Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tâm Hiền Trí - Giải Cứu Thế Giới

2026-03-03 00:54:57
Tinh Hoa Nikāya

TÂM HIỀN TRÍ

GIẢI CỨU THẾ GIỚI

–Thích Minh Thành–

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Quán chiếu ác nghiệp PAGEREF _Toc90735308 \h 1

II.Pháp ly tham tối thượng PAGEREF _Toc90735309 \h 7

III.Chánh pháp giải cứu thế giới PAGEREF _Toc90735310 \h 12

1.Đoạn tận năm sợ hãi thù hận PAGEREF _Toc90735311 \h 13

2.Tu tập tập hiền tâm PAGEREF _Toc90735312 \h 18

Quán chiếu ác nghiệp

Thời gian vừa qua, Minh Thành chiêm nghiệm theo lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya và thấy rằng chỉ có tâm hiền trí mới giải cứu được thế giới, ngoài tâm hiền trí thì không có gì có thể giải cứu được thế giới này. Chính tâm hiền trí, hạnh hiền trí, nội tâm hiền thiện, trí tuệ này mới có thể hóa giải kiếp nạn của toàn cầu. Chúng ta chiêm nghiệm sẽ thấy rất ghê sợ những dục tham, sân hận, vô minh, bản ngã của chúng sanh, chính những thứ này hủy diệt trái đất, hủy diệt sự sống, hủy diệt sự bình thường, bình an của hữu tình chúng sanh. Muốn hóa giải kiếp nạn này chỉ có thực hành tâm hiền thiện, hạnh hiền thiện, đức hiền thiện, phát xuất từ sự thấy biết, từ trí tuệ, gọi tắt là “hiền trí” – hai chữ này cũng là cốt tủy của kinh tạng Nikāya.

Chúng ta phải gánh chịu sự đau khổ trong hiện tại thê thảm, kinh hoàng, khủng khiếp như thế này là vì tâm con người ngày càng tham lam, ngày càng đầy ứ những dục vọng. Đức Thế Tôn dùng từ "ác dục", nghĩa là chẳng những tham muốn, dục vọng mà còn tham muốn, dục vọng theo chiều ác độc, thâm độc, độc hại cho nên mới dẫn đến hậu quả như hiện nay. Do lòng sân hận, sự vô minh, si ám không thấy, không biết về nhân quả, tội phước, thiện ác, lành dữ, chấp ngã nên con người cứ nắm chặt vào một cái tôi vĩ đại, to lớn, bành trướng ngút trời mây và dẫn đến hậu quả như hôm nay. Chúng sanh sẽ còn tiếp tục đau khổ, còn tiếp tục chịu đựng những cảm giác thống khổ, đau đớn hoành hành, thảm họa đầy rẫy, lo lắng, bất an, sợ hãi, kinh hãi cứ vây quanh và tiếp tục đi đến những thảm cảnh. Tất cả chỉ dừng lại khi nào con người biết tu tập một nội tâm hiền lành, hiền hòa, hiền thiện, hiền lương, hiền hậu, hiền đức, hiền từ và hiền trí.

Chúng ta hãy quán xét một cách sâu sắc về tai hại, tác hại, nguy hiểm của sự tham lam, tham muốn, tham dục, ác tham để thấy được hậu quả con người đang gánh chịu ngày nay. Tất cả mọi việc đều có nhân quả. Chúng ta chặt cây phá rừng, khai thác lâm sản vô tội vạ, bắt thú, giết thú, làm mất đi hệ sinh thái tự nhiên, dẫn đến việc nước dâng lên cuốn trôi làng mạc, thị trấn biến thành sông ngòi, miền Trung bây giờ có thể bắt cá ngoài đường, đại lộ biến thành sông. Chúng ta lấn biển lấp sông, khai thác các loài hải sản đến kiệt quệ, hệ sinh thái của đại dương càng ngày càng đi đến chỗ cạn kiệt. Chúng ta xả hàng trăm, hàng ngàn tấn rác xuống mọi nơi, những con vật sống dưới biển (thủy tộc) cũng chết rồi trôi dạt vào bờ vì ô nhiễm nguồn nước. Nhà máy thải những chất độc hại thẳng ra sông hồ, biển cả, làm các loài cá chết trắng một vùng biển. Con người còn xây dựng những nhà máy, xí nghiệp sản xuất hóa chất độc hại, chế tạo những thứ vũ khí giết người hàng loạt. Những chất độc hại này sẽ ảnh hưởng những người làm ra nó và ảnh hưởng đến những người xung quanh. Chất độc thải ra ngấm vào đất, vào mạch nước ngầm, vào không khí, cùng với việc xe cộ, máy bay thải ra khói gây hiệu ứng nhà kính. Con người còn tạo ra biết bao thứ làm đảo lộn thiên nhiên, nóng thành lạnh, lạnh thành nóng. Chúng ta đi ngược tự nhiên và một khi đi ngược tự nhiên sẽ rất tai hại. Cuối cùng gây biến đổi khí hậu, những tầng khí quyển bị thủng bởi khí độc thải ra rồi chính con người bị tia cực tím chiếu vào gây ung thư da.

Như vậy, trong rừng, trên núi, dưới biển, thành thị, thôn quê… bất kì nơi nào có mặt con người thì nơi đó đều bị phá hoại. Chúng ta chặn dòng nước để làm những con đập thủy điện siêu khủng, tất cả những thứ đó đều để phục vụ cho sinh hoạt của con người. Thế nhưng, vì lòng tham lam, dục vọng điên cuồng của mình mà con người không biết, không ý thức, không có cái nhìn sâu sắc về nhân quả của hệ sinh thái môi trường, trái đất, của hữu tình chúng sanh. Chúng ta chỉ biết có loài người chứ không biết còn những loài sinh vật khác nữa, chỉ nghĩ về lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm rồi tàn sát, tàn phá thiên nhiên và cuối cùng chính mình lãnh hậu quả.

Đức Phật nói do lòng ác tham, lòng tham muốn một cách ác độc, hiểm ác của con người nên gây ra những ác nghiệp không những cho loài người mà còn cho các loài phi nhân. Không phải ai chết đi cũng được làm người mà còn thành những loài khác như ngạ quỷ, súc sanh và sự sân hận của các vị tích tụ lâu ngày sẽ phát sanh ra những thứ độc hại. Khi mưa không thuận, gió không hòa thì hạn hán xảy ra, lũ lụt, mất mùa, đói kém, thiên tai, dịch bệnh, làng không còn là làng, thị trấn không còn là thị trấn, quốc độ không còn là quốc độ, đất nước không còn là đất nước… tất cả những điều này đều do lòng ác tham của con người. Hơn nữa, chính những loài dạ xoa, phi nhân, ngạ quỷ với tâm sân hận, thù hằn tác động vào tâm thức con người, vào những thứ khác để trút oán hận, cũng vì lý do này nên chúng ta mới có bài sám hối oan gia trái chủ.

"Rồi một Bà-la-môn giàu có lớn đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ, nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn giàu có lớn bạch Thế Tôn:

- Con có nghe, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn thuở xưa, các trưởng lão lớn tuổi, bậc thầy của các bậc Thầy nói rằng: 'Thuở xưa, thế giới này quá sung mãn, với người, - người ta nghĩ như một vực sâu không có sóng, các làng, các thị trấn, các kinh thành quá gần để một con gà trống có thể bước từ chỗ này qua chỗ kia'.

Do nhân gì, thưa Tôn giả Gotama, do duyên gì, ngày nay loài người lại bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như thế, các làng trở thành không phải làng, các thị trấn trở thành không phải thị trấn, các thành phố trở thành không phải thành phố, các quốc độ trở thành không phải quốc độ?

- Ngày nay, này Bà-la-môn, loài người bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, và bị ác tham chinh phục, bị tà kiến chi phối. Vì bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, vì bị ác tham chinh phục, vì bị tà kiến chi phối, chúng cầm gươm sắc bén sát hại lẫn nhau. Do vậy, nhiều người mạng chung. Ðây là nhân, này Bà-la-môn, đây là duyên, ngày nay loài người bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như thế, các làng trở thành không phải làng, các thị trấn trở thành không phải thị trấn, các thành phố trở thành không phải thành phố, các quốc độ trở thành không quốc độ.

Lại nữa, này Bà-la-môn, ngày nay, các loài người bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, và bị ác tham chinh phục, bị các tà kiến chi phối. Vì bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, vì bị ác tham chinh phục, vì bị tà kiến chi phối, trời không mưa xuống đều đặn. Vì vậy, bữa ăn khó tìm, mùa màng hư mất, trắng xóa với côn trùng, chỉ còn lại cọng dẹp. Do vậy, nhiều người mạng chung. Ðây là nhân, này Bà-la-môn, đây là duyên, vì sao ngày nay loài người bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như thế, các làng trở thành không phải làng, các thị trấn trở thành không phải thị trấn, các thành phố trở thành không phải thành phố, các quốc độ trở thành không phải quốc độ.

Lại nữa, này Bà-la-môn, ngày nay, các loài người bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, và bị ác tham chinh phục, bị các tà kiến chi phối. Vì bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, vì bị ác tham chinh phục, vì bị tà kiến chi phối, các loài Yakkha (Dạ-xoa) thả ra các loài phi nhân dữ tợn. Vì vậy, nhiều người mạng chung. Ðây là nhân, này Bà-la-môn, đây là duyên, ngày nay loài người bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như thế, các làng trở thành không phải làng, các thị trấn trở thành không phải thị trấn, các thành phố trở thành không phải thành phố, các quốc độ trở thành không phải quốc độ.

- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng những gì bị quăng ngã xuống, hay trình bày cái gì bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc hướng, hay cầm đèn sáng vào bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện thuyết giảng. Con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng". (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VI. Phẩm Các Bà-La-Môn, Người Giàu Có)

Khi chiêm nghiêm mới thấy Đức Thế Tôn thật tối tôn, tối thượng, Ngài chỉ nói ba chữ “tham, sân, si” nhưng chúng ta có chiêm nghiệm đến chết cũng chưa thấy hết được nguy hiểm và tác hại của tham muốn, nóng giận, si mê, vô minh, bản ngã này, cho nên chúng ta đừng xem thường ba chữ này. Lòng tham của con người làm ra tất cả mọi thứ trên đời này, làm khổ mình khổ người, làm cho toàn thể thế giới thống khổ, đau đớn. Thế Tôn đã nói "các làng trở thành không phải làng, các thị trấn trở thành không phải thị trấn, các thành phố trở thành không phải thành phố, các quốc độ trở thành không phải quốc độ", đều từ lòng ác tham của con người.

Chồng không còn là chồng, vợ không còn là vợ chỉ vì đồng tiền, trở mặt nhau thành kẻ thù, thậm chí giết nhau. Bạn bè không còn là bạn bè, đồng đạo không còn là đồng đạo nữa, không chịu tu chung là giết nhau bỏ vào thùng đổ bê tông vào. Cha con không còn là cha con, anh em không còn là anh em, đều là do tham, sân, si, bản ngã, vô minh làm đảo lộn tất cả giá trị đạo đức, nhân nghĩa, tình nghĩa, hiếu nghĩa, ân đức, ân nghĩa, mọi thứ đều tan vỡ, sụp đổ, bại hoại, đi đến chỗ diệt vong. Những tin tức báo chí đưa hằng ngày chính là hệ quả của lòng tham muốn ác độc, đó là hậu quả của tâm bực bội, sân hận, thù hằn, những cảm giác bức xúc, nhiệt não, đó là hệ quả tất yếu nhất định phải có của lòng si mê, vô minh, bản ngã.

Nếu cứ tiếp tục như vậy thì đến khi nào thiên hạ thái bình? Con người bây giờ không lo tu đạo đức; không lo tu tâm hiền thiện; không lo sửa đổi những suy nghĩ, hành vi, lời nói; không lo hoàn thiện nhân cách mà chỉ lo kiếm tiền, lợi nhuận, lo chạy theo dục vọng, nếu không được thì bừng bốc lên những ngọn lửa của sân hận, tức giận, nhiệt não, thiêu đốt. Chỉ cần kéo cửa sắt gây âm thanh lớn là đánh nhau, giết nhau; những bụi mạt cưa bay qua nhà hàng xóm cũng xảy ra án mạng… xã hội bây giờ thật quá khủng khiếp, kinh hãi, run sợ. Như vậy, bên trong chúng sanh luôn chất chứa đầy những cảm thọ tức giận, thù hằn, nhiệt não, bức xúc, chúng hành hạ chính tự thân họ và hành hạ những người ở chung, ở gần.

Một vị Bà-la-môn đã hỏi Thế Tôn giáo pháp của Ngài thiết thực, hiện tại như thế nào, Thế Tôn nói vị ấy hãy lắng nghe và chịu khó trả lời câu hỏi của Ngài:

"Pháp là thiết thực hiện tại, pháp là thiết thực hiện tại, thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu?

- Vậy này Bà-la-môn, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông có thể kham nhẫn thời hãy trả lời; Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm có tham ái, Ông có biết: 'Nội tâm ta có tham ái?' Hay nội tâm không có tham ái. Ông có biết: .Nội tâm ta không có tham ái?'

- Thưa có, thưa Tôn giả.

- Này Bà-la-môn, nội tâm có tham ái, Ông có biết: 'Nội tâm ta có tham ái'. Hay nội tâm không có tham ái, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có tham ái'. Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại... Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm ta có si? Hay nội tâm không có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có si?'

-Thưa có, thưa Tôn giả.

- Này Bà-la-môn, nội tâm có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta có si'. Hay nội tâm không có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có si'. Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại...Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm có thân uế..., hay nội tâm có khẩu uế...hay nội tâm có ý uế, Ông có biết: 'Nội tâm ta có ý uế?' Hay nội tâm không có ý uế, Ông có biết: "Nội tâm ta không có ý uế...'?

- Thưa có, thưa Tôn giả.

- Này Bà-la-môn, nội tâm có ý uế, Ông có biết: 'Nội tâm ta có ý uế'. Hay nội tâm không có ý uế, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có ý uế'. Như vậy này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (VI). Cho Ðời Này (2))

Khi nội tâm khởi lên sự tức giận là mình đang có cảm thọ nóng lên, nếu cố gắng nhiếp phục, hóa giải được cảm thọ đó là mình hết khổ, người hết khổ, cả hai đều được bình an, đó là pháp thiết thực hiện tại, rõ ràng, thực tế nhưng tại sao chúng ta còn ngờ vực, không nỗ lực. Giáo pháp rất rõ ràng, thực tế, vấn đề còn lại là phải nhớ để thực hành. Bằng không, lòng sân hận, tức giận này sẽ đốt cháy mọi nơi, mọi người. Gia đình cự cãi, huynh đệ bất hòa, thầy trò không nhìn mặt nhau… tất cả cũng vì si mê, vô minh, ích kỷ, chỉ biết nghĩ cho bản thân. Đó là tai hại của vô minh, bản ngã, dẫn đến hai bên cứ nói qua nói lại rồi tranh hơn tranh thua, giành phần thắng, giành phần hơn rồi cự cãi, gây lộn, đánh nhau, thậm chí đi đến chỗ giết hại lẫn nhau. Hằng ngày, con người cứ tranh giành, cạnh tranh, đấu tranh như vậy nên dẫn đến chiến tranh và làm tan nát, đổ vỡ mọi thứ. Trò đi kiện thầy, thầy hãm hại trò, không còn đạo đức, tôn ti trật tự gì nữa. Đến nỗi bây giờ nhà trường phải ghi những câu như “thầy ra thầy, trò ra trò, trường ra trường, lớp ra lớp”, nghĩa là tình hình hiện tại đã vượt mức báo động.

Trong bài kinh “Đại Khổ Uẩn” Đức Phật nói vua tranh với vua, quan tranh với quan, hoàng thất tranh với hoàng thất, thương nhân tranh với thương nhân, con tranh giành với cha, người này tranh giành với người kia… tất cả đều vì dục tham, sân hận, bản ngã, tạo thành một mớ hỗn độn, một đống khổ, gọi là đại khổ uẩn.

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, do chính dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua, Sát-đế-lị tranh đoạt với Sát-đế-lị, Bà-la-môn tranh đoạt với Bà-la-môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ, mẹ tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ, cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt với cha, anh em tranh đoạt với anh em, anh tranh đoạt với chị, chị tranh đoạt với anh, bạn bè tranh đoạt với bạn bè. Khi họ đã dấn mình vào tranh chấp, tranh luận, tranh đoạt; họ công phá nhau bằng tay; họ công phá nhau bằng đá; họ công phá nhau bằng gậy; họ công phá nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục, thiết thực hiện tại, thuộc khổ uẩn, lấy dục làm nhân, lấy dục làm duyên, là nguồn gốc của dục, là nguyên nhân của dục". (Trung Bộ Kinh, 13. Ðại kinh Khổ uẩn)

Pháp ly tham tối thượng

Hiện tại, đời sống chúng ta được an ổn, sống trong núi rừng thanh vắng, không khí trong lành, mát mẻ, chim hót líu lo, trúc xanh mây trắng, bạt ngàn đồi trà là chúng ta có phước duyên rất nhiều. Hơn nữa, chúng ta còn gặp được Chánh Pháp, được tu học, thiền quán mỗi ngày nên càng phải trân trọng những gì mình đã tu đã học trong những kiếp vừa qua, ngay trong phút giây hiện tại cũng như thời gian tu tập trước nay cho đến bây giờ. Mỗi ngày phải tác ý biết ơn, cảm thấy hạnh phúc, hoan hỉ, an lạc.

Nhìn ra thế giới hiện giờ vô cùng đau xót, số người chết vì dịch bệnh đã lên năm triệu người, xác người chết chất cao như ngọn núi. Cho nên Đức Phật mới nói không thể biết được điểm khởi đầu của việc chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc, nước mắt đã chảy còn nhiều hơn nước trong bốn biển.

"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn? Dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này hay là nước trong bốn biển lớn?

-- Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng, cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do chúng con than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi) 

Có nhiều người sẽ không tin nước mắt đã chảy nhiều hơn nước trong bốn biển nhưng thật sự là vậy. Chỉ cần tấm giấy che lại là mắt nhìn không thể nhìn thấy được gì nữa nên mình không biết gì cả, trong khi con mắt của Đức Phật nhìn xuyên thấu tất cả tứ đại trong vô lượng vô số kiếp. Tất cả giống như bộ phim dài tập không có kết thúc, mỗi một đời như vậy khóc không biết bao nhiêu lần. Cho nên trong vòng luân hồi không có điểm dừng này nước mắt nhiều hơn nước bốn biển là sự thật, sữa mẹ càng ngày càng nhiều vì cứ sanh ra rồi chết đi, mộ phần cũng ngày càng nhiều lên.

"Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn, sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, hay là nước trong bốn biển?

-- Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, tức là sữa mẹ mà chúng con đã uống trong khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển!

 -- Lành thay, lành thay, này các Tỳ-kheo! Lành thay, này các Tỳ-kheo, các Ông đã hiểu như vậy Pháp do Ta dạy!

Cái này là nhiều hơn, này các Tỳ-kheo, tức là sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, IV. Sữa)

"Ví như, này các Tỳ-kheo, có người chặt các cành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá, trong cõi Diêm-phù-đề này, chất chúng thành một đống, làm chúng thành những que đặt theo hình các ô vuông, cầm từng que đặt xuống và nói: 'Ðây là mẹ tôi, đây là mẹ của mẹ tôi'. Và không thể cùng tận, này các Tỳ-kheo, là các bà mẹ, mẹ của người ấy. Nhưng nhành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá trong cõi Diêm-phù-đề này có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt.

Vì sao? Vô thỉ là luân hồi, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

Cũng vậy, đã lâu ngày, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên.

Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi) 

Do vì quá vô minh nên nhiều khi đọc kinh cũng không tin chuyện này có thật, không tin vào Phật, không cảm thọ được. Bởi vì lòng tin của mình không tịnh tín bất động nên không đi theo lời kinh để quán chiếu, suy tư, chiêm nghiệm, tác ý, tư duy nên mình không thấy, không cảm nhận được những lời Đức Phật đã tuyên bố. Vì vậy, chúng ta phải nhìn ra hiện trạng bên ngoài để xác người chết vì dịch bệnh trên toàn thế giới chất cao đến mức không tưởng tượng nổi, phải chôn trong những hố chôn tập thể, đó là minh chứng cho sự thật trong lời Đức Phật đã nói.

"Người nhặt các loại hoa,

Ý đắm say tham nhiễm,

Các dục chưa thỏa mãn,

Ðã bị chết chinh phục".

(Kinh Pháp Cú 04 Phẩm Hoa, kệ 48)

Dù chúng ta có đầy đủ bao nhiêu đi nữa thì vẫn không thỏa mãn được các dục vọng, hết dục vọng này đến dục vọng kia, chưa thỏa mãn được thì đã đến lúc chết. Việc này đang làm, việc kia đang tính toán, việc nọ đang dang dở thì thần chết đã đến. Vì vậy, chỉ còn con đường nhìn ra, nhiếp phục và diệt tận dục tham thì mới hết khổ, còn đi theo nó thì khổ dài dài. Bản chất của túi tham là không đáy thì biết đến bao giờ mới đầy túi, cho nên khổ cứ chồng chất thêm khổ.

Vì thế, điều tối tôn, tối thượng của Thánh Pháp này là quay lại nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, có như vậy mới hết khổ. Tham ở đây là tham đối với ngũ uẩn cho nên ly tham là pháp tối thượng. Ly tham đối với ngũ uẩn, không tham muốn đối với ngũ uẩn, đó mới là vô thượng pháp luân, là pháp tối cao giữa chư Thiên và loài Người được bậc vộ thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chứng ngộ.

Người đời nói không tham nhưng chỉ là không tham đối với món đồ, tiền bạc của sắc uẩn thôi chứ họ không biết ly tham đối với cả năm uẩn. Không có bất cứ một ai nói rằng không còn tham muốn trong suy nghĩ, cảm giác, nhận thức, rõ biết, ngoại trừ Đức Thế Tôn và bậc Đa văn Thánh đệ tử. Chỉ có Đức Như Lai và đệ tử của Đức Như Lai mới nhàm chán, từ bỏ những cảm giác, suy nghĩ, nhận thức, đó chính là ly tham pháp tối thượng.

Chúng sanh không thể biết được năm uẩn, họ chỉ biết một chút về sắc uẩn, chỉ biết được trong tâm thức đang rối ren, đang có một một mớ hỗn độn chứ họ không thể thấy biết được sự tập khởi và đoạn diệt của ngũ uẩn. Chúng sanh không biết được từ cái gì mà ngũ uẩn tập hợp, sanh khởi, vận hành, không biết nguyên nhân sanh diệt của ngũ uẩn thế nào. Dù cho họ có học hết hành tinh này nhưng không gặp Như Lai và đệ tử chân chánh của Như Lai, tức là hàng bốn đôi tám chúng thì vĩnh viễn và mãi mãi không thể biết được ngũ uẩn, không thể biết được sự tập hợp, sanh khởi và đoạn diệt của ngũ uẩn, không thể biết được con đường đoạn diệt ngũ uẩn. Như vậy, ngoài Đức Thế Tôn và đệ tử của Ngài thì không thể có người thứ hai chỉ dẫn được những điều này, đó cũng là lý do chúng ta lễ lạy ân đức của Thánh Pháp.

Ví dụ mình muốn nhà, xe, muốn đi du lịch, muốn có bạn bè, danh vọng, sự nghiệp, muốn mặc quần áo hàng hiệu… vô vàn cái muốn không thể đong đếm được nhưng Đức Phật tóm thâu tất cả trong ngũ uẩn. Vô số cái muốn như vậy mà mình cứ chạy theo thì có chết trăm đời ngàn kiếp cũng không hết tham muốn được, vì bản chất của những cái muốn là không thỏa mãn. Vì thế, Đức Phật dạy phải quay lại nhìn vào gốc rễ của sự phát sanh ra cái muốn rồi nhiếp phục và diệt tận là xong công việc.

Chúng ta mong cầu mà không được thì khổ, nếu có được nhưng theo thời gian rồi bị tan hoại thì lại khổ vô cùng, cho nên con người cực khổ hoài là vì cứ chạy theo những cái ham muốn. Cho nên, so với việc tìm kiếm thì việc quay lại nội tâm để nhìn vào gốc rễ của những tham muốn rồi diệt tận chúng sẽ giúp chúng ta hơn rất nhiều và đó cũng chính là giá trị của Thánh pháp, cứu khổ là ở đây. Nếu cứ hướng ngoại theo nhà cửa, xe cộ, du lịch, quần áo, giày dép, trang sức, túi xách… sẽ khổ dài dài. Người nào thích du lịch thì cứ đi hết cảnh này đến cảnh kia không dừng nghỉ, hết lên núi lại xuống biển, có khi đánh đổi cả sinh mạng. Chúng ta cứ chạy theo dục như vậy thì vĩnh viễn và mãi mãi không thể dừng lại được.

Cho nên Đức Phật mới nói vô thỉ là luân hồi này, không thể nêu rõ khởi điểm của nó, cũng không nêu rõ được kết thúc, chỉ trừ những bậc Thánh thành tựu chánh tri kiến mới bắt đầu dừng lại và thoát ra khỏi nó. Còn chúng sanh chỉ dừng lại tạm thời để lấy sức chạy tiếp chứ không thật sự dừng hẳn, chỉ có bậc Nhập Lưu minh kiến, thành tựu cái thấy biết thật sự về sự nguy hiểm và tác hại đau khổ của những tham muốn, dục vọng này thì các Ngài mới bắt đầu dừng lại và dừng lại vĩnh viễn.

Như vậy, giũa ngàn vạn cái muốn với việc quay lại nhiếp phục dục vọng trong thân tâm thì cái nào dễ dàng hơn, cái nào gọn hơn? Đó chính là ân đức của Chánh Pháp, nghĩa là chúng ta cứ quay lại để nhiếp phục dục trong thân tâm là không cần chạy đi tìm kiếm gì nữa, làm được như vậy là hạnh phúc vĩnh viễn. Còn nếu cứ chạy theo những tham muốn, dục vọng đó thì không chỉ chạy trong một đời kiếp này mà đời sau sẽ chạy tiếp, và vô lượng vô biên kiếp sau cũng sẽ tiếp tục chạy như vậy. Chạy theo vạn hướng để tìm kiếm so với việc ngồi yên để nhiếp phục dục thì cái nào khỏe hơn, an lạc, hạnh phúc, vi diệu hơn?

Tuy nhiên, cái đau khổ của chúng sanh là không biết dục ở đâu, không biết dục sanh khởi, vận hành như thế nào, không biết cách chính xác để nhiếp phục và đoạn tận dục. Chỉ có thành tựu trí năm uẩn và trí lậu hoặc mới nhìn ra được những cảm thọ của dục, tham, ái, từ đó mới nhiếp phục thành công và đi đến chỗ đoạn diệt. Mặt khác, dù cho chưa nhiếp phục được hoàn toàn nhưng ít nhất cũng thấy, cũng biết được dục và có kết quả tương đối trong sự nhiếp phục dục, sau đó từ từ chúng ta sẽ đi đến chỗ thành tựu tuyệt đối. Đó là ân đức của Chánh Pháp.

Trong kinh ghi lại rất nhiều trường hợp một người sân hận, chửi mắng, làm rất nhiều chuyện ác nhưng khi được Phật nói pháp cho nghe thì người này sụp xuống quỳ lạy, tán thán Đức Phật xin quy y tu tập. Sau đó, người này tinh tấn tu tập trong chỗ vắng một mình, dứt sạch được hết tham, sân, si và trở thành một vị A-la-hán. Đó là do gặp được Chánh Pháp, tu đúng chánh kiến.

Chánh pháp giải cứu thế giới

Thế nên, điều đầu tiên xã hội bây giờ cần phải làm là quay trở lại căn bản của đạo đức, thiết lập lại trật tự của đời sống, trật tự của thế giới, đó chính là xây dựng lại đạo đức, nhân nghĩa, hiền thiện.

Đoạn tận năm sợ hãi thù hận

Giáo pháp của Thế Tôn rõ như mặt trời, không có chỗ nào làm mờ tối được giáo pháp này. Năm giới của Đức Phật đề ra là trật tự của vũ trụ, nếu phá vỡ năm giới này sẽ làm đảo lộn mọi thứ, làm thế giới bất an và lo lắng. Đức Phật nói có năm sự sợ hãi và hận thù, tức là phạm vào năm thứ này sẽ đem đến sợ hãi, đem lại hận thù cho nhau; dừng được năm thứ này sẽ sống bình an, an lạc, hạnh phúc; từ bỏ năm thứ này sẽ có hòa bình, yêu thương, không hận thù.

"Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:

- Này Gia chủ, ai không đoạn tận năm sợ hãi hận thù, được gọi là ác giới và sanh vào địa ngục. Thế nào là năm?

Sát sanh,

Lấy của không cho,

Tà hạnh trong các dục,

Nói láo,

Đắm say rượu men, rượu nấu.

Này Gia chủ, ai không đoạn tận năm sợ hãi hận thù này, được gọi là ác giới và sanh vào địa ngục.

- Này Gia chủ, ai đoạn tận năm sợ hãi hận thù, được gọi là có giới và sanh lên cõi Trời. Thế nào là năm? Sát sanh, lấy của không cho...đắm say rượu men, rượu nấu.

Này Gia chủ, ai đoạn tận năm sợ hãi hận thù này, được gọi là có giới và sanh lên cõi Trời.

Này Gia chủ, do duyên sát sanh, người sát sanh hiện tại sanh khởi sợ hãi hận thù, đời sau sanh khởi sợ hãi hận thù, tâm cảm thọ khổ ưu. Từ bỏ sát sanh, hiện tại không sanh khởi sợ hãi hận thù, đời sau không sanh khởi sợ hãi hận thù, tâm không cảm thọ khổ ưu. Người từ bỏ sát sanh, như vậy, sợ hãi hận thù ấy được tịnh chỉ.

Này Gia chủ, người lấy của không cho...Này Gia chủ, người có tà hạnh trong các dục...Này Gia chủ, người nói láo...Này Gia chủ, người đắm say rượu men, rượu nấu, do duyên đắm say rượu men, rượu nấu, hiện tại sanh khởi sợ hãi hận thù, đời sau sanh khởi sợ hãi hận thù, tâm cảm thọ khổ ưu. Từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, hiện tại không sanh khởi sợ hãi hận thù, đời sau không sanh khởi sợ hãi hận thù, tâm không cảm thọ khổ ưu. Người từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, như vậy, sợ hãi hận thù ấy được tịnh chỉ". (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XVIII. Phẩm Nam Cư Sĩ, (IV). Sợ Hãi Hận Thù)

Từ sát sanh có nghĩa rất rộng chứ không chỉ gói gọn trong việc giết người mà còn là giết những gì có sự sống. Chẳng hạn chặt cây cũng là sát sanh nên trong giới luật các vị Tỳ-kheo không nỡ đạp lên cỏ xanh. Đây cũng là lý do Minh Thành thường nhắc nhở mọi người không chặt cây, vì đó là sự sống tự nhiên, sự sống của ngàn non muôn nước. Ở Bảo Lộc bây giờ chỉ còn những cây trà thấp lè tè, cây rừng không còn nữa vì con người đi đến đâu là tiêu tan đến đó. Họ vừa mua miếng đất xong là vào chặt rồi đốt cây, đó là do vô minh, si ám, do tâm tham lam nên đi đến đâu là con người hủy diệt đến đó. Và nhân quả của việc hủy hoại thiên nhiên là thiên nhiên sẽ hủy hoại ngược lại con người. Hơn nữa, dù không có ý hủy hoại các loài vô tình nhưng hệ quả chúng ta phải nhận lấy cũng là như vậy. Bởi vì con người làm mất cân bằng hệ sinh thái dẫn đến việc mọi thứ trở nên bất thường, mà bất thường thì đương nhiên con người phải gánh chịu. Chúng ta làm đau đớn các loài hữu tình thì tất nhiên mình phải trả giá, không hiện tại thì cũng trong tương lai, không phải đời sau thì cũng năm bảy đời sau hoặc mười đời sau, năm trăm đời sau.

Cho nên giới đầu tiên Đức Phật đưa ra chính là phải từ bỏ sát sanh vì mình gặp con gì giết được là giết. Thấy con gián thay vì để nó chạy ra ngoài nhưng phải giết mới được, đập con muỗi rồi chà sát cho thấy máu mới được, mua cây vợt điện vợt muỗi nổ như bắp rang, chết càng nhiều, tiếng nổ càng liên tục thì càng thích thú, tất cả những điều này đều có nhân quả nghiệp báo, vì mình khiến cho những con vật đó chết trong đau đớn bất thình lình. Tất cả chúng ta đều rất quý sinh mạng của mình nhưng lại không biết quý sinh mạng của chúng sanh, hữu tình khác. Vì sự vô minh, ngu si, bản ngã mà mình không hiểu cho những chúng sanh khác, cho nên, Đức Phật nói ai yêu quý chính mình thì đừng làm hại người khác.

Tâm ta đi cùng khắp,

Tất cả mọi phương trời,

Cũng không tìm thấy được,

Ai thân hơn tự ngã.

Tự ngã đối mọi người,

Quá thân ái như vậy.

Vậy ai yêu tự ngã,

Chớ hại tự ngã người".

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, VIII. Mallikà: Mạt-lỵ )

Đức Phật dạy nếu yêu quý tự ngã mình thì đừng làm hại tự ngã người khác. Thế nhưng chúng sanh vì vô minh nên không biết điều đó mà chỉ biết yêu quý bản thân mình, đối với những chúng sanh khác là thẳng tay trừng trị. Từ những con gián, con kiến, con muỗi đến chim chóc, rắn rết, tắc kè… con người thẳng tay bắt rắn về ngâm rượu thuốc, thấy chim là bắn, thấy tắc kè là bắt. Ai bắt mình về nhốt lại là mình không chịu, rồi sân hận nhưng gặp chúng sanh khác là mình tàn hại, vì suy nghĩ rằng nó là "vật dưỡng nhân", nó sanh ra là để nuôi mình. Đó là tà tư duy, tà kiến, vì có vô vàn các loại rau củ quả không có sự nhận thức, rõ biết để mình dùng. Cho nên, chúng ta mỗi ngày phải cảm niệm ân đức của giới Đức Phật đặt ra vì những giới này giúp cho mình có đời sống bình an, an ổn.

Trong thời điểm dịch bệnh Covid-19 này, có người trẻ khỏe nhưng nhiễm bệnh là chết, có người già lớn tuổi đầy bệnh nền nhưng lại vượt qua được dịch bệnh, trị được hết bệnh, đó là vì nghiệp lành nên tuổi thọ được kéo dài. Như vậy, không phải tự nhiên ai cũng bệnh, hoặc khi mắc bệnh thì có người vượt qua được nhưng cũng có người không thể vượt qua. Nếu chúng ta chỉ nhìn bên ngoài sẽ thấy là do thuốc, do có bác sĩ và đến bệnh viện kịp lúc, nhưng người đó đến được bệnh viện kịp lúc, có được bác sĩ giỏi chữa trị là do phước đức của họ. Nhờ các duyên đưa đẩy nên được như vậy, cùng với việc thọ mạng chưa hết do người này từ bỏ sát sanh, tu tập tâm từ… Như vậy, khi mình nhìn sâu vào mới thấy được vấn đề cốt lõi của mọi việc. Cho nên, chúng ta phải tác ý trong tâm hướng đến từ bỏ sát sanh, từ nội tâm cho đến lời nói, hành vi phải cố gắng từ bỏ sát sanh. Đây là những điều căn bản nhất, vì vậy đừng nghĩ đây chỉ là chuyện của cư sĩ, còn xuất gia rồi là thôi, mà ai ai cũng cần phải tu những điều này suốt đời.

Khi không giết hại, không khen ngợi việc giết hại và không thuận theo sự giết hại thì đương nhiên lúc sanh ra mình sẽ không bị ai thù hận, không ai làm cho mình sợ hãi, tất cả là nhờ mình không gây ra cái nhân làm cho người ta đau khổ, lo lắng, sợ hãi, hận thù. Đây là lý do có người sanh ra từ nhỏ đến lớn không ai hận thù, nhưng có người sanh ra từ nhỏ đến lớn đầy rẫy sự hận thù, tất cả đều là nhân quả của việc từ bỏ sát sanh hay không từ bỏ sát sanh. Có người sanh ra từ nhỏ đến già không bệnh gì cả, đến lúc mất cũng không bị bệnh nặng, nhưng có đứa trẻ mới lọt lòng đã mang bệnh, đó là do nghiệp sát trong quá khứ còn dư tàn xót lại. Vì thế, Đức Phật đã dạy, mình là chủ nhân của nghiệp, nghiệp là bào thai, là chỗ nương dựa, thân này là sự thừa kế, biểu hiện ra nghiệp.

Kế đến là trộm cắp, lấy của không cho; tà dâm, ngoại tình; nói dối, nói lời dâm thọc, nói lời phù phiếm; sử dụng những chất say sưa nghiện ngập… những thứ này làm con người hận thù, bất an, đảo lộn trật tự luân lý của xã hội. Nếu như năm giới này càng được giữ gìn thì thế giới càng được an bình, ngược lại, năm giới này càng bị vi phạm thì càng hủy hoại sự an lành, bình an của chúng sanh, của thế giới.

Hiện tại năm giới này đang bị vi phạm rất nhiều. Xã hội ngày càng có nhiều phim ảnh bạo lực, đồi trụy lan tràn trên mạng và truyền bá khắp nơi. Những đứa trẻ hồn nhiên, ngây thơ, mới lớn nếu cứ tiếp xúc với những phim ảnh này thì những chất độc đó sẽ đi vào cảm thọ, đi vào những nghĩ, tưởng trong tâm… chúng tích tụ lâu ngày sẽ phát ra tội lỗi. Những hình ảnh đâm chém, bắn nhau, giết hại lẫn nhau đầy máu me thâm nhập vào thọ; tưởng; hành của những đứa trẻ mới lớn, cùng với những hình ảnh đồi trụy sẽ làm phát khởi những cảm thọ dục vọng bất chánh.

Những hành vi trộm cắp, cướp giật nếu không trừng trị thích đáng sẽ vô cùng nguy hiểm. Người ta thấy gì cũng trộm, thấy gì cũng ăn cắp, đến thùng rác cũng trộm, chậu cây kiểng cũng lấy, thùng công đức trong chùa cũng bị trộm. Đó là con người tự hủy hoại chính họ, làm sụp đổ tất cả đạo đức. Con người lúc nào cũng sống trong bất an, lo sợ vì cái gì cũng có thể bị trộm, nuôi chó giữ nhà không khéo cũng bị trộm lấy luôn con chó. Ngày ngày đạo đức càng đi xuống, con người càng sống trong thù hằn, lo lắng, bất an.

Tiếp theo là ma túy, rượu chè, những chất kích thích, gây nghiện ngập ở mức độ nặng. Bình thường, chỉ riêng cái dục đã khủng khiếp rồi mà bây giờ còn có những chất làm tăng trưởng, kích thích thêm những cái dục vọng đó. Cuối cùng dẫn đến hậu quả gia đình ly tán, con cái chia lìa khỏi cha mẹ, hủy hoại tất cả những gì đã gầy dựng, sụp đổ tất cả danh tiếng, tài sản, địa vị xã hội. Con người sống ngày càng buông thả, sống theo bầy đàn, tiếp thu những điều không hay từ những nơi khác. Cho nên, chúng ta phải nhớ rằng, đối với những điều hay mình nên học hỏi nhưng cũng có những điều mình không nên tiếp thu.

Đức Phật nói có hai pháp duy trì trật tự thế gian chính là tàm và quý, xấu hổ và sợ hãi đối với ác bất thiện pháp, nếu không có hai pháp này thì vợ không còn là vợ, chồng không còn là chồng, anh em không còn là anh em, tất cả đều lẫn lộn như súc sanh, thú vật.

"Hai pháp này, này các Tỳ-kheo, là pháp trắng. Thế nào là hai? Tàm và quý. Các pháp này, này các Tỳ-kheo, là hai pháp trắng.

Hai pháp trắng này, này các Tỳ-kheo, che chở cho thế giới. Thế nào là hai? Tàm và quý. Nếu hai pháp trắng này, không che chở cho thế giới, thời không thể chỉ được đây là mẹ hay là em, chị của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của Thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng. Và thế giới sẽ đi đến hỗn loạn như giữa các loài dê, loài gà vịt, loài heo, loài chó, loài dã can. Vì rằng, này các Tỳ-kheo, có hai pháp trắng này che chở cho thế giới, nên mới có thể chỉ được đây là mẹ hay đây là chị em của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của Thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng". (Tăng Chi Bộ, Chương II – Hai Pháp, Chương I. Phẩm Hình Phạt, Hai Loại Tội)

Chúng ta phải biết xấu hổ, sợ hãi đối với những tội lỗi ác bất thiện pháp, trong những bộ phim xưa rất đề cao nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, gặp nhau là chắp tay xá chào nhau, Minh Thành thấy những hình ảnh đó rất xúc động vì sự lễ kính, lễ giáo của người xưa, nhưng dần dần bây giờ không còn như vậy nữa, bây giờ mà chào nhau như thế có khi bị cười chê. Cho nên, cái đáng xấu hổ thì họ không xấu hổ, cái không đáng xấu hổ thì họ lại xấu hổ, cái đáng tôn trọng thì họ lại khinh thường, cái đáng khinh thường lại được tôn sùng. Như vậy là đảo lộn trật tự của xã hội, những gì hiền thiện, cao quý trong đời này từ từ biến mất, chỉ còn sự hận thù, lo lắng, bất an.

Tu tập tập hiền tâm

Vì vậy, Minh Thành có tâm nguyện ở nơi không có con người, thế ngoại đào viên, lập một chỗ nội bất xuất ngoại bất nhập, ở trong đó tu học trở về thời xưa, không cần đông người nhưng những người đến ở phải là những người hiền thiện, có chí hướng tu hành.

Có một bộ tộc ở Nam Mỹ tên là Kogi, bộ tộc này đã có mặt tám ngàn năm nay, những người này không tích trữ lương thực vì cho rằng việc tích trữ khiến con người ta trở nên ích kỷ, tham lam, vô tình tạo nên sự muốn chiếm hữu nhiều hơn từ đó dẫn khởi sự chiếm đoạt, khơi nguồn chiến tranh tàn sát lẫn nhau. Họ sống đơn sơ tách biệt, không có bất cứ quan hệ hay liên lạc với thế giới nhưng thế giới bên ngoài làm gì họ đều biết. Tất cả các thanh niên trong bộ tộc đều phải trải qua một khóa thiền định tu tập trong vòng chín năm để được coi là trưởng thành, gọi là cữu niên diện bích. Thức ăn chính của người Kogi là hoa quả, rau củ, họ đặc biệt không ăn thịt, sống cuộc đời đơn giản, chính vì ăn chay thường xuyên nên tuổi thọ của người Kogi rất cao, trung bình tới hơn 100 tuổi. Họ sống vô tư, hồn nhiên như chim chóc, không biết tích lũy đồ ăn nhưng vẫn sống rất nhẹ nhàng. Trong khi con người mình cứ gom góp, tích lũy cho nhiều rồi giành giật, đấu tranh, cướp giật.

Một vị Bà-la-môn nói rằng ông sợ hãi con người vì quá nhiều mưu tính, lừa lọc trong khi thú vật sống hồn nhiên, cởi mở. Vị Bà-la-môn này được Đức Phật khen ngợi vì sự thật đúng như vậy, do tâm con người ác độc, gian trá theo chiều ác tham, trong khi con vật rất đơn sơ.

"Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hiểu được hạnh phúc và sự bất hạnh của chúng sanh trong khi loài người sống trong sự rối ren như vậy, trong sự cặn bã như vậy, trong sự xảo quyệt như vậy. Bạch Thế Tôn, rối ren thay như loài người. Bạch Thế Tôn, cởi mở thay như loài thú vật. Bạch Thế Tôn, con có thể nhiếp phục con voi, một cách khiến con voi ấy mỗi khi đi hay đến Campa, liền trình bày mọi sự gian dối, giả dối, xảo trá, xảo quyệt. Nhưng bạch Thế Tôn, những người đầy tớ của chúng con, những người phục dịch, những người làm công, thân hành họ làm một cách, khẩu hành họ làm một cách khác, ý hành họ làm một cách khác nữa. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn biết được hạnh phúc và sự bất hạnh của chúng sanh, trong khi loài người sống trong sự rối ren như vậy, trong sự cặn bã như vậy, trong sự xảo quyệt như vậy. Bạch Thế Tôn, rối ren thay như loài người! Bạch Thế Tôn, cởi mở thay, như loài thú vật!

-- Thật như vậy, này Pessa! Thật như vậy, này Pessa! Này Pessa, rối ren thay, như loài người! Cởi mở thay, như loài thú vật!". (Trung Bộ Kinh, 51. Kinh Kandaraka)

Nhìn những con người ác độc mà cảm thấy sợ cho họ. Tại sao họ lại có những suy nghĩ, hành động, tâm thức ác độc đến vậy? Cho nên, chúng ta càng phải tu tập tâm hiền thiện thật nhiều bằng sự tác ý và hướng đến từ bỏ sát sanh; từ bỏ trộm cắp; từ bỏ lấy của không cho; từ bỏ tà hạnh trong các dục; từ bỏ nói dối, nói lời ác độc, đâm thọc, nói lời phù phiếm; từ bỏ sử dụng những chất suy sưa, nghiện ngập làm say mê, điên đảo. Phải luôn luôn thực tập tâm hiền hậu, hiền lành, hiền lương, hiền đức, hiền trí. Chúng ta sống ở đây không cự cãi, bất hòa cho nên phải biết trân trọng điều này, tiếp tục tăng trưởng phát triển điều này. Hơn thế nữa, chúng ta phải truyền cảm thọ đó cho những người đến đây dù chỉ một lần hay nhiều lần để họ cảm nhận được sự an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào của lòng hiểu và thương, hiểu nỗi khổ của nhau.

Cả thế giới hôm nay đã đi đến tình trạng đại thảm họa toàn cầu còn chưa đủ khổ hay sao mà mình còn chất chứa những cảm thọ bức xúc, bực bội, bản ngã, ta đây để làm gì? Cho nên cần tác ý nhắc nhở tâm phải từ ái, lắng dịu, an tịnh, ngọt ngào, đừng bức xúc, bực bội, thô tháo. Hãy sống làm sao để nội tâm, lời nói, hành vi uyển chuyển, nhu nhuyến, mềm mại, định tĩnh, dễ sử dụng. Ngoài pháp ra là ở trong thiền định, ngoài thời thiền là an trú trong pháp, dù có làm việc cũng an trú trong sự quán chiếu thân, thọ, tâm, pháp. Bản thân Minh Thành khi nào ra khỏi pháp là lập tức thấy bất an, lúc an ổn nhất là lúc ở trong pháp cho nên Minh Thành rất thích chia sẻ pháp. Nhiều khi cứ muốn ngồi chia sẻ pháp liên tục, chỉ khi nào mệt mới nghỉ, bởi lẽ chỉ có ở trong pháp mới đem lại an ổn, minh trí, tuệ giác cho bản thân, ra khỏi pháp là sầu, bi, khổ, ưu, não, lo lắng, hơn thua. Chính vì vậy, sự im lặng của bậc Thánh chính là thiền định, nếu có nói là nói về pháp, ngoài ra không nói gì khác.

"Này các Tỳ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỳ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)

Ngoài pháp ra không có gì đáng để nói nữa vì mình đã nói trăm ngàn vạn kiếp nhưng không được lợi ích gì ngoài tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Chúng ta phải trình pháp, chia sẻ pháp thật nhiều, thuyết giảng pháp, lưu bố pháp, đảnh lễ, tôn kính pháp, siêng năng nghe pháp, chiêm nghiệm pháp, tụng đọc pháp. Chúng ta đừng suy nghĩ cái gì ngoài pháp, đừng làm những gì ngoài pháp cũng đừng nói cái gì ra khỏi pháp. Pháp là chỗ nương dựa tối tôn, tối thượng, tối đệ nhất giữa chư Thiên và loài Người.

Chúng ta phải nhớ thực tập tâm hiền dịu, an tịnh, nói năng nhẹ nhàng, đừng ồn ào, dao động, lăng xăng. Hãy nhớ hiền thiện là bình an, tốt lành, hạnh phúc, hiền thiện là ngôi nhà trú ẩn của nội tâm, hiền thiện là những hành động cao quý, cao thượng, là những lời nói tỏa hương sen. Cần phải cảm thông, tha thứ, yêu thương lẫn nhau, nhìn nhau bằng ánh nhìn thiện cảm. Vì ai cũng còn lậu hoặc, tham, sân, si, bản ngã nên mình hãy thấu hiểu, tha thứ, tác thành cho nhau, giúp đỡ nhau cùng tu để bớt khổ, giảm khổ.

Hữu tình là đáng tội nghiệp! Chúng sanh là đáng tội nghiệp! Đau khổ như vậy là quá đủ rồi! Cay đắng như vậy là quá đủ rồi! Thảm họa như vầy là quá đủ rồi! Chẳng lẽ chúng ta lại đem tai họa đến cho nhau nữa hay sao? Chính vì vậy, chỉ có tâm hiền trí mới giải cứu thế giới, cần tu tập nhiều tâm hiền thiện, hiền trí, tâm bi mẫn, xót thương, cảm thông, tha thứ này. Hãy thường xuyên an trú tâm thích thú, hoan hỉ, vui sướng khi ở trong pháp. Hãy tu tập tâm buông xả, chấp trước, nắm giữ những sự buồn phiền, hờn giận, buông xả những sự hơn thua, được mất, nhỏ hẹp. Những thứ đó đều không đáng giá, những thứ đó là bẩn thỉu, chỉ mang lại đau khổ trong hiện tại và tương lai nên chúng ta cần quăng bỏ, vứt đi để mình có được nội tâm thật sự an tịnh, lắng dịu, dễ chịu và ngọt ngào.

./.