Chánh Niệm Tỉnh Giác
CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC
THÍCH MINH THÀNH
Cuối đầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Cuối đầu đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng.
Cuối đầu đảnh lễ mười phương Hiền Thánh Tăng, bốn đôi tám bậc là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Kính thưa đại chúng, chiều nay chúng ta có buổi soi sáng pháp đàm về 3 pháp mà chúng ta tu tập, thứ nhất là thực hành 3 pháp, thứ 2 là nhận diện 5 uẩn, thứ 3 là quán bất tịnh và mục thiền quán. Ở trong 3 pháp mà chúng ta đã thực tập, nếu có thắc mắc, chưa hiểu, trở ngại hay khó khăn thì chúng ta sẽ nêu lên để quý Thầy và đại chúng sẽ soi sáng cho chúng ta.
Câu hỏi của Phật tử:
Câu 1:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch thầy trụ trì chùa Linh Quy Pháp Ấn, kính thưa chư tôn thiền đức Tăng hiện tiền và kính thưa đại chúng.
Con có điều chưa rõ về quán bất tịnh mong thầy chỉ dạy cho con. Về phần tưởng, khi thầy nói quán bất tịnh về tử thi, lúc đó tưởng của con đang tưởng về người mất của gia đình, như vậy thì con để tâm mình phải trở về lời quán của thầy hay là đi theo cái tưởng của suy nghĩ bản thân con? Mong thầy chỉ dạy cho con được rõ?
Câu 2:
Trong kinh Tương Ưng Bộ Kinh tập 1, bài kinh Bộc lưu:
Đứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?
- Này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.
- Thưa Tôn giả, làm sao không đứng lại, không bước tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu?
- Này Hiền giả, khi Ta đứng lại, thời Ta chìm xuống. Này Hiền giả, khi Ta bước tới, thời Ta trôi giạt; do vậy, này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu. (Tương Ưng Bộ Kinh, Tập I. Thiên có kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, I. Phẩm cây lau, bài kinh Bộc lưu)
Con chưa hiểu rõ chữ bộc lưu và dừng lại, đứng lại là như thế nào? Mong thầy chỉ dạy cho con được rõ.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Câu 3:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch chư tôn đức, kính bạch quý thầy, con có 1 câu hỏi. Vừa rồi lúc con đang ngủ, dù biết muộn giờ rồi, nhưng do gió mát, nằm võng êm nên con muốn ngủ tiếp, nhưng tâm thì muốn nghe pháp. Bạch thầy chỉ cho con pháp nào đó để tâm không bị thân dẫn dắt đi, mong thầy chỉ dẫn.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Câu 4:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch Thầy, con có 1 thắc mắc, trong lúc ngồi thiền, làm sao mình phân biệt giữa tâm si ám với tâm định. Ngồi 1 lúc mình cảm thấy giống như tâm mình định, nhưng hình như không phải, con không biết làm sao phân biệt 2 trạng thái đó? Mô Phật.
Thầy Minh Thành:
Minh Thành sẽ chia sẻ những câu hỏi dễ hiểu trước, sau đó đến câu hỏi sâu sắc.
Một chú hỏi khi mình định thức dậy đi tu tập, tu học, nhưng do cảm giác êm êm, mát mát, thì mình ngủ thêm giấc thứ 2, như vậy làm sao để vượt qua được cảm giác êm ái, thích thú trong sự ham ngủ? Đây cũng là bệnh chung của nhiều người. Cho nên chúng ta phải thường thực tập nhận diện cảm giác, và có 1 sự rõ biết, sáng tỏ trong thân tâm mình đang có cảm giác gì. Chúng ta đã tìm hiểu rất chậm rãi, kỹ lưỡng. Thứ nhất biết nó là cảm giác; thứ 2 phải biết nó là cảm giác gì trong 3 loại cảm giác; thứ 3 là phân biệt được 2 loại cảm giác của thân và của tâm.
Cảm giác của thân thì gọi là lạc thọ, cảm giác của tâm gọi là hỷ thọ. Mình phải tập nhận ra được cảm giác dễ chịu của thân và cảm giác dễ chịu của tâm là 2 cảm giác khác nhau. Có khi cảm giác của thân là khó chịu, nhưng cảm giác của tâm lại là dễ chịu. Thí dụ, mình đi từ dưới quê lên đến Linh Quy Pháp Ấn là 7-8 tiếng đồng hồ, khi đến thì 12 giờ trưa. Từ bậc thang lội bộ lên trời nóng, nắng đổ mồ hôi, khi đó thân là cảm giác khó chịu, nhưng đến rồi mình vui thích hoan hỷ, lúc đó tâm cảm giác dễ chịu, chúng ta phải phân biệt cảm giác của thân và tâm. Mình không để cho cảm giác của thân ảnh hưởng, tác động, xâm chiếm qua cảm giác của tâm, cái này rất dễ, từ thân đi qua tâm trong tích tắc. Tức là đang nóng, đang nực, đang đổ mồ hôi thì rất dễ bực, mệt thì dễ quạu, dễ bực, dễ gay gắt, khó chịu, dễ nổi giận. Đó là từ cảm giác của thân xâm chiếm qua cảm giác của tâm, Đức Phật gọi người đó bị trúng 2 mũi tên. Trong Tương Ưng Bộ Kinh, bài kinh Với mũi tên, Đức phật nói về sự khác biệt giữa Đa văn Thánh đệ tử và vô văn phàm phu; sự khác biệt giữa người tu và người không tu là ở chổ người tu trúng 1 mũi tên, người không tu trúng 2 mũi. Tức là người có tu, người có quán chiếu, người có thực tập nhận diện 5 uẩn, quán chiếu cảm thọ, người này bị cảm thọ khó chịu của thân, mà không bị cảm thọ khó chịu của tâm. Bước này hơi sâu sắc, cho nên quý Phật tử phải thực tập.
Thí dụ ngược lại, thân dễ chịu nhưng tâm khó chịu. Khi đi vào trong nhà hàng, mình ăn rất ngon, nhưng trong cuộc nói chuyện có 1 người chỉ trích mình. Trong nhà hàng có máy điều hòa, đồ ăn ngon, thân cảm giác dễ chịu, nhưng mà tâm nghe những lời chỉ trích sẽ bị khó chịu. Tâm khó chịu bực bội, thì chắc chắn ảnh hưởng thân, nên người này bỏ ngang đi về, đôi khi gây gỗ, hay đấu đá, đó là cảm giác của tâm nó tác động qua thân. Người tu chỉ chịu cảm giác khó chịu của thân mà không bị cảm giác khó chịu của tâm, đây là điều hết sức sâu sắc, mà thực tập rất nhiều thì mới được.
Nói vấn đề ngủ êm êm, mát mát đó là cảm giác dễ chịu của thân, trong cảm giác dễ chịu của thân, trong đó có ái, có dục, có tham, thích thích. Mà thích là ái, muốn ngủ thêm là tham, trước đó có nhưng mình không thấy, không biết nhưng bây giờ các pháp trong thân tâm hiện rõ ra thông qua trí tuệ của Phật. Ở dưới ánh sáng trí huệ của Đức Phật soi chiếu, tất cả pháp hiện ra như thật, chính xác đúng của nó. Đây gọi là đem ánh sáng vào trong bóng tối, cho những người có mắt có thể thấy sắc, phơi bày những gì đã bị che kín từ lâu. Đó là công năng của giáo pháp, đó là sứ mệnh thiêng liêng của Đức Thế Tôn xuất hiện trên cuộc đời này. Mình không làm, không học, không nghe đúng Chánh pháp, mình có tu bao lâu thì cũng không thấy.
Như vậy, thấy được dục, tham, ái, chúng ta phải đánh đuổi bằng Như lý tác ý. Mình hỏi cảm giác là lên đây để ngủ sao, như vậy thì ở nhà ngủ sướng hơn, lên đây làm gì? Ngủ có đem tới trí huệ cho mình không, có đem đến giải thoát cho mình không hay là đưa mình vào bóng tối, đưa vào sự trói buộc, si mê, đưa mình vào trong hôn ám. Mình hỏi nó muốn trở thành Trư Bát Giới hay là đệ tử của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác? Mình dùng Như ý tác lý thật là mạnh để đánh đuổi nó, “Mình đã ngủ bao nhiêu năm rồi, si mê bao nhiêu đời, vô minh bao nhiêu kiếp rồi, tỉnh đi, thức đi, mở to con mắt ra”. Tác ý thật là mạnh bằng mọi cách, khi đó cảm giác đó sẽ bị đánh đuổi ra, chạy mất dép. Nếu mình yếu mình nói thôi kệ, thêm chút nữa không sao thì mình sẽ gục ngã trong ái, tham. Điều này hết sức vi tế, nó hết sức bình thường, không có gì tội lỗi gì nhưng đó là người chiến bại đối với cảm giác bên trong của chính mình, tự thân mình biết đó là người chiến bại. Một lần mình thất bại, sau này sẽ thất bại dài dài, 2, 3, 4, 5 lần, trở thành thói quen, vĩnh viễn không chiến thắng được cơn buồn ngủ, sự ham ngủ, mê ngủ. Nếu mình không siêng năng tác ý mạnh mẽ thì không phải chỉ khi nằm ngủ mình bị thua mà trên bồ đoàn mình vẫn thất bại.
Mình tiến qua cái vi tế hơn là làm sao phân biệt được định, hay ở trạng thái mê mê. Mình hiểu chữ định là tâm an tịnh, không hướng ngoại, không vọng tưởng, không buông thả theo ngoại cảnh, phải chánh niệm và rõ biết. Lúc đó mi không biết gì hết, thì không gọi là định, mà là si mê, si ám, hôn trầm, vô minh. Tâm thấy rõ được những cảm giác an tịnh, tưởng an tịnh, hành yên tịnh, những suy nghĩ lăng xăng không sanh khởi lên, cảm giác lắng dịu, không có hình bóng nào trong nội tâm, tâm trong suốt sáng tỏ, rõ biết, cái đó gọi là định. Đức Phật dạy trong phần Chánh niệm tỉnh giác số 2, Tăng Chi Bộ Kinh tập 3: “Tỳ Kheo rõ biết khi các thọ khởi lên; rõ biết khi các thọ an trú; rõ biết khi các thọ chấm dứt; rõ biết khi các tưởng khởi lên; rõ biết khi các tưởng an trú; rõ biết khi các tưởng chấm dứt; rõ biết khi các tầm khởi lên; rõ biết khi các tầm an trú; và rõ biết khi các tầm chấm dứt, này các Tỳ Kheo, đây là Tỳ Kheo chánh niệm tỉnh giác.” Như vậy chúng ta muốn định, chúng ta phải học cái này trước, đây là tiền phương tiện để đưa vào định, chánh niệm và tỉnh giác, đây là định tối thượng trong tất cả các định. Trong Tăng Chi Bộ Kinh, Đức Phật gọi là định vi diệu, thù thắng nhất trong tất cả các định, đó là sự rõ biết sự thọ tưởng hành sanh diệt, an trú, là trí tuệ tinh vi, vi tế, vi diệu, thù thắng nhất trong các trí tuệ, trong các loại thiền định.
Ở đây mình học 2 bước gồm chánh niệm tỉnh giác 1 và chánh niệm tỉnh giác 2. Khi tụng kinh quý vị phải nhớ chánh niệm tỉnh giác 1 trong Tương Ưng Bộ Kinh tập 4, Đức Phật nói:
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm. Sống quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác. (Tương Ưng Bộ Kinh, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần I. Phẩm có kệ, bài kinh Tật bệnh)
Cái này vi diệu, thiêng liêng lắm, còn hơn cả cả tỷ lần bí kíp võ công. Do mình thấy bình thường nên mình không thấy được sự vĩ đại của Thánh trí, Thánh pháp này. Cho nên mỗi 1 câu, 1 chữ trong đây là bí kíp của bí kíp, bí kíp của Chánh giác, là khẩu quyết. Đọc thì đọc chứ chưa hiểu rành rẽ, chính xác, cho nên mình phải đọc với lòng tôn kính tha thiết, phải tìm hiểu, học hỏi, và thực tập liên tục, thì mình cảm nhận được phần nào giá trị siêu thế, siêu việt của những lời dạy trong kinh này.
Quán thân ở trên thân là luôn luôn lúc nào mình cũng phải nhìn lại, phản chiếu, phản tỉnh soi rọi, dòm lại cái thân. Mình dòm chính cái sắc thân này, không phải dòm thường, không phải dòm lơ lơ, xơ xơ, dòm cho có, mà phải dòm nhiệt tâm, 1 cách siêng năng, sốt sắng, để tâm, để ý, để mắt, để con mắt tâm coi cái thân của mình đang như thế nào cả trong thân và ngoài thân. Chúng ta thực hành ngồi thiền thực hành quán bất tịnh, đó là quán thân trên thân, là quán nội thân, quán phía trong của thân mà từ trước tới giờ mình không biết, không thấy, không nghe. Quán ngoại thân là quán những động tác, cử chỉ, dáng vẻ bên ngoài, quán một cách nhiệt tâm tỉnh giác chánh niệm và nhiếp phục tham ưu ở trên đời. Nói tóm gọn tất cả những phiền não trên đời, Đức Phật chỉ dùng 2 chữ là tham và ưu, tham bao gồm luôn dục và ái, ưu là lo lắng và sợ hãi. Mình có sân, có bực bội khởi lên là tại vì mình không được cái tham, cho nên mình sân, gốc của nó chính là dục tham. Cho nên mình mới đọc câu mở đầu là “Cúi đầu đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng”, gốc của tất cả mọi vấn đề là dục tham, là khát ái, tham ưu bao trùm hết cho nên phải nhiếp phục tham ưu ở đời. Từ tham nên có cái lo, từ lo nên có cái sợ, cho nên “Nhân ái sanh ưu, nhân ái sanh bố, nhược ly ưu ái, hà ưu hà bố”, do ái sinh ra lo, vì ái sinh ra sợ, nếu rời khỏi tham ái thì đâu có lo, đâu có sợ. Ái cái thân, sắc uẩn này nhiều nhất, đó là bước một, rồi mới tới ái tới cảm giác, nghĩ tưởng nhận thức, đây là những cái hết sức là thâm sâu. Nếu không có Thánh trí của Đức Phật và không có tuệ quán thực tập một cách nhiệt tâm, tinh tấn, cố gắng nỗ lực thì mình không biết được, không thể nhận diện ra được. Cho nên nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm nhiếp phục tham ưu ở đời, “sống quán thọ trên thọ, sống quán tâm trên tâm, sống quán pháp trên pháp”, luôn luôn nhìn lại thân thể, cảm giác nội tâm và những thứ đang vận hành bên trong, đó là Tứ Niệm Xứ, nhìn lại 1 cách nhiệt tâm, tỉnh giác và chánh niệm. “Khi đi tới, đi lui đều tỉnh giác”, mấy câu này khi đọc đều phải làm cho mình rúng động, “khi nhìn thẳng, nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay duỗi tay đều tỉnh giác”, khi Minh Thành đọc nước mắt chảy ra, cha mẹ mình còn chưa dạy mình được vậy, không có cha mẹ nào dạy nổi cái này. “Tứ sanh chi từ phụ”, chỉ có cha lành của 4 loài mới dạy con như vậy.
Nhiều khi ra khỏi Thiền đường, hoặc mình mới xả thiền ra thì đã thấy khác, lúc đó mất tỉnh giác, chánh niệm, như vậy từ nãy tới giờ ngồi là ém lại, là kiềm lại, là bị bắt buộc nên mới vừa ra khỏi là nó bung ra liền. Cho nên tại sao quý thầy hay nhắc chúng ta chánh niệm, giữ sự an tịnh, cái này đem lại cho mình lợi lạc siêu việt, bất khả tư nghì, không thể tưởng tượng nổi những giá trị lợi ích mà phương pháp này đem lại cho mình.
Quý vị có thấy trà đạo nổi tiếng trên thế giới của Nhật Bản không? Cũng 1 chung trà, hàng ngày chúng ta uống ực ực, đó không kêu là trà đạo, mà kêu là trà quạo. Còn khi bên trong là cả 1 trái tim, cả 1 tấm lòng, cả 1 sự nhiệt quyết, nhiệt tâm thì người ta gọi là trà đạo. Cũng vậy Đức Phật dạy mình “khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác”.
Chánh niệm là mình quán thân thọ tâm pháp, tỉnh giác là mình luôn luôn nhận thức rõ ràng những cử chỉ, hành vi, động tác thân thể sử dụng như thế nào, mình phải biết sử dụng như thế mới gọi là tỉnh giác. Những điều này từ từ đưa mình vào định, không có cái này sao mà định. Cái tay, cái chân, cái mình, cái miệng mình không quản lý được, thì thọ, tưởng, hành siêu tốc như vậy làm sao mình quản lý được. Quý vị ngồi thiền, có bao nhiêu cái tưởng, bao nhiêu cái hành sanh khởi lên, quý vị có nhớ được hết không? Hay là nó phớt phớt qua, có khi là mình đi theo không kịp, chỉ nắm phía ngoài đuôi. Như vậy cái hình, cái tướng, cái sắc uẩn ở ngoài còn chưa chánh niệm tỉnh giác, còn chưa quản lý được, chưa kiểm soát được 1 cách thật là khéo léo, thật chặt chẽ thì tới cái không có hình tướng thì sao kiểm soát được.
Đức Phật có thí dụ về tốc độ sanh diệt của thọ và hành nhanh như thế nào ở trong Tăng Chi Bộ Kinh. Thí dụ 1 người bắn cung bắn ra 4 mũi tên theo 4 hướng, có 1 người nhảy chụp 1 lượt 4 mũi tên, quý vị thấy người chụp tên nhanh không? Mà Đức phật nói người này còn rất là chậm so với thần thông của chư Thiên, thần thông chư Thiên nhanh hơn rất nhiều lần. Đức Phật nói sự sanh diệt của thọ, hành nhanh hơn thần thông chư Thiên gấp vạn lần. Cho nên với trí phàm thì mình không thấy hết sự sanh diệt của sắc, thọ, hành, thức. Khi hỏi mình có thấy gì không, mình nói không thấy; có suy nghĩ gì không, mình nói không suy nghĩ; hỏi mình có tưởng gì không, mình nói có tưởng gì đâu, đó là tại vì mình không thấy được sự biến diệt của thọ, tưởng, hành, thức, sự sanh diệt đó rất nhanh.
Cho nên mình phải tập quản lý, tập chánh niệm tỉnh giác ở trong các động tác thân thể mình sử dụng. Quý vị thấy cái miệng tập khó hay dễ, cái miệng nghe nói tu tịnh khẩu là vỗ tay, nhưng trở ra rồi cũng vậy, cho nên mình phải thực tập từ từ. Những cái đi tới đi lui chánh niệm, mỗi động tác của mình trở thành thiêng liêng. Có những bước chân mình phải sụp xuống lạy; có những bước chân đưa vào tù ngục đọa đày; có những bước chân đi trong lãng quên thất niệm; có những bước chân đi trong sân hận, đốt cháy; có những bước chân hối hả như ma đuổi, quỷ rượt; có rất nhiều bước chân đi trong vô minh, si ám; rất nhiều bước chân xảy ra tai nạn giao thông ngày nay, đó là bước chân không có chánh niệm và tỉnh giác, khi lái xe không có chánh niệm và tỉnh giác. Tất cả những thứ đại sự trên cuộc đời này là từ chính những thứ nhỏ nhỏ này.
Đức phật nói bao trùm tất cả oai nghi của mình “Đi tới, đi lui, nhìn quanh, nhìn thẳng, co duỗi tay, mặc áo, ăn cơm, nhai nếm, đại tiểu tiện, đi, đứng, ngồi nằm, thức, nói, im lặng” bao hàm hết trong mấy câu của Đức Phật. Cho nên mình tập trong khóa tu và bình thường cũng vậy, tập mọi thứ chậm lại, trầm lặng, bình tĩnh, trầm tĩnh, an tĩnh, thì sẽ nhìn ra được thứ mà chưa từng nhìn thấy trước đây. Mỗi bước đi, cử chỉ, động tác của mình biểu hiện sự chánh niệm, phép lạ, thần thông. Lúc quý vị ăn uống, thiền hành tại Thiền Đường, có Quý Thầy hướng dẫn có khác với lúc đi bình thường không, đó là phép lạ, buổi sáng mình ngồi im, đó là phép lạ. Tất cả mọi oai nghi, động tác, cử chỉ mình có sự chánh niệm tỉnh thức, rõ biết, đều trở thành phép lạ, mình trở thành 1 con người tỉnh thức. Bình an lắm, tuyệt diệu lắm, khó dùng lời để diễn tả mà phải thực tập và cảm nhận tự thân tâm của mình.
Chánh niệm tỉnh giác thứ 2 là từng bước từng bước đi vào thâm sâu, do từ bên ngoài, hình tướng, sắc uẩn bắt đầu thực hành được rồi mới đi vào bên trong. Tỳ-kheo rõ biết các cảm thọ khổ, rõ biết cái cảm thọ an trú, rõ biết các cảm thọ chấm dứt. Cho nên câu hỏi buồn ngủ, mặc dù đã thức rồi, nhưng muốn ngủ nữa, chính là rõ biết có cảm giác ưa thích đang an trú trong thân, cảm giác ham thích, muốn thêm, mà khi mình rõ biết là không chỉ để rõ biết mà rõ biết là để xử lý. Cho nên tu tập Chánh kiến là quan trọng nhất của cánh cửa đầu tiên, biết bằng trí huệ, biết trong Tứ Chánh Cần, luôn luôn lúc nào cũng có Chánh tinh tấn. Nghĩa là ác chưa sanh thì không cho nó sanh, nếu nó sanh thì phải diệt tận, đó là pháp ác, là dục, ái, tham, làm biếng, ham ngủ, mê chơi, chúng ta phải diệt và xử lý, thì đó là Tứ Chánh Cần. Như vậy thì Tứ Chánh Cần đâu phải là 1 cái gì riêng, mà nó ở ngay trong cảm giác, trong suy nghĩ của mình. Ngay trong thọ, tưởng, hành, thức đó mình vận dụng Tứ Chánh Cần, vận dụng sự tinh cần, tinh tấn, sự nỗ lực, sự chấn tỉnh, sự chấn chỉnh, đánh tan những cảm giác tiêu cực, si mê, hôn ám, làm biếng, giãi đãi, buông lung, phóng vật, thả lỏng các căn, đánh tan cái đó thì là Tứ Chánh Cần. Điều thiện chưa sanh thì phát huy cho sanh, đã sanh rồi thì tăng trưởng, lớn mạnh, phát triển, quảng đại. Như vậy là chánh niệm tỉnh giác, rõ biết các cảm thọ khởi lên, rõ biết các cảm giác này đang an trú ở trong thân tâm, rõ biết cảm giác này đã chấm dứt rồi, cái giận, cái lo, cái ham muốn là hết rồi, đó là quán pháp ở trên pháp trong Tứ Niệm Xứ. Tất cả đều có mắt xích, liên đới nhau, chứ không phải thọ, thân, pháp là riêng biệt từng cái. Khi học thấu đáo, trọn vẹn thì có đầy đủ trong 1 pháp.
Cho nên phần quán 5 truyền cái nội tâm của dục tham, rõ biết, biết bằng trí huệ “Nội tâm tôi có dục tham”. Có nhiều người lầm đọc tới câu “Nội tâm tôi không có dục tham, tuệ tri nội tâm tôi không có dục tham” không phải đọc vậy là xong, do Đức Phật nói tắt, mình phải hiểu theo Bát Chánh Đạo, Chánh tinh tấn để làm cái gì, đâu phải biết xong rồi thôi. Ví dụ mình đang ngủ trên giường thấy con rắn hổ mang bò sát bên giường, mình kệ nó, mình biết vậy thôi. Cái biết đó là cái biết bị bệnh, hoặc là bị liệt, bị câm, tại vì liệt đâu có bò đi được, câm đâu có la lên được. Người bình thường sáng suốt thì phải la lên, tìm mọi cách, mọi thứ đánh đuổi nó. “Nội tâm tôi có dục tham”, biết bằng trí huệ “Nội tâm tôi có dục tham”, và xử lý nó. Một cảm giác dục tham sanh khởi lên, mình biết nó gọi là chánh niệm tỉnh giác, 1 cảm giác dục tham an trú trong tâm mình, mình biết nó, mình dùng các pháp để tẩy trừ đó là rõ chấm dứt, là rõ biết khi các thọ chấm dứt. “Nội tâm mình không có dục tham” thì mình biết không có dục tham, khi biết không có dục tham, mình sẽ sanh khởi 1 niềm hỷ lạc, sẽ đi vào sơ thiền
“Với dục tham chưa sanh, mà nay sanh khởi lên, vị ấy tuệ tri như vậy”, trước giờ mình không có dục tham về vấn đề này, hôm nay nó sanh khởi, nguy hiểm báo động, hết hồn, giật mình đó chính là quán pháp. Thí dụ nào giờ đâu có con rết này có mặt trong căn phòng của mình, sao hôm nay lại có. “Với dục tham chưa sanh khởi, hôm nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy. Với dục tham đã sanh, nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy”, nó rất rõ ràng, luôn luôn lúc nào Đức Phật cũng nói về sanh rồi diệt, nên lúc nào phải tinh tấn, xử lý bằng tuệ tri. Với “Dục tham đã đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy”, đây là thánh quả thứ 3 Bất lai, đoạn diệt rồi thì tương lai không sanh khởi nữa. Nó đoạn diệt thì biết rồi, nhưng tương lai sanh khởi khi nào thì chưa biết, nếu đoạn diệt được là hay rồi, đừng để cho nó tồn chỉ, chất chứa. Đừng để cho nó vào nhà ở tạm trú tạm vắng, cho nó nhập KT3, cuối cùng cho nó vô hộ khẩu là nó đạp chúng ta ra khỏi nhà, mình làm ở đợ, đầy tớ cho nó, đó chính là quán pháp trong pháp.
Sân hận, hôn trầm, thùy miên cũng như vậy; buồn ngủ, lăng xăng, trạo cử, hối tiếc cũng vậy; nghi ngờ, do dự cũng như vậy. Mình liên hệ để mình thấy được trong sự tu học phải hết sức là thiện xảo, khéo léo, nhỏ nhiệm, sâu sắc, thận trọng và vi tế. Phải viên mãn từng khía cạnh, từ góc cạnh, góc độ trong nội tâm, chứ không phải nhìn thọ, tưởng, hành, thức xong, đó là sơ cấp. Phải nhận diện ra rồi xem trong đó là cái gì, có cái gì, và xử lý như thế nào, dùng cái gì để xử lý, xử lý tới đâu, đó là trung cấp trong nhận diện 5 uẩn. Tu cái này rất thú vị, hương vị, quý vị có thấy 5 uẩn nó vận hành ra sao không, có thấy thọ sanh khởi, an trú rồi chấm dứt không, có thấy tưởng sanh khởi không?
Cho nên ngồi thiền mà cứ đơ đơ, mắt cố nhướng lên thì thấy thương vô cùng, như vậy thì ngồi cái gì? Ngồi trong si ám, trong vô minh, leo lên ngồi nhắm mắt, thở vô, thở ra, không biết đi đâu, nghe chuông cái boong rồi xả thiền. Cho nên tu như vậy người ta gọi “thiền ngủ”, “thiền lủng”, “thiền chìm”, “thiền đăng” là xong. Thương vô cùng thương, nhiều khi sân giận thì đánh, mở con mắt ra không nổi thì ngồi cái gì, nhắm quen rồi nên mở không được thì tu cái gì? Cho nên bây giờ tu mà thích dễ, thầy Minh Thành dạy khó quá thì thôi kiếm chỗ nào khác học, thầy rầy hoài, lên núi xa xôi, leo lên cực khổ, ăn ở không có chỗ, không được nói chuyện, do đó những người ngồi đây là hột vững chắc. Càng nghiêm, càng kỹ, càng cẩn thận chừng nào, thì sự tu học của mình mới có thành quả cao, tu đâu phải tìm cái dễ, nếu tìm cái dễ thì nên ở nhà, mình tu là để tìm pháp, tìm con đường thoát ra, cho nên càng khó càng mừng, khoái, thích, tác ý mình gặp hàng độc, hàng quý, hàng hiếm.
Hãy cố gắng thực tập, tưởng khởi lên hình bóng gì trong tâm mình phải biết, chấm dứt khi nào mình phải biết. Những cái suy tầm hết sức quan trọng, thâm sâu. Sự suy tầm cũng là hành uẩn, tức là cái tâm suy nghĩ một vấn đề nào đó, có những vấn đề mình suy nghĩ hoài, đó không phải là tự nhiên mà là những lớp sâu của tầng cảm thọ ở phía dưới, nó nung lên, nó đẩy lên, làm cho mình suy nghĩ cái đó. Dục lậu là những lớp cảm thọ, như mạch ngầm trong nội tâm, khó thấy, khó biết, từ dưới đó nung lên, bốc hơi lên, nó làm cho suy nghĩ của mình theo chiều hướng đó, chứ không phải mình suy nghĩ vậy. Sao tự nhiên mình không suy nghĩ thành A-la-hán, không suy nghĩ ly tham, nghe ly tham hoài mà mình cũng tham, đó là dục lậu. Mình phải phát hiện ra nó, nếu nhẹ nhẹ thì dùng Như lý tác ý đánh đuổi, nếu nặng thì mình quán 1 lần, 10 lần, 100 lần, 1.000 lần, 10.000 lần cuối cùng cũng sẽ diệt tận được nó.
Minh Thành hay thí dụ nó giống như “gốc cổ thụ ngàn năm”, mình chỉ có thể dùng cuốc cào cào sơ sơ, vẽ khắc chữ lên cây chơi thôi chứ không thể bứng được cây cổ thụ 1.000 năm đó. Chúng ta cứ ngồi trơ trơ cầu xin, hoặc đọc đọc vài câu để bứng được tham sân si thì sự kiện đó không thể xảy ra. Cả 1 tấm lòng nhiệt huyết, tha thiết, đúng Chánh pháp mà còn phải nỗ lực tinh cần, tinh tấn, dũng mãnh ngày đêm liên tục thiền định không gián đoạn, thì mới có thể rung rinh gốc cổ thụ ngàn năm.
Trong kinh Thủ Chuyển có nói là làm cho sự chấp thủ vào 5 uẩn rung chuyển, động chuyển, lay chuyển và chỉ có Thánh trí 5 uẩn làm cho nó lay chuyển, động chuyển. Có vị nghe pháp 7 ngày, về nhà còn nhớ thêm 7 ngày nữa, rồi 7 ngày sau phải xuống tu tiếp tục, chứ không phải trở lại gốc cổ thụ thâm căn cố đế, ngàn năm không thể rung chuyển. Chúng ta phải đào bới hoài, đào sâu hoài, cứ nghe Thánh trí 7 trí về sắc, 7 trí về tưởng, 7 trí về thọ, 7 trí về hành, 7 trí về thức. Nghe và quán cho đến khi nào đó mình tẩy não được, tẩy sạch não mình ra khỏi những cảm giác này là tôi nè, những suy nghĩ, những hình bóng trong tưởng này là tôi, những hình thức là tôi. Phải tẩy sạch khỏi não bộ, khỏi tâm tư của mình thì khi đó là Nhập lưu.
Xóa sạch sự chấp thủ vào 5 đống dơ dáy, hôi hám, cấu nhiễm tạo ra bao nhiêu nghiệp khổ, vô minh si ám, chấp ngã, ta đây, cống cao ngã mạn. Loại ra từ từ, chuyển từ từ, bào mòn từ từ mới phá vỡ được, cho nên sự tỉnh giác chánh niệm hết sức quan trọng. Quý vị nhớ lại Đức Phật dạy chánh niệm là luôn luôn nhìn lại thân thể, cảm giác nội tâm và những thứ đang vận hành ở bên trong, đó gọi là chánh niệm. Chứ không phải đơn giản đi biết đi, đứng biết đứng, nằm biết nằm gọi là chánh niệm, đó chỉ là 1 ít của phần niệm thân, mình học bao nhiêu mình thấy đủ thì làm sao mình phá nổi tham, sân, si, bản ngã. Nếu được thì mình chỉ được dáng bên ngoài thôi, thấy đi đứng đàng hoàng nhẹ nhàng, nhưng bên trong là gì thì mình không biết tại vì nhiều khi chạm vô là có chuyện, rỉ chảy ra các lậu hoặc.
Sự tỉnh giác Đức Phật dạy là những cử chỉ, hành vi luôn luôn có 1 sự rõ biết, phép lạ. Tiến thêm mức độ thâm sâu hơn trong bước thứ 2 của chánh niệm tỉnh giác là những định đề của đạo tràng Nikāya, những đề tài nhất định phải tu học, phải thực tập. Tiến sâu hơn là thọ, tưởng, hành, những cảm giác, những hình bóng nơi nội tâm, những suy nghĩ sanh khởi lên, an trú và chấm dứt mình phải biết. Cái biết đó không phải chỉ biết suông, mà luôn luôn kết hợp với Tứ Chánh Cần, một sự siêng năng, chân chánh, tinh tấn, nỗ lực, tinh cần để tu tập, để tu trì, để hộ trì, để chế ngự. Đức Phật dạy mình tu tập, đoạn trừ, hộ trì, chế ngự các căn, tu tập Tứ Niệm Xứ, đoạn trừ tham, sân, si, và hộ trì những thiện pháp mà mình đang có. Thí dụ như định tướng mà mình đã tu tập trong quán bất tịnh, quán bộ xương, quán 9 giai đoạn 1 tử thi.
Câu hỏi nói về quán theo người hướng dẫn, thì tâm của mình phải tập chấp nhận học pháp, tâm phải nhu nhuyến, hướng dẫn như thế nào, thực tập như thế đó. Nếu mình tập theo cái khác, thì tâm của mình không được thu nhiếp, nhu nhuyến, mình không thể nhiếp phục làm chủ được nó, khi đó mình bị nó dẫn, chứ không phải dẫn nó. Phải nhiếp phục tâm của mình, phải chấp nhận học pháp và phải làm chủ được tâm, mình muốn nó sao, nó phải như vậy, nó không được đi hướng khác, ngay cả pháp thực hành cũng vậy. Thí dụ mình thực hành tịnh khẩu nhưng muốn thảo luận pháp, mình nói thôi cứ thảo luận pháp đi thì không được, cũng vậy tâm mình phải chấp nhận nhận học pháp, nó mềm mại, nhu nhuyến dễ sử dụng, làm chủ nội tâm, không cho nó đi ra khỏi.
Sau này các khóa tu nâng cấp cao của Nikāya là xuyên suốt 1 ngày quán 1 đề mục, nâng cấp cao hơn nữa là 7 ngày 1 đề mục, như vậy mới trở thành định tướng, tới mức định, huệ và chỉ quán thâm sâu. Không lung tung và trí nhất như vậy thì mới có thể đi đến chỗ thâm sâu, có thể xuyên thủng qua những lớp dày của vô minh, chấp thủ và khát ái đối với 5 thủ uẩn. Đó là chúng ta đi từng bước, từng bước, tập từ từ, từ từ.
./.
THÍCH MINH THÀNH
Cuối đầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Cuối đầu đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng.
Cuối đầu đảnh lễ mười phương Hiền Thánh Tăng, bốn đôi tám bậc là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Kính thưa đại chúng, chiều nay chúng ta có buổi soi sáng pháp đàm về 3 pháp mà chúng ta tu tập, thứ nhất là thực hành 3 pháp, thứ 2 là nhận diện 5 uẩn, thứ 3 là quán bất tịnh và mục thiền quán. Ở trong 3 pháp mà chúng ta đã thực tập, nếu có thắc mắc, chưa hiểu, trở ngại hay khó khăn thì chúng ta sẽ nêu lên để quý Thầy và đại chúng sẽ soi sáng cho chúng ta.
Câu hỏi của Phật tử:
Câu 1:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch thầy trụ trì chùa Linh Quy Pháp Ấn, kính thưa chư tôn thiền đức Tăng hiện tiền và kính thưa đại chúng.
Con có điều chưa rõ về quán bất tịnh mong thầy chỉ dạy cho con. Về phần tưởng, khi thầy nói quán bất tịnh về tử thi, lúc đó tưởng của con đang tưởng về người mất của gia đình, như vậy thì con để tâm mình phải trở về lời quán của thầy hay là đi theo cái tưởng của suy nghĩ bản thân con? Mong thầy chỉ dạy cho con được rõ?
Câu 2:
Trong kinh Tương Ưng Bộ Kinh tập 1, bài kinh Bộc lưu:
Đứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?
- Này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.
- Thưa Tôn giả, làm sao không đứng lại, không bước tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu?
- Này Hiền giả, khi Ta đứng lại, thời Ta chìm xuống. Này Hiền giả, khi Ta bước tới, thời Ta trôi giạt; do vậy, này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu. (Tương Ưng Bộ Kinh, Tập I. Thiên có kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, I. Phẩm cây lau, bài kinh Bộc lưu)
Con chưa hiểu rõ chữ bộc lưu và dừng lại, đứng lại là như thế nào? Mong thầy chỉ dạy cho con được rõ.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Câu 3:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch chư tôn đức, kính bạch quý thầy, con có 1 câu hỏi. Vừa rồi lúc con đang ngủ, dù biết muộn giờ rồi, nhưng do gió mát, nằm võng êm nên con muốn ngủ tiếp, nhưng tâm thì muốn nghe pháp. Bạch thầy chỉ cho con pháp nào đó để tâm không bị thân dẫn dắt đi, mong thầy chỉ dẫn.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Câu 4:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch Thầy, con có 1 thắc mắc, trong lúc ngồi thiền, làm sao mình phân biệt giữa tâm si ám với tâm định. Ngồi 1 lúc mình cảm thấy giống như tâm mình định, nhưng hình như không phải, con không biết làm sao phân biệt 2 trạng thái đó? Mô Phật.
Thầy Minh Thành:
Minh Thành sẽ chia sẻ những câu hỏi dễ hiểu trước, sau đó đến câu hỏi sâu sắc.
Một chú hỏi khi mình định thức dậy đi tu tập, tu học, nhưng do cảm giác êm êm, mát mát, thì mình ngủ thêm giấc thứ 2, như vậy làm sao để vượt qua được cảm giác êm ái, thích thú trong sự ham ngủ? Đây cũng là bệnh chung của nhiều người. Cho nên chúng ta phải thường thực tập nhận diện cảm giác, và có 1 sự rõ biết, sáng tỏ trong thân tâm mình đang có cảm giác gì. Chúng ta đã tìm hiểu rất chậm rãi, kỹ lưỡng. Thứ nhất biết nó là cảm giác; thứ 2 phải biết nó là cảm giác gì trong 3 loại cảm giác; thứ 3 là phân biệt được 2 loại cảm giác của thân và của tâm.
Cảm giác của thân thì gọi là lạc thọ, cảm giác của tâm gọi là hỷ thọ. Mình phải tập nhận ra được cảm giác dễ chịu của thân và cảm giác dễ chịu của tâm là 2 cảm giác khác nhau. Có khi cảm giác của thân là khó chịu, nhưng cảm giác của tâm lại là dễ chịu. Thí dụ, mình đi từ dưới quê lên đến Linh Quy Pháp Ấn là 7-8 tiếng đồng hồ, khi đến thì 12 giờ trưa. Từ bậc thang lội bộ lên trời nóng, nắng đổ mồ hôi, khi đó thân là cảm giác khó chịu, nhưng đến rồi mình vui thích hoan hỷ, lúc đó tâm cảm giác dễ chịu, chúng ta phải phân biệt cảm giác của thân và tâm. Mình không để cho cảm giác của thân ảnh hưởng, tác động, xâm chiếm qua cảm giác của tâm, cái này rất dễ, từ thân đi qua tâm trong tích tắc. Tức là đang nóng, đang nực, đang đổ mồ hôi thì rất dễ bực, mệt thì dễ quạu, dễ bực, dễ gay gắt, khó chịu, dễ nổi giận. Đó là từ cảm giác của thân xâm chiếm qua cảm giác của tâm, Đức Phật gọi người đó bị trúng 2 mũi tên. Trong Tương Ưng Bộ Kinh, bài kinh Với mũi tên, Đức phật nói về sự khác biệt giữa Đa văn Thánh đệ tử và vô văn phàm phu; sự khác biệt giữa người tu và người không tu là ở chổ người tu trúng 1 mũi tên, người không tu trúng 2 mũi. Tức là người có tu, người có quán chiếu, người có thực tập nhận diện 5 uẩn, quán chiếu cảm thọ, người này bị cảm thọ khó chịu của thân, mà không bị cảm thọ khó chịu của tâm. Bước này hơi sâu sắc, cho nên quý Phật tử phải thực tập.
Thí dụ ngược lại, thân dễ chịu nhưng tâm khó chịu. Khi đi vào trong nhà hàng, mình ăn rất ngon, nhưng trong cuộc nói chuyện có 1 người chỉ trích mình. Trong nhà hàng có máy điều hòa, đồ ăn ngon, thân cảm giác dễ chịu, nhưng mà tâm nghe những lời chỉ trích sẽ bị khó chịu. Tâm khó chịu bực bội, thì chắc chắn ảnh hưởng thân, nên người này bỏ ngang đi về, đôi khi gây gỗ, hay đấu đá, đó là cảm giác của tâm nó tác động qua thân. Người tu chỉ chịu cảm giác khó chịu của thân mà không bị cảm giác khó chịu của tâm, đây là điều hết sức sâu sắc, mà thực tập rất nhiều thì mới được.
Nói vấn đề ngủ êm êm, mát mát đó là cảm giác dễ chịu của thân, trong cảm giác dễ chịu của thân, trong đó có ái, có dục, có tham, thích thích. Mà thích là ái, muốn ngủ thêm là tham, trước đó có nhưng mình không thấy, không biết nhưng bây giờ các pháp trong thân tâm hiện rõ ra thông qua trí tuệ của Phật. Ở dưới ánh sáng trí huệ của Đức Phật soi chiếu, tất cả pháp hiện ra như thật, chính xác đúng của nó. Đây gọi là đem ánh sáng vào trong bóng tối, cho những người có mắt có thể thấy sắc, phơi bày những gì đã bị che kín từ lâu. Đó là công năng của giáo pháp, đó là sứ mệnh thiêng liêng của Đức Thế Tôn xuất hiện trên cuộc đời này. Mình không làm, không học, không nghe đúng Chánh pháp, mình có tu bao lâu thì cũng không thấy.
Như vậy, thấy được dục, tham, ái, chúng ta phải đánh đuổi bằng Như lý tác ý. Mình hỏi cảm giác là lên đây để ngủ sao, như vậy thì ở nhà ngủ sướng hơn, lên đây làm gì? Ngủ có đem tới trí huệ cho mình không, có đem đến giải thoát cho mình không hay là đưa mình vào bóng tối, đưa vào sự trói buộc, si mê, đưa mình vào trong hôn ám. Mình hỏi nó muốn trở thành Trư Bát Giới hay là đệ tử của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác? Mình dùng Như ý tác lý thật là mạnh để đánh đuổi nó, “Mình đã ngủ bao nhiêu năm rồi, si mê bao nhiêu đời, vô minh bao nhiêu kiếp rồi, tỉnh đi, thức đi, mở to con mắt ra”. Tác ý thật là mạnh bằng mọi cách, khi đó cảm giác đó sẽ bị đánh đuổi ra, chạy mất dép. Nếu mình yếu mình nói thôi kệ, thêm chút nữa không sao thì mình sẽ gục ngã trong ái, tham. Điều này hết sức vi tế, nó hết sức bình thường, không có gì tội lỗi gì nhưng đó là người chiến bại đối với cảm giác bên trong của chính mình, tự thân mình biết đó là người chiến bại. Một lần mình thất bại, sau này sẽ thất bại dài dài, 2, 3, 4, 5 lần, trở thành thói quen, vĩnh viễn không chiến thắng được cơn buồn ngủ, sự ham ngủ, mê ngủ. Nếu mình không siêng năng tác ý mạnh mẽ thì không phải chỉ khi nằm ngủ mình bị thua mà trên bồ đoàn mình vẫn thất bại.
Mình tiến qua cái vi tế hơn là làm sao phân biệt được định, hay ở trạng thái mê mê. Mình hiểu chữ định là tâm an tịnh, không hướng ngoại, không vọng tưởng, không buông thả theo ngoại cảnh, phải chánh niệm và rõ biết. Lúc đó mi không biết gì hết, thì không gọi là định, mà là si mê, si ám, hôn trầm, vô minh. Tâm thấy rõ được những cảm giác an tịnh, tưởng an tịnh, hành yên tịnh, những suy nghĩ lăng xăng không sanh khởi lên, cảm giác lắng dịu, không có hình bóng nào trong nội tâm, tâm trong suốt sáng tỏ, rõ biết, cái đó gọi là định. Đức Phật dạy trong phần Chánh niệm tỉnh giác số 2, Tăng Chi Bộ Kinh tập 3: “Tỳ Kheo rõ biết khi các thọ khởi lên; rõ biết khi các thọ an trú; rõ biết khi các thọ chấm dứt; rõ biết khi các tưởng khởi lên; rõ biết khi các tưởng an trú; rõ biết khi các tưởng chấm dứt; rõ biết khi các tầm khởi lên; rõ biết khi các tầm an trú; và rõ biết khi các tầm chấm dứt, này các Tỳ Kheo, đây là Tỳ Kheo chánh niệm tỉnh giác.” Như vậy chúng ta muốn định, chúng ta phải học cái này trước, đây là tiền phương tiện để đưa vào định, chánh niệm và tỉnh giác, đây là định tối thượng trong tất cả các định. Trong Tăng Chi Bộ Kinh, Đức Phật gọi là định vi diệu, thù thắng nhất trong tất cả các định, đó là sự rõ biết sự thọ tưởng hành sanh diệt, an trú, là trí tuệ tinh vi, vi tế, vi diệu, thù thắng nhất trong các trí tuệ, trong các loại thiền định.
Ở đây mình học 2 bước gồm chánh niệm tỉnh giác 1 và chánh niệm tỉnh giác 2. Khi tụng kinh quý vị phải nhớ chánh niệm tỉnh giác 1 trong Tương Ưng Bộ Kinh tập 4, Đức Phật nói:
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm. Sống quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác. (Tương Ưng Bộ Kinh, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần I. Phẩm có kệ, bài kinh Tật bệnh)
Cái này vi diệu, thiêng liêng lắm, còn hơn cả cả tỷ lần bí kíp võ công. Do mình thấy bình thường nên mình không thấy được sự vĩ đại của Thánh trí, Thánh pháp này. Cho nên mỗi 1 câu, 1 chữ trong đây là bí kíp của bí kíp, bí kíp của Chánh giác, là khẩu quyết. Đọc thì đọc chứ chưa hiểu rành rẽ, chính xác, cho nên mình phải đọc với lòng tôn kính tha thiết, phải tìm hiểu, học hỏi, và thực tập liên tục, thì mình cảm nhận được phần nào giá trị siêu thế, siêu việt của những lời dạy trong kinh này.
Quán thân ở trên thân là luôn luôn lúc nào mình cũng phải nhìn lại, phản chiếu, phản tỉnh soi rọi, dòm lại cái thân. Mình dòm chính cái sắc thân này, không phải dòm thường, không phải dòm lơ lơ, xơ xơ, dòm cho có, mà phải dòm nhiệt tâm, 1 cách siêng năng, sốt sắng, để tâm, để ý, để mắt, để con mắt tâm coi cái thân của mình đang như thế nào cả trong thân và ngoài thân. Chúng ta thực hành ngồi thiền thực hành quán bất tịnh, đó là quán thân trên thân, là quán nội thân, quán phía trong của thân mà từ trước tới giờ mình không biết, không thấy, không nghe. Quán ngoại thân là quán những động tác, cử chỉ, dáng vẻ bên ngoài, quán một cách nhiệt tâm tỉnh giác chánh niệm và nhiếp phục tham ưu ở trên đời. Nói tóm gọn tất cả những phiền não trên đời, Đức Phật chỉ dùng 2 chữ là tham và ưu, tham bao gồm luôn dục và ái, ưu là lo lắng và sợ hãi. Mình có sân, có bực bội khởi lên là tại vì mình không được cái tham, cho nên mình sân, gốc của nó chính là dục tham. Cho nên mình mới đọc câu mở đầu là “Cúi đầu đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng”, gốc của tất cả mọi vấn đề là dục tham, là khát ái, tham ưu bao trùm hết cho nên phải nhiếp phục tham ưu ở đời. Từ tham nên có cái lo, từ lo nên có cái sợ, cho nên “Nhân ái sanh ưu, nhân ái sanh bố, nhược ly ưu ái, hà ưu hà bố”, do ái sinh ra lo, vì ái sinh ra sợ, nếu rời khỏi tham ái thì đâu có lo, đâu có sợ. Ái cái thân, sắc uẩn này nhiều nhất, đó là bước một, rồi mới tới ái tới cảm giác, nghĩ tưởng nhận thức, đây là những cái hết sức là thâm sâu. Nếu không có Thánh trí của Đức Phật và không có tuệ quán thực tập một cách nhiệt tâm, tinh tấn, cố gắng nỗ lực thì mình không biết được, không thể nhận diện ra được. Cho nên nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm nhiếp phục tham ưu ở đời, “sống quán thọ trên thọ, sống quán tâm trên tâm, sống quán pháp trên pháp”, luôn luôn nhìn lại thân thể, cảm giác nội tâm và những thứ đang vận hành bên trong, đó là Tứ Niệm Xứ, nhìn lại 1 cách nhiệt tâm, tỉnh giác và chánh niệm. “Khi đi tới, đi lui đều tỉnh giác”, mấy câu này khi đọc đều phải làm cho mình rúng động, “khi nhìn thẳng, nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay duỗi tay đều tỉnh giác”, khi Minh Thành đọc nước mắt chảy ra, cha mẹ mình còn chưa dạy mình được vậy, không có cha mẹ nào dạy nổi cái này. “Tứ sanh chi từ phụ”, chỉ có cha lành của 4 loài mới dạy con như vậy.
Nhiều khi ra khỏi Thiền đường, hoặc mình mới xả thiền ra thì đã thấy khác, lúc đó mất tỉnh giác, chánh niệm, như vậy từ nãy tới giờ ngồi là ém lại, là kiềm lại, là bị bắt buộc nên mới vừa ra khỏi là nó bung ra liền. Cho nên tại sao quý thầy hay nhắc chúng ta chánh niệm, giữ sự an tịnh, cái này đem lại cho mình lợi lạc siêu việt, bất khả tư nghì, không thể tưởng tượng nổi những giá trị lợi ích mà phương pháp này đem lại cho mình.
Quý vị có thấy trà đạo nổi tiếng trên thế giới của Nhật Bản không? Cũng 1 chung trà, hàng ngày chúng ta uống ực ực, đó không kêu là trà đạo, mà kêu là trà quạo. Còn khi bên trong là cả 1 trái tim, cả 1 tấm lòng, cả 1 sự nhiệt quyết, nhiệt tâm thì người ta gọi là trà đạo. Cũng vậy Đức Phật dạy mình “khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác”.
Chánh niệm là mình quán thân thọ tâm pháp, tỉnh giác là mình luôn luôn nhận thức rõ ràng những cử chỉ, hành vi, động tác thân thể sử dụng như thế nào, mình phải biết sử dụng như thế mới gọi là tỉnh giác. Những điều này từ từ đưa mình vào định, không có cái này sao mà định. Cái tay, cái chân, cái mình, cái miệng mình không quản lý được, thì thọ, tưởng, hành siêu tốc như vậy làm sao mình quản lý được. Quý vị ngồi thiền, có bao nhiêu cái tưởng, bao nhiêu cái hành sanh khởi lên, quý vị có nhớ được hết không? Hay là nó phớt phớt qua, có khi là mình đi theo không kịp, chỉ nắm phía ngoài đuôi. Như vậy cái hình, cái tướng, cái sắc uẩn ở ngoài còn chưa chánh niệm tỉnh giác, còn chưa quản lý được, chưa kiểm soát được 1 cách thật là khéo léo, thật chặt chẽ thì tới cái không có hình tướng thì sao kiểm soát được.
Đức Phật có thí dụ về tốc độ sanh diệt của thọ và hành nhanh như thế nào ở trong Tăng Chi Bộ Kinh. Thí dụ 1 người bắn cung bắn ra 4 mũi tên theo 4 hướng, có 1 người nhảy chụp 1 lượt 4 mũi tên, quý vị thấy người chụp tên nhanh không? Mà Đức phật nói người này còn rất là chậm so với thần thông của chư Thiên, thần thông chư Thiên nhanh hơn rất nhiều lần. Đức Phật nói sự sanh diệt của thọ, hành nhanh hơn thần thông chư Thiên gấp vạn lần. Cho nên với trí phàm thì mình không thấy hết sự sanh diệt của sắc, thọ, hành, thức. Khi hỏi mình có thấy gì không, mình nói không thấy; có suy nghĩ gì không, mình nói không suy nghĩ; hỏi mình có tưởng gì không, mình nói có tưởng gì đâu, đó là tại vì mình không thấy được sự biến diệt của thọ, tưởng, hành, thức, sự sanh diệt đó rất nhanh.
Cho nên mình phải tập quản lý, tập chánh niệm tỉnh giác ở trong các động tác thân thể mình sử dụng. Quý vị thấy cái miệng tập khó hay dễ, cái miệng nghe nói tu tịnh khẩu là vỗ tay, nhưng trở ra rồi cũng vậy, cho nên mình phải thực tập từ từ. Những cái đi tới đi lui chánh niệm, mỗi động tác của mình trở thành thiêng liêng. Có những bước chân mình phải sụp xuống lạy; có những bước chân đưa vào tù ngục đọa đày; có những bước chân đi trong lãng quên thất niệm; có những bước chân đi trong sân hận, đốt cháy; có những bước chân hối hả như ma đuổi, quỷ rượt; có rất nhiều bước chân đi trong vô minh, si ám; rất nhiều bước chân xảy ra tai nạn giao thông ngày nay, đó là bước chân không có chánh niệm và tỉnh giác, khi lái xe không có chánh niệm và tỉnh giác. Tất cả những thứ đại sự trên cuộc đời này là từ chính những thứ nhỏ nhỏ này.
Đức phật nói bao trùm tất cả oai nghi của mình “Đi tới, đi lui, nhìn quanh, nhìn thẳng, co duỗi tay, mặc áo, ăn cơm, nhai nếm, đại tiểu tiện, đi, đứng, ngồi nằm, thức, nói, im lặng” bao hàm hết trong mấy câu của Đức Phật. Cho nên mình tập trong khóa tu và bình thường cũng vậy, tập mọi thứ chậm lại, trầm lặng, bình tĩnh, trầm tĩnh, an tĩnh, thì sẽ nhìn ra được thứ mà chưa từng nhìn thấy trước đây. Mỗi bước đi, cử chỉ, động tác của mình biểu hiện sự chánh niệm, phép lạ, thần thông. Lúc quý vị ăn uống, thiền hành tại Thiền Đường, có Quý Thầy hướng dẫn có khác với lúc đi bình thường không, đó là phép lạ, buổi sáng mình ngồi im, đó là phép lạ. Tất cả mọi oai nghi, động tác, cử chỉ mình có sự chánh niệm tỉnh thức, rõ biết, đều trở thành phép lạ, mình trở thành 1 con người tỉnh thức. Bình an lắm, tuyệt diệu lắm, khó dùng lời để diễn tả mà phải thực tập và cảm nhận tự thân tâm của mình.
Chánh niệm tỉnh giác thứ 2 là từng bước từng bước đi vào thâm sâu, do từ bên ngoài, hình tướng, sắc uẩn bắt đầu thực hành được rồi mới đi vào bên trong. Tỳ-kheo rõ biết các cảm thọ khổ, rõ biết cái cảm thọ an trú, rõ biết các cảm thọ chấm dứt. Cho nên câu hỏi buồn ngủ, mặc dù đã thức rồi, nhưng muốn ngủ nữa, chính là rõ biết có cảm giác ưa thích đang an trú trong thân, cảm giác ham thích, muốn thêm, mà khi mình rõ biết là không chỉ để rõ biết mà rõ biết là để xử lý. Cho nên tu tập Chánh kiến là quan trọng nhất của cánh cửa đầu tiên, biết bằng trí huệ, biết trong Tứ Chánh Cần, luôn luôn lúc nào cũng có Chánh tinh tấn. Nghĩa là ác chưa sanh thì không cho nó sanh, nếu nó sanh thì phải diệt tận, đó là pháp ác, là dục, ái, tham, làm biếng, ham ngủ, mê chơi, chúng ta phải diệt và xử lý, thì đó là Tứ Chánh Cần. Như vậy thì Tứ Chánh Cần đâu phải là 1 cái gì riêng, mà nó ở ngay trong cảm giác, trong suy nghĩ của mình. Ngay trong thọ, tưởng, hành, thức đó mình vận dụng Tứ Chánh Cần, vận dụng sự tinh cần, tinh tấn, sự nỗ lực, sự chấn tỉnh, sự chấn chỉnh, đánh tan những cảm giác tiêu cực, si mê, hôn ám, làm biếng, giãi đãi, buông lung, phóng vật, thả lỏng các căn, đánh tan cái đó thì là Tứ Chánh Cần. Điều thiện chưa sanh thì phát huy cho sanh, đã sanh rồi thì tăng trưởng, lớn mạnh, phát triển, quảng đại. Như vậy là chánh niệm tỉnh giác, rõ biết các cảm thọ khởi lên, rõ biết các cảm giác này đang an trú ở trong thân tâm, rõ biết cảm giác này đã chấm dứt rồi, cái giận, cái lo, cái ham muốn là hết rồi, đó là quán pháp ở trên pháp trong Tứ Niệm Xứ. Tất cả đều có mắt xích, liên đới nhau, chứ không phải thọ, thân, pháp là riêng biệt từng cái. Khi học thấu đáo, trọn vẹn thì có đầy đủ trong 1 pháp.
Cho nên phần quán 5 truyền cái nội tâm của dục tham, rõ biết, biết bằng trí huệ “Nội tâm tôi có dục tham”. Có nhiều người lầm đọc tới câu “Nội tâm tôi không có dục tham, tuệ tri nội tâm tôi không có dục tham” không phải đọc vậy là xong, do Đức Phật nói tắt, mình phải hiểu theo Bát Chánh Đạo, Chánh tinh tấn để làm cái gì, đâu phải biết xong rồi thôi. Ví dụ mình đang ngủ trên giường thấy con rắn hổ mang bò sát bên giường, mình kệ nó, mình biết vậy thôi. Cái biết đó là cái biết bị bệnh, hoặc là bị liệt, bị câm, tại vì liệt đâu có bò đi được, câm đâu có la lên được. Người bình thường sáng suốt thì phải la lên, tìm mọi cách, mọi thứ đánh đuổi nó. “Nội tâm tôi có dục tham”, biết bằng trí huệ “Nội tâm tôi có dục tham”, và xử lý nó. Một cảm giác dục tham sanh khởi lên, mình biết nó gọi là chánh niệm tỉnh giác, 1 cảm giác dục tham an trú trong tâm mình, mình biết nó, mình dùng các pháp để tẩy trừ đó là rõ chấm dứt, là rõ biết khi các thọ chấm dứt. “Nội tâm mình không có dục tham” thì mình biết không có dục tham, khi biết không có dục tham, mình sẽ sanh khởi 1 niềm hỷ lạc, sẽ đi vào sơ thiền
“Với dục tham chưa sanh, mà nay sanh khởi lên, vị ấy tuệ tri như vậy”, trước giờ mình không có dục tham về vấn đề này, hôm nay nó sanh khởi, nguy hiểm báo động, hết hồn, giật mình đó chính là quán pháp. Thí dụ nào giờ đâu có con rết này có mặt trong căn phòng của mình, sao hôm nay lại có. “Với dục tham chưa sanh khởi, hôm nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy. Với dục tham đã sanh, nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy”, nó rất rõ ràng, luôn luôn lúc nào Đức Phật cũng nói về sanh rồi diệt, nên lúc nào phải tinh tấn, xử lý bằng tuệ tri. Với “Dục tham đã đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy”, đây là thánh quả thứ 3 Bất lai, đoạn diệt rồi thì tương lai không sanh khởi nữa. Nó đoạn diệt thì biết rồi, nhưng tương lai sanh khởi khi nào thì chưa biết, nếu đoạn diệt được là hay rồi, đừng để cho nó tồn chỉ, chất chứa. Đừng để cho nó vào nhà ở tạm trú tạm vắng, cho nó nhập KT3, cuối cùng cho nó vô hộ khẩu là nó đạp chúng ta ra khỏi nhà, mình làm ở đợ, đầy tớ cho nó, đó chính là quán pháp trong pháp.
Sân hận, hôn trầm, thùy miên cũng như vậy; buồn ngủ, lăng xăng, trạo cử, hối tiếc cũng vậy; nghi ngờ, do dự cũng như vậy. Mình liên hệ để mình thấy được trong sự tu học phải hết sức là thiện xảo, khéo léo, nhỏ nhiệm, sâu sắc, thận trọng và vi tế. Phải viên mãn từng khía cạnh, từ góc cạnh, góc độ trong nội tâm, chứ không phải nhìn thọ, tưởng, hành, thức xong, đó là sơ cấp. Phải nhận diện ra rồi xem trong đó là cái gì, có cái gì, và xử lý như thế nào, dùng cái gì để xử lý, xử lý tới đâu, đó là trung cấp trong nhận diện 5 uẩn. Tu cái này rất thú vị, hương vị, quý vị có thấy 5 uẩn nó vận hành ra sao không, có thấy thọ sanh khởi, an trú rồi chấm dứt không, có thấy tưởng sanh khởi không?
Cho nên ngồi thiền mà cứ đơ đơ, mắt cố nhướng lên thì thấy thương vô cùng, như vậy thì ngồi cái gì? Ngồi trong si ám, trong vô minh, leo lên ngồi nhắm mắt, thở vô, thở ra, không biết đi đâu, nghe chuông cái boong rồi xả thiền. Cho nên tu như vậy người ta gọi “thiền ngủ”, “thiền lủng”, “thiền chìm”, “thiền đăng” là xong. Thương vô cùng thương, nhiều khi sân giận thì đánh, mở con mắt ra không nổi thì ngồi cái gì, nhắm quen rồi nên mở không được thì tu cái gì? Cho nên bây giờ tu mà thích dễ, thầy Minh Thành dạy khó quá thì thôi kiếm chỗ nào khác học, thầy rầy hoài, lên núi xa xôi, leo lên cực khổ, ăn ở không có chỗ, không được nói chuyện, do đó những người ngồi đây là hột vững chắc. Càng nghiêm, càng kỹ, càng cẩn thận chừng nào, thì sự tu học của mình mới có thành quả cao, tu đâu phải tìm cái dễ, nếu tìm cái dễ thì nên ở nhà, mình tu là để tìm pháp, tìm con đường thoát ra, cho nên càng khó càng mừng, khoái, thích, tác ý mình gặp hàng độc, hàng quý, hàng hiếm.
Hãy cố gắng thực tập, tưởng khởi lên hình bóng gì trong tâm mình phải biết, chấm dứt khi nào mình phải biết. Những cái suy tầm hết sức quan trọng, thâm sâu. Sự suy tầm cũng là hành uẩn, tức là cái tâm suy nghĩ một vấn đề nào đó, có những vấn đề mình suy nghĩ hoài, đó không phải là tự nhiên mà là những lớp sâu của tầng cảm thọ ở phía dưới, nó nung lên, nó đẩy lên, làm cho mình suy nghĩ cái đó. Dục lậu là những lớp cảm thọ, như mạch ngầm trong nội tâm, khó thấy, khó biết, từ dưới đó nung lên, bốc hơi lên, nó làm cho suy nghĩ của mình theo chiều hướng đó, chứ không phải mình suy nghĩ vậy. Sao tự nhiên mình không suy nghĩ thành A-la-hán, không suy nghĩ ly tham, nghe ly tham hoài mà mình cũng tham, đó là dục lậu. Mình phải phát hiện ra nó, nếu nhẹ nhẹ thì dùng Như lý tác ý đánh đuổi, nếu nặng thì mình quán 1 lần, 10 lần, 100 lần, 1.000 lần, 10.000 lần cuối cùng cũng sẽ diệt tận được nó.
Minh Thành hay thí dụ nó giống như “gốc cổ thụ ngàn năm”, mình chỉ có thể dùng cuốc cào cào sơ sơ, vẽ khắc chữ lên cây chơi thôi chứ không thể bứng được cây cổ thụ 1.000 năm đó. Chúng ta cứ ngồi trơ trơ cầu xin, hoặc đọc đọc vài câu để bứng được tham sân si thì sự kiện đó không thể xảy ra. Cả 1 tấm lòng nhiệt huyết, tha thiết, đúng Chánh pháp mà còn phải nỗ lực tinh cần, tinh tấn, dũng mãnh ngày đêm liên tục thiền định không gián đoạn, thì mới có thể rung rinh gốc cổ thụ ngàn năm.
Trong kinh Thủ Chuyển có nói là làm cho sự chấp thủ vào 5 uẩn rung chuyển, động chuyển, lay chuyển và chỉ có Thánh trí 5 uẩn làm cho nó lay chuyển, động chuyển. Có vị nghe pháp 7 ngày, về nhà còn nhớ thêm 7 ngày nữa, rồi 7 ngày sau phải xuống tu tiếp tục, chứ không phải trở lại gốc cổ thụ thâm căn cố đế, ngàn năm không thể rung chuyển. Chúng ta phải đào bới hoài, đào sâu hoài, cứ nghe Thánh trí 7 trí về sắc, 7 trí về tưởng, 7 trí về thọ, 7 trí về hành, 7 trí về thức. Nghe và quán cho đến khi nào đó mình tẩy não được, tẩy sạch não mình ra khỏi những cảm giác này là tôi nè, những suy nghĩ, những hình bóng trong tưởng này là tôi, những hình thức là tôi. Phải tẩy sạch khỏi não bộ, khỏi tâm tư của mình thì khi đó là Nhập lưu.
Xóa sạch sự chấp thủ vào 5 đống dơ dáy, hôi hám, cấu nhiễm tạo ra bao nhiêu nghiệp khổ, vô minh si ám, chấp ngã, ta đây, cống cao ngã mạn. Loại ra từ từ, chuyển từ từ, bào mòn từ từ mới phá vỡ được, cho nên sự tỉnh giác chánh niệm hết sức quan trọng. Quý vị nhớ lại Đức Phật dạy chánh niệm là luôn luôn nhìn lại thân thể, cảm giác nội tâm và những thứ đang vận hành ở bên trong, đó gọi là chánh niệm. Chứ không phải đơn giản đi biết đi, đứng biết đứng, nằm biết nằm gọi là chánh niệm, đó chỉ là 1 ít của phần niệm thân, mình học bao nhiêu mình thấy đủ thì làm sao mình phá nổi tham, sân, si, bản ngã. Nếu được thì mình chỉ được dáng bên ngoài thôi, thấy đi đứng đàng hoàng nhẹ nhàng, nhưng bên trong là gì thì mình không biết tại vì nhiều khi chạm vô là có chuyện, rỉ chảy ra các lậu hoặc.
Sự tỉnh giác Đức Phật dạy là những cử chỉ, hành vi luôn luôn có 1 sự rõ biết, phép lạ. Tiến thêm mức độ thâm sâu hơn trong bước thứ 2 của chánh niệm tỉnh giác là những định đề của đạo tràng Nikāya, những đề tài nhất định phải tu học, phải thực tập. Tiến sâu hơn là thọ, tưởng, hành, những cảm giác, những hình bóng nơi nội tâm, những suy nghĩ sanh khởi lên, an trú và chấm dứt mình phải biết. Cái biết đó không phải chỉ biết suông, mà luôn luôn kết hợp với Tứ Chánh Cần, một sự siêng năng, chân chánh, tinh tấn, nỗ lực, tinh cần để tu tập, để tu trì, để hộ trì, để chế ngự. Đức Phật dạy mình tu tập, đoạn trừ, hộ trì, chế ngự các căn, tu tập Tứ Niệm Xứ, đoạn trừ tham, sân, si, và hộ trì những thiện pháp mà mình đang có. Thí dụ như định tướng mà mình đã tu tập trong quán bất tịnh, quán bộ xương, quán 9 giai đoạn 1 tử thi.
Câu hỏi nói về quán theo người hướng dẫn, thì tâm của mình phải tập chấp nhận học pháp, tâm phải nhu nhuyến, hướng dẫn như thế nào, thực tập như thế đó. Nếu mình tập theo cái khác, thì tâm của mình không được thu nhiếp, nhu nhuyến, mình không thể nhiếp phục làm chủ được nó, khi đó mình bị nó dẫn, chứ không phải dẫn nó. Phải nhiếp phục tâm của mình, phải chấp nhận học pháp và phải làm chủ được tâm, mình muốn nó sao, nó phải như vậy, nó không được đi hướng khác, ngay cả pháp thực hành cũng vậy. Thí dụ mình thực hành tịnh khẩu nhưng muốn thảo luận pháp, mình nói thôi cứ thảo luận pháp đi thì không được, cũng vậy tâm mình phải chấp nhận nhận học pháp, nó mềm mại, nhu nhuyến dễ sử dụng, làm chủ nội tâm, không cho nó đi ra khỏi.
Sau này các khóa tu nâng cấp cao của Nikāya là xuyên suốt 1 ngày quán 1 đề mục, nâng cấp cao hơn nữa là 7 ngày 1 đề mục, như vậy mới trở thành định tướng, tới mức định, huệ và chỉ quán thâm sâu. Không lung tung và trí nhất như vậy thì mới có thể đi đến chỗ thâm sâu, có thể xuyên thủng qua những lớp dày của vô minh, chấp thủ và khát ái đối với 5 thủ uẩn. Đó là chúng ta đi từng bước, từng bước, tập từ từ, từ từ.
./.