Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nhận Diện Ngũ Uẩn Để Làm Gì - Một Cảm Thọ - Bốn Thánh Đế

2026-03-03 00:54:58
Nhận Diện Ngũ Uẩn Để Làm Gì?

Một Cảm Thọ

Bốn Thánh Đế

Thích Minh Thành

Ngày 12 tháng 06 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lễ lạy và sám hối PAGEREF _Toc110918986 \h 1

II. Tham – sân – si đưa đến khổ đau PAGEREF _Toc110918987 \h 7

III. Tứ Thánh Đế PAGEREF _Toc110918988 \h 16

I. Lễ lạy và sám hối

Mời các nhóm trưởng báo cáo về nhóm của mình, khi hướng dẫn có gì trong nhóm còn chưa rõ, có những câu hỏi hoặc các vị tham dự có gì thắc mắc thì mình sẽ nêu lên. Đầu tiên chúng ta cho một vài người làm bài tập trước, chúng ta có ba phần: phần thứ nhất là làm bài tập thu hoạch, sáng nay mình học lý thuyết, giờ mình thực hành. Thứ hai là các nhóm trưởng trình bày thành viên trong nhóm có gì thắc mắc, có những câu hỏi. Thứ ba là đại chúng có thể nêu lên những điều khó khăn, chưa hiểu trong buổi học sáng nay, cũng như là những gúc mắc, nội kết trong tâm của mình đang bị phiền não về vấn đề gì đó mà mình chưa giải quyết được.

Tiết mục đầu tiên là có ai xung phong nhận diện ngũ uẩn trong khi ngồi thiền khi nãy. Cho các nhóm người mới trước, sau đó là đến nhóm người cũ.

03:14-05:54: Phật tử trình pháp

Trong sự tu tập của chúng ta, ở trong kinh sách hay nói giống như cái bình muốn chứa được sữa tươi thì phải rửa cho bình sạch thì mới chứa sữa được. Sở dĩ chúng ta khó ngồi thiền vì trong tâm của chúng ta có rất nhiều phiền muộn, lo lắng, bất an nên khi ngồi lại những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó sanh khởi liên tục, xâm chiếm, áp đảo tâm mình, làm cho mình rất khó thực tập, khó ngồi yên. Nên bước đầu mình muốn tu hành cho thuận lợi thì mình phải lạy sám hối thật nhiều.

Vừa rồi Minh Thành giới thiệu cho quý vị một phương pháp để quý vị thấy rằng tu có nhiều hạnh phúc, có nhiều niềm vui, vì thật sự chúng ta phải có một thời gian mới có thể thực tập được sự hỷ lạc trong thiền tập. Nên giờ chúng ta nhớ để ý những vị mới, hay những vị tu đã lâu nhưng bị chướng ngại, hết chuyện này tới chuyện khác, hết chuyện nọ tới chuyện kia, nhất là trong khi ngồi thiền làm cho mình khó chịu, bực bội, bức xúc. Nhưng có khi mình không biết là chuyện gì, có nguyên do, không phải không có, vì tâm mình chưa sáng nên mình chưa thấy ra được nguyên do. Đó chính là những sự thúc giục, những sự lo toan, buồn phiền, cảm xúc của tham, sân si bên trong làm cho mình khó chịu, bức xúc.

Vậy nên bước đầu tiên mình muốn tu là mình phải tha thiết lạy sám hối. Lạy sám hối này có trong Nghi thức tu học Nikāya có Lễ đức hạnh Ngài Xá-lợi-phất và lễ sám hối diệt ngã. Mình cố gắng đọc mỗi bài kệ bốn câu mình lạy một lạy, thậm chí là mỗi một hàng lạy một lạy càng tốt. Có một cách nữa, mình thấy mình còn bực cái gì, phiền cái gì, nặng nghiệp về cái gì thì mình lạy nghiệp đó.

Ví dụ hôm nay mình gặp chị dâu hay em chồng mà mình bực bội, bức xúc quá thì chiều tối mình tu, mình lạy sám hối “Tại sao tâm của mình cứ khó chịu, ghim gút như vậy, hơn thua như vậy!” Mình lạy xuống mười lạy, hai mươi lạy, mình phát lộ, bài tỏ trước Đức Phật, trước Tam bảo: “Con thấy con muốn tu mà sao nghiệp của con nặng, tâm sân si, tật đố của con cứ dày vò con hoài nên con thấy con xấu hổ. Đức Thế Tôn ơi thương con, Ngài chứng minh cho con, con bày tỏ tâm khó chịu, bực bội này ra để Ngài chứng minh cho con. Con muốn tẩy sạch tâm này, con muốn rửa sạch tâm này, con muốn chấm dứt tâm này, con không muốn chất chứa tâm này, con không muốn nuôi dưỡng tâm này nữa. Con muốn tâm này phải được tẩy sạch hoàn toàn.” Xong rồi lạy xuống, càng nhiều càng tốt.

Mỗi lần mình lạy và nói như vậy là mỗi lần mình dột một gáo nước pháp, trí tuệ, của sự tẩy sạch cấu nhiễm của tâm. Lạy sám hối như vậy mới có công năng tẩy rửa tâm cấu nhiễm, không phải là mình đọc cái này đọc cái kia rồi lạy, tính số, cho hết được một trăm lẻ tám lạy rồi đi ra. Đó là cũng tốt nhưng chỉ có hình thức, số lượng thôi, chứ nó chưa đi thẳng vào trọng tâm, mục đích, chỗ mình nhắm, mình hướng tới, mình chưa điểm trúng nguyệt. Như bấm nguyệt là phải bấm trúng nguyệt, võ công thì cũng điểm trúng nguyệt.

Cũng vậy, mình rửa thì phải rửa đúng chỗ dơ thì nó mới giảm dơ, hết dơ. Còn dơ ở trong góc khuất nhưng mình rửa ở ngoài không thì ở trong góc khuất đó có sạch được không? Mình thấy được trong hốc, trong góc khuất, trong xó hay chỗ nào đó mà mình phải đem xà bông vào, đem bàn chải vào chà rửa. Cũng vậy, sám hối ý nghĩa của nó là vậy, tức là mình nhận thấy lỗi lầm, bày tỏ ra và mình mong muốn ngăn chặn, tẩy sạch những cái dơ này, những cái bẩn này, những cái hôi này, hở ra là giận, là bực, hở chút là ghim gút, cao có, hở chút là sân si, hơn thua, là thị phi, phải quấy. “Thế Tôn ơi, Đức Phật ơi con muốn tu!” rồi dập đầu xuống lạy “Con muốn tu! Con muốn rửa, muốn lau chùi tâm này, con muốn sạch tâm này. Con không muốn ở trong tâm con mà có những thứ này bên trong, con không muốn!” Tiếp tục dập đầu xuống lạy.

Cứ mỗi lần mình nói rồi mình dập đầu xuống lạy như vậy là mỗi gáo nước trong sạch, thanh tịnh, rửa tâm dơ của mình, rửa tâm bẩn, tâm cấu nhiễm, tâm ô uế của mình. Khi nãy nói là giận, giờ thì tâm tham muốn của mình cũng phải lạy nó luôn, vì nó tham hoài, đòi cái này, muốn cái kia, tìm cái nọ.

Nó cứ đòi cái này, hỏi cái kia, muốn cái nọ, xúi cái khác rồi lại bỏ cái kia… Nó đòi hoài nên lạy xuống: “Tao lạy mày cái tâm, mày cứ đòi hoài, cứ muốn hoài, cứ tham hoài. Mày làm ơn lắng dịu xuống đi, mày tan biến khỏi tâm của ta đi!” Mình sám hối hay tác ý như vậy, như lý tác ý – tác động tâm ý. Vì có rất nhiều cách thức, phương diện, khía cạnh, có khi là thương cho roi cho vọt, có khi cũng phải vỗ về, có lúc phải la rầy, quất roi nó, mình huấn luyện tâm mình như vậy.

Vậy thì mình vào lạy và nói “Thế Tôn ơi, bây giờ con thấy tâm tham này sai khiến con, con thấy nhọc nhằn với nó, con mệt mỏi với nó quá rồi Đức Thế Tôn ơi. Ngài chứng minh cho con, trước Tam bảo, trước Thế Tôn, trước ba ngôi cao quý! Con xin từ bỏ tâm thúc giục này, cảm giác tham muốn, đòi hỏi, dẫn dắt, lôi cuốn con. Con không muốn tâm này nữa, con muốn tâm con an tịnh, lắng dịu, con muốn một tâm dễ chịu, bình yên. Con xin rửa, tẩy, đoạn tận tâm này.” Sau đó lạy xuống.

Sau đó hai vợ chồng nói qua nói lại rồi lại cự cãi, tối trở vào “Lạy Đức Thế Tôn ơi, con thấy tội nghiệp con quá. Con cứ bản ngã với chồng con, con cứ hơn thua với chồng con, con cứ cao có với chồng con, con cứ gây gổ với chồng con. Tâm bản ngã này con xấu hổ quá, con thấy con nhục nhã quá, con thấy con thấp hèn quá. Con thấy con thấp hèn trước Thế Tôn trong khi Ngài đã từ bỏ tất cả bản ngã. Thế Tôn đã diệt tận hoàn toàn bản ngã, Ngài là bậc tối tôn, tối thượng trong tam giới. Còn bản ngã của con thì đầy ắp, là hôi thối, bẩn thỉu, bất tịnh. Con thấy xấu hổ, nhục nhã, trước Đức Thế Tôn, bản ngã này hèn hạ, tồi bại, bản thỉu, ngu si, khờ dại, kiếm chuyện gây gổ với chồng, với anh em, với những người thân thương nhất. Thật tồi bại, con muốn xả bỏ bản ngã này vào lòng đất.”

Lạy xuống rồi quán chiếu bản ngã này chôn nó xuống lòng đất, cho nó xuống đưa xuống lòng đất, mai táng nó.

Mỗi lạy của mình thì nói “Bản ngã ơi, ta chôn mi xuống lòng đất luôn, ngươi đừng sống lại nữa, cái hơn thua, cau có, sân si, ta đây này, ngươi vào lòng đất luôn đi. Ta chôn ngươi. Ngươi đừng sống lại, đừng quậy phá ta nữa, đừng kiếm chuyện, gây sự nữa. Tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi.”

Lạy xuống, trán của mình chạm xuống mặt đất, mình mới cảm nhận được hơi lạnh của mặt đất. “Để một tấc hơi vừa dứt, ba tấc hơi vừa dứt …17:45 là một ngọn lửa rực hồng, nhặt được chỉ nắm tro tàn, chôn vùi với lòng đất lạnh.” Quán chiếu như vậy, đất lạnh này chôn bản ngã này.

Nên mỗi lần lạy thì tay của mình phải chậm chậm từ từ chạm tới mặt đất, hai đầu gối, hai bàn chân của mình chạm xuống tới mặt đất rồi trán mình chạm xuống mặt đất, lâu ở dưới rồi cảm nhận, mỗi ngày phải quán về đất, đừng quên đất, chỗ mình lạy sau này là nơi để hũ cốt của mình ở đó.

Ngày nào cũng phải nhớ đất, không được quên đất, vì sanh ra từ đất rồi sau này lại trở về với đất, “Thôi bản ngã này ngươi trở về đất, chôn xuống đất đi, tan biến thành cát bụi luôn đi! Suốt ngày ngươi cứ hơn thua, cau có hoài, một chút là bực bội, chút là sân si, ghim gút, hơn thua, thị phi, nói một câu hai câu là có chuyện trong nhà.” Vậy tại sao trong nhà chỉ nói hai ba câu là cự cãi? Vì bản ngã và vào trong chùa cũng có cự cãi, vào tu cũng có phiền não là như vậy, vì vác bản ngã đi khắp hành tinh này để gây sự, kiếm chuyện, đi đâu cũng vác núi “Tu di” 19.58 đi theo rồi hỏi “Thầy ơi sao con nặng quá vậy?”, vì bỏ xuống thì không chịu bỏ, cứ muốn vác ngọn núi ta đây, bản ngã, cái ta, cái tôi, cái mình, cái tao.

Sao lại làm như vậy để khổ vậy? Nên lạy xuống, đem cái trán của mình chạm xuống tới dưới mặt đất, cho “Bản ngã ngu si này tan biến xuống lòng đất, bản ngã dại khờ này chôn vùi xuống lòng đất đi. Bản ngã hại người này mai tán mày luôn đi! Bản ngã cứ gây sự hoài, ta cho ngươi thành mây thành khói.” Lạy xuống như vậy rồi đặt trán mình chạm xuống đất rồi cảm nhận cảm thọ lạnh của mặt đất đó và phải nhắc nhở mình nhớ rằng an trú tâm như đất, “Tâm mê này ngươi phải nhớ mặt đất này là chỗ đặt hũ cốt của nhà mi.”

Mỗi ngày mình lạy như vậy thì có linh không? Còn giờ lạy trơ trơ rồi trở ra lại ngẩng mặt lên trời, giờ lạy như vậy thì nó bắt đầu cúi xuống, hạ thấp mình xuống, mình hạ thấp xuống thì chồng con mình có thương mình nhiều không? Dễ thương không? Lúc xưa chưa tu thì vênh váo, ta đây, kiêu căng, ngã mạn còn giờ tu thì khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn thì dễ thương không? Đó là sự khác biệt của tu và không tu.

Khi mình tu không đúng thì càng tu mình càng thấy mình càng hay, càng giỏi, càng hơn, mình tu đúng thì càng tu mình càng thấy mình càng dở, càng sai, càng trật. Mình còn chấp ngã rất nhiều nên khi lạy Phật rất hay, không phải lạy Phật mà giống như chài giã gạo, cứ cúi xuống ngẩng lên rồi lại cúi xuống ngẩng lên, cũng không giống như mít rụng, hay như bao giã gạo ném xuống bịch như vậy. Không phải vậy mà là lạy bằng cả sự tôn kính, bằng cả tấm lòng chân thành, bằng cả sự biết ơn của mình đối với Phật. Sau đó thì mình hạ bản ngã của mình đến chỗ tận cùng, là như vậy thì tội mới diệt, phước mới sanh, trí mới sáng, tâm mới tỏ, công đức mới lớn mạnh, tăng trưởng.

Mỗi cái lạy xuống thì phải thiết tha, chân thành, phải lạy bằng tất cả trái tim, tấm lòng biết ơn của mình dâng lên Đức Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, các bậc hiền Thánh tăng, lạy xuống biết ơn Thánh pháp, Thánh trí, tăng trưởng thêm tâm cung kính, tăng trưởng thêm tịnh tín bất động đối với Tam bảo, một lạy xuống như vậy thì diệt bản ngã, hạ gục, đánh đổ bản ngã rồi đưa bản ngã này vào lòng đất. Chúng ta thấy một lạy thì có bao nhiêu pháp trong đó? Bao nhiêu thiện pháp, trí tuệ trong đó? Bao nhiêu là thiện lành, lợi ích, giá trị ở trong lạy đó? Không phải lạy như máy móc, như cuốc đất, mà là lạy có cảm thọ, cảm xúc, cảm giác, lạy có cảm động tới độ mình cảm thấy chấn động trong tâm mình, mình rung, chấn động, vì mình nhìn thấy Thế Tôn sao vĩ đại quá, sao Ngài cao thượng quá, sao Ngài Thánh thiện quá, sao Ngài siêu việt quá còn nhìn lại con thì một bản ngã to tướng, tâm tham dục, tâm sân hận, đầy rẫy, con đứng trước Ngài con thấy con nhỏ bé quá. Con đứng trước Ngài con thấy con hèn hạ quá, con thấy con xấu hổ quả, con thấy con hạ liệt quá, con thấy con nhục nhã quá. Như vậy thì mình mới khơi gợi được những cảm thọ, cảm xúc, rồi mình mới lau chùi, quát dọn, tổng vệ sinh trong căn nhà tâm linh của mình. Đó là sự lạy Phật, đó là ý nghĩa của sự sám hối, đó là ý nghĩa của sự kính lễ Tam Bảo, diệt trừ bản ngã.

Hằng ngày chúng ta tập lạy, tập lễ, tập gieo năm vóc sát đất như vậy, ngũ thể đầu địa. Vậy nên việc lạy quý vị cần nhớ thật kĩ, lạy là chúng ta đem chỗ cao nhất, gọi là đỉnh đầu của mình, lúc xưa là để xuống chân, nơi thấp nhất của Đức Phật.

Như chúng ta vừa học bài kinh pháp trang nghiêm. Nhà Vua tám mươi tuổi, Đức Phật cũng tám mươi tuổi nhưng Nhà Vua vào lạy dưới chân Đức Phật, Ngài nâng bàn chân Đức Phật, để trán Ngài đặt lên Ngài hôn chân của Đức Phật.

Đức Phật đã hỏi: “Ta cũng tám mươi, ông cũng tám mươi, ta cũng dòng Xá-đế-lị vua chúa, ông cũng vua chúa sao bệ hạ lại tỏ ra sự tôn kính hết mực đối với Như Lai?” Nhà Vua trả lời: “Bạch Đức Thế Tôn, Thế Tôn làm được những việc mà con không thể nào làm được. Thế Tôn không dùng dao, không dùng trượng, không dùng gậy mà có thể nhiếp phục, chế ngự được tất cả những người ngang tàng trên thế gian này. Thế Tôn dùng trí tuệ của mình có thể khai mở được tất cả vô minh của chúng sanh. Thế Tôn bằng tình thương, bằng tâm từ có thể làm cho tất cả những người ác độc, sân hận, đều được thấm nhuần, đều được tâm phục, khẩu phục, phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật. Còn con dùng gươm dùng giáo mà họ vẫn không nghe, trong khi họ đi với con một đêm nọ con thấy họ nằm ngủ nói chuyện với nhau thì họ nghe Thế Tôn ở hướng đó thì họ quay đầu về hướng Ngài ngủ còn họ quay chân về phía con. Nhưng con cấp lương bổng cho họ hằng tháng, gia đình họ con nuôi hết nhưng họ quay đầu về Thế Tôn mà quay chân vào con. Nhưng con vẫn vui, vẫn tôn kính Thế Tôn, bậc tối thượng, tối tôn nên con lạy Đức Thế Tôn.”

Nhưng đó là một ông già tám mươi tuổi lạy một ông già tám mươi tuổi, Đế vương lạy Pháp vương. Hình ảnh trên giải thích cho mình công năng, tác dụng, ý nghĩa tại sao mình phải lạy Phật, lạy như thế nào? Hằng ngày mình phải lạy bằng tâm vậy, lạy để tăng trưởng thêm lòng cung kính, lòng biết ơn, lạy để nhìn thấy được sự thanh cao, thánh thiện, cao thượng, tối thượng của Đức Phật. Sau đó nhì trở xuống, nhìn thấy sự hèn hạ, thấp kém, tham, sân, si, bản ngã, vô minh, ngu si, mê muội, dại khờ của mình, để mình hướng thượng. Khi chúng ta đứng trước tượng Phật thì con mắt của chúng ta nhìn lên tượng Phật, đó là hướng thượng, lạy để mình hướng thượng, đi lên trên, hướng lên trên, bước lên trên, không phải lạy để cầu xin, van xin Phật ban phước giáng họa cho mình. Không phải vậy.

Nên trong một pháp lễ Phật, chúng ta hiểu đầy đủ ý nghĩa đó thì nó cất rất nhiều công năng, lợi ích, giá trị, tác dụng, ý nghĩa, công đức trong đó. Và một cái chắp tay, xá, chào với nhau là cả một sự chân thành, cung kính, cả một sự khiêm cung, đánh đổ bản ngã của mình.

Thế gian gục ngã vì bản ngã, thế gian này gục ngã trước cái tôi, nhưng người tu mình thì có thể đánh gục được bản ngã. Chúng ta thấy sức mạnh của người tu không? Vì cả thế gian bị bản ngã đánh gục nhưng người tu đánh gục được bản ngã. Người tu phải là người có sức mạnh hơn người, sức mạnh của nội tâm, trí tuệ, tinh thần, của sự luônluôn để ý, để tâm để nhiếp phục, chế ngự sự ta đây, vênh váo, sự cống cao, ngã mạn, chấp thủ, là cần phải được thấy, cần phải được biết, quán, chiếu, soi rọi, nhìn, ngó, theo dõi, kiểm tra, kiểm soát, kiểm kê, kiểm điểm, kiểm toán từng giây phút, từng ý nghĩ, lời nói, hành động, ánh nhìn, cử chỉ… mình đều phải kiểm soát. Cái tham, sân, si, bản ngã này mới là thủ phạm thật sự làm cho chúng ta đau khổ, là chính nó, không phải ai bên ngoài, không phải cảnh vật, món đồ nào bên ngoài.

II. Tham – sân – si đưa đến khổ đau

Ví dụ giờ Minh Thành để một cục vàng trước mặt quý vị mà quý vị không tham, thì cục vàng có hại mình không? Vì mình tham nó nên mình tới nhặt lấy thì mới có chuyện xảy ra.

Vậy nên vấn đề bên trong Đức Phật chỉ cho mình Thánh trí tuệ là chỉ cho mình thấy nguồn cội của khổ đau nằm ở trong thọ, tưởng, hành của mình, không phải ở bên ngoài. Những viên bên ngoài là trợ viên để nó phát khởi lên. Gốc rễ là nằm bên trong, khi mình tu tập được ở bên trong rồi thì mình có được sự bình an. Thế Tôn, Như Lai của chúng ta, Ngài ấy cũng nhìn thấy sắc vì Ngài không mù, nhưng sắc không động được Ngài, Ngài nghe được người ta chửi nhưng tâm Ngài vẫn an tịnh, lắng dịu, vẫn trải lòng thương, từ bi đến người mắng chửi, sân si đó. Vì bên trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức của Ngài hoàn toàn an tịnh, lắng dịu, bất động, hoàn toàn là một tình thương bao la, rộng lớn, cùng khắp muôn loài, không còn một chút nào sân hận nữa nên làm sao bên trong nổi giận lên được?

Còn mình lại chất chứa, tồn kho bên trong này đủ loại cảm thọ, nên chưa chạm tới đã phừng phừng lên, mới vừa nghe tin tức vỉa hè thôi, nghe người này người kia nói lại thôi là phừng phừng, phựt cháy lên rồi. Vậy nên tu tập tâm, cảm thọ của mình là quan trọng, khi nãy chúng ta ngồi thiền hay sáng nay thực tập đều là thực tập những dòng cảm thọ hiền thiện, lắng dịu từ ái, ngọt ngào, yêu thương.

Vì thọ của chúng ta nung lên tưởng, hành, thức, là gốc rễ của tất cả các pháp. Nhiều đời nhiều kiếp nay chúng ta đã bỏ quên:

“Thương lâu rồi ta sống

Trong sự quên lãng mình

Ta bỏ quên cảm thọ

Nên để mình khổ đau.

Thương lâu rồi ta thiếu

Thương hiểu cảm thọ mình

Để tham, sân hành hạ”

(Trích trong quyển Cửa Vào Bất Tử)

Ta để mình khổ đau.Sự tu học của chúng ta là sự quay về nhận diện cảm thọ, cảm xúc, cảm giác của mình. Phải thấy, phải hiểu cảm giác mình, phải chăm sóc cảm giác của mình.

“Thương lâu rồi ta sống

Trong sự quên lãng mình

Ta bỏ quên cảm thọ

Nên để mình khổ đau.”

Ta để cho những cảm thọ bức xúc, bực bội, sân hận dày vò, thiêu đốt làm cho thân chúng ta tiều tụy, ăn không ngon, ngủ không được. Giận anh em, giận chồng, giận con, giận cha mẹ trong gia đình thì dễ chịu hay khó chịu? Cứ dằn mâm, xán chén, ăn không ngon, ngủ không được mà đó là những người thân thương nhất mặt không muốn nhìn, khó chịu, bực bội. Vì chúng ta không hiểu cảm thọ, chúng ta không chăm sóc cảm thọ, để cho tham sân hành hạ, để cho bản ngã hành hạ, để cho hơn thua hành hạ, rồi ta để mình phải khổ đau.

Giờ nếu hai chị em hàng xóm với nhau, nói qua nói lại rồi mình giành phần thắng thì được cái gì? Mình phải giành phần đúng về mình thì mình được cái gì? Chỉ được cái hơn thua, sự sân si vậy tại sao cứ thích giành? Hơn và giành để được cái gì? Được phiền não, khổ đau, sân hận chứ có được gì mà sao cứ thích giành? Đó là cảm thọ chưa hiền hòa, thích hơn thua mà không phải hơn thua với ai lạ mà là chồng con, cha mẹ trong nhà, muốn mình nói ra phải đúng, cha mẹ nói sai mình cũng không chịu.

Nên tâm không hiền hòa, hiền thiện này gây ra rất nhiều tội lỗi, bất hiếu, bất kính, chia ly, đau khổ, rạn nứt, đổ vỡ là vì tâm này, tâm cảm thọ không tu tập này. Chúng ta phải quán chiếu, nhận diện cảm thọ, phải tưới tẩm, tu tập, chăm sóc cảm thọ, chúng ta bỏ quên cảm thọ này là chúng ta bị hiểm nguy ngay lập tức, chúng ta bị tai họa ngay lập tức. Chúng ta bị đau khổ ngay lập tức, không chỉ ở đời này mà còn nhiều kiếp sau, vô lượng vô biên kiếp sau, vòng luân hồi này.

“Để tham, sân hành hạ

Ta để mình khổ đau.

Nay hiểu rồi thọ ạ”

“Thọ” được nói tới là cảm thọ, đừng để cho nó quậy, phải chăm sóc cảm thọ của mình cho nó hiền ngoan, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương, hòa kính, từ ái, tụ họp trong hòa ái.

Khi mình chia ly cũng ở trong sự an vui, nên mình để ý thật kĩ.

Nhân một Phật tử hỏi nên Minh Thành chia sẻ cho quý vị thấy ý nghĩa lạy Phật, ý nghĩa sám hối. Mình lạy Phật, sám hối và tẩy rửa tay của mình dần dần, song song là mình làm những việc phước thiện ở bên ngoài. Bố thí, cúng dường, chia sẻ người nghèo khổ, hoàn cảnh khó khăn… Như vậy nó sẽ hoán giải được oan gia trái chủ thì tiêu được tội, tăng phước và khi một người có tội, nghiệp, giảm bớt và phước tăng thì người tu được thuận tiện, thuận lợi, sự tu được ngọt ngào, dễ dàng. Mà mình còn nghiệp chướng, còn nhiều oan trái nhưng phước đức mình không có thì dù cho mình có hiểu hay ho thì mình cũng tu không được, bắt chân lên ngồi là bệnh, là nhức, là đau, là gục lên gục xuống, ở ngoài thì rất tỉnh táo nhưng khi bắt vào rồi thì ma ngủ nhập, đó là nghiệp chướng. Hoặc tới giờ bình thường không sao nhưng tới giờ ngồi thiền thì có chuyện bấm chuông, điện thoại.

Vậy nên sám hối cho tiêu nghiệp, làm phước để được tăng trưởng những phước của mình, sau đó song song mình tu tập mới thuận tiện, mới bước vào trong pháp được. Đó là Minh Thành giải thích để chúng ta biết được ý nghĩa, giá trị của sự lạy Phật, sám hối và sự tu tập cảm thọ quan trọng như vậy.

42:51-44:38: Phật tử trình pháp

Câu hỏi này cũng có nhiều Phật tử đặt ra và Minh Thành cũng đã giải thích nhiều lần ở khóa trước nên ở đây Minh Thành sẽ giải thích ngắn gọn và quý vị về chịu khó nghe thêm bài, những khóa trước Minh Thành đã có dạy thật kĩ câu hỏi này: “Tại sao phải nhận diện ngũ uẩn? Nhận diện ngũ uẩn để làm gì?”

Phần giải thích ngắn gọn là ngũ uẩn chính là thân tâm của mình, mình đọc Tâm Kinh Bát Nhã thuộc lào nhưng mình đọc ngũ uẩn ba mươi năm mà mình không biết ngũ uẩn là gì. Như vậy mình chỉ đọc trên sách vở, chữ nghĩa chứ mình không thấy ngũ uẩn thật sự, trong khi đó ngũ uẩn là thân tâm của mình và nếu mình không thấy thân tâm của mình thì làm sao mình tu? Thân tâm của mình nhưng mình không biết thì giống như căn nhà của mình mà mình không biết được chỗ nào để cái gì cái gì thì làm sao mình sử dụng được đồ đạc trong nhà của mình có hiệu quả được? Có khi nào nhà mình có một tỷ trong tủ mà mình không biết? Có như vậy bao giờ không? Hay là nhà mình có ba con rắn hổ mang mà mình lại không hay biết thì điều gì xảy ra? Như vậy thì mình phải biết trong nhà đang có ba con rắn Hổ mang chúa, là tham, sân, si.

Khi nói nghe rõ nhưng khi nó bò ra thì nó cắn người ta, nó phun nọc độc vào người thân của mình, chỗ đó là chỗ quan trọng. Vậy nên mình nhận diện ngũ uẩn là để mình thấy ba con rắn độc. Còn giờ mình nói thì mình không thấy vì mình chỉ nghe có người nói vậy nên mình không thấy, nên mình bỏ qua. Ví dụ người hàng xóm nói nhà chị có ba con rắn, thì mình cũng nghi ngờ, về tìm lại nhưng không thấy con rắn, mình không biết là có cái hang trong góc khuất, khi mình nhìn sơ sơ như vậy thì tai họa có xảy ra không? Nếu như người chỉ mà chỉ đúng chỗ thì chỉ ra chỗ hang của ba con rắn độc đó thì mình đến tận hang ổ của nó mình đuổi nó đi được, mình sống được an ổn, mình không bị nguy hiểm.

Cũng vậy, mình không biết ngũ uẩn là gì thì mình sẽ không biết được tham, sân, si, tại vì tham, sân, si ở trong ngũ uẩn, giống như ba con rắn độc làm hang ở trong góc khuất của nhà mình. Nhưng nhà mình mà mình không vào được, mình chỉ toàn mang giỏ đi lang thang đầu đường xó chợ, suốt ngày mang giỏ đi chỗ này chỗ kia, chỗ nọ nhưung nhà lại không vào được vậy có tội nghiệp không? Mình không thấy được ngũ uẩn là mình mang giỏ đi lang thang, hướng ngoại, tu nhưng cứ nhìn người này người kia rồi lại phiền não sân si mà không thấy được tâm của mình là chúa tể sân si, nhìn người ta, nói người ta mà tâm mình không thấy.

Như vậy là mình tu chưa đúng, nên nhận diện ngũ uẩn để mở cánh cửa trong căn nhà nội tâm của chúng ta. Vào trong đó rồi mình mới nhìn xem trong hốc, trong góc khuất có hang ba con rắn hổ mang. Vậy quý vị thấy ghê sợ chưa? Đã thấy hang ba con rắn hổ mang chưa? Nó nằm trong hang cảm thọ đúng không?

Đối với nhóm cũ là nhận diện tham, sân, si, bản ngã còn nhóm mới là chỉ biết nhận diện ngũ uẩn, nhóm mới cần đi nhiều hơn thì mới nhận diện được tham, sân, si. Nếu đi chỉ một ngày thì ngày sau nghỉ thì không nhận diện được tham, sân, si. Khi vào nhà, xem đàng hoàng, nhìn thật kĩ hốc, xó, góc khuất thì mới thấy được hang ba con rắn hổ mang.

Nên có bài kinh rất đặc biệt Đức Phật dạy Ngài Ananda trùng tiên lại rất tuyệt vời, chúng ta thấy được toàn bộ giáo pháp của Đức Phật là diệt trừ tham, sân, si thành công là người đó thành tựu được Thánh quả tối cao của Phật giáo, ngoài ra không có gì khác.

Trong Tăng Chi Bộ Kinh tập một, bài kinh Tà mạng đệ tử:

“1. Môt thời, Tôn giả Ànanda trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosità

Rồi một tà mạng đệ tử gia chủ đi đến Tôn giả Ànanda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ànanda rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, tà mạng đệ tử gia chủ nói với Tôn giả Ànanda:

- Thưa Tôn giả Ànanda, pháp của những ai được khéo thuyết? Những ai khéo hành trì ở đời? Những ai khéo vượt qua ở đời?”

Ý nói người này hỏi Đức Phật “Pháp của những ai được khéo thuyết?” là ai là người nói pháp khéo léo, nói hay. Câu thứ hai là “Những ai khéo hành trì ở đời?” là nói về thực hành giỏi, thứ ba là “Những ai khéo vượt qua ở đời?”

Sau đó Ngài Ananda trả lời:

“- Vậy này Gia chủ, về vấn đề này Ta sẽ hỏi Ông. Ông kham nhẫn thế nào, hãy trả lời như vậy. Ông nghĩ thế nào, này Gia chủ, những ai thuyết pháp để đoạn tận tham, thuyết pháp để đoạn tận sân, thuyết pháp để đoạn tận si, pháp có được các vị ấy khéo thuyết hay không? Hay ở đây, Ông nghĩ thế nào?”

- Thưa Tôn giả, ai thuyết pháp để đoạn tận tham, thuyết pháp để đoạn tận sân, thuyết pháp để đoạn tận si, pháp được vị ấy khéo thuyết. Và ở đây, tôi nghĩ như vậy.

2. - Ông nghĩ thế nào, này Gia chủ, những ai thực hành đoạn tham, thực hành đoạn sân, thực hành đoạn si, những vị ấy có khéo thực hành ở đời hay không? Hay ở đây, Ông nghĩ thế nào?

- Thưa Tôn giả, những ai thực hành đoạn tham, thực hành đoạn sân, thực hành đoạn si, những vị ấy khéo thực hành ở đời. Và ở đây, tôi nghĩ như vậy.

3. - Ông nghĩ thế nào, này Gia chủ, với những ai tham được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; với những ai, sân được đoạn tận … với những ai, si được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; Những vị ấy có khéo vượt qua ở đời hay không? Hay ở đây, Ông nghĩ thế nào?

- Thưa Tôn giả, với những ai tham được đoạn tận, … với những ai, sân được đoạn tận … với những ai, si được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; Những vị ấy khéo vượt qua ở đời. Và ở đây, tôi nghĩ như vậy.

4- Như vậy, Ông đã trả lời như sau: "Thưa Tôn giả, những ai thuyết pháp để đoạn tận tham, thuyết pháp để đoạn tận sân, thuyết pháp để đoạn tận si, pháp được các vị ấy khéo thuyết." Và Ông đã trả lời như sau: "Thưa Tôn giả, những ai đã thực hành đoạn tận tham … đoạn tận sân … đoạn tận si, những vị ấy đã khéo thực hành ở đời". Và Ông đã trả lời như sau:

"Thưa Tôn giả, những ai đã đoạn tận tham, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Những ai đã đoạn tận sân … Những ai đã đoạn tận si, đã cắt đứt từ gốc rễ … làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Những vị ấy khéo vượt qua ở đời".

- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả! Ở đây sẽ không có tự khen pháp của mình, không có chê trách pháp của người khác, chỉ có thuyết pháp trong giới xứ, chỉ nói đến mục đích mà không đề cập đến tự ngã.”

(Bài kinh Tà Mạng Đệ Tử - VIII. Phẩm Ànanda – Chương Ba Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh Tập 1)

Ý nói người này khen Ngài Ananda, khen Ngài ấy thuyết pháp thật tuyệt diệu, thật tuyệt vời, thật hiếm có, Ngài không khen pháp của Ngài, không chê pháp của tôi. Vì người đó tu theo tà mạng nhưng Ngài Ananda không chê, Ngài ấy chỉ hỏi ai thuyết pháp về tham, sân, si thì thuyết pháp đó có khéo thuyết không? Người đó trả lời có. Hay ai thực hành đoạn hết được tham, sân, si thì thực hành đó có tuyệt vời không? Vậy thì ai vượt qua được tất cả tham, sân, si, không còn sanh khởi trở lại nữa, sạch hoàn toàn thì người đó có phải là người khéo vượt qua không? Người đó trả lời đúng vậy. Nên người này khen Ngài Ananda là “không có tự khen pháp của mình, không có chê trách pháp của người khác, chỉ có thuyết pháp trong giới xứ, chỉ nói đến mục đích mà không đề cập đến tự ngã”.

Như vậy, có rất nhiều bài kinh về tham, sân, si như có một bài kinh vị Tỳ-kheo hỏi thì Đức Phật trả lời là: “Toàn bộ phạm hạnh này, tức là tất cả sự nghiệp tu hành của người xuất gia hay là người cư sĩ là chỉ nhằm mục đích đoạn tận tham, sân, si, dứt hết tham, sân, si. Ngoài ra không có gì khác nữa.”

Vậy bây giờ làm sao thấy được tham, sân, si mà không thấy được tham, sân, si thì làm sao nhiếp phục được tham, sân, si? Không thấy được tham, sân, si thì làm sao chế ngự? Không thấy tham, sân, si thì làm sao tẩy sạch được tham, sân si? Nhưng tham, sân, si ở trong ngũ uẩn mà mình không biết ngũ uẩn thì làm sao mình thấy được tham, sân, si, nhiếp phục, chế ngự? Như vậy thì nhận diện ngũ uẩn để làm gì? Đó là thấy tham, sân, si; nhiếp phục tham, sân, si; chế ngự tham, sân, si; tẩy sạch tham, sân, si; đoạn tận tham, sân, si.

Tại sao phải đi tìm tham, sân, si? Tại sao phải nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận nó? Là vì nó làm cho mình khổ đau? Nó làm cho mình khổ đau, thống khổ, tràn đầy nước mắt, làm cho thây chất chồng như núi, máu đổ thành biển, thành sông. Chúng ta nhìn thấy chiến tranh không? Chúng ta nhìn thấy đau khổ không? Chúng ta có nhìn thấy cả thành phố tan hoang như đống đổ nát không? Chúng ta thấy thây người chồng chất không? Đó là tội ác của tham, sân, si. Đó là hậu quả của tham, sân, si, là kết quả của tham, sân, si, đem lại nước mắt, khổ sầu, đang đợi đau đớn, đem lại sự hối hận, tiếc thương, cho chúng sanh, cho hữu tình, cho thế giới.

Tất cả là do tham, sân, si ở trong cảm thọ, cảm giác của chúng ta và hôm nay chúng tôi học bài thực tập quán chiếu cảm giác, cảm giác toàn thân. Chúng ta đã thấy lý do tại sao mình học ngũ uẩn, nhận diện ngũ uẩn hay chưa? Hãy thấy cho rõ, hãy tu cho đúng, hãy hành cho chính xác, nếu không thì tiền mất tật mang, tẩu hỏa nhập ma, lầm lạc, lầm lỡ, suốt đời chỉ hướng ngoại, ở ngoài đời thì hướng ngoại, tìm dục lạc, tìm tiền của, sắc đẹp, danh vọng, địa vị, đất đai. Vào tu thì lại hướng tìm chỗ này, chỗ kia, hướng thần thánh, cầu đấng nào đó ban cho mình hay rước mình đi. Tất cả vì mình không thấy được Chánh Kiến, thì mình chỉ ở trong sự hướng ngoại. Ngoài đời là mình chạy theo tiền của, sắc đẹp, danh vọng, địa vị, quyền thế, tình cảm, tình yêu, sự nghiệp… rồi mình khổ đau. Khi mình chạy vào chùa học rồi mình cũng chạy theo đấng này đấng kia ban phước, giáng họa, cầu xin, lạy lục, van xin, mong chờ, chờ chết mới có kết quả. Mình cũng tiếp tục tái diễn, tái lập lại sự hướng ngoại ở một hình thức khác mà mình không nhìn thấy được chân xác, chính xác, thật sự chân chánh thân tâm ngũ uẩn của mình.

Đó là lý do tại sao khi vào tạng kinh Nikāya thì Đức Phật dạy chúng ta phải nhìn thấy ngũ uẩn đầu tiên. Như bây giờ có người hỏi mình trước khi mình học nhận diện ngũ uẩn thì hỏi mình tâm là gì? Thì sẽ trả lời lung tung, ngay cả những nhà bác học vĩ đại trên thế giới mà nói là suy nghĩ, đó là tâm của tôi.

“Cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức, thân người là sắc, cảm giác là thọ.”

Chúng ta thấy mình tu mà mình lại không thấy rõ được vấn đề thì mình tu tới chết cũng không có kết quả đúng như lời Đức Phật nói. Mình cứ hướng ngoại trong khi cái gì làm cho mình đau khổ? Đó là ngũ uẩn, tham, sân, si, cảm thọ. Nhưng ở ba cấp độ để chúng ta nhìn những khía cạnh, phương diện của chúng, trong khi tham, sân, si trong cảm thọ của mình làm cho mình khổ thì giờ mình hướng ra ngoài tìm ai cứu khổ cho mình được không? Giờ tham ở bên trong rồi thì ai làm cho mình hết tham? Giận trong người mình thì có ai làm cho mình hết giận? Chính mình phải tự nhìn thấy cơn giận sanh khởi lên, cơn giận an trú, vận hành, chấm dứt.

Sau đó mình có đúng cách, đúng phương pháp nên mình nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch cơn giận đó, mình biến nó thành tâm thương. Như vậy là tự mình cứu mình, tự mình độ mình, tự mình đoạn trừ những nguyên nhân đau khổ trong con người của mình. Mình có hiểu câu mà Đức Phật đã nói: “Này các vị, hãy tự mình làm hòn đảo cho chính mình. Hãy tự mình nương dựa chính mình, chớ có nương dựa một điều gì khác, dùng Chánh Pháp làm chỗ nương tựa.”

Chánh Pháp là sự nhìn lại thân, thọ, tâm, pháp, nhìn lại những cảm giác, hành vi, nội tâm, những pháp của mình tức là tham, sân, si. Chúng ta giờ đã hiểu được câu đó chưa? Tự mình làm chỗ nương tựa cho chính mình, chớ có nương tựa một gì khác, hãy lấy Chánh Pháp làm chỗ nương tựa. Chánh Pháp là nhìn lại thân thể này, nhìn lại cảm giác này, nhìn lại nội tâm này, những tham, sân, si đang sanh khởi, vận hành, hoạt động, đang xâm chiếm, áp đảo, đang đốt cháy chúng ta. Nhìn như vậy gọi là quán pháp trên pháp.

Như vậy chúng ta đã nhìn thấy được chánh kiến, Chánh Pháp chưa? Đó là lý do, mục đích tại sao chúng ta học ngũ uẩn, nhận diện ngũ uẩn, chúng ta tu tập về Thánh trí ngũ uẩn đó. Vậy có tuyệt vời, vi diệu, chỉ thẳng tâm người không? Vì khổ ở bên trong nhưng cứ hướng ra ngoài, cầu vị này vị kia vị nọ mà không thấy được tham, sân, si, bản ngã ở bên trong, vậy cầu ai?

Phật độ mình là Phật chỉ ra cách nhìn ra ngũ uẩn, nhìn ra được ba loại cảm thọ, là Phật chỉ cho mình cách nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch tham, sân, si. Đó là Phật cứu mình, Phật độ mình, đó là bậc đạo sư.

“Này các Tỳ-kheo, Như Lai chỉ là người chỉ đường, đi hay không đi là do mình, sự đến và không đến là ai quyết định.” Chính mình mới là người quết định việc có đi hay không đi đó. Chúng ta có thấy tuyệt vời không? Rất rõ ràng, minh bạch, thực tế, nhân quả, cụ thể, không có một cái gì mờ ảo, không có gì xa xôi, không có gì viễn vong, không có gì là mê tín.

III. Tứ Thánh Đế

Sau khi mình đã biết được ngũ uẩn, sau khi được truyền bí kíp Chánh Pháp ngày hôm nay rồi thì về nhà phải để ý giúp Minh Thành, xin các bậc hiền trí hãy để ý giúp Minh Thành. Để ý cảm thọ, cảm xúc bực bội đó, cảm xúc bức bách, bức xúc, cảm xúc nóng lên, phựt lên, nóng lên, cháy lên thì mình phải biết đây là khổ, khổ tập, khổ diệt đang nằm ngay tại chỗ này. Tứ Thánh Đế ở trong cảm thọ của mình. Chúng ta thấy dễ sợ không? Vì Tứ Thánh Đế đang ở ngay trong cảm thọ của mình.

Khi nó sanh khởi một cảm thọ phừng phực lên thì quán chiếu ngay: “Khổ nha con! Nguyên nhân của khổ là đây này, con thấy hay không con? Giờ tìm đủ mọi cách nhiếp phục, chế ngự, dập tắt cho nó mát mẻ, thanh lương, dạt dào thì thấy diệt đế Niết-bàn chưa?”

Đạo lộ, con đường diệt khổ chính là sự tác ý an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, thấu hiểu, cảm thông, thương yêu, tha thứ trong một cảm thọ của mình nhìn được Tứ Thánh Đế. Như trời long đất lở, đại địa chấn động, đó là Thánh trí của Đức Phật truyền trao cho mình, trong cảm xúc, cảm giác, cảm thọ của mình thấy được bốn sự thật của bậc Thánh.

Trong một cảm giác thúc giục, tham dục của mình thì mình có thấy khổ không? Nếu mình không thấy khổ thì nó đưa mình đến sầu đau, nếu mình thấy được cảm giác thúc giục này là nó đang hành hạ, sai khiến, dẫn dắt, chi phối, nhận chìm, vùi dập mình. Mình phải nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch nó thì ngay chỗ đó là Tứ Thánh Đế ở trong cảm thọ của dục mà mình thành tựu Bốn Thánh trí về ngũ uẩn, Bốn Thánh trí về cảm thọ, Bốn Thánh trí về dục, về ái ở ngay trong cảm thọ của mình.

Ngay trong cảm xúc hơn thua, ta đây, bản ngã lên thì mình quán “Thấy khổ nha con! Trời ơi, mày quậy nữa rồi! Cái bản ngã này mày quậy nữa rồi! Mày làm ơn cúi đầu xuống giúp tao. Mày làm ơn xá xuống dùm tao cái! Mày sụp xuống lạy dùm tao. Chút nữa cho sám hối diệt ngã. Mày làm ơn cúi xuống dùm tao, cái tâm mê, tâm ngu này, tâm hơn thua này, tâm tôi ta này.” Nhìn thấy ra được Bốn Thánh trí ở trong một cảm thọ bản ngã đó, vậy có tuyệt vời không? Đó là Thánh pháp thần diệu của Như Lai, là Thánh trí tối thượng của Thế Tôn, truyền trao cho chúng sanh. Còn một phương pháp nào khác hơn để đi tìm nữa quý vị? Ngoài việc này ra thì không có con đường nào khác.

Ngoài Bát Chánh Đạo ra thì không có đệ nhất Sa-môn, không có đệ nhị Sa-môn, không có đệ tam, đệ tứ Sa-môn. Ngoài tám đúng ra thì không có bốn Thánh quả. Trong đó, đúng đầu tiên trong tám đúng là thấy đúng, là thấy ngũ uẩn. Đó là thấy đúng, cửa thứ nhất của đệ nhất Sa-môn của Tu-đà-hoàn, của bậc Thánh tri kiến, của sự thấy đúng chân xác, chính xác về thân tâm của mình. Chúng ta thấy tuyệt diệu là con đường của Đức Phật, vi diệu là đạo lộ của Đức Phật, thần diệu là Thánh đạo của Đức Phật.

Không thể nào tưởng tượng nổi Thánh trí của Đức Phật đã truyền trao lại cho chúng ta gần ba ngàn năm, giờ chúng ta được may mắn ngồi đây để được nghe, học, nhìn, quán, phát giác, phát hiện ra cái gì là nguyên nhân đau khổ sâu xa ở trong con người của chúng ta. Thấy như là nhìn chỉ trong lòng bàn tay thấy rõ được tham, sân, si, thấy rõ bản ngã vô minh, thấy rõ bộ mặt thật sự của nó, mà nó đã hại mình vô lượng vô biên vô số, vô thỉ kiếp cho đến ngày hôm nay thì mình mới thấy nó, mới biết nó.

“Lang thang bao kiếp sống

Ta tìm nhưng chẳng gặp,

Người xây dựng nhà này,

Khổ thay, phải tái sanh.”

(Phẩm Già – Kinh Pháp Cú)

Ý nói chúng ta đã lang thang bao nhiêu kiếp sống trong vòng luân hồi này.

Bồ Tát, Ngài nói khi Ngài đi tìm nhưng không gặp kẻ làm nên căn nhà của thân xác, ngũ uẩn này làm nên căn nhà của luân hồi, tứ đại này nên đau khổ thay, ta cứ phải sanh tới sanh lui, chết đi chết lại.

“Ôi! Người làm nhà kia

Nay ta đã thấy ngươi!

Ngươi không làm nhà nữa.

Ðòn tay ngươi bị gẫy,

Kèo cột ngươi bị tan

Tâm ta đạt tịch diệt,

Tham ái thảy tiêu vong.”

(Phẩm Già – Kinh Pháp Cú)

Tham ái là sự tham ái đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức, sự yêu thích sắc, yêu thích những cảm giác, yêu thích những hình bóng, yêu thích những suy nghĩ trong tâm, yêu thích nhận thức, yêu thích ngũ uẩn này. Vì không hiểu không biết, tức là vô minh nên ham thích, yêu mến đó là tham ái, xây dựng lên căn nhà của ngũ uẩn, tứ đại, của luân hồi, tái sanh.

Bên trên là bài kệ chứng ngộ khải hoàn ca của Đức Chánh Đẳng Chánh Giác, khi Ngài vừa mới thành Phật. Cũng chính là tuyên ngôn đầu tiên của bậc Thánh, khi Ngài đã phá vỡ ngũ uẩn tứ đại, dòng tái sanh luân hồi Ngài đã phá vỡ hoàn toàn, tâm Ngài đã đạt được sự yên lặng, bất động, tất cả tham ái đã bị tiêu diệt một cách hoàn toàn, tịch tịnh.

Nên siêng năng nhận diện ngũ uẩn, để tâm nhiều vào sự quán chiếu các cảm thọ, nhiếp phục và chế ngự cảm thọ tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Đó là con đường độc đạo duy nhất mà các Đức Như Lai, các bậc Chánh Đẳng Giác, quá khứ, hiện tại, vị lai ngày xưa đã đi qua. Hôm nay Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Đại Cồ Đàm cũng đi con đường ấy và chúng ta hiện giờ cũng cất bước theo chân Ngài, đi trên con đường ấy hạnh phúc thay.

Hạnh phúc thay, vui sướng thay, an lạc thay, hy hữu, hiếm có thay, kì diệu thay là con đường Thánh đạo này, tối thượng này, thần diệu này.

Chúng ta cùng đọc theo:

“Ngài mở ra con đường Tám Chánh, mở con đường đưa đến bình an. Mở con đường ra khỏi luân hồi, mở cánh cửa bước vào bất tử. Ngài đi trước trên đường Tám Chánh, theo dấu chân các Đức Như Lai. Con bước sau theo dấu chân Ngài, lòng hoan hỷ trào dâng hạnh phúc.”

Khóa tu của chúng ta đến đây là viên mãn, giờ chúng ta chắp tay, hướng tâm, trải lòng biết ơn đến Hòa Thượng viện chủ, đến chư tăng, đến tất cả những Phật tử cực khổ, khó khăn, lo lắng cho chúng ta có được ngày tu trang nghiêm, thanh tịnh và đầy ý nghĩa.

Tâm biết ơn này tỏa rộng,

Cùng khắp thế giới này,

Tâm biết ơn này tỏa rộng,

Khắp trời đất bao la.