Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Công trình vĩ đại bên trong 2

2026-03-03 00:54:58
CÔNG TRÌNH VĨ ĐẠI BÊN TRONG 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Mục đích của đạo Phật PAGEREF _Toc70152878 \h 1

II.Bài kinh “Các Ách” PAGEREF _Toc70152879 \h 3

III.Công trình bên trong PAGEREF _Toc70152880 \h 6

Câu hỏi:

“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

Con kính bạch sư phụ, quý thầy và cùng toàn thể đại chúng!

Sáng nay con được nghe sư phụ nói về người tu là xây dựng một công trình bên trong và con muốn sư phụ nói sâu hơn và rõ hơn về công trình của người tu cần xây dựng bên trong.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.

Mục đích của đạo Phật

Sự tu tập của chúng ta thật sự là một công trình rất lớn lao ở nội tâm, không phải những cái bên ngoài, nhưng nói vậy không có nghĩa là trở thành người lười nhát, không có oai nghi, giới hạnh, vì tâm chúng sanh gặp cái gì cũng nói được. Ví dụ, nếu nói tu tập là tu tâm thì khi mình nhắc nhở họ về hình thức là họ nói chỉ tu tâm thôi, cho nên đó là sự thấy biết nhỏ hẹp. Vì ở bên trong có dòng điện cho nên đèn mới sáng, nếu bên trong với tâm hoan hỷ, từ bi, thanh tịnh thì người đó lúc nào cũng nhẹ nhàng, an lạc, thanh thản, dễ thương, tâm rất rộng mở, bao la. Cho nên, tu học đừng chỉ kẹt trong mặt chữ nghĩa, vì pháp của Phật là pháp viên mãn, dính vào chữ nghĩa không thấy được chữ tu. Do đó, nếu nói vif Minh Thành giảng tu là công trình vĩ đại bên trong nên bên ngoài không tu là không đúng. Ý Minh Thành nói ở đây là chúng ta quen hướng ngoại, nghĩ sự thành công là hình tướng bên ngoài, hình thức bên ngoài, nhưng thành công thực sự là đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, dứt hết dục, tham và ái đối với thân tâm, sự vật và đời sống này – đó là mục đích thật sự của đạo Phật.

Muốn thực hiện được thì đầu tiên phải biết tham, sân, si là gì? Thứ hai là phải biết từ đâu tham, sân, si sanh khởi và con đường đưa đến chấm dứt tham, sân, si? Phải nhớ và lúc nào cũng phải vận dụng Tứ Thánh Đế, đó là bốn Thánh Trí. Phải biết được phiền não là gì? Từ đâu sanh khởi ra phiền não? Muốn chấm phiền não thì đạo lộ, con đường, phương pháp là gì? Phải nắm được bốn Thánh trí, nếu không nắm được thì vĩnh viễn không bao giờ mình dứt được tham, sân si.

Thứ nhất, tham, sân, si nằm trong cảm giác, cho nên mình phải luôn luôn nhìn lại cảm giác. Cảm giác khoan khoái, thích thú là tham; cảm giác bực bội, bức xúc, khó chịu thì phải nhìn được cảm giác đó, phải thấy được, phải biết được, phải rõ được đó là sân; cảm giác đơ đơ, trơ trơ, không nhiệt tình, không hăng hái, không phấn khởi, thụ động, tiêu cực, dãi đãi là một cảm giác trì trệ của si ám. Phải biết được cảm giác đang có mặt, đang hiện hữu bên trong cơ thể của mình, thấy được như vậy là thấy được tham, sân, si đây là trí huệ thứ nhất. Như vậy luôn luôn lúc nào nhìn lại cảm giác, nhìn lại cảm giác bên trong.

Thứ hai là từ đâu có tham, sân, si? Đó là từ chỗ lậu hoặc, từ năm uẩn, từ tôi, từ của tôi. Năm uẩn luôn luôn ở bên trong ảo tưởng về tôi. Đó là một cái tôi ảo tưởng, không nhìn thấy được sắc, không nhìn thấy được cảm giác, không nhìn thấy được tưởng, không nhìn thấy những hình bóng bên trong, không nhìn thấy được những suy nghĩ, không nhìn thấy được nhận thức, không nhìn thấy được như thật tuệ tri về năm thủ uẩn.

Con đường chấm dứt tham, sân, si là thấy rõ năm thủ uẩn, đoạn tận dục tham đối với năm thủ uẩn, đó là con đường Bát Thánh đạo, thể nhập sự thấy biết của bậc Thánh. Phải thấy rõ năm uẩn là năm uẩn, không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi ở trong sắc, ở trong cảm giác, trong suy tưởng và nhận thức, phải đánh vỡ quan điểm về ngã. Do đó cần quán chiếu liên tục để trừ khử, chuyển đổi nhận thức của mình từ phàm tình đi vào Thánh trí, không suy nghĩ theo thường tình mà bắt buộc phải suy nghĩ theo pháp.

Thí dụ đang tham, sân, si thì mình đọc lên: “Sắc là vô thường, thọ là thường, tưởng là vô thường, hành là vô thường, thức là vô thườn. Sắc là khổ, thọ là khổ, tưởng là khổ, hành là khổ, thức là khổ. Sắc là vô ngã, cảm giác là vô ngã trống rỗng, những suy tưởng này là vô ngã trống rỗng, nhận thức là vô ngã trống rỗng”. Như vậy, dần dần một ngày một chút sẽ làm thay đổi nhận thức. Khi thấy năm uẩn thì mình phát giác được bên trong là sự cấu uế, cấu bẩn, tham, sân, si.

Tham, sân, si là nói ngắn gọn, còn thực tế thì rất nhiều. Trong si có làm biếng, thụ động, trì trệ, si ám, đơ đơ, đờ đờ giống như gà mờ, lơ tơ mơ, bơ phờ nhìn đâu cũng giống như ngủ chưa đủ giấc, lúc nào nhìn mặt cũng giống như chưa đủ giấc, đó là si mê, trì độn, si ám, ngu si, phải đánh đuổi cảm giác đó không cho cư trú trong nội thân. Cho nên không chỉ tham, sân là phiền não mà si còn mạnh hơn nhiều và rất khó trị. Sân mãnh liệt nhưng bạo phát bạo tàn. Tham là lửa than, là dạng lửa trên thì phủ tro mà than bên trong đó mới ghê gớm, than cứ âm ỉ, nóng bên trong. Dục lậu là không biết muốn cái gì nhưng rất muốn, muốn nhiều thứ không rõ ràng, lờ mờ, lúc có lúc không, rất khó chịu, không thoải mái đó là dục nhiệt não. Nếu mình không nương trí tuệ của bậc Chánh Biến Tri thì không thể nào biết được bên trong là gì, có biết thì cũng sai. Nếu mình nương theo trí của Phật, có biết đúng nhưng chưa đủ cho nên phải tu tập thiền định chỉ quán thâm sâu, ngày càng càng quán chiếu thâm sâu hơn, lúc đó mới phát hiện từng lớp được.

Bài kinh “Các Ách”

Tăng Chi Bộ Kinh – tập 1, bài kinh “Các Ách”:

“Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các dục. Do như không thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các dục, nên dục tham, dục hỷ, dục luyến, dục đam mê, dục khát, dục não, dục chấp thủ, dục ái trong các dục chiếm đóng và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là dục ách.”(Tăng Chi Bộ Kinh – tập 1, 4. Chương Bốn Pháp I. Phẩm Bhandagàma, bài kinh Các Ách)

Dục ách là ách chồng vào người của mình, đi đâu cũng lê theo, giống như con trâu cày có cái ách phía sau rất nặng nề. Mình đi đâu cũng bị dục ách, cũng lê theo ách. Chúng ta bị hồng trên đầu, trên cổ, lên mình, lên chân, trong tim, trong đầu bởi dục ách, dục tham, dục hỷ, dục luyến, dục đam mê.

Dục tham là sự thúc giục mình muốn thêm nữa. Nếu không quay lại công trình bên trong thì không thể phát hiện được mình đang có cảm giác thúc giục là muốn thêm nữa. Một ví dụ vui: có một cô lên chùa, Minh Thành đãi hai trái sầu riêng, mọi người khác dùng xong rất hoan hỷ vui vẻ, nhưng có một cô ăn xong khen rất ngon. Sau khi trở ra cô nói: “Ăn chưa đã, thà là không ăn chứ ăn bao nhiêu thì chưa đã”. Minh Thành nói: “Tham rồi đó”. Sau đó cô bị sâu bắn ngứa cùng mình, tại vì cô đụng vào nhiều cây có sâu. Nhiều khi có chuyện rất nhỏ nên người ta không thấy được, vì ở bên trong là cảm giác thúc giục thêm nữa. Bao nhiêu tiền là đủ, bao nhiêu nhà là đủ, bao nhiêu người bạn là đủ, bao nhiêu tài sản là đủ, không có mức nào là đủ thì đó là dục tham.

Ách đè lên đầu, lên cổ, đè trong tim trong con người mình, đi đâu cũng kéo ách đi theo, do mình hoàn toàn không thành tựu về trí nên không biết được trí về sự tập khởi, chấm dứt vị ngọt, sự nguy hại của các dục, mình không quán tri được sự tập khởi sanh khởi lên, sự chấm dứt vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly thoát ra khỏi, nhưng mình không biết, không có như thật quán tri, không có thành tựu trí huệ nên không biết, thành ra nó điều khiển mình. Cho nên luôn luôn bên trong là cảm giác thúc giục đòi hỏi muốn thêm, không có đủ, chính điều đó làm cho con người ta đau khổ mãi mãi, không bao giờ dừng lại được. Cho đến khi mình nhận biết đó là dục tham “Ta thấy mặt ngươi rồi, đừng có sai khiến ta nữa, đừng đeo đuổi ta nữa, đeo bám ta nữa, bây giờ ta chinh phục mi, ta không để cho mi chinh phục ta.”, lúc đó bắt đầu thành tựu trí thứ nhất, tức là thấy được dục tham.

Dục hỷ là sự ham muốn, thích vui, ham vui, muốn vui, ưa vui, thích giỡn, thích cười, thích chơi ở trong các ham muốn. Bảo nó ngồi yên, ngồi thiền, nghe pháp mà không được do dục không chịu: “Ngồi gì cứng đơ, im re, rất khó chịu, đi ra ngoài cho thoải mái nói cười, chạy cho thoải mái”. Nó thích thoải mái như vậy. Dục hỷ là hoan hỷ trong các dục, tìm vui, muốn vui, ham vui, ưa vui, do đó, phải nhìn thấy được, phải có trí huệ mới nhìn thấy.

Dục luyến là lưu luyến các dục, cứ lưu luyến, bịn rịn, không muốn xa rời. Cho nên khi người yêu thương nhau, mà họ bi chia ly giống như đứt từng đoạn ruột, đau khổ khủng khiếp lắm, ruột co thắt quặn lên. Vợ chồng, con cái, anh em thương nhau lúc chia ly thì rất đau đớn, hay lúc chia tay rất lưu luyến, bịn rịn. Như vậy, gọi là dục luyến, tức là lưu luyến, luyến ái không nỡ bỏ.

Ví dụ: người thích xe, họ sưu tập một nhà xe, mỗi ngày dẫn một chiếc ra nhìn, hay lau chùi xe leo lên, hay một hôm lấy một chiếc chạy chơi, họ nhìn vào xe rất trìu mến, rất thương, thích quá đó là dục luyến. Mà người không có trí huệ thì không biết được, vô văn phàm phu là không biết được đó là dục luyến. Có người thích tiền, mở tủ ra xem tiền, nhìn tiền, mai mốt chết thì sờ tiền trước khi chết đó là dục luyến tiền, yêu tiền, thích tiền là dục đam mê. Có người mê sắc, mê danh, chỉ cần được khen là vui thích, hay chỉ cần đọc tên và được vỗ tay là họ cảm thấy phiêu bồng giống như đi trên mây rất vui sướng. Có người luyến về ăn, mê ăn, ăn phải ngon, suốt ngày chỉ đi tìm món ăn, có món ăn nào mới là phải ăn, quán ngon là phải tới.

Có một câu chuyện, mấy vị vua tập trung lại với nhau và nói: “Trên thế gian này, dục về sắc là bậc nhất, là tối thượng bậc nhất, sắc đẹp là nhất không còn gì hơn”. Có ông vua nói: “Âm thanh là bậc nhất”; có ông nói: “Mùi là nhất”, cho nên chuyên sưu tầm gỗ hương, dầu thơm hương liệu; có ông nói: “Vị là số một”. Khi các ông bàn với nhau, thì không ông nào giải quyết được và cùng nhau đi đến Thế Tôn hỏi, Đức Như Lai mới biết cái nào bậc nhất. Các vị vua mới đến thưa Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn nói: “Tùy theo sở thích của từng người mà thứ đó là tối thượng với người đó, tùy theo sở thích của người đó mà dục đó là bậc nhất đối với người đó”.

Ví dụ: người mê xe và người mê kiểng thì người mê kiểng không thích thú xe. Vừa rồi có chuyến hoằng pháp ngoài Nha trang, có ông chủ khách sạn, chú này tâm tốt thỉnh qúy thầy giảng sư đến nghỉ ngơi. Nhà chú có rất nhiều trầm kỳ hương rất quý giá, chú rất thích nhưng thứ này, giới thiệu từng món nhưng mình thì không biết. Do đó có nhiều dục sai biệt.

Dục não là ham muốn làm cho mình ưu não, phiền não, sầu não, não nề, còn nhiệt não thì dục rất nóng bức, bứt rứt, bực bội, khó chịu nếu dục không đáp ứng, không thỏa mãn thì sẽ chết hoặc giết người đó chết.

Dục chấp thủ là bám chặt vào không ra được, vi dụ ký giấy kết hôn là kể như xong, nếu gặp người hiền lành thì tốt, nhưng gặp người mà mình chưa hiểu thì ân hận suốt đời là dục chấp thủ. Giống như Bà Diệu Hiền lên núi mà chưa yên do còn dục chấp thủ, con cháu đã lớn nhưng vẫn lo. Những thứ đó chiếm đóng tồn tại, đây gọi là dục ách, chiếm đóng nội tâm của mình, làm căn cứ địa, làm hang ổ, làm sào huyệt, làm đồn trú trong nội tâm.

Dục đam mê rất ghê gớm như cỏ mỹ, bong bóng cười, xì ke, ma túy, chất nghiện. Có chú bị nghiện, phải tự xích dây xích lại trên giường, nhưng cuối cùng cũng không được phải đi kiếm chất nghiện đó, cai nghiện hàng chục năm không được đó là dục đam mê.

Điều này cho ta hiểu tại sao người xuất gia không lập gia đình, do dính mắc vào đó là đam mê, lưu luyến, ngoài ra còn có dục hỷ, dục tham, còn nhiệt não, dục não, dục khát, dục chấp thủ, dục ái. Cho nên người xuất gia Đức Phật dạy phải ly dục, ly tham tại đó là ách nặng nề, ràng buộc giống như gông tròng vào cổ, sau đó nắm dây xích lôi đi, suốt đời làm nô lệ cho dục. Vì vậy, mỗi ngày chúng ta hay niệm “Cuối đầu đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng”. Chỉ có Đức Chánh Đẳng Giác mới chỉ ra pháp ly tham tối thượng, còn phương pháp thường của phàm phu ngoại đạo, của bậc hiền triết, hiền thánh trong thế gian không có đi đến chỗ tận diệt, tiêu diệt, đoạn diệt, mà chỉ diệt thô và vừa. Còn những điều vi tế nếu không có Thánh trí Năm uẩn, không có Thánh trí của Bát Thánh đạo là không diệt được, đến tầng cao thâm sâu thì lúc đó chỉ còn tâm, thọ, tưởng, hoặc còn thức thì không thể diệt. Không biết sự tập khởi của thức, sự đoạn diệt của thức, không biết vị ngọt, không biết nguy hiểm và không biết sự xuất ly ra khỏi thức thì không thể đi ra được.

Chính vì vậy, Thánh trí Năm uẩn là tối tôn, tối thượng, tối đệ nhất đưa ra đạo lộ đi ra khỏi các thọ. Khi có các cảm giác ngồi yên tịnh, thanh tịnh, không có một hình bóng nào hết, không có suy nghĩ nào hết, với một cảm giác yên tịnh, an lạc, thì nhiều người nghĩ đó là chơn tâm, tự ngã của tôi, trùm khắp mênh mông bao la, nhưng đó là bị lạc vào thọ uẩn. Cho nên trí huệ tối thượng là công trình vĩ đại, phá sập hết năm uẩn, đó là công trình vĩ đại, siêu vĩ đại, cực vĩ đại, tối vĩ đại, muốn phá được thì đầu tiên phải hiểu dục, hiểu được tham, hiểu được ái. Dục khát, dục não, dục chấp thủ, dục ái rất ghê gớm, khao khát giống như đói được ăn khát được uống, dục trong người mình, giống như đói bụng ăn cơm ngon, khao khát như uống nước. Đức Phật dùng từ khát ái là trói buộc, còn ái là còn sanh nghiệp, mà còn nghiệp là còn khổ, không thể chấm dứt khổ, cho nên con đường là đoạn tận tham ái, con đường đạo lộ của bậc Thánh, lối đi của bậc Thánh.

Công trình bên trong

Như vậy, chúng ta phải làm sao để phá tan, phá sập, phá vỡ, phá nát hết các rác bẩn, cấu nhiễm thì đó chính là công trình vĩ đại ở bên trong. Chúng ta phá bằng chúng cách quán chiếu vô ngã và quán bất tịnh, luôn luôn nhận diện năm uẩn, phải nhìn thấy được năm uẩn, thấy được năm uẩn là phá được vô ngã.

Tu tập để thấy thân này là năm đống chứ không phải một người, chỉ là một đống thịt; một đống cảm giác, một đống hình bóng cảm giác, lờ mờ bên trong không có rõ ràng; những bóng mờ; những lời nói thầm thỏ thẻ, thủ thỉ, thở than; một đống suy nghĩ nhận thức thay đổi liên miên, thấy được năm đống này không đống nào của mình mà tất cả là pháp duyên sanh. Cho nên phải thuộc sự tập khởi của năm uẩn, chấm dứt của năm uẩn, vị ngọt của năm uẩn, sự xuất ly của năm uẩn.

Tập khởi của năm uẩn là thức ăn tập khởi và sắc tập khởi, do có thức ăn nên thân mình mới tồn tại, nếu không có thức ăn thì tấm thân sẽ bị hủy hoại. Do có tiếp xúc, xúc chạm nên có cảm giác, nghĩ, tưởng, nếu không có tiếp xúc sẽ không sanh ra cảm giác, nghĩ, tưởng. Có danh và sắc tập khởi thì thức tập khởi. Do sắc chất tứ đại, do thọ, tưởng, hành, xúc, tác ý nên danh sắc tập khởi. Danh sắc tập khởi nên thức tập khởi, an trú, sanh trưởng, sanh khởi. Chúng ta thấy được sự tập hợp và sanh khởi của năm uẩn, không có gì là lõi trong đó. Một cách đơn giản để nhớ điều này là niệm câu “Sắc, thọ, tưởng, hành, thức” niệm từng câu cho thật mạnh.

Đức Phật nói “Người nào sống yểm ly đối với sắc tức là nhàm chán xa lìa, người nào sống nhiều với sự nhàm chán xa lìa đối với sắc thì người đó sẽ liễu tri được sắc, sẽ tuệ tri được sắc, sẽ thắng tri được sắc”. Tức là người nào sống nhàm chán đối với sắc thì biết một cách thấu triệt, thấu rõ, thấu suốt đối với sắc. Người nào sống nhiều đối với sự quán chiếu đối với tính chất khổ của sắc thân này thì người đó sẽ liễu tri được sắc, sẽ thắng tri được sắc, sẽ tuệ tri được sắc, sẽ biết được sắc bằng trí huệ một cách sâu sắc nhất. Người nào sống nhiều với tính chất vô ngã của sắc thì người đó sẽ tuệ tri, thắng tri đối với sắc; yểm ly, nhàm chán, khổ, vô thường, vô ngã đối với sắc, đối với cảm giác nghĩ tưởng, năm uẩn. Phải sống nhiều với sự yểm ly nhàm chán, ly tham. Đây là định lý và công thức này phải học, không có bí mật nào khác nữa đối với sự thấu triệt năm uẩn. Ly tham, từ bỏ, chấm dứt đối với dục, tham, ái, đối với ngũ uẩn.

Trong bài kinh “Dòng Sông”, Tương Ưng Bộ Kinh tập 3, có một dòng nước chảy xiết, trên hai bờ có cỏ lau mọc rũ xuống, một người bị dòng nước cuốn trôi, người này nắm lấy cỏ lau đó, nhưng cỏ lau có thể bựt đứt. Nếu cỏ đứt thì người này bị cuốn trôi và có thể chết, người ấy có thể rơi vào khốn khổ, hoạn nạn, tai nạn, ách nạn.

“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Khi sắc ấy của người ấy bị bựt đứt, do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn.” (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập III. Thiên Uẩn, Phần 22b - B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa , V. Phẩm Hoa, bài kinh Dòng Sông)

Người này nhận sắc là đống thịt, bong bóng da và cho rằng “đây là tôi, là của tôi”, cho nên khi sắc ấy bị bựt đứt thì người ấy rơi vào tai ách khổ nạn. Hết chỗ bám hay sao mà lại bám vào cỏ lau, cỏ lau đâu có chắc chắn mà mình bám vào nó. Cứ tưởng cỏ lau chắc chắn, bám vào có thể cứu sống mình, để mình không bị cuốn trôi, cuốn phăng, cuốn đi, nhưng cuối cùng người này bị chết trong dòng sông. Cỏ lau đó là sắc, thọ, tưởng, hành, thức – đây không phải là chỗ cho mình bám vào, không phải chỗ cho mình nương tựa, không phải nơi kiên cố, vững chắc, an trú, đó là thứ dễ đứt, dễ gãy, dễ đổ, dễ vỡ, dễ hư, dễ mục, dễ tan, dễ hoại, dễ dẫn đến chỗ diệt vong. Mà cả cuộc đời mình do mình không thấy được bậc chân nhân, không thấy được bậc tri thức, không nghe Chánh Pháp, cho nên lầm tưởng là mình, là của mình, nhưng đó là thọ, tưởng, hành, thức. Cho nên thức của người ấy bị bựt đứt do nhân duyên ấy, người ấy rơi vào tai ách khổ nạn.

“Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

- Vô thường, bạch Thế Tôn

Thọ... Tưởng... Các hành... Thức là thường hay vô thường?

- Vô thường, bạch Thế Tôn.

Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát.” (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập III. Thiên Uẩn, Phần 22b - B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa , V. Phẩm Hoa, bài kinh Dòng Sông)

Hãy nhàm chán cái đám cỏ lau này, nhàm chán nắm cỏ mong manh này, nhàm chán thứ mục nát, rệu rã, hư hoại, bại hoại, tan hoại, hoại diệt này. Trong cái này cái nào là mình? Không có gì hết, sắc không có tự ngã, mấy chục ký lô thịt này cũng không có, không có gì chắc chắn bên trong.

Như lúc trưa có người dẫn Minh Thành đi lên dốc núi đèo cao, sát bên vực thẳm trên chiếc xe cũ, nếu lúc đó mà rớt xuống vực sâu thì giờ này đâu còn ngồi đây. Mong manh, dễ đổ, dễ vỡ, dễ tan, dễ nát, dễ hư, dễ hoại, dễ mục, dễ rã, dễ sập, dễ tan tành là đống sắc uẩn này; dễ biến đổi là cái cảm giác này; dễ thay đổi là tưởng hình bóng trong nội tâm; dễ dao động là những suy nghĩ. Nhận thức cũng vậy, không thể nương tựa vào đó được, cần loại tách ra từ từ. Giống như nhìn xuống dòng sông thấy lục bình trôi, cỏ trôi, thấy rác trôi, thây mèo trôi, nước trôi thì các dòng cảm thọ, suy nghĩ, nhận thức, tưởng của mình cũng trôi, ta cần tách mình ra khỏi đó, đừng đồng hóa trong suy nghĩ đó, đó là tưởng, là hành, là những suy nghĩ.

Khi ăn, khi uống, khi tắm, khi giặt, khi nằm ngủ trên giường quán mình đang nằm chết, ngày nào cũng vậy nên quán là nằm chết, chuẩn bị đưa vào lò thiêu, bị đưa vào hòm. Hay chuyện làm cho mình gấp rút, dao động mình quán chết, chết liền lập tức thì còn gì lo lắng sợ hãi, còn gì rộn ràng, dao động nữa hay không? Quán chết là sẽ yên tịnh, lắng dịu. Nhớ quán chết, khai tử, vì người chết đâu biết giận, tham, hơn thua, cao thấp. Trống rỗng là những cảm giác này, trống rỗng là những tưởng này, trống rỗng là những suy nghĩ, nhận thức này.

Kế tiếp, chúng ta giải phẫu cơ thể học, quán ba mươi hai thể trược xem cái nào là mình. Quán thâm sâu vào ba mươi hai thể trược, phân tích ra từng bộ phận để xem thử thứ nào là ta? Ngày nào cũng quán, bỏ đống ruột ra, bỏ gan ra, phổi nằm một bên, bao tử, lá lách, dạ dày bỏ ra từng cái một, bộ não, hai con mắt để tìm mình xem ở đâu? Quán thâm sâu cho đến nước mắt tràn ra rúng động, thấy trống rỗng, trống trơn, trống không để chứng nhập pháp tánh vô ngã. Phải quán thâm sâu ba mươi hai thể trược, suốt đêm ngày liên tục chỉ quán một pháp quán này. Quán một đống bầy nhầy do tai nạn giao thông, máu mủ, nước tiểu, phân bầy nhầy, tóc, óc vỡ hộp sọ bể ra bầy nhầy, nhầy nhụa máu me, quán sự nguy hại đó làm cho sung mãn sự nguy hại của ngã.

Quán chiếu bốn trí huệ để thấy bản ngã là gì? Đó có phải là ảo tưởng, là bóng mờ trong nội tâm của mình, hình bóng đó từ đâu mà có? Con đường đạo lộ chấm dứt hình bóng đó? Dùng bốn trí của Tứ Thánh Đế quán sâu vào bản ngã, dùng Như Lý Tác Ý mắng chửi, đánh đập nó: “Mày sát hại tao, mày tàn hại tao, mày hại diệt tao, làm cho tao khốn khổ bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp, bây giờ tao già mày còn hại tao nữa hay sao?” Mỗi khi bản ngã khởi lên dùng sự mạnh mẽ đánh vào cho nó tan nát ra, tan vỡ hết, đánh cho nát nhừ.

Những pháp quán đó là thanh lọc nội tâm, tẩy rửa tri kiến. Tri kiến mình không được trong sáng là do thứ đó. Cho nên những khi nghe pháp, thiền chỉ, thiền quán là lúc gội rửa, tẩy sạch những ô nhiễm trong tri kiến; những cấu bẩn trong thấy biết; những chấp thủ, tham, dục, ái, sân, si, bản ngã ở trong nội tâm. Bất cứ một suy nghĩ nào, một cảm giác nào, tưởng nào làt ác bất thiện pháp thì phải phát giác ra nó, mình phải đình chỉ, chấm dứt, từ bỏ, dùng pháp quán tương xứng đánh vào, bệnh nào cho thuốc đó. Tham dục là dùng bất tịnh; sân hận dùng từ tâm; si dùng tinh cần, tinh tấn dũng mãnh, quán chiếu duyên sanh pháp.

Khi quán bất tịnh, có lúc mình thấy bão hòa, quen thuộc, không phát sinh cảm giác được, lúc đó phải xem lại quán đối tượng là ai. Phải quán chính mình nằm đó chết, niệm tử, đang trong giai đoạn phân hủy, từng giai đoạn phải thực hiện kỹ làm cho định tướng hiện rõ, từng cảm giác phải hiện rõ. Ví dụ thấy con giòi bò bên trong thì thấy đau đớn, nó ăn vào trong thì thấy rùng rợn, tất cả cảm giác phải cảm nhận được. Các thầy sẽ hướng dẫn phần quán này, có nhiều hình ảnh, đoạn clip làm cho mình thay đổi, làm cho cảm giác dần dần phát sinh.

Làm việc gì mình cũng phải tìm hiểu, cố gắng học hỏi và để tâm thực hiện cho bằng được, đừng thấy khó thì nản chí dừng lại. Cần phải đạp đổ để đứng lên, đạp hết tất cả để bước lên, đạp đổ hết những chướng ngại trong nội tâm của mình. Phải làm sao để thể nhập được sự thấy biết bằng trí huệ mà Đức Phật đã truyền trao, chỉ có điều đó mới cứu giúp được chúng ta trong thế giới vô thường. Không cái gì có giá trị ngoài Thánh Pháp Ly Tham Tối Thượng. Phải làm cho mình phát sanh cảm giác hân hoan, phấn khởi, tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, quý báu, tôn trọng, đảnh lễ, thiết tha, nếu không mình sẽ lòng vòng trong dục, ái, tham. Suốt cuộc đời sẽ cứ chạy tìm mãi nếu ta không biết tu, không thành tựu trí huệ. Ta sẽ đi tìm hoài, kiếm hoài trong mệt mỏi, không bao giờ thỏa mãn và tiếp tục khổ dài dài.

./.