Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Pháp Đàm - Viễn Ly Rời Xa - Gánh Nặng Thiện Pháp - Phước Báo & Công Đức

2026-03-03 00:54:59
Pháp Đàm Nikāya

Viễn Ly Rời Xa

Gánh Nặng Thiện Pháp

Phước Báo & Công Đức

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chán – lìa PAGEREF _Toc204009536 \h 1

II. Cẩn thận nghiệp quả PAGEREF _Toc204009537 \h 5

III. Gánh nặng của thiện pháp 1 PAGEREF _Toc204009538 \h 9

IV. Các đối tượng cần bố thí, cúng dường PAGEREF _Toc204009539 \h 13

V. Gánh nặng của thiện pháp 2 PAGEREF _Toc204009540 \h 16

VI. Tu tập tâm PAGEREF _Toc204009541 \h 20

I. Chán – lìa

Phật tử 1: Dạ mô Phật "Phật sống sự yểm ly, tỉnh giác ta đi tới, tỉnh giác ta đi lui. Ta an trú trong lòng từ cho đến trong một giọt nước với tâm từ mong rằng ta không làm hại một chúng sinh nhỏ nào trong những ác đạo của họ, đây là sự yểm ly của ta". Dạ mô Phật sư phụ con chưa hiểu cái rõ cái đoạn kinh này ạ.

Sư Phụ: Cô không hiểu chỗ nào?

Phật tử 1: Dạ con không hiểu cái chỗ "chúng sinh nào trong những ác đạo của họ, đây là sự yểm ly của ta"

Sư Phụ: Chữ yểm ly là chán kìa, nhàm chán và xa lìa. Đây là từ rất quan trọng ở trong tạng kinh Nikāya, nhàm chán và xa lìa. Mình có chán cái khổ không? Có muốn lìa cái khổ không? Mình thấy hai người sân hận, họ cự cãi, đánh lộn với nhau, mình có muốn tránh né xa ra không? Mình thấy cái sự đấu đá, cạnh tranh, chiến tranh, mình có chán không? Có ngán không? Có muốn lìa xa không? Cho nên đó là cái sự nhàm chán và xa lìa là rất quan trọng, Đức Phật dạy mình đi trên đường mà gặp chó dữ, bò dữ, trâu dữ hay là gặp người điên khùng thì phải tránh né.

"Này các Tỳ-kheo, ở đây Tỳ-kheo chơn chánh giác sát, tránh né voi dữ, tránh né ngựa dữ, tránh né bò dữ, tránh né chó dữ, rắn, khúc cây, gai góc, hố sâu, vực núi, ao nước nhớp, vũng nước. Những chỗ ngồi không xứng đáng nếu ngồi, những trú xứ không nên lai vãng nếu đến, những bạn bè ác độc, nếu giao du bị các vị đồng Phạm hạnh có trí nghi ngờ khinh thường. Vị chơn chánh giác sát tránh né chỗ ngồi không xứng đáng ấy, trú xứ không nên lai vãng ấy và các bạn bè độc ác ấy. Này các Tỳ-kheo, nếu vị ấy không tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IV). Các Lậu Hoặc)

Trong pháp tu của Đức Phật cái mà chán lìa rất quan trọng, nhiều khi mình không có biết nhàm chán, mình không có biết xa lìa, cái nào mình cũng sấn vô hết, cái nào cũng có hết. Hai người đang nói chuyện phải quấy, thị phi, mình nghe từ xa xa là mình rề rề lại, coi người đó mình có quen không, nói ai vậy, bà nào vậy, bà đó tôi biết, rồi mình rước lấy cái khổ. Cho nên mình phải tập sự rời xa những cái cần thiết để mình rời xa, nếu mình không biết rời xa, mình không biết lìa xa, mình sẽ gặp những phiền phức, rắc rối, tai họa, khổ đau.

Mình đi đường mà mình gặp chó dữ mà mình cứ sấn tới, mình gặp con bò hung hăng, con trâu dữ mà mình cứ nhào tới, mình tiến tới, mình gặp một người hung dữ, điên khùng, họ đang sạn hận, dữ dằn, hung tợn mà mình không có biết tránh né thì chuyện gì sẽ xảy ra cho mình? Cho nên sống trên đời này mình sẽ gặp những người sát sanh phải tránh né, mình gặp những người hung dữ phải tránh né, gặp những người thị phi phải tránh né, mình gặp những người ham hơn thua, ham tranh đấu, ta đây, bản ngã cao mình phải biết tránh né vì mình ở gần đó thì giống như gần mực, gần bóng tối, gần đống lửa, gần hố than hừng, gần rắn độc thì có ngày mình sẽ bị tai họa, nguy hiểm. Vì thế sự tu ở đây con nói rộng ra chút để chúng ta thấy hai chữ yểm ly là pháp ấn của kinh tạng Nikāya tức là nhàm chán và xa lìa, là con dấu, là những cái pháp rất là quan trọng để đưa mình đến bình an và hạnh phúc, an lạc chính là nhàm chán và xa lìa.

Chẳng hạn như mình đi mà thấy gặp tai nạn giao thông tự nhiên mình đứng lại để nhìn làm cho kẹt đường, làm cho tắt đường thêm, có khi trong tai nạn chồng lên tai nạn. Những chỗ đông người, đông đúc, chúng ồn ào, những cái chỗ náo nhiệt, những chỗ nhiều cái ác và bất thiện pháp nguy hiểm thì mình phải tránh. Con thật sự thấy mấy cái ồn ào đó là con né trước, mệt lắm, Đức Thế Tôn là rất rày la, quở trách từ cư sĩ cho đến xuất gia ồn ào, Đức Thế Tôn hay dùng cái từ làm cái gì giống như là cái chợ cá vậy, bạn hàng tôm, bạn hàng cá vậy, Thế Tôn thường hay dùng hình ảnh đó để quở trách từ xuất gia cho đến tại gia.

"Lúc bấy giờ, khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta (Xá-lợi-phất) và Moggallana (Mục-kiền-liên) cầm đầu cùng đến Catuma để yết kiến Thế Tôn. Và các Tỳ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, nên các tiếng náo động ồn ào khởi lên. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:

-- Này Ananda, các tiếng náo động ồn ào kia là các tiếng gì, thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau.

-- 'Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta và Moggallama cầm đầu, đã đến Catuma để yết kiến Thế Tôn. Và các Tỳ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, các tiếng náo động ồn ào khởi lên.

'Vậy này Ananda, hãy nhân danh Ta bảo các Tỳ-kheo ấy: 'Bậc Ðạo Sư cho gọi các Tôn giả'.

Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, đi đến chỗ các Tỳ-kheo ấy, sau khi đến, nói với các Tỳ-kheo ấy như sau:

Bậc Ðạo Sư cho gọi các Tôn giả.

Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo ấy đang ngồi một bên:

-- Này các Tỳ-kheo, các Ông có nghĩ chăng, các tiếng náo động ồn ào thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau?

-- Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta và Moggallana dẫn đầu, đã đến Catuma để yết kiến Thế Tôn và các Tỳ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, các tiếng náo động ồn ào khởi lên

-- Hãy đi đi này các Tỳ-kheo, Ta đuổi các Ông. Các Ông chớ có ở gần Ta" (Trung Bộ Kinh, 67. Kinh Càtumà)

Cho nên mình thấy những cái có cái khả năng mang lại những cái bất thiện pháp, những cái động loạn, những cái rối loạn, những cái bạo loạn, những cái bạo động thì tránh khéo léo tránh né. Có những người chỗ đó đang xảy ra sóng dữ, sóng lớn còn ráng đứng chụp hình trong khi người ta chạy hết, rồi sóng tạt tới cuốn đi luôn, bị cái dục, cái ham muốn làm cho mê mờ cái tâm. Đức Phật nói rằng là cái tham, cái dục này tác thành không mắt, tác thành mù lòa, tác thành si ám, làm cho yếu ớt trí tuệ, không còn nhìn thấy nữa. Một khi mà cái tâm mình ham, mình thích, mình muốn, mình khoái, mình dục, mình ái thì lúc đó cái tâm mình không còn sáng nữa. Tham quá thì thâm, giận quá mất khôn.

"-- Năm triền cái này, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Thế nào là năm? Dục tham triền cái, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Sân triền cái... Hôn trầm thụy miên triền cái... Trạo hối triền cái... Nghi hoặc triền cái, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Năm triền cái này, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (a), IV. Phẩm Triền Cái, X. Triền Cái)

Khi mình có tham, sân, si thì Đức Phật gọi cái tâm của mình trở thành si mê, trở thành yếu ớt trí tuệ, trở thành mù lòa, trở thành không mắt, làm trở nên si ám, cũng giống như một người không biết phía trước mình là một con đường hiểm nạn, là vực sâu cho nên họ cứ chạy tới, họ à mở hết tốc độ lên và cuối cùng họ đi xuống cái hố sâu, vực thẳm của tai họa. Tất cả chúng sanh phần lớn là đều như vậy, không biết dừng lại, không biết tránh né, không biết sợ hãi đối với những cái nguy hiểm, những cái bất thiện pháp, những cái tai nạn, tai họa trên cuộc đời này. Cho nên mình khéo tránh né sẽ có nhiều sự bình an và an ổn, đây là một trong những pháp mà Đức Phật dạy mình cách đoạn trừ phiền não có cái pháp tránh né để được đoạn trừ.

Hồi nãy là nói ngoại cảnh, bây giờ tới con người. Ông chồng mình đang sân si, khó chịu, hay bà vợ mình đang bực bội, lúc đó là có biết khéo léo tránh né không? Nếu không tránh được thì lúc đó có biết khéo léo để an tịnh, lắng dịu cái miệng không? Tránh né ở đây không có nghĩa là cái thân tránh né mà có khi cái miệng cũng phải khéo tránh né, lúc đó an tịnh, lắng dịu xuống, không được nói cái gì hết, nói ra cái gì cũng sẽ có chuyện hết. Tránh né cái thân, tránh né lời và cái sâu sắc là tránh né ở trong cái tâm, là nhiếp phục các cái cảm thọ, các cái cảm xúc, "phải bình tĩnh nha, tới rồi đó nghe không, bình tĩnh nha, lắng dịu nghe không, an tịnh nghe không. Có chuyện à, có chuyện tới à nha, cẩn thận nha".

Đó là những người thân của mình, thậm chí cha mẹ mình đang bực bội, khó chịu mà lúc đó mình không có sự tu tập an tịnh, lắng dịu, không có sự khéo léo trong sự nhiếp phục, chế ngự các cảm thọ, làm cho sanh khỏi lên từ tâm đối với cha mẹ, đối với chồng con, vợ con của mình thì lúc đó xảy ra đụng chạm, va chạm. Sau khi va, sau khi đụng, sau khi chạm xảy ra đổ bể, đổ nát tình nghĩa, đạo nghĩa, hiếu nghĩa là cũng từ cái chữ không có biết tránh né, không có biết nhiếp phục các cảm thọ.

Đó là cảnh, người, bây giờ sâu tới trong tâm của mình, khi nó sanh khởi lên những cái cảm giác hơn thua, sanh khởi lên mình có ngán nó không? Nó sanh khởi lên những hình bóng muốn kiếm chuyện, muốn gây sự mình có chán không? Mình có muốn rời xa nó không? Chỗ này quan trọng, Đức Phật gọi là thân viễn ly và tâm viễn ly, tức là thân phải biết tránh né và tâm phải biết tránh né, không phải tránh né ở ngoài, tránh né ở ngoài có những trường hợp tránh được nhưng có những trường hợp sanh khởi trong tâm rồi tránh né ở đâu, mình đi tới chỗ nào cũng giận hết. Uống nước lạnh vô mà nó cũng vẫn nóng trong tâm, mình phải biết cách hướng tâm mình tránh qua những cái hố than hừng đó, tránh qua những cái vực sâu đó, tránh qua những con đường mà Đức Phật gọi là con đường nguy hiểm, gồ ghề, nhiều cái tai họa, phải tránh con đường đó, cho cái tâm mình đi qua một con đường bằng phẳng, êm ái, đi qua đại lộ chứ đừng đi vào những cái hiểm đạo, những con đường nguy hiểm và tai họa.

Những con người hiền trí phải ý thức rõ ràng, như vậy mình phải biết tránh né hoàn cảnh. Thí dụ ngoài lộ bốn mươi mấy độ C mình có tránh không? Nếu như mà mình thấy chỗ đó là đường cống mình có né không? Vậy mà trong tâm của mình rắn độc mà sao mình không biết tránh? Cái tâm rắn độc, cái tâm rắn hổ mang, cái tâm hơn thua, cái tâm ngã mạn, cái tâm sân hận, cái tâm ác độc, cái tâm muốn làm hại người khác, đó là rắn độc. Mới ngày hôm qua có cô gái mới có hơn hai mươi tuổi vô mở cái mền ngủ thì có con rắn cạp nia nằm sẵn trong đó mổ, đưa đi bên viện không kịp, chết luôn. Khi con nghe câu chuyện đó thì con mới nhìn vào trong tâm của mình, có rất nhiều pháp trong vụ việc này để quán chiếu.

II. Cẩn thận nghiệp quả

Nghiệp như hình với bóng, chờ thời để ra tay, mình không trốn được những oan gia trái chủ của mình dầu trên trời dưới biển, dầu lánh vào hang động, một khi ác nghiệp tới, thần chết tới thì không một chỗ nào mà mình có thể tránh được hết. Đó là quả báo của ác nghiệp, những cái oan gia trái chủ chờ thời để ra tay, tất cả chúng ta tưởng đâu mình an an, ổn ổn, bình bình, lặng lặng như vậy, mình tưởng đâu ngày nào cũng được như vậy hết là không đúng, không có. Tất cả những cái mối nợ của mình từ nhiều đời nhiều kiếp nó tiềm phục, nó tiềm tàng, nó tiềm ẩn ở khắp mọi chỗ mọi nơi, nó đợi mình sẵn giống như con rắn cặp ni đó nằm sẵn trong cái mền, leo lên cái giường mở ra đắp lên là nó mổ vô một cái là kết thúc cuộc đời, chỉ mới ngoài hai mươi tuổi thôi.

Vậy đó "nghiệp như hình với bóng, chờ thời để ra tay", chúng ta phải thuộc hai câu này, hãy nhớ kỹ và khéo tránh né. Có những cái mình có thể tránh né được, có những cái là mình không tránh né được. Bây giờ trở lại cái vấn đề là trong tâm mình có một cái hang, một cái ổ rắn độc, chỉ có người nhận diện ngũ uẩn, quán chiếu được các cái cảm thọ thì mới thấy được cái hang ổ của tham, sân, si đó. Tam độc tham độc, sân độc, si độc, đây là nói gọn, nói rất là gọn, nếu mà nói đầy đủ ra là tật đố có độc không? Bản ngã có độc không? Hơn thua có độc không? Đố kỵ có độc không? Ghen có đọc không? Nhiều lắm nhưng đức Phật nói tổng quát thôi cho mình dễ nhớ thì nói ba cái là tham, sân, si nhưng có những bản kinh Đức Phật và các bậc thánh nói đầy đủ là hai ba trang giấy cũng chưa hết cái độc đó.

Mình phải biết tránh né cái độc đó trong tâm mình, đừng có để cho chất độc đó nó nhiễm vô và nó phát tác ra trong cái cảm giác, nó phát tác ra lời nói, rồi nó phát tác ra hành động, nó đem lại quả báo chắc chắn là ác nghiệp, khổ đau. Vì thế phải biết tránh né những con rắn độc nó tiềm ẩn, thánh trí ngũ uẩn để giải mã hết tất cả những sự việc ở trên hành tinh này, trên thế gian này, trên thế giới này. Tại sao bỗng nhiên đi ngang đèn xanh đèn đỏ mắt nhìn nhau rồi chém giết nhau, cho là nhìn điểu, quý vị biết cái gì không? Đó là chờ thời để ra tay cho nên một trong bốn điều Đức Phật nói không thể nào tưởng tượng được thì có một điều là quả dị thục của nghiệp bất khả tư nghì là không thể tưởng tượng được.

"Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thế nào là bốn?

Phật giới của các đức Phật, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.

Thiền giới của người ngồi Thiền, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ được, nếu nghĩ... thống khổ.

Quả dị thục của nghiệp, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến... thống khổ.

Tâm tư thế giới, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.

Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ" (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (VII). Không Thể Nghĩ Ðược)

Mình thấy người đó an lạc, bình thường, không có chuyện gì thì bỗng nhiên nghe người này bây giờ gặp một chuyện hết sức là khủng khiếp, cái đó không có bình thường, đó là cái quả của nghiệp nó trổ ra. Tất cả chúng ta, trong loài người này, trong chư thiên, trong sáu nẻo luân hồi này đều phải chịu cái quả dị thục của nghiệp, nếu mà thiện thì nó là vui, còn nếu mà ác thì khổ đau nhưng cái ác lại nhiều hơn cái thiện, cái xấu nhiều hơn cái tốt, cái dữ nhiều hơn cái lành, cái sân si nhiều hơn từ bi, cái tham nhiều hơn bố thí, xả bỏ, cái bản ngã nhiều hơn sự khiêm cung, khiêm tốn. Cuối cùng thì cái quả khổ, cái quả đau, cái quả sầu, bi, khổ, ưu, não, cái quả ở trong nước mắt, ở trong bệnh tật, ở trong tai họa rất là nhiều.

Mình lấy của người ta một trăm đồng không phải mình trả một trăm đồng đâu nha, không có chuyện đó, không phải trồng đậu được đậu, trồng dưa được dưa là mới nói cái ban đầu thôi. Mình lấy một trăm đồng nhưng tới chừng mình trả đó là một ngàn, một triệu tại vì trong nghiệp quả thì dị là biến đổi, biến dị, thục là chín muồi. Nó đâu có đứng yên ở đó đâu, tất cả pháp đang vận hành, tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức này vận hành, khi mình chửi người ta có một câu nhưng khi mình lãnh hậu quả đâu có phải chửi lại một câu là xong mà còn nhiều chuyện khác xảy ra. Đó là quả dị thục của nghiệp, thành ra cái nhân quả không phải đơn giản, về nghe mấy chục bài con giảng về nghiệp, trong đó có vài chục bài.

Nghiệp quả trong Nikāya được Đức Phật giảng rất kỹ, đầy đủ hết tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của nghiệp báo, cho nên mình làm một cái đó thì không phải mình nhận có một cái đó, mà nó sẽ lên gấp trăm, gấp ngàn, gấp triệu lần cái mà mình đã làm. Chính vì vậy người ta cúng thì người ta có phước, khi mình gieo một giạ lúa xuống thì có khi nó ra mấy chục giạ, khi mình trồng cái hột xoài thôi nhưng ra cây tới mấy chục trái, đó là cái phước, còn cái tội cũng giống vậy thôi. Mới gần đây xảy những chuyện đau lòng lắm, nói tới đâu đau tim tới đó, nhói đau, đau lòng lắm, một đứa nhỏ mới có mười bốn tuổi mà nó dám đầu độc ba ruột với bà nội và một người nhập viện cấp cứu nữa. Cho nên bây giờ cái nghiệp quả khủng khiếp lắm quý vị ơi.

Ngày xưa quả báo thì chầy.

Ngày nay quả báo trước ngay nhãn tiền.

(Ca dao)

Nói cái này để chúng ta cẩn thận ở trong cái suy tư, trong cái ánh mắt nhìn của chúng ta cũng có cái nghiệp quả nữa. Nhìn người ta bằng một cái con mắt như thế nào thì mình sẽ được đáp lại cái quả báo như thế đó, mà không phải đáp lại là đáp bằng cái nhìn đó, có đời lãi nha, mình sẽ nhận lại những cái hậu quả. Thành ra phải cẩn thận trong suy nghĩ, cẩn thận trong lời nói, cẩn thận trong ánh nhìn, cẩn thận trong hành động, cử chỉ, việc làm của mình vì tất cả những cái đó là mình đang gieo hạt đó. Ở đây sẵn câu hỏi con trả lời rộng ra chúng ta thấy chúng ta phải biết khéo léo tránh né những cái cảm giác, những cái hình bóng, những cái suy nghĩ ác và bất thiện trong tâm của mình, mình phải nhàm chán nó, kinh sợ nó, tránh xa nó, lấy chổi chà quét nó ra khỏi căn nhà nội tâm của mình, đánh đuổi nó ra, diệt tận nó. Thành ra trong đoạn kinh đó Đức Phật nói khi ngài tu cái hạnh rời xa, cái hạnh từ bỏ, cái hạnh thoát ra nhưng mà ngài vẫn tu một cái tâm từ, cho đến một giọt nước ngài cũng mong rằng những chúng sanh ở trong giọt nước đó không có bị khổ.

Tuy rằng ngài rời xa, ngài từ bỏ hoàng cung, từ bỏ thân quyến, từ bỏ mọi người để sống một mình trong rừng, ở bên sông Ni-liên-thiền, ở dưới cội cây, ở trên tuyết sơn… nhưng cái tâm từ của ngài rộng lớn, bao la đối với tất cả chúng sanh, không nỡ làm hại dầu cho một con vật rất là nhỏ ở trong một giọt nước cũng không muốn khổ đau, ở trong các thế giới khác tức là loài súc sanh ở trong đó, những loài ngạ quỷ, những loài nhỏ li ti mà mình không thấy được, những vi trùng, những vi khuẩn. Tuy ngài sống rời xa như vậy, từ bỏ như vậy, viễn ly như vậy nhưng mà lòng từ của ngài vẫn rộng lớn, bao la, trùm khắp đối với tất cả hữu tình vạn loại. Chính vì vậy khi ngài giác ngộ rồi chúng sanh nào khổ là ngài độ liền, những lời dạy của ngài lưu truyền mấy ngàn năm là vậy đó.

Như vậy rút lại câu hỏi này chúng ta nhớ mấy cái chữ nhàm chán, xa lìa, bốn chữ này là bí kiếp, cái bí quyết, là cái pháp hành để chúng ta tu. Mình thấy những người sân si có xa không? Có cần phải tránh không? Thấy những người hơn thua có cần phải né không? Mình thấy những người đang phẫn nộ, đang muốn tranh đấu, cạnh tranh với nhau mình có cần tránh không? Đó là nói người ngoài đường, mình đang khó chịu một người trong gia đình, mình đang khó chịu, bực bội thì mình an tịnh, lắng dịu hay mình nói lại rồi cuối cùng cháy nhà, làm khổ đau cho nhau.

Ngoài ra thâm sâu trong tâm mình phải tránh xa ba con rắn cạp nia, rắn hổ mang chúa, những cái con rắn hết sức ác độc ở trong tâm của mình, đừng có để cho cái chất độc đó phát tác ra, phải đuổi nó đi càng sớm càng tốt, diệt tận nó cho nó chết càng sớm càng tốt, không bao giờ có chỗ trong tâm mình, cho những con rắn tham, sân, si, bản ngã, hơn thua đó ở trong đó. Phải phá tan, phá nát, phá sập, phá bể cái hang ổ, xào huyệt của ba con rắn độc trong tâm.

III. Gánh nặng của thiện pháp 1

Câu hỏi này rất hay, thế nào là cái gánh nặng của nghiệp lành? Ở trong Nikāya quý học sẽ thấy nhiều cái rất là lạ, mình tưởng gánh nặng là nói tiêu cực nhưng mà không phải, có một cái gánh nặng của thiện pháp. Quý vị nghĩ rằng đi vô chùa là khỏe lắm, khỏi cần làm gì hết, thầy đi tu thầy khỏe quá, cô đi tu cô khỏe quá, khỏi làm gì hết. Có thật không? Lên Linh Quy đi rồi biết, tu không kịp thở, một ngày phải tu tám tiếng cho đến mười tiếng, thức khuya vậy sớm, ba giờ mấy khuya là thức rồi. Như vậy gánh nặng của thiện pháp là cái gì? Gánh nặng của bất thiện pháp là cái gì? Gánh nặng của bất thiện pháp là chúng ta biết nhiều rồi phải không, không cần nói nhiều lắm, đủ thứ chuyện Ở trên đời này, cái gì cũng gánh vô hết, cái gì cũng ôm vô hết, cái nào cũng sáp vô, rề vô, ôm vô, cất vô, giữ vô, chất vô.

Lòng ta sao nặng quá,

Như xe chở quá nhiều.

Xe ơi, tội xe quá!

Xả bớt hàng đi xe!

(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)

Tâm ơi tội tâm quá, xả bớt phiền đi tâm, hơn thua nào cũng cất, phải quấy nào cũng giữ, buồn giận nào cũng để dành. Chuyện mười năm, hai ba chục năm trước cũng cất vô trong đó để cho nó đau khổ, đó là gánh nặng của bất thiện pháp, chuyện của ai tự dưng đem vô trong tâm cất mười năm, mười lăm năm, mỗi lần móc ra là bốc mùi hôi thối, tham, sân, si, hận thù, đó là gánh nặng của bất thiện pháp. Bây giờ gánh nặng của thiện pháp, quý vị ngồi tu mà quý vị nhiếp phục, chế ngự được cái lăng xăng, cái dao động của mình dễ hay khó? Cái đó là gánh nặng đó nhưng quý vị phải làm được. Bây giờ thọ bát quan trai, chiều không ăn bị cào ruột lên, đói bụng cào ruột mà thấy cái kế bên đồ ngon không, bình thường không ăn đồ ngon tới bữa thọ bát đủ thứ món, đó là gánh nặng của thiện pháp đó, đừng có buông xuống vì buông là nhào vô ăn luôn.

Quý vị phải gánh cái gánh nặng của thiện pháp, thọ bát quan trai giới biết bao lâu mới có một lần, hai tuần hay thậm chí cả tháng mới thọ một lần, tại sao không chịu cố gắng giữ gìn cho được trọn vẹn có một ngày một đêm đó. Đó là gánh nặng, mình quy định cho bản thân mỗi một ngày thời khóa công phu hai thời, tới giờ đó mệt, bữa nay bệnh quá, nhức mình quá, mỏi quá rồi lên ngồi thì gật gà gật gù giống như lên đồng, ngồi như cái xác không hồn, lên ngồi cho hết giờ để xuống cho nên gánh nặng của thiện pháp là mình phải làm trọn vẹn những cái mà mình đề ra cho chính mình. Mình phải tăng thượng đức hạnh của một người Phật tử chứ không phải chỉ có vô thọ tam quy ngũ giới rồi xong, phải làm sao mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng mình phải thấy cái chất liệu tâm hiền, cái chất liệu hiền lành, hiền nhân, hiền đức, hiền từ, hiền thiện, hiền lương, hiền hậu của mình phải lớn mạnh lên.

Hồi xưa người ta nói một câu là mình phải nói lại mới hả dạ, người ta nói ba câu mà trong này mình an tịnh, lắng dịu, thậm chí người ta chỉ thích mình, người ta khó chịu, gây sự với mình nhưng mình chỉ thấy thương quá, tự nhiên mình khó chịu để làm cái gì, người đó đang khổ không lẽ mình nhào vô khổ với họ hay sao, người đó đang bị thiêu đốt không lẽ mình cũng nhảy vô để cùng chung chết cháy với nhau. Tâm từ mình rộng mở ra, đó là đức hạnh của người Phật tử, đó là tăng thượng giới đức, hồi xưa chồng mình, con mình, anh em mình nói một cái gì không vừa lòng là sao sân si lên, khó chịu lên, chê mình là "ai vô nấu đi, tôi không nấu nữa, chế mì gói ăn đi, tôi nấu còn chê nữa". Bây giờ là "để em rút kinh nghiệm để kỳ sau nấu cái này cho nó tốt cho anh, cho các con ăn", như vậy có đẹp không, đó là tăng thượng giới đức của người Phật tử.

Mình không có ta ở đây nữa, mình không có tỏ vẻ mình hay ho, mình giỏi giang nữa, lúc nào cái tâm mình cũng rất là hiền ngoan, rất là hiền lành, tâm lúc nào cũng khiêm cung, khiêm hạ, khiêm tốn, chính cái khiêm cung, khiêm hạ, khiêm tốn đó làm đức hạnh của mình càng cao và mình bẻ gãy được những cái tâm kiêu mạn bằng một cái tâm mềm mại, nhu nhuyến, khiêm cung khiêm hạ, mình có thể bẻ gãy được những cái tâm cao ngạo, kiêu ngạo, ngạo mạn. Không phải mình ăn to nói lớn là người ta phục mình đâu, không phải mình hơn thua chung đủ là mình giỏi đâu, chính cái đức khiêm cung, khiêm hạ, khiêm tốn, khiêm nhã của mình, khiêm nhường của mình làm cho người ta phải hổ thẹn, làm cho người ta phải xấu hổ.

Không lẽ bây giờ hất hết cái mặt lên trong khi bên đây mình rất là cúi đầu, rất nghiêm hạ, làm cho người ta phải nhìn lại thân tâm của người ta, người ta xấu hổ, hổ thẹn. Người ta cảm nhận được sự tu học của mình, người ta cảm động được sự thực tập pháp của mình và cuối cùng người ta cảm hóa được thân tâm của người ta. Ba cảm tuyệt vời, cảm nhận, cảm động, cảm hóa. Cảm nhận được sự khiêm cung của mình, bây giờ hai vợ chồng sống chung với nhau, người nào cũng hất mặt lên trời rồi ai thấy đường ở dưới để đi, người kia cứ cúi xuống thì người này cũng phải cúi xuống luôn thì mới cân bằng, người ta nhìn lại xấu hổ. Người kia cứ phừng phựt tối ngày, người này là hồ nước mát rồi không lẽ cứ đốt hoài lên, người ta cảm nhận được sự tu của mình bằng một tấm lòng, bằng một tình thương, bằng tất cả một trái tim của mình.

Mình đối đãi với cha mẹ, với chồng con, với anh em của mình bằng một cái tâm từ như vậy, một cái tâm ngọt ngào, dễ thương, dễ chịu, hiền hòa, nhân hậu như vậy, bằng cả một tình thương, tấm lòng của mình như vậy, người kia có cảm động không? Người ta sẽ cảm nhận và cảm động, khi đã cảm động được trái tim của người ta rồi thì người ta sẽ thay đổi, đó là cảm hóa. Mình muốn có ba cái cảm đó mình phải có cái gánh nặng của thiện pháp, mình phải gánh được cái gánh nặng đó, giới mình phải giữ, pháp mình phải nghe, lòng tin mình càng ngày phải càng lớn khi mình nghe, mình hiểu, mình phải biết thí xả, bàn tay rộng mở, vui bố thí, thích bố thí, hoan hỉ bố thí, hạnh phúc trong sự bố thí và biết tu tập trí tuệ, tín – giới – văn – thí – tuệ, có tàm quý nữa, xấu hổ và sợ hãi đối với những ác và bất thiện pháp. Mình có đủ những cái pháp như vậy là mình gánh được cái gia tài của Phật.

Phải gánh cho được gia tài của Phật, đừng có gánh cái gánh khổ, đừng có gánh cái gánh giận, đừng gánh cái gánh hơn thua, gánh cái gánh mà cứ ngồi lại là trong tâm mình toàn những cái hình bóng giận người này, bực người kia, khó chịu người nọ để làm cái gì, ghim gút người kia, mà đâu phải ai xa lạ, ghim gút cha mẹ, chồng con, anh chị em của mình, khổ chưa. Ngồi lại là nói chuyện xấu của những người ân tình, ân nghĩa, ân đức với mình, tật má tôi hay vậy lắm, ba tôi vậy đó, ông chồng tôi vậy. Trời đất ơi! mình nói vậy rồi người ta nói mình lại như thế nào, người ta nói như vậy là mình không chịu, mình sân hận lên mà mình nói người ta vậy.

Mình muốn người ta phải thương yêu mình, kỳ không, lạ không, đó là nhân quả. Quý vị ngồi xuống kể chuyện "tôi cảm ơn anh, sống với anh mấy chục năm từ cái ngày đầu tiên mới gặp cho đến bây giờ trải qua hai mươi lăm, ba chục năm anh đã làm cho tôi cái này… cái này…". Mình kể ra, mình nhớ hết, mình kể hết "tôi cảm ơn anh rất là nhiều, bằng cả tấm lòng tình thương biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn", nghe mát ruột, ngọt ngào, tình cảm ấm áp. Chồng cũng vậy, mình đối đãi với vợ cũng vậy, mình ngồi nói chuyện với nhau, còn cái này ngồi lại là cãi nhau, tức là bên trong của mình chất chứa những cái bất thiện, những cái tiêu cực, rác bẩn, không có hoa thơm mật ngọt gì hết cho nên mình đau khổ, tâm mình là một cái tâm nghèo nàn, nghèo thiếu, nghèo đói, nghèo rách chứ không có một nội tâm phong phú, giàu có, sung túc, đầy đủ.

Bây giờ có một cái từ mới để cho quý vị là triệu phú tâm linh, tỷ phú tâm linh, trong tâm mình đầy ấp những cái cảm thọ hiền thiện, ngọt ngào, dễ thương, dễ chịu, từ, bi, hỷ, xả, bao dung, tha thứ, độ lượng, những cái cảm thọ thật là tuyệt diệu, hiểu thương, cảm thông, tỷ phú tâm linh. Tại sao mình lại sống với một cái tâm nghèo nàn, một tâm đói khát, tâm nghèo thiếu, một cái tâm đi tới đâu, gặp ai cũng khó chịu, gặp ai cũng bất mãn, gặp cái gì cũng không hài lòng, ở nhà bực bội quá xá rồi mới đi vô chỗ làm, vô làm bực bội, khó chịu đi vô chùa, vô chùa mà bực bội, khó chịu nữa thì hết chỗ đi luôn, chỉ còn có đi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nữa thôi tại vì chỗ đó tương ứng với ba đường ác. Cái tâm như vậy là cái tâm đưa vào tam ác đạo cho nên phải tu cảm thọ hiền thiện, ở trong người mình đầy ấp những cảm thọ hết sức dễ thương, dễ chịu, dễ bảo, dễ nghe, dễ nuôi, dễ dạy, dễ sống, dễ hành rồi dễ thành tựu Phật pháp.

Vô tu ăn sao cũng được, ngồi ở đâu cũng được, tu tới mấy giờ cũng được, thậm chí âm thầm đi vô cầu tiêu chùi rửa trong đó không cần ai kêu. Sẵn sàng hy sinh, mình coi cái thân xác này giống một cái nùi giẻ rách thôi để mình chùa cho sạch sẽ thân tâm của mình và chùi giúp cho những người có duyên tiếp xúc với mình. Đẹp không? Tuyệt vời không? Ngược lại đi đâu cũng cao ngạo, ngạo mạn, bị công an phạt còn hỏi biết tôi là ai không, phạt cho nặng thêm luôn nữa, đó là mình tăng thượng đức hạnh của một người Phật tử. Cái gánh nặng thứ hai của mình là cái gánh nặng tâm hồn, cái tâm của mình lúc nào cũng bình yên hết, bây mình không có giết con gì hết, mình không có sát sanh, mình không có ăn cấp đồ của ai, mình không có ngoại tình, mình không có tà dâm, mình không có lừa gạt, lừa đảo ai, không có dối gạt ai hết.

Mình không có làm những chuyện bất chánh, bất minh nên khi mình ngồi lại cái tâm mình bình an, an ổn, an lành, an lạc, an tịnh, an vui, đó là tăng thượng tâm học, là một cái tâm bình an, ngồi chỗ nào cũng an yên hết, ngồi chỗ nào cũng an lành hết, ngồi chỗ nào cũng an ổn hết. Mọi người có muốn được như vậy không? Muốn vậy thì phải ráng tu, phải tập thiền, phải tập tịnh tâm, phải tập lắng dịu cái tâm, tập an tịnh tâm, không phải đợi tới ngồi thiền mà mỗi cái bước đi phải tập lắng dịu, mở cái cửa cũng phải nhẹ nhàng, để đôi dép cho ngay ngắn, lấy cái ghế cũng không có phát ra tiếng động, giảm bớt tối đa tiếng động trong mọi cái sinh hoạt an tịnh, lắng dịu cho nên cái gánh nặng thứ hai là mình tăng thượng một cái tâm an tịnh, an định, an yên, an lành, an ổn, an lạc, an vui.

Đây là bí kiếp của cầu an, ghi giấy cầu an hoài mà không có an, từ đầu năm ghi tới cuối năm mà về gặp là gây lộn thì làm sao an. Mười hai giờ đêm của ba mươi tết là thắp cây ngang dài thật dài đi cầu an sáng đêm, về nói chuyện mấy câu là cãi nhau rồi hỏi "sao con đi chùa hoài, con cầu an hoài mà sao có không an". Cái tâm an là một sự thực tập cái tâm an tịnh, lắng dịu trong mọi hoàn cảnh, mọi trường hợp, mọi con người, mọi tình huống, giờ chút xíu đi ra cái dép mất tiêu rồi, bình thường, không sao hết, nếu có một vị hiền giả nào mang thì mình có cơ hội để bố thí, cúng dường, cảm ơn. Tại sao mình đi năm trăm cây số, một ngàn cây số, một ngàn năm trăm cây số, mình nói tôi đi làm từ thiện, mình ngủ không được, mình đi xa, ngồi thức đêm thức hôm, mình bệnh cảm, thậm chí mệt mỏi cũng ráng đi rồi ôm quà rồi đi phát mồ hôi nhễ nhại về bệnh luôn, mình đi cho từ thiện mà bây giờ người ta tới ngay tại chỗ mình lấy đôi dép thì khỏe, cám ơn, bố thí, cúng dường được không.

IV. Các đối tượng cần bố thí, cúng dường

Mình đi một ngàn cây số để cho, bây giờ khỏi cần đi đâu, tại chỗ này người ta lại cho mình có cơ hội bố thí, từ thiện mà sao không chịu cho để tâm được khỏe, xả đi được không? Bỏ gần tìm xa, cái tâm mình toàn là vậy không à, bỏ cái gần đi tìm cái xa, cái hiện thực không có chịu mà sống với cái ảo tưởng không à. Chị em ruột, cô ruột, chú ruột, mợ ruột thiếu thốn, mình có tiền thì người ta lại trong lúc khó khăn người ta xin thì không cho, đi làm từ thiện thì gấp năm lần cái đó cũng đi mà người thân kế bên không cho. Như vậy là mình không có biết cách tạo phước, quý vị về nghe lại bài cúng dường trai Tăng mới đây ở trên núi đó, con giảng rất là kỹ "kim cương thánh trí và công đức bố thí", nghe kỹ cái bài đó. Đức Phật nói có mấy hạng người mình cần phải bố thí, cúng dường, cha mẹ, anh chị em, người thân trong gia đình của mình, những người nghèo khổ, những người ở biên cương, quan ải giữ cái an ninh cho mình và cúng dường các chư thiên, các vị tu hành.

"Ở đây, này Mahànàma, thiện nam tử, với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cách tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường cha mẹ. Cha mẹ được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường với thiện ý, khởi lên lòng thương mến người ấy: 'Mong rằng (con ta) được sống lâu! Mong rằng thọ mạng được che chở lâu dài!' Và này Mahànàma, với một thiện nam tử được cha mẹ thương tưởng, chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm thiểu.

Lại nữa, này Mahànàma, thiện nam tử với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn... đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vợ con, người phục vụ, người làm công và vợ con người phục vụ người làm công. Vợ con, người phục vụ, người làm công và vợ con người phục vụ, người làm công và được người ấy cung kính, tôn trọng đảnh lễ, cúng dường với thiện ý, khởi lên lòng thương tưởng người ấy: 'Mong rằng được sống lâu! Mong rằng thọ mạng được che chở lâu dài!' Và này Mahànàma, một thiện nam tử được vợ con, người phục vụ, người làm công thương tưởng, chờ đợi là sự tăng trưởng không phải là giảm thiểu.

Lại nữa, này Mahànama, vị thiện nam tử với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các người làm ruộng các chức sắc ở biên cương. Những người làm ruộng các chức sắc ở biên cương được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường... chờ đợi là sự tăng trưởng, không có giảm thiểu.

Lại nữa, này Mahànama, thiện nam tử với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn... đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường chư thiên nhận lãnh các vật cúng tế. Chư Thiên nhận lãnh các vật cúng tế được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường... chờ đợi là sự tăng trưởng, không có giảm thiểu.

Lại nữa, này Mahànama, thiện nam tử với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường các Sa-môn, Bà-la-môn. Các Sa-môn, Bà-la-môn được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường với thiện ý, khởi lên trong lòng thương tưởng người ấy: 'Mong rằng được sống lâu! Mong rằng thọ mạng được che chở lâu dài.' Và này Mahànama, với một thiện nam tử được các Sa-môn, Bà-la-môn thương tưởng, được chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm thiểu." (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VIII). Thanh Niên Licchavi)

Có rất nhiều đối tượng để cho mình bố thí, cúng dường chứ không phải chỉ đi từ thiện mấy người nghèo, còn mấy người gia đình mình không có cho. Người ta đang cần đây nè, mà mấy người kia đâu có xin mình đâu, tại sao mình phải đi xa như vậy mà cái người kế bên mình đang cần, thật sự cái nhu cầu chánh đáng, nhớ kỹ cái điều đó nha chứ không phải cho để đi hút xì ke, thật sự họ đang khó khăn mà mình có khả năng giúp đỡ được, đó là từ thiện đó. Cho nên có khi nào quý vị thấy con vận động kêu ai phóng sanh không? Ba mươi mấy năm nay con phóng sanh rất nhiều nhưng không có vận động kêu ai hết, con đi ra chợ mua ngay nguyên cái chợ cá ở dưới quê phóng sanh liền ngay tại chỗ đó, còn đằng này mình đặt cho người ta đi bắt thì đâu còn ý nghĩa phóng sanh nữa, bất ngờ mình gặp chỗ đó, mình mua ngay tại chỗ đó mình thả, cái đó mới gọi là phóng sanh. Còn này mình lên lịch, mình kêu bao nhiêu tấn, mình làm rùm beng lên, kêu người ta đi bắt cho mình thì phóng sanh gì nữa.

Có nhiều cái mà mình không có chánh kiến, không có thấy đúng vấn đề rồi mình làm sai mà mình không có biết, mình tưởng có phước mà có khi thật sự không có bao nhiêu phước, có khi có những cái không có phước nữa. Thành ra mình để ý người thân ở trong gia đình, chẳng hạn mình đang đứng đổ xăng hay mình dừng cái xe lại có người nghèo, bà già tám mươi tuổi chìa cái tay xin, đó là những cái cơ hội để cho mình bố thí, cúng dường, không phải không có nhân, không có duyên mà tự nhiên một người đến như vậy, người này là rất là có nhân duyên với mình cho nên bố thí, cúng dường cho họ.

Trên đường đi con thường ghé vào các chùa, nếu thấy chùa đang xây cất là con xin phép cúng dường liền, bất cứ chùa nào đang làm cái gì, mình thấy là mình cúng dường. Những cái này trong cuộc đời của con thật sự có nhiều phép màu lắm, con có một cái tâm nguyện không có nói ra, để trong bụng âm thầm làm được nhiêu thì làm thôi, là tất cả những người gặp mình mà họ cần thiết, khó khổ, mình sẽ cố gắng giúp đỡ tận khả năng của mình. Con làm những cái rất là nhỏ, âm thầm thôi nhưng mà kết quả của nó là không thể tưởng tượng được, những cái gì con muốn làm đều thành tựu có khi gấp chục lần, gấp trăm lần điều con muốn, đó là công đức của bố thí.

V. Gánh nặng của thiện pháp 2

Trở lại gánh nặng thiện pháp thứ hai của mình là cái gánh nặng cái tâm an tịnh, khi mình không làm những điều tội lỗi, sai quấy thì mình ngồi trở lại cái tâm mình nó bình an lắm. Người làm nhiều cái tội lỗi, sai quấy, ngồi trở lại là nó ray rứt, nó bứt rứt, nó khó chịu, cái đó gọi là trạo hối, đó là hối hận, là trằn trọc tại nhìn vô thấy mình làm những cái điều tội lỗi, sai quấy, tâm mình bất an thì cái gánh nặng thứ hai của người tu từ cư sĩ cho đến xuất gia là cái tâm bình an, là định đó. Cái tâm an bình, an lạc, an ổn, an vui, bây giờ ví dụ mình với ông chồng bình thường không có gì hết, mình gặp mặt ổng vô ra nói chuyện bình thường, dễ chịu, tự nhiên mình với ổng có chuyện bực bội nhau rồi ra vô ra gặp nhau cái tâm có yên không? Thành ra gánh nặng thứ hai của mình là cái tâm bình an, mình phải thực hiện cho được.

Gánh nặng thứ ba là gánh nặng trí tuệ của mình, phải nghe pháp, phải tư duy, phải quán chiếu, phải thực tập nhiều để mình thấy rằng ngày hôm nay mình có tiến bộ hơn ngày hôm qua, tuần này cái trí tuệ của mình nó sáng hơn tuần trước và tháng này cái trí tuệ của mình nó tăng trưởng, phát triển hơn tháng trước, cũng như năm này là khác với năm trước. Đó là gánh nặng thứ ba, giới – định – tuệ, đạo đức, tâm bình an và cái trí tuệ, sự thấy biết sâu sắc của mình, đó là cái gánh nặng thiện pháp, phước báo, công đức đó, thiện lành, những cái việc lành mình phải làm. Việc lành mình làm, việc thiện mình làm mà mình không có kể công, khoe công, cư công, không có biểu hiện cái công của mình ra, mình thấy cái này chỉ là vô thường thôi, vô ngã, không có cái gì quan trọng hết, mình làm rồi mình phủi một cái thôi, cái đó là sanh ra cái đức, cái phước đức.

Cái phước là làm điều thiện, làm nhiều cái việc thiện, mình giúp người, mình bố thí, cúng dường, mình làm từ thiện, mình làm đủ thứ mọi cái sanh ra cái phước báo. Nhưng mà cái công đức, nói cái này tạm phân ra để cho chúng ta hiểu để chúng ta dễ tu, cái công đức là cái mình làm mà mình không cư công, không khoe công, không kể công, mình không có nghĩ rằng đi đâu mình nói cái này tôi cúng, cái bàn này tôi cũng cúng thì có phước nhưng mà không có công đức. Mình cư công, mình khoe cái công, khi mình đã cư cái công, mình đã khoe cái công, mình kể công như vậy thì mình không làm được thêm nhiều nữa bởi vì mình thấy mình làm nhiều quá rồi. Thành ra cái công đức là cái làm rồi phủi, giũ cái làm đó để mình làm thêm được nhiều hơn nữa để có đức, cũng như mình lo cho tất cả mọi người, bây giờ trong gia đình mình lo cho tám người mà mình hay nói "tôi lo hết từng người, tôi lo hết trơn", hôm nào gặp cũng kể "từng người, từng người tôi lo hết trơn đó, từng miếng ăn, tôi đi chợ lo hết", hôm sau gặp cũng kể y vậy "tôi lo hết trơn đó, bệnh rõ ràng tôi mới đưa nó năm triệu vô bệnh viện nè".

Đương nhiên người ta cũng biết mình cho nhưng mà người ta có dễ chịu không? Thành ra cái chỗ này là cái bước quan trọng, có nhiều người làm thiện nhiều, làm phước nhiều mà họ đau khổ, họ không được người khác hoan hỉ, không được người khác kính mến nhiều tại vì họ thiếu công đức. Có phước báo nhưng mà thiếu cái công đức vì cái tôi của họ lớn quá, cư công, họ kể công, họ khoe công, thành ra những người nhận cái ân của họ thấy mệt mỏi quá, thấy nặng nề quá, thấy ớn quá "Giờ tôi lỡ, tôi hết chịu, không còn hoàn cảnh nào tôi phải đành nhận thôi, chứ nếu mà tôi có tôi không thể nào nhận nổi, tôi thấy nặng quá".

Mình phải nhớ công đức, tức là làm xong phủi đó, làm xong bỏ xuống, mình bước lên bậc thứ mười rồi mình đứng yên đó, mình không chịu bước lên, mình không bỏ cái bậc thứ mười sao mình bước lên bậc mười một. Mình lên tới lầu ba rồi đứng đó hoài, mình không bỏ lầu ba thì làm sao mình lên lầu tư? Thì cái công đức nó đưa mình lên tới cái chỗ tận cùng của thiện pháp, chí thiện, cực thiện, thánh thiện. Còn mình làm cái phước rồi mình ở lại cái chỗ đó thì mình chỉ thiện pháp thôi, mình không có lên tới chỗ chí thiện được, thiện pháp nó dừng lại, cái thiện pháp đó nó sẽ bị dừng lại một chỗ, nó không có tiến lên được nữa. Cho nên các bậc thánh không bao giờ dừng lại đối các thiện pháp.

"Này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán đứng một chỗ trong các thiện pháp, còn nói gì tổn giảm. Này các Tỳ-kheo, Ta tán thán tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm"(Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (III). Ðứng Một Chỗ)

Đức Phật kêu phải tiến lên, tiến lên, tiến lên, phải bỏ cái lầu ba lên cái lầu bốn, rồi bỏ cái lầu bốn lên lầu năm, cứ vậy lên cái tầng cao nhất. Tòa nhà cao nhất ở Sài Gòn tám mươi mốt tầng mà giờ mới lên có tầng bốn rồi ở lại thì làm sao lên ngắm được cảnh thành phố, toàn cảnh Sài Gòn. Đi cái này không cần tiền nhưng vẫn thấy được toàn cảnh của thế giới, của nhân sinh, của vạn loại trong một cái tâm từ bi, cái tâm trí tuệ, đó là phải nhớ tu cái tâm hỷ, xả, làm rồi vui vẻ, hoan hỉ. Cũng như mình lo cho con "tao lo cho mày, tao đẻ mày ra đó", bữa nào cũng kể công "hồi đó mày bệnh tao lo mày, đưa vô bệnh viện rồi mày ỉa tao cũng hốt", cứ kể hoài, ngày nào cũng gặp cũng kể đi ra ngoài ở, tối ngày cứ kể công hoài ai chịu nổi. Anh chị em cũng vậy, vợ chồng cũng vậy, kể hoài, thành ra phải buông xả, tu cái tâm xả là cái tâm buông xuống cho nó nhẹ, khi đã nhẹ thì khỏe, khi đã khỏe mới lên Cổng Trời được.

Bây giờ quải trên vai là một cái ba lô, xách thêm cái vali, rồi bên đây xách thêm một cái đống đồ nữa thì làm sao leo nổi lên núi cao. Như vậy thấy được gánh nặng của thiện pháp chưa? Tăng thượng giới đức, tăng thượng thiền định, tăng thượng trí tuệ, phước báo và công đức, giới – định – tuệ – phước – đức, nói gọn là phước báo và công đức. Cái phước đó giúp cho mình sanh ra chỗ nào mình cũng lành lặng hết, mình không có bị đui, điếc, câm, ngọng. Mình được sanh ra ở chỗ trung tâm, chỗ văn minh, có văn hóa, có tam bảo, quan trọng nhất là có Phật – Pháp – Tăng ngự trị, chỗ đó gọi là trung tâm.

Sanh phùng trung quốc,

Trưởng ngộ minh sư.

Chánh tín xuất gia,

Đồng chơn nhập đạo

(Sám Quy Mạng - Di Sơn Thiền Sư)

Sanh phùng trung quốc là mình sanh ra ở chỗ trung tâm, đó là trung tâm của Phật, Pháp, Tăng của chánh pháp, là cái phước đức đưa mình tới đó. Mình nhờ lòng tin với Tam Bảo cộng với phước báo, công đức của mình sanh ra chỗ có gia đình đầy đủ, có vật chất, thân thể khỏe mạnh, rồi gặp được chánh pháp. Vì thế đừng có buông gánh nặng của thiện pháp, không được bỏ thời khóa tu ở nhà, không được bỏ thời khóa tu ở chùa là cái ngày thọ bát nửa tháng một lần, không được bỏ những cái khóa tu ở trên núi, lên núi là bắt đầu tăng thượng rồi đó. Như vậy mình sẽ đầy đủ vốn liếng cho một cuộc đi xa của mình, mình đầy đủ hết thất bảo, kim cương, mã não, hổ phách, trân châu, mình xách nguyên một cái túi gia tài của Phật đầy đủ hết, gọi là thất thánh tài, tín – giới – văn – thí – tuệ. Mình đi như vậy đâu có sợ nghèo, sợ đói, sợ khổ, lúc gần chết thì nói "Thôi chào nha, tôi đi nha, tôi xách nguyên cái gia tài của Phật đi theo, mấy bà ở lại nha. Thôi chào tôi đi".

Bây giờ tới giờ mình gần chết, lấy hơi lên "trời ơi chết rồi, bây giờ tôi nhớ là ác nghiệp không mà tôi trùm sò, tôi keo kiệt. tôi không bố thí, vàng đầy trơn, giờ không biết sao đây". Bây giờ nằm đó méo miệng rồi, liệt nửa người rồi, nói chuyện không được, muốn đem cái đó đi cúng chùa, cúng cho thầy xây đạo tràng cho người ta tu mà nói không được, nằm liệt luôn rồi bán thân bất toại, thậm chí là giống như thực vật hoặc nằm đó mê man không còn nhận thức gì hết. Có những vị như ông thầy giáo dạy chữ Hán có bà vợ là nằm mười mấy, hai chục năm, đó đó là thiếu phước. Còn thiếu đức là sao? Thiếu cái công đức là sanh ra đẹp đẽ, giàu có, sung sướng, quyền lực này kia nhưng cái tâm rất là cao ngạo, ngã mạn, kiêu căng, hống hách.

Cổ đức ngày xưa nói phước báo là tai họa của đời thứ ba, tức là đời này mình làm phước, bố thí, cúng dường rất nhiều thì đời sau hưởng cho đã, hưởng hết trong một cái tâm kiêu căng, ngạo mạn, trong một cái tâm ta đây, bản ngã thì đời thứ ba đọa sâu xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cho nên phước thì tốt nhưng mà không có được chánh kiến, chánh tín thì nó đưa mình tới cái tai họa. Vì thế làm phước không chưa có đủ mà phải tu tập cái trí tuệ, cho nên mới gọi là phước tuệ song tu, bi trí song vận giống như chim có hai cánh, giống như xe có hai bánh thì mới chạy đường dài, mới bay cao được.

Con chim có một cánh làm sao bay? Chiếc xe có một bánh làm sao chạy đường dài được cho nên phước huệ song tu. Những cái ngày trở về chùa tu là những cái ngày tu trí tuệ, cố gắng đừng có bỏ, không được bỏ, bỏ ăn được, bỏ đi chơi được, đừng có bỏ tu, đừng có bỏ nghe pháp, đừng có bỏ thiền quán. Bỏ cái này mai mốt chết nằm đau khổ lắm, nằm đó nuối tiếc, đau đớn, quằn hoại, khổ sở, hoảng loạn, kinh hoàng, sợ hãi cho nên hãy nhớ cái gánh nặng của thiện pháp mà cố gắng thực hành.

Sắc; thanh; hương; vị; xúc là năm thứ làm ham muốn, làm cho chúng ta lớn mạnh lòng tham muốn, gọi là năm dục trưởng dưỡng, năm thứ nuôi lớn lòng tham muốn của chúng ta. Sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, đụng chạm êm ái, trơn láng, năm cái này hấp dẫn lòng dục của mình, kích thích lòng ham muốn của mình gọi là năm dục trưởng dưỡng, năm thứ nuôi lớn lòng tham muốn. Còn cái ý nghĩ mà tham, thích, khoái, muốn những cái đó là dục, còn năm cái đó là thức ăn nuôi lớn lòng dục, chúng ta nhớ kỹ, cái này rất sâu sắc chỉ trong kinh Nikāya mới nói rõ, còn các sách dở sau này nói ngũ dục là năm cái đó không có trúng.

Năm cái sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, đụng chạm, xúc chạm êm ái làm cho kích thích lòng tham muốn của mình, là cái đối tượng ở bên ngoài. Nhưng cái suy nghĩ, cái cảm giác, cái nghĩ tưởng bên trong mà khoái, mà thích, mà muốn thì cái này mới là cái dục, còn năm cái này là năm cái đối tượng để cho nó muốn, năm cái này làm cho mình lớn cái lòng dục lên thêm. Thí dụ mình ở trong nhà bình thường đâu có muốn đâu nhưng tự nhiên mình đi ra siêu thị có đồ đẹp thì lúc đó mình có muốn không? Lúc đó muốn tại vì mình thấy mấy cái đồ này đẹp quá cho nên những cái thứ đó kích thích lòng ham muốn của mình, hấp dẫn lòng tham muốn của mình. Như vậy trong tâm mình những cái suy nghĩ tham muốn đó là dục, ngoài đối tượng là những cái thứ mà nó tham muốn đó là cái thức ăn của nó, cái đối tượng ở bên ngoài.

Thành ra cái này chỉ có kinh Nikāya mới chỉ cho mình thấy thôi, nếu mình không có nhận diện ngũ uẩn thì làm sao mình biết được những cái thọ; tưởng; hành, những cái suy nghĩ, cảm giác, hình bóng mà nó tham, nó thích, nó khoái ở bên trong, cái dục nằm ở trong đó. Mình không có nhận diện ngũ uẩn là mình không có biết được cái dục nó sanh khởi, nó an trú, nó vận hành, nó hoạt động, xâm chiếm, áp đảo, nó dẫn dắt, nó sai sử, sai khiến mình như thế nào. Mình không có thấy được và tất cả chúng sanh là không có thấy, không có biết cái trí tuệ về dục và sáng nay là chúng ta nói ba loại trí tuệ, vị ngọt của dục, sự nguy hiểm và tác hại của dục và sự xuất ly, thoát ra khỏi dục. Vài ngày cuối khóa tu ở trên núi con đã cho cái bài thiền quán, chúng ta nghe kỹ bài thiền quán đó ở trên Linh Quy, đó là buổi kết khóa ngồi ở bên cổng trăng Thánh Pháp Viện.

VI. Tu tập tâm

Cái buổi sáng nay là cái buổi diễn thêm ra cái phần thứ hai để cho chúng ta rõ thêm nữa, những cái bài này là rất là thâm sâu, chúng ta phải nghe tới nghe lui nhiều chục lần, nhiều trăm lần, chúng ta mới thấy được là cái nguy hiểm và cái tác hại, những cái thứ làm cho mình đau khổ, nó tiềm phục, tiềm tàng, tiềm ẩn ở bên trong cái cảm giác, nghĩ tưởng của mình. Cho nên người tu sống viễn ly, Đức Phật nói là các ngài đi vào trong rừng, đi lên trên núi là cắt hết năm cái thức ăn của dục, không cho nó tiếp xúc những cái sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm hấp dẫn, vị ngon, xúc chạm này, đụng chạm này kia, cắt năm cái đó thì các ngài đối diện với pháp trần ở trong thôi thì cái này nó nhẹ. Tại vì không cho nó ăn nữa nên nó không có lớn mạnh, phát triển được nữa, không cho cái dục nó ăn nữa.

Cái tư tưởng ham, thích, khoái đó phải có món ăn, mình nuôi cho nó lớn, mình cứ gặp cái đồ đẹp hoài thì nó phải khoái, gặp người đẹp hoài nó phải thích, gặp món ăn ngon hoài thì thèm ăn, cứ xúc chạm nó bị chìm đắm vô trong cái dục ái, cái tham ái, cái ái dục. Bây giờ cắt hết năm cái này, cắt hết sắc; thanh; hương; vị; xúc, cắt hết mọi tứ, vô trong thất đóng cửa lại, vô trong rừng ở, lên trên núi ở, vô trong phòng đóng cửa lại nhập thất một tuần lễ, cắt thức ăn của dục thì lúc đó còn đối diện với pháp trần ở phía sau. Cái này Đức Phật không có nói nó là thức ăn, là năm dục trưởng dưỡng mà cái này Đức Phật nói là pháp trần, cái này là suy nghĩ bên trong là dục đó, cái pháp này nó gồm có thọ; tưởng; hành, là cảm giác, hình bóng, suy nghĩ mà cái cảm giác, hình bóng, suy nghĩ muốn, nó thích, nó khoái thì cái đó là dục, còn năm cái kia là đối tượng nó thích, nó khoái.

Bây giờ mình muốn ăn bún riêu thì cái tô bún riêu đó là cái sắc, là cái đối tượng ở ngoài, cái ý ham muốn thích là cái dục ở bên trong. Mình thích ăn bún riêu mà cứ để bún riêu ngay trước mặt, cái mùi bốc lên nó bay vô mũi thì phải vô ăn thôi, làm sao viễn ly được, làm sao rời xa được. Vì thế sự tu ở trong kinh Nikāya là sự thực tập viễn ly, rời xa rất quan trọng, cắt cái duyên tiếp xúc của nó, không cho nó ăn nữa vì cho nó ăn thì nó mập thây lên, nó tăng trưởng, phát triển, nó lớn lên tấn công mình, cái dục trở thành lực sĩ rất mạnh mà cái tâm của mình thì yếu, cái tâm tu của mình ốm yếu, suy dinh dưỡng, suy nhược thì làm sao chống lại dục lực sĩ, lực sĩ dục, lực sĩ tham dục cho nên cắt sắc; thanh; hương; vị; xúc ở ngoài không cho nó ăn nữa, bỏ đói nó. Phải bỏ đói để giảm cái sức của nó, giảm bớt cái sự tham muốn của nó, giảm xuống từ từ, chỉ còn có cái pháp trần tức là chỉ còn suy nghĩ, những cái hình bóng thì mình như lý tác ý vô phá vô, quán hố than hừng, quán như là rắn độc, quán như khúc xương khô, đánh tới tấp.

Các ngài đánh tận cùng thiền quán diệt luôn bên trong rồi chứng thánh quả A-la-hán, tối thiểu cũng được Nhập Lưu, Dự Lưu thánh quả thứ nhất. Vì thế cần phải cắt hết năm dục trưởng dưỡng bên ngoài, không cho nó nhìn thấy sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm hấp dẫn gì nữa, không cho tiếp xúc gì hết, ở riêng, ở yên tĩnh một mình rồi nhìn lại bên trong thọ; tưởng; hành, đánh phá nó. Dùng những phép quán trị cái tâm, huấn luyện cái tâm, huấn luyện cái tâm, giáo dục cái tâm, đánh phá cái tâm, diệt tận những cái suy nghĩ ham thích, khoái, muốn, "mày muốn cái giống gì? Mày muốn cục xương phải không? Mày muốn cái khúc xương khô phải không?". Mình rầy cái tâm "mày khổ chưa đủ phải không? Bây giờ mày muốn nhảy xuống vòng sông để mày chết chìm ở dưới, mày chết đói ở dưới phải không? Suốt ngày mày chạy đi kiếm khúc xương khô hoài phải không?".

Mình rầy cái tâm, mình la cái tâm, mình mắng cái tâm, mình trị cái tâm "già cả rồi còn dục cái giống gì nữa?", trị cái tâm, rầy cái tâm, quở cái tâm, trách cái tâm, mắng cái tâm, huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ cái tâm thì như vậy đó là thiền quán. Và chính bằng phương pháp này mà các bậc hiền thánh thành tựu đạo quả, chúng ta mới thấy một người tu rất cần thiết sự viễn ly, chính vì vậy mà quý vị thấy những ngày giảng con mới có mặt ở đây, những ngày không có giảng là con ở trong rừng, ở trên núi là vì thực hành theo lời dạy của Đức Phật. Tất cả các vị cư sĩ, xuất gia đều phải như vậy hết, lâu lâu mình phải ở nhà, ở yên hai ba ngày, năm ngày một tuần.

Mình tập cắt mấy cái thức ăn của tham muốn đó, cắt nó rồi mình nhìn bên trong, nhìn ra bên trong thì mình sẽ đọc được cái quyển tâm kinh, đọc được cái quyển kinh ngũ uẩn, đọc được những cái cảm giác, cái hình bóng, cái suy nghĩ mà nó quậy, những cái ý nghĩ, những cái hình bóng, những cái suy tư mà nó ngấm ngầm, lắng nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động. Cái đó làm cho mình khổ, nó trốn ở trong tâm mình đó, không phải ở ngoài làm gì mình khổ đâu.

Người ta để nguyên cái cục tiền năm trăm xanh lè mà mình không có tham, cái này là đống giấy chứ có gì đâu, cái này tiền của ai mình chụp vô là tai họa thì nó có hại mình được không? Trong tâm mình không có tham, còn có người nhìn thấy rồi lấy, công an kêu rồi còng số tám vô tay, cho nên cái quan trọng nhất ở kinh tạng Nikāya là nhiếp phục dục tham và chế ngự dục tham đối với năm cái dục trưởng dưỡng. Thước đó sự tu của mình ở chỗ mình có thể nhiếp phục, chế ngự những cái ham muốn ở mức độ nào là sự thành công của mình, là cái thước đo ngay chỗ đó. Mình cứ chạy theo sắc đẹp hoài mình đau khổ không? Còn trẻ mình chạy theo người yêu, lớn lên chút mình chạy theo cái nhà đẹp, chạy theo chiếc xe đẹp, mình chạy theo địa vị cao rồi mình chạy theo cảnh đẹp, mình chạy riết tìm cái đẹp cuối cùng sụp xuống cái hố gặp một người hết sức đẹp là bộ xương.

Đó là chân tướng của nó, hãy nhìn thấy được những cái ngấm ngầm đang hoạt động trong tâm thức của mình và nhiếp phục, chế ngự, trị nó, ngăn chặn nó lại, đạp thắng lại. Bây giờ chiếc xe chạy trên đèo Bảo Lộc cả trăm cây số một giờ mà không có thắng thì đi dâu? Giới là cái thắng, phải có điểm dừng lại trong tâm của mình, không dừng lại là khổ lắm, là chạy xuống lỗ, chính là cái huyệt mộ, chạy vô lò thiêu, chạy vô hòm. Mỗi khi muốn chạy theo ái, theo dục thì mình la rầy cái tâm như vậy, "mày chạy đi đâu?".

Có con chó nhỏ đang gặm khúc xương thì con chó to này đến sủa gầm gừ, giành lấy khúc xương đó. Con chó to này ngoạm lấy khúc xương đi qua cây cầu có con sông phía dưới, nó nhìn thấy một con chó đang gặm khúc xương to hơn của nó nên nó lại muốn giật lấy khúc xương đó. Nó nhảy xuống sông để giành lấy khúc xương đó thì cuối cùng khúc xương trong miệng bị mất, cái mạng cũng không còn, chết chìm giữa dòng nước. Tất cả chúng sanh có hình ảnh giống như vậy, năm dục này chỉ là khúc xương khô thôi, không có thịt ở trong đó. Tại vì mình thấy nó giống như là vui nhưng mà nó có vui không? Bao nhiêu cái phiền não, khổ đau ở trong, đó là cái khúc xương khô vậy mà cái mình có thì mình không hạnh phúc, người kia mới hạnh phúc, cái chỗ mình ở mình thấy không hạnh phúc, chùa này không được phải đi chùa kia, nhà này không được phải muốn nhà kia, chồng này không được phải muốn chồng kia, thân này không được phải muốn cái thân kia đẹp hơn.

Tối ngày cứ sống với cái ảo tưởng, mình cứ muốn hoài, mình cứ tìm hoài, mình cứ kiếm hoài, mình cứ bất mãn hoài, mình không có hài lòng cho nên chữ khổ trong đạo Phật là bất toại nguyện. Đó là không có hài lòng, không có vừa lòng, bất mãn, cứ muốn hoài như vậy rồi cuối cùng chết trong những cái nó muốn, chuyện này làm chưa xong, chuyện kia còn dang dở, chuyện nọ chuẩn bị làm. Hỡi ơi thần chết đến, bất thình lình cái chết đó ập tới, bác sĩ gửi tờ giấy ung thư giai đoạn cuối, cầm cái tờ giấy rụng rời tay chân, bủn rủn tay chân, số lượng người ung thư của nước ta bây giờ là rất là nhiều cho nên đừng có mãi mê chạy theo những cái ham, cái muốn, cái thích, cái khoái rồi bất thình lình cầm trên tay cái thư mời của Diêm Vương.

Có anh chàng này chết xuống dưới gặp Diêm Dương, Diêm Dương hỏi:

Ta có gửi thư ngươi có biết không?

Dạ con đâu có biết bức thư nào đâu. Ngài gửi cho con bức thư nào?

Ngươi có thấy một người già đi lụm cụm, tóc bạc, da nhăn, mắt mờ, tai điếc, lưng còng gối mỏi, ngươi có nhìn thấy không?

Dạ con có thấy.

Đó là ta gửi bức thư rồi đó, ta gửi cái bức thư già đó.

Ngươi có cố gắng làm các việc lành việc thiện không, công đức không?

Dạ con buông lung phóng dật, con ham chơi, con không có lo tu.

Ngươi có thấy một người nằm bệnh trong đống phân và nước tiểu của mình không? Đau đớn, quằn quại, kêu la không? Hôn mê bất tỉnh không? Bán thân bất toại, bại liệt, đột quỵ không? Ngươi có nhìn thấy không?

Dạ con có thấy.

Đó là ta gửi bức thư đó. Hồi nãy là bức thư già, bây giờ là bức thư bệnh.

Dạ con có thấy.

Nếu thấy sao ngươi không có mà làm các việc lành, việc phước, công đức tu tập?

Dạ con buông lung phóng dật, con mê chơi, con ham dục, con ham hưởng thụ.

Ngươi có thấy một người tắt thở nằm như một khúc cây, xung quanh là những người thân thương khóc lóc, kêu gào thảm thiết và người này được đưa vào hòm, đưa vào nghĩa trang, đưa ra nghĩa địa trong nước mắt, trong những tiếng khóc đau đớn, quằn quại?

Dạ con có thấy.

Ngươi có cố gắng làm điều thiện việc lành không?

Dạ con buông lung phóng dật, con ham chơi, mê hưởng thụ dục lạc.

Đó là ta gửi thư cho ngươi, đó là bức thư chết.

Chết, sanh, già, bệnh chết là bốn bức thư. Bức thư sanh mình đã nhận rồi, bức thư già là chuẩn bị nhưng không phải ai cũng được trải qua bốn chữ sanh, lão, bệnh, tử vì có người chưa được sanh ra đã tử hoặc là sanh tử cùng lúc luôn. Có người đâu có đợi tới già mới chết, bây giờ quý vị thấy bao nhiêu những cái bệnh của người trẻ, như vậy là chưa cần đợi tới bốn bức thư cho nên tranh thủ thời gian tinh tấn trong sự tu học, mỗi ngày phải nghe pháp, quán chiếu, tu tập, làm điều thiện, cố gắng làm càng nhiều càng tốt, đừng có hà tiện việc thiện, đối với việc thiện đừng có hà tiện, đối với những việc công đức cố gắng tận lực mà làm, đối với sự tu tập chánh pháp đem cả cái tâm huyết, sinh mạng của mình để tu. Lỡ như quý vị đang lúc tu mà quý vị ra đi là đi thẳng lên, một là thành chư thiên, hai là thành thánh đệ tử thiên, tức là chư thiên thành tựu thánh quả.

Cố gắng lên, mạnh mẽ lên, tinh tấn lên, nỗ lực lên, quyết tâm lên để thôi không kịp đò chiều chuyến chót. Mình đi sau Đức Phật 2600 năm mà giờ này mình còn nghe những bài kinh nguyên gốc, nguyên chất, nguyên thủ như vậy để mình tu học là cái phước báo, công đức của mình rất là to lớn, rất là thâm sâu cho nên đừng có bỏ qua cơ hội cuối cùng để lên chiếc thuyền Bát Nhã này. Kính chúc cho tất cả quý vị mau lẹ, nhanh bước lên con thuyền Bát Nhã đò chiều chuyến chót.

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sanh

Đều trọn thành Phật đạo.

./.