hoan, được thưởng thức hoan hỉ" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (IV).Bà-La-Môn Kàranapàli)
Gỗ chiên-đàn là đệ nhất danh hương, được dùng làm rất nhiều trong dược liệu, mỹ phẩm, có giá trị rất cao cho nên một người tìm được cành cây chiên-đàn thì chỗ nào người ấy ngửi ngay cả với rễ, với thân hay ngọn đều được hương thơm. Mình nghe pháp có cảm giác này không? Mình pháp đàm có cảm giác này không?
Nếu chưa có thì phải quán để sanh khởi, nếu có rồi thì làm cho tăng trưởng, cho nên khi đã nghe pháp Đức Phật thì vị ấy được thưởng thức sự hân hoan, sự hoan hỉ sanh khởi trong lòng, vui thích, thích thú, hứng thú. Khi đã vào dòng pháp này tu tập sẽ có vô số cung bậc cảm xúc vì mình được ngửi chiên-đàn hương, là vua mộc, vua của tất cả loài gỗ thơm trên thế giới.
Mình hãy đốt lò trầm trong tâm, đàn hương, hãy đem ngọn lửa để mồi lên gỗ huỳnh đàn trong lòng mình chứ đừng tu mà đơ đơ, trơ trơ, ngơ ngơ không có cảm thọ, vô cảm với pháp thì rất uổng, nếu chưa có thì làm cho có, có rồi phải làm cho lớn mạnh.
Cảm thọ hạnh phúc trong con đang lan tỏa từ đảnh đầu đến gót chân, chúng ta cho cảm thọ này lan tỏa mạnh mẽ, sung mãn, tràn ngập châu thân của mình ngay trong giây phút hiện tại, cho nó thấm đượm, thấm đẫm, thấm nhuần, cho nó thấm thía trong từng lỗ chân lông, từng tế bào, từng làn da, từng thớ thịt, từng ngõ ngách trong xương, trong tủy mình, để nó thấm thía cảm thọ thần diệu này, hoan hỉ này, tịnh tín này, hân hoan này.
"Ví như, thưa Tôn giả, một người bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, rồi có vị lương y lập tức chữa cho khỏi bệnh. Cũng vậy, thưa Tôn giả, khi đã được nghe pháp của Tôn giả Gotama, như Khế kinh, Phúng tụng, Ký thuyết, Vị tằng hữu pháp...khi ấy, sầu bi khổ ưu não đi đến tiêu diệt" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (IV).Bà-La-Môn Kàranapàli)
Khi bệnh nặng có dược sư, có y vương, pháp dược, có thần dược, diệu dược chữa cho thì người bệnh nhân này lập tức khỏi bệnh, cũng vậy, khi nghe pháp của Đức Phật thì sầu, bi, khổ, ưu, não bị tiêu diệu. Thật là tuyệt vời! Sầu bi là khổ đau, ưu não là lo lắng, buồn phiền, những thứ này đều bị tiêu diệt, diệt tận, diệt vong khi một người đã được nghe pháp, thực hành theo pháp Nikāya này, lặp tức được chữa khỏi bệnh ngay khi thực hành pháp, còn quên thực hành pháp là bệnh trở lại. Khi thấy ngũ uẩn là không thấy có cái tôi nên lúc đó mình bớt bệnh, giảm bệnh được đôi phần, nếu thực hành thuần thục thì hết bệnh, thấy dục, ái, vô minh, tham, sân, si này rành rành, thấy rõ được khổ và nguyên nhân của khổ rất minh bạch, tường tận, rõ ràng, trong sáng. Còn niềm hạnh phúc nào bằng ngay bây giờ chúng ta đang được thưởng thức? Ngôn từ chỉ nói được phần nào chứ không thể diễn tả hết được niềm hỷ lạc tối thượng trong Thánh pháp này.
"Ví như, thưa Tôn giả, một hồ sen, có nước trong, có nước ngọt, có nước mát, có nước mát trong, có bờ hồ khéo sắp đặt, đẹp đẽ, rồi một người đi đến, bị nóng nhiệt não, bị nóng bức bách, mệt mỏi, thèm uống nước, khát nước. Người ấy, sau khi lặn xuống trong hồ sen ấy, sau khi tắm rửa, uống nước, tất cả khổ cực mệt mỏi, nhiệt não đều được lắng dịu. Cũng vậy, thưa Tôn giả, khi đã được nghe pháp của Tôn giả Gotama, như Khế kinh, Phúng tụng, Ký thuyết, Vị tằng hữu pháp...khi ấy tất cả khổ cực, mệt mỏi, nhiệt não đều được chỉ tức" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (IV).Bà-La-Môn Kàranapàli)
Ngày nào mình cũng được tắm hồ sen thì làm sao không mát cho được, ngày nào cũng được ăn bánh mật tối thượng thì làm sao không khỏe, ngày nào cũng được thần dược, pháp dược, diệu dược, linh dược, Phật dược chữa cho thì làm sao không hết bệnh. Nếu người nào không hết bệnh, không bớt bệnh thì người đó thật sự tệ, người đó cứng đầu cứng cổ, mê chấp, bản ngã. Một người đã được những thứ này mà còn đói khát, mệt mỏi, còn bức xúc, nhiệt não, bệnh hoạn, khổ đau, còn khổ cực thì rất uổng phí, tội nghiệp chính mình, mình phải thưởng thức những cái này mỗi ngày mỗi giờ. Các thầy, các cô đi khất thực, pháp đàm mà con hạnh phúc, hoan hỉ, làm lắng dịu hết tất cả những mệt mỏi, nhọc nhằn.
Bây giờ chúng ta đang lắng dịu, đang dễ chịu, ngọt ngào, chúng ta đang thưởng thức một hồ sen nước trong, nước sạch, nước mát, nước ngọt, xung quanh chúng ta ngồi là hoa sen đua nở, trong cảm thọ chúng ta là liên hoa đang khai mở, trong nội tâm này, trong hình hài này là hoa sen đang nở, là nước mát, là nước trong, nước ngọt. Hãy lắng dịu tất cả những thứ hơn thua, sân si, phải quấy, đấu đá ngoài đời, hãy lắng dịu tất cả những cái tâm đúng sai, những sự kiến chấp, si mê của thường tình, phàm tình, hãy diệt tận hết đi, hãy tan biến hết thành mây, thành khói, thành hư không để mình có cảm thọ thật nhẹ nhàng, thật dễ chịu, thật bình yên, tươi mát, thanh lương. Hãy thưởng thức sự hân hoan này đi, hãy thưởng thức sự hoan hỉ này đi, tiêu diệt tất cả những sầu, bi, khổ, ưu, não này đi, tâm được tịnh tín, trong xanh, trong veo, trong sạch, không còn thèm muốn bất kì lý thuyết nào của những Sa-môn thấp kém nào khác.
Còn ai hạnh phúc bằng chúng ta trong giờ phút tối thượng này? Chúng ta hãy cho cảm thọ này nở hoa đi, cho nó tỏa hương đi, cho nó thấm đẫm, thấm đượm, thấm thía, thẩm thấu vào từng lỗ tế bào, từng làn da, vào trong xương trong tủy của mình. Hãy để nó ngấm vào nơi sâu thẳm nhất trong cảm thọ, hãy cất giữ những cảm giác này, cất chứa cảm thọ này, cất kĩ cảm xúc này, giữ gìn, thọ trì, trân quý, trân trọng và tiếp tục tưới tẩm, nuôi dưỡng, phát triển làm cho nó sung mãn, tràn ngập khắp thân tâm để mình hạnh phúc trong sự tu học này, hạnh phúc trong sự rời xa, thoát ra này, hạnh phúc trong sự viễn ly, xuất ly này, thoát ly này, đoạn ly này, xả ly này. Hãy thưởng thức thật là sâu sắc giây phút này, hãy thấm đẫm, lan tỏa, hãy cho hỷ lạc này sung mãn, cho nó song ướp, cho nó dạt dào, ngọt ngào. Hãy thưởng thức sự hỷ lạc không liên hệ đến vật chất này, sự hỷ lạc cao thượng này, sự hỷ lạc tối thượng này, sự hạnh phúc cao tột này, hãy cho tâm này thưởng thức đại tiệc Thánh pháp này.
- Thiền thứ nhất, hướng tâm rõ biết:
Hiện tại thân tâm chẳng dục tham,
Bình yên, an tịnh trong người
Không như lúc bị dục tham làm phiền,
Thân bức xúc không yên ổn được,
Đứng, đi, ngồi, nằm rất bất an
Giờ đây xả dục, ly tham
Nên thân tâm được bình an, yên lành.
Quán hạnh phúc khi mình ly dục
Quán bình an lúc chẳng tham sân
Hân hoan sanh khởi trong lòng
Tâm vui, thân lạc vì rời dục tham
Cho lạc hỷ này lan tỏa khắp
Toàn thân này lạc hỷ thấm nhuần
Như xà bông rửa chén dơ
Hỷ lạc này rửa dục nhơ trong lòng.
Giờ đây khi xưng tán giáo pháp của Thế Tôn thân tâm mình hạnh phúc, hoan hỉ. Ngay giây phút chúng ta niệm Phật, niệm pháp này không có tham, sân, si, tâm được tịnh tín, được hân hoan, hoan hỉ. Thật là hân hoan, thật là hỷ lạc, thật là tịnh tín đối với Đức Thế Tôn, đối với Thánh pháp, tất cả khổ cực, mệt mỏi, nhiệt não đều được lắng dịu, dừng lại trong giây phút này.
Khi đã được nghe pháp của Đức Phật thì không còn thèm muốn các lý thuyết của những người khác, của các Sa-môn thấp kém khác. Một người bị đói và mệt mỏi mà được bánh mật thì mỗi miếng được thưởng thức là vị ngọt thuần nhất, vị này hoan hỉ, tâm được tịnh tín. Một người tìm được gỗ chiên-đàn, thân cũng thơm, gỗ cũng thơm, rễ cũng thơm, một hương thơm thần diệu, vị ấy hân hoan, hoan hỉ khi được nghe pháp của Đức Thế Tôn. Một người bị bệnh nặng được lương y chữa khỏi bệnh, khi nghe pháp Đức Phật thì sầu, bi, khổ, ưu, não bị tiêu diệt. Một người bị mệt mỏi, bức bách mà gặp được hồ sen trong mát, ngọt ngào, người này được rửa tay, rửa mặt, rửa chân, được tắm mình trong hồ nước mát, tất cả khổ cực, mệt nhọc, nhiệt não đều lặng yên.
"Khi được nói vậy, Bà-la-môn Karanapàli từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y qua một bên vai, đầu gối bên phải quỳ trên mặt đất, chắp tay hướng đến Thế Tôn, và ba lần thốt lên lời cảm hứng sau đây:
- Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác!
Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác!
Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác!
- Thật vi diệu thay, Tôn giả Pingiyàni! Thật vi diệu thay, Tôn giả Pingiyàni! Thưa Tôn giả Pingiyàni, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những kẻ đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Thưa Tôn giả Pingiyàni, con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và chúng Tỳ-kheo. Tôn giả Pingyàni hãy chấp nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (IV).Bà-La-Môn Kàranapàli)
Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Đức Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Bạch Thế Tôn, chúng con xin quy y Thế Tôn, chúng con xin quy y chánh Pháp, chúng con xin quy y chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận chúng con làm đệ tử. Từ nay cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.
II. Dòng cảm thọ ngọt ngào
Kính bạch chư tôn hiền đức sáng nay chúng ta thiền quán xưng tán tam bảo. Chúng ta cố gắng giữ gìn những cảm thọ hiền thiện, quý báo này, mình học dòng pháp này có hai dòng cảm thọ hỷ và ưu để phá vỡ cảm thọ si, những buổi thiền quán là đánh phá hết tất cả và làm cho mình thấm thía khổ đau đến tận cùng, đó là dòng ưu tư, ưu não, ưu buồn, lo lắng, sợ hãi, bất an, làm động lực thúc đẩy mình tiến về phía trước.
Dòng cảm thọ thứ hai giống như hôm nay là dòng cảm thọ hân hoan, hoan hỉ, hứng thú, thích thú để mình mạnh mẽ tiến lên. Ngoài ra còn có sự an tịnh, tịnh chỉ để tâm mình lắng dịu xuống để nhìn sâu vào bên trong tự thân và những sự thật. Ba dòng cảm thọ này đều nhằm phá tham, sân, si, để diệt tận bản ngã cho nên có lúc mình khổ tột cùng, có lúc vui tột bậc nhưng hỷ và ưu này là của thiện pháp, của Thánh trí chứ không phải cái khổ, cái vui của được mất, khen chê ngoài đời.
Đức Phật nói khi niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng thì lúc đó mình sẽ từ bỏ được tham, sân, si. Khi niệm Phật là nhớ ân đức của Phật, nhớ trí tuệ của Phật, nhớ từ bi của Phật, nhớ công năng tuyệt diệu của giáo pháp thì lúc đó tâm mình lìa tham, sân, si, mình được tịnh tín, được hân hoan sanh khởi là hỷ vô lượng tâm, người nào khéo lắm sẽ được hỷ vô lượng tâm, còn không thì được hỷ lạc thấm nhuần.
Một cảm giác tàm quý, xấu hổ, sợ hãi cũng đưa đến để mình chuyển cảm thọ vô minh, thấp hèn, những cảm thọ ngu si, ngu muội được chuyển hóa cho nên mỗi một góc độ, một phương diện là Đức Phật đánh phá vào khía cạnh của vô minh. Mỗi một cảm thọ của thiện sẽ đối trị lại cảm thọ của bất thiện, nó sẽ tẩy rửa, lau chùi bên trong nội tâm mình, nếu mình khéo nhìn thấy sẽ phát hiện ra những cái rất thiện xảo, tuyệt diệu, trí tuệ, từ bi của Đức Phật.
Chúng ta phải dùng rất nhiều phương tiện để rửa tâm cấu nhiễm, cấu uế chứ không phải chỉ tu từ vô lượng tâm là đủ, nếu không nhận diện ngũ uẩn thì làm sao biết được mình tu tâm từ ở mức độ nào, nếu không quán về khổ thánh trí thì làm sao tâm từ của mình được viên mãn, được thâm sâu, còn quán khổ thánh trí mà không có sự hỷ lạc trong sự thấy biết sự thật thì mình sẽ nghiêng về tiêu cực, mình bị trì trệ trong cái khổ mà mình không biết thấy được cái khổ chính là cái vui khi thấy được khổ. Chúng ta khéo léo nhìn nhận sẽ thấy được sự giáo dục toàn diện của Đức Phật, tám mặt của Bát Chánh đánh vào tám mặt của bát tà, tám mặt của chánh kiến đánh vào tám mặt của tà kiến, ngoài ra còn rất nhiều thiện pháp để đánh vào bất thiện pháp.
Hôm nay chúng ta tưới tẩm như vầy thì lòng tin của mình sẽ được thêm lớn, sẽ được tăng trưởng, phát triển, một khi lòng tin được tăng trưởng, phát triển thì mình sẽ nỗ lực để thực hành, khi thực hành thì mình sẽ nhớ pháp, khi nhớ pháp một cách nhiệt tâm thì mình sẽ tập trung, khi tập trung thì trí của mình sẽ sáng tỏ, sẽ soi thấu, đó chính là tín – tấn – niệm – định – huệ, nếu mình quán ngũ uẩn thật kĩ thì mình sẽ thấy pháp vận hành, sẽ đi theo với nhau theo lộ trình tâm, nếu mình khéo lái, khéo điều chỉnh sẽ đi đúng theo đạo lộ của Đức Phật.
Nếu mình chỉ có tín không thì buông ra sẽ không có tấn, còn nếu có tinh tấn nhưng mình lại không khéo an trú niệm của chánh niệm thì cái tinh tấn đó ở trong dao động, do đó phải khéo lái tâm để tinh tấn nhưng có chánh niệm, khi đã có chánh niệm thì có định, có được định thì có tuệ, vậy là đầy đủ tín – tấn – niệm – định – huệ, mình phải khéo thấy được để sử dụng tâm cho nhu nhuyến, thuần thục, thiện xảo, khéo léo.
Các vị mới chưa biết nhiều nhưng phải để ý học hỏi, khi đang trình bày, tác ý về ân đức tam bảo thì mình tác ý giống như vậy, đừng có đi lệch qua cái khác. Khi mình có nhận diện ngũ uẩn sâu sắc thì mình sẽ biết khi đang tác ý về ân đức Phật, ân đức pháp thì tập trung vào đó, đừng đi ra cái khác, mình nghe lại lời trình pháp của mình rồi viết ra khi tâm rẽ những hướng khác, có khi mình được giao công việc rồi mình bị công việc đó ám ảnh trong tâm, lúc đó cái pháp không hiện rõ hoặc tâm bị năm triền cái thì cái pháp không rõ.
Khi có chủ đề niệm ân đức của Phật, của pháp thì mình tập trung tất cả những gì về ân đức của Phật, của pháp, cái tâm mình lúc đó tùy văn nhập quán thì khi trình pháp sẽ không bị lạc đề. Còn cái tâm lúc đó đang đi lang thang thì khi trình pháp lại đi xa hơn nữa, nói không đâu vô đâu cho nên đây là cái khó nhưng tập từ từ sẽ được.
Khi mình đang xưng tán Phật và giáo pháp của Phật thì tất cả thọ; tưởng; hành của mình phải đặt đúng hướng, khi mình nghe và đặt tâm đúng hướng thì khi trình pháp cũng đúng vào hồng tâm. Khi mình thiền quán, trình pháp hay khi pháp đàm thì phải tập trung vào cái gì đang nghe, đang học, mình xoáy sâu vào đó thì mới đi sâu, nếu không dù là thiện pháp nhưng sẽ bị loãng, không có sức mạnh tập trung gọi là định lực vì thế khi nghe pháp cũng đang vận dụng ngũ căn, ngũ lực. Khi nghe mà có sự tập trung vào bài pháp, có chánh niệm thì cái tuệ mình trong lúc đó khai mở vì thế 37 phẩm trợ đạo sử dụng mọi lúc mọi nơi, khi mình hoan hỉ trong pháp thì mình sẽ tinh tấn trong pháp, khi tinh tấn sẽ nhớ pháp, khi nhớ pháp thì tâm sẽ tập trung vào pháp, khi tập trung như vậy thì mình có tuệ, mình thấy được sự vận hành của nó.
Khi mình đã có chìa khóa ngũ uẩn mở ra thì tất cả 37 phẩm trợ đạo đều ở trong lòng bàn tay của mình, mình phát triển thêm phần quán pháp trong pháp thì cái tâm mình từ từ sẽ tế nhị, sẽ vi tế, sẽ tinh vi, sẽ sắc bén, mềm mại, dễ sử dụng. Sau này mình sẽ làm chủ tâm, mình muốn như thế nào thì nó sẽ thế đó, mình muốn trú vào tâm từ thì sẽ có tâm từ, mình muốn trú vào tâm niệm ân đức Phật thì trú vào tâm niệm ân đức Phật, mình muốn trú vào tâm hỷ thì trú vào tâm hỷ, mình muốn trú vào tâm xả thì ở trong tâm xả. Con muốn cho đại chúng trú vào tâm gì thì mình sẽ tác ý theo hướng đó, hôm nay con muốn đại chúng có sự hoan hỉ trong pháp cho nên con nói bài này.
Mình phải tập làm tài xế lái chiếc xe, muốn đi đường nào là do mình quyết định, mình tập dẫn tâm mình trong khi thiền quán, trong khi nghe pháp chứ không để nó đi mông lung, không cho nó đi lòng vòng và mình phải có sự nhất quán, kết thúc là kết thúc chứ nhiều người muốn kết thúc nhưng cố nói thêm chút nữa. Chúng ta nhìn thấy sự vận hành của tâm, chúng ta trình pháp như vậy là tốt lắm rồi nhưng con muốn tốt hơn nữa, chúng ta khéo an trú vào những hình ảnh này trong suốt ngày hôm nay, người nào nếm được vị ngọt tối thượng trong lời kinh Nikāya sẽ không còn ưa thích những vị ngọt thấp kém của các Sa-môn khác, một người đói mệt được ăn bánh mật, một người tìm thấy gỗ chiên-đàn hương, huỳnh đàn, xích chiên-đàn, thưởng thức được mùi thơm tho, người bệnh nặng được chữa khỏi bệnh, một người khát nước, nóng bức lại gặp được hồ sen trong mát, tắm mình trong đó, khi ấy tất cả khổ cực, mệt mỏi, nhiệt não đều biến mất, lắng dịu.
Lấy những cái này làm đề mục quán chiếu, trong suốt ngày mình cứ tác ý, ngồi thiền cũng lấy đề tài này quán chiếu để thể nhập sâu vào đó, không bị mất trong tâm, sau này có việc cần khởi lên là có, còn nghe phất phơ là bị mất hết không giữ lại được, đó là một trong những sự tinh cần chính là hộ trì các thiện pháp. Khi nhớ đến Phật là những hình ảnh bánh mật, thầy thuốc hay, xích chiên-đàn, chiên-đàn hương, hồ sen sẽ hiện ra, mình có tư liệu, đề mục để quán tưởng, khi trình bày sẽ có nhiều hình ảnh để nói vì nó đi vào trong tâm và ở trong đó không mất đi, nếu không nghe rồi mất đi, Đức Phật gọi là trí tuệ bắp vế như để bánh kẹo trên đùi, đứng dậy là mất hết. Mình phải niệm ân đức Phật, ân đức pháp, ân đức Tăng, đó là thiền biết ơn, là ân đức của bậc chân nhân.
./.