SỨC SỐNG CỦA NGƯỜI TU 5
SỨC SỐNG CỦA NGƯỜI TU 5
KINH NIỆM XỨ GIẢNG GIẢI
QUÁN TÂM
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Quán tâm trên tâm PAGEREF _Toc112061055 \h 1
II.Các trạng thái của tâm PAGEREF _Toc112061056 \h 4
1.Tâm thâu nhiếp, tâm tán loạn PAGEREF _Toc112061057 \h 4
2.Tâm nhỏ hẹp, tâm rộng lớn PAGEREF _Toc112061058 \h 8
3.Tâm hữu hạn, tâm vô thượng PAGEREF _Toc112061059 \h 13
III.Quán tánh sanh diệt trên tâm PAGEREF _Toc112061060 \h 14
Quán tâm trên tâm
Chúng ta đã được nghe Đức Phật phơi bày sự thật về thân, về cảm thọ, hôm nay chúng ta tiếp tục được nghe Đức Thế Tôn khai thị về sự quán chiếu nội tâm.
Này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm?
Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo,
Với tâm có tham, tuệ tri: "Tâm có tham";
Hay với tâm không tham, tuệ tri: "Tâm không tham".
Hay với tâm có sân, tuệ tri: "Tâm có sân";
Hay với tâm không sân, tuệ tri: "Tâm không sân".
Hay với tâm có si, tuệ tri: "Tâm có si";
Hay với tâm không si, tuệ tri: "Tâm không si".
Hay với tâm thâu nhiếp, tuệ tri: "Tâm được thâu nhiếp".
Hay với tâm tán loạn, tuệ tri: "Tâm bị tán loạn".
Hay với tâm quảng đại, tuệ tri: "Tâm được quảng đại";
Hay với tâm không quảng đại, tuệ tri: "Tâm không được quảng đại".
Hay với tâm hữu hạn, tuệ tri: "Tâm hữu hạn".
Hay với tâm vô thượng, tuệ tri: "Tâm vô thượng".
Hay với tâm có định, tuệ tri: "Tâm có định";
Hay với tâm không định, tuệ tri: "Tâm không định".
Hay với tâm giải thoát, tuệ tri: "Tâm có giải thoát";
Hay với tâm không giải thoát, tuệ tri: "Tâm không giải thoát".
Như vậy vị ấy sống quán tâm trên nội tâm; hay sống quán tâm trên ngoại tâm; hay sống quán tâm trên nội tâm, ngoại tâm. Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm; hay sống quán tánh diệt tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. "Có tâm đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Sự tu học của chúng ta khó là tại vì mình quen hướng ngoại. Sự hướng ngoại của chúng ta rất sắc bén, thuần thục, nhuần nhuyễn và quen thuộc. Chính vì vậy, khi ngồi lại tu, nhìn lại tâm mình là điều hết sức khó vì chúng ta đã quen nhìn ra bên ngoài. Đức Phật nói rằng:
“Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói. Và tâm này bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1, Chương I. Một Pháp, VI. Phẩm Búng Ngón Tay, bài kinh Tâm Ðược Tu Tập)
Ô nhiễm từ bên ngoài vào là ô nhiễm từ những hình sắc, những âm thanh, những mùi vị, những sự tiếp xúc – những thứ này làm cho tâm chúng ta bị ô nhiễm. Nếu không giữ gìn, bảo hộ và hộ trì căn thường xuyên, thường trực thì thói quen của chúng ta là sự buông thả, thả lỏng sáu căn. Và quán tâm là bước đầu tiên cần nhìn lại trong sự tu tập. Đức Phật luôn nói chúng ta hãy vào khu rừng, vào căn nhà trống, dưới gốc cây, ven suối, ở bãi đất trống, nơi xa vắng ngồi kiết già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, đó chính là bước đầu của sự quay trở lại, từ đó, chúng ta mới phát hiện ra các loại tâm. Trong Kinh Niệm Xứ, Đức Phật tóm tắt cho chúng ta thấy những dạng tâm: tâm có tham, có sân, có si; hay là tâm không có tham, không có sân, không có si…
Phần trước, chúng ta đã nhìn thấy các cảm thọ, và chữ tâm ở phần này tức là tưởng, hành, thức. Khi đối diện lại với tự tâm của mình, chúng ta sẽ thấy sự thật hết sức khủng khiếp. Hằng ngày, tâm của mình có rất nhiều hình bóng, suy nghĩ, nhận thức theo chiều hướng của tham, dục, ái, nóng giận, hơn thua, sân hận, si mê và bản ngã. Cho nên, khi để ý lại nội tâm, ta mới thấy bên trong có rất nhiều hình bóng. Nhiều người mới tu khi nhận diện tưởng uẩn thì họ nói không có tưởng, nhưng thật ra không phải, vì cái nhìn đó là nhìn ra bên ngoài. Khi chúng ta khép mắt nhìn xuống, quay trở về bên trong thì mình mới phát hiện ra được những hình bóng trong đó liên tục. Chính vì chỗ không thấy, không biết các tưởng, các hành, các nghĩ tưởng nên sự vận hành của ngôn ngữ, của hành động, của tâm thức luôn ở trong trạng thái không hiểu rõ, không thấy rõ, không biết rõ, đó là trạng thái của vô minh, của si.
Khi thường trực, thường xuyên để ý vào bên trong thì chúng ta sẽ thấy rất nhiều hình ảnh, rất nhiều lời nói huyên thuyên, thì thầm, rỉ rả suốt ngày đêm; thấy những hình bóng của tham, của dục, của ái xuất hiện và xâm chiếm, áp đảo. Cho nên, khi có tham xuất hiện, mình phải rõ biết nội tâm đang có tham, sự rõ biết đó là sự chánh niệm tỉnh giác. Sau khi biết nội tâm có tham thì không phải chỉ biết đến hình bóng tham, suy nghĩ tham rồi thôi, mà phải tuệ tri có tham và Như Lý Tác Ý, sử dụng một hình ảnh khác để dẹp phá hình ảnh đó.
Ví dụ, trong tâm có hình ảnh về tham ái, dục vọng sanh khởi, những suy nghĩ chạy lòng vòng, đương nhiên là cảm giác có mặt. Lúc đó chúng ta đem hình ảnh bộ xương, hình ảnh giòi bò lúc nhúc, hình ảnh của 32 thể trược: gan, phèo, phổi,… để đánh phá hình bóng kia. Như vậy là chúng ta dùng hình ảnh này để đánh phá hình ảnh kia, làm cho hình ảnh tham, ái, dục tan biến, không còn tồn tại hiện hữu nữa, mà bị triệt tiêu, diệt tận. Đó gọi là tuệ tri và cũng gọi là tinh cần, nhiệt tâm, tinh tấn tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp. Như vậy, đầu tiên là phải thường xuyên để ý, trở về bên trong.
Bước thứ hai, khi để ý thấy xuất hiện tham, sân, si thì phải biết có hình bóng, suy nghĩ đó. Sau khi biết, phải dùng nhiều phương tiện, nhiều cách thức Như Lý Tác Ý để quán chiếu, quán tưởng, đánh phá, trừ diệt. Khi đánh phá, trừ diệt có khi ta thắng nhưng cũng có lúc bại, nhưng sự nhận biết được tham, sân, si đã là giai đoạn trí tuệ. Sau khi biết được thì công phu tác ý, quán chiếu của mình sẽ dần dần được thành tựu.
Có những người mới tu trong thời gian ngắn thì bị sốc vì không ngờ bên trong tâm lại có nhiều phiền não, dục, tham, ái như vậy. Nhưng đừng lo, đừng sợ vì sự thấy biết của mình đã là một bước của trí tuệ, tiếp theo đó là giai đoạn cố gắng công phu quán chiếu, tác ý thường xuyên và liên tục. Ban đầu thì những giặc phiền não rất mạnh, nhưng kế đó dần dần sẽ giảm, sau đó là 50 : 50, rồi cũng có những lúc chúng ta quật ngã được nó trong sự chiến thắng, trong sự nỗ lực đánh bại kẻ thù của nội tâm.
Bậc A-la-hán gọi là sát tặc, giết được kẻ giặc – giặc tham, giặc sân, giặc si, giặc vô minh và giặc bản ngã. Chúng ta cũng vậy, bước trên con đường tu tập này thì mọi người đều là những dũng sĩ, những anh hùng chiến đấu trong trận chiến quyết liệt mà lặng lẽ, âm thầm nơi nội tâm. Cho nên sau khi biết có tham thì phải ra sức, ra công để đánh phá; biết có sân thì không chỉ dừng lại ở đó mà phải liên tục tác ý trải tâm từ, trải lòng thương và dẹp đi những hình ảnh, suy nghĩ lầm thầm, làm cho chúng dừng lại, lắng xuống, yên tịnh.
Các trạng thái của tâm
Ở đây, Đức Phật chia ra 8 cặp trạng thái của tâm:
Tham hay không tham;
Sân hay không sân;
Si hay không si;
Thâu nhiếp hay tán loạn;
Rộng lớn hay nhỏ hẹp;
Hữu hạn hay vô thượng;
Định hay không định;
Giải thoát hay không giải thoát.
Tám cặp này bao trùm hết tất cả trạng thái của tâm. Tất cả tâm hành của mình đều không ra ngoài 16 trạng thái này, tức là 8 cặp phạm trù. Chúng ta đã tìm hiểu khi tham, sân, si phải dùng pháp gì để tác ý, dùng pháp gì để quán chiếu, hãy luôn luôn ghi nhớ và nhìn trở lại để hành trì.
Tâm thâu nhiếp, tâm tán loạn
Kế tiếp, đối với tâm được thâu nhiếp hay tâm bị tán loạn thì chúng ta phải biết tâm mình được thâu nhiếp hoặc tâm bị tán loạn mình cũng phải biết. Nếu không quay lại để quán tâm nơi tâm thì khi tán loạn mình sẽ không biết mà nhập làm một với tâm tán loạn đó. Còn khi để ý, dò xét, quán chiếu thì giống như chúng ta đứng ra để nhìn lại tâm của mình. Vì vậy, khi có một sự quán chiếu, dò xét, để ý, để tâm, dòm ngó, xem xét thì lúc đó có một bước để tách tâm mình ra khỏi những trạng thái đó. Như vậy mới gọi là quán tâm. Còn lúc tâm buông thả, buông lung, tán loạn mà không có sự dò xét, để ý thì sẽ nhập cuộc với nó, thậm chí ngay khi trên bồ đoàn chứ không phải ở ngoài. Khi suy nghĩ lung tung, nếu không có sức tự chủ, không có sức tuệ quán thì mình sẽ đi theo suy nghĩ đó. Đi theo một hồi thì mình mới nhận ra là đi xa quá, nên mới quay lại.
Cho nên, sự quán tâm trên tâm không phải đơn giản, chỉ cần một phút không chánh niệm tỉnh giác, không đứng ở vị trí của sự quán chiếu thì lúc đó chúng ta đồng hóa mình với những thọ, tưởng, hành – chúng dẫn mình đi. Cụm từ “không để nó dẫn mình đi” rất quan trọng, chúng ta không được để thọ, tưởng, hành dẫn đi. Chúng ta có thường bị dẫn đi không? Khi phát hiện được thì mình có quay lại không? Và thường đến lúc nào mình mới phát hiện?
Chúng ta thường nói nhận diện ngũ uẩn, nhận diện cơn sân nhưng thật ra thường thường là nhận diện ở phía sau, tức là nó khởi lên rồi mình mới nhìn lại biết lúc nãy có sân, có tham, đó là mình ở phía sau đuôi, là nhận diện của quá khứ. Cho nên, một sự nhận diện tâm gọi là sắc bén, chánh niệm tỉnh giác, thường xuyên và liên tục là bắt chụp được những khoảnh khắc, giống như sư tử vồ mồi. Khi sư tử đi săn, nó đi rất nhẹ, con mồi không hay biết, đến khi sư tử vồ, chụp lấy thì con mồi không thoát được. Tuệ quán sắc bén của chúng ta cũng phải giống vậy để nắm bắt được những hình bóng giết người này. Đức Thế Tôn gọi là sát nhân – kẻ giết người: sắc là kẻ giết người, cảm giác là kẻ giết người, những hình bóng trong tâm là kẻ giết người, những suy nghĩ lầm thầm là kẻ giết người, sự rõ biết là kẻ giết người. Nếu không có sự chánh quán một cách mạnh mẽ thì mình sẽ bị nó giết.
Hôm qua, có một tin hết sức xót xa, một đứa con mới chỉ 17 tuổi nhưng giết mẹ để lấy tiền của, tài sản. Đứa con này rủ thêm một người bạn để giết chết mẹ ruột của mình. Càng ngày thì những vụ việc như vậy càng nhiều. Thật là khủng khiếp, ghê rợn, đau đớn, đau xót! Bản thân người đó không biết rằng chính những cảm giác, những suy nghĩ ham muốn đó giết họ, giết hết tất cả sự hiếu thảo, ân đức, nghĩa tình. Cho nên phải hết sức thận trọng trước những cảm giác, nghĩ tưởng. Chúng ta đã học, sắc này rất ác độc, là kẻ giết người. Học vào dòng pháp Nikāya rồi sẽ thấy được nhiều điều bất ngờ. Chúng ta cứ nghĩ là do người khác ở ngoài hại mình, nhưng không phải, chính do tâm mình hại mình.
Đức Thế Tôn nói chúng sanh bị giết chết trong chính tư tưởng của họ. Những hình bóng của sân hận thúc giục bên trong, nếu người này không biết, không thấy, không phát giác, không phát hiện, không nhiếp phục được mà đi theo những hình bóng, những lời nói lầm thầm, những cảm giác thúc giục thì sẽ phát ra những ngôn ngữ, hành động dẫn đến tội ác. Cho nên những hình bóng hết sức nguy hiểm, vì vậy, phải nhìn kĩ những hình bóng trong nội tâm. Đó là những hình bóng giết người, những lời nói giết người. Những hình bóng đó làm cho mình đau khổ, sầu, bi, ưu, não, bực bội, tức tối, sầu hận, thúc giục trong tâm mình phải đi, phải nói, phải làm.
Thế nên, sự quán tâm trên tâm là nhìn ra tất cả hình bóng, đứng ra khỏi để nhìn trở lại, kiểm soát, quản lý, huấn luyện và giáo dục tâm mình. Ví dụ: trong tâm có hình bóng sân hận, tức tối, ta đây thì lúc đó mình phải lấy hình bóng quỳ mọp xuống lạy để đánh phá hình bóng ngẩng đầu, hất mặt lên. Đó chính là lấy hình bóng này đánh phá hình bóng kia, làm cho tâm mình được lắng dịu, dễ chịu, hiền lành, hiền hòa, hiền dịu, hiền đức, hiền hậu, hiền lương, tập theo hạnh của Hiền Thánh.
Hãy đem hình ảnh nùi giẻ rách, hình ảnh của người hèn hạ, thấp hèn nhất trong cuộc đời này để đánh phá những hình ảnh khác. Trước hình ảnh Phật tử lên cúng dường Trai tăng, đảnh lễ, đưa bao thư, thì mọi người phải nhớ đến câu “lạy ông đi qua, lạy bà đi lại”, phải nhớ mình là kẻ ăn xin, không được hãnh diện trên hình thức người ta quỳ lạy, dâng cúng. Không được cho phép bản thân hãnh diện, bản ngã ngay lúc đó mà phải thấy rằng mình là kẻ ăn xin, sống nhờ vào sự bố thí cúng dường của đàn na tín thí. Lấy hình ảnh đó để phá hình bóng thân kiến ảo tưởng về cái tôi trong tâm mình. Dùng hình bóng này để dẹp hình bóng kia; dùng tưởng của thiện để diệt tưởng bất thiện; dùng tưởng của Thánh trí huệ để dập phá tưởng của vô minh, si ám; dùng tưởng vô ngã để phá tưởng hữu ngã; dùng tưởng bất tịnh để đánh đuổi tưởng tịnh; dùng tưởng khổ để phá vỡ những tưởng, những tư, những suy nghĩ, suy tưởng, suy tư về lạc, vui sướng và hạnh phúc.
Chúng ta có những buổi thiền quán về ngũ uẩn là để thấy được tính chất khổ trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Những hình bóng, lời nói, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức đó đưa vào tâm mình để tưới tẩm, gội rửa, châm dầu vào ngọn đèn Thánh trí tuệ Năm uẩn. Làm cho ngọn đèn tỏa sáng, soi rọi những bóng tối hắc ám, âm u trong những ngõ ngách mà trước đây mình cho rằng là đẹp đẽ, thường còn, vui sướng, sạch sẽ và hạnh phúc. Cho nên phải nhớ pháp quán tưởng hết sức quan trọng. Khi quán thì sẽ có tưởng, nên gọi là quán tưởng, mà quán tưởng là phải căn cứ trên sự thật chứ không phải tưởng ra cái không có. Những tưởng của mình phải tương ứng với pháp, tương ứng với chân lý, tương ứng với Thánh trí, tương ứng với Thánh đạo, đó gọi là thiền quán, quán tưởng. Không phải chỉ cần mình kêu những hình bóng sân hận, dục đừng khởi lên nữa là nó sẽ vĩnh viễn đi luôn, không đơn giản như vậy. Mà chúng ta cần phải đưa vào những hình bóng như cửu tưởng, quán tứ đại, 32 thể trược để đánh phá những hình bóng của vô minh, tham ái và chấp thủ.
Một điều ghê gớm nữa chính là hành uẩn, nó rất khủng khiếp, nó giết chết mình. Chỉ cần một câu nói của ý hành là chúng ta có thể bỏ tu. Khi quán bất tịnh, hành uẩn nói “vẫn thấy là tịnh”, nghĩ rằng mình sẽ không quán được, như vậy là xong, coi như bỏ hẳn sự tu. Một câu nói của hành uẩn mà chúng ta dạ vâng trước nó là mình đi theo nó rồi không tu bất tịnh quán. Vô cùng dễ sợ đối với hành uẩn. Cho nên, khi nhận diện ngũ uẩn, cần có một sự chánh niệm tỉnh giác hết sức tinh anh, sáng suốt. Bằng không những lời nói của hành uẩn rất ngọt ngào, ngọt như đường cát, mát như đường phèn, rất dễ nghe, dễ thương và mình sẽ trở thành người dễ bảo của nó, nó kêu sao thì mình cũng răm rắp nghe theo, thế nên cứ mê muội, đau khổ, phiền não. Hễ quán tới vô ngã, hành uẩn nói: “Sao là vô ngã được, thân này thấy rõ ràng như vậy thì làm sao là vô ngã được”, nghĩ vậy là coi như xong. Vì vậy, phải nhận thức được: “Hành uẩn, mi là kẻ giết người, mi là thứ vô minh, si ám, ta không nghe lời mi đâu. Ta nghe lời của Đức Phật, ta nghe lời của Thánh Pháp, Thánh Trí.” Đó là chúng ta nhìn thấy được tâm, biết quán tâm ở trên tâm, tức là thấy được những hình bóng, nghĩ tưởng của mình.
Hành uẩn lầm thầm rất đáng sợ, cho nên, phải lắng nghe thật kĩ xem có lời nói gì bên trong, từ đâu phát ra lời nói đó. Đây là mức độ đào sâu hơn, vì không phải tự dưng mình phát ra suy nghĩ đó, mà bên trong là một sự chấp ngã, tham ái, muốn được thoải mái.Ví dụ: lần đầu thực hành chánh quán thọ thực, mình nói: “Sao ăn khổ quá vậy!”, chắc chắn ngày đầu tiên sẽ nói vậy, nhưng khi tập quen rồi thì chúng ta sẽ thấy lạc, thấy hạnh phúc. Bởi vì khi ăn mà cảm nhận được thân tâm; khi ăn mà nhìn rõ được hết tất cả trong ngoài các pháp; khi ăn mà tuệ tri, tỏ tường hết tất cả những gì ở trong, ở ngoài đang có mặt và diễn ra; tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức mình đều thấy rõ. Cho nên phải thường thường nhìn vào tâm, để hiểu được mình hơn. Dù cho có hiểu được thiên địa vạn vật, nhưng mình không hiểu được mình thì cũng uổng công, cũng đau khổ hoài vì chính bên trong chính mình mà ta không biết, không hiểu.
Cho nên tâm thâu nhiếp thì phải biết là tâm đang thâu nhiếp mà tâm bị tán loạn thì phải biết tâm đang tán loạn. Và khi biết tâm đang tán loạn thì phải thâu nhiếp tâm, an tịnh, tịnh chỉ, trở về hơi thở, cảm giác toàn thân trở lại. Quý vị cứ thực tập vào những lúc chúng ta hơi buông lung phóng dật, tán loạn, hãy quay trở lại cảm nhận hơi thở, cảm giác toàn thân, an tịnh toàn thân thì quý vị lập tức sẽ thấy hiệu quả tức thời xuất hiện. Không ở đâu xa, không phải đợi 5 năm, 10 năm mới có kết quả, chỉ cần thâu nhiếp lại là được an tịnh, trở về hơi thở, cảm nhận toàn thân là lập tức có sự lắng dịu, dễ chịu.
Tâm nhỏ hẹp, tâm rộng lớn
Tâm nhỏ hẹp hay rộng lớn chúng ta cũng phải biết. Đừng cứ lòng vòng trong những mừng giận, thương ghét, đúng sai, hay dở, phải quấy, hơn thua rồi tính toán bằng, hơn, thua, nhỏ hay lớn, đúng hay sai, phải hay quấy. Những thọ, tưởng, hành, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức cứ lòng vòng như vậy, chúng ta tác ý: “Kiến bò miệng chén hay sao? Người không muốn làm, mi muốn làm kiến, con ruồi, con muỗi, con rận, con chí hay sao mà suốt ngày cứ lúc nhúc, nhỏ hẹp, nhỏ mọn, nhỏ nhích, nhỏ nhoi vậy? Mở tâm ra đi!” Phải tu tập tâm rộng mở, cảm nhận trước mặt, cảm nhận vùng trời đất này, cảm nhận không gian bao la vô tận. Mở tâm từ, tâm bi mẫn ra khắp thế giới đang đau khổ, miền Trung đang quằn quại, những người đi cứu hộ chết mười mấy người, chủ tịch huyện cũng chết, những người đi vào cứu hộ lại gặp phải lúc sạt lở nửa ngọn núi. Và chúng ta đang ngồi đây, tại Linh Quy Pháp Ấn, bất thình lình núi cũng có thể sạt xuống chôn hết mọi người tại đây. Tất cả mọi chuyện đều có thể xảy ra. Ngoài miền Bắc, trong căn nhà 5-7 người đang ngồi ăn cơm, ngay lúc đó bỗng nhiên sạt lở và họ bị chôn vùi tại đó. Những trận động đất thì không bàn, nó làm cho vô số những căn nhà, những sinh mạng bị tàn phá. Hãy trải tâm chúng ta rộng ra đến những thảm cảnh, những khổ cảnh, những đau thương của chúng sanh đang quằn quại. Biết bao nhiêu những nỗi khổ trên cuộc đời này, mà mình thì cứ lo hơn thua từng chút để làm gì? Quán chiếu được vậy, tâm mình sẽ thoát ra.
Chẳng hạn, chia gối nằm ở chỗ nghỉ trong khóa tu, mình thích gối nằm kia, nhưng lại được chia gối nằm khác, cô kế bên có được cái gối nằm mình rất vừa ý, khi đi ra đi vào chỗ nghỉ, nhìn thấy cái gối đó mình cứ nhớ, cứ suy nghĩ về nó. Không nên như vậy, hãy thoát ra khỏi cái tâm nhỏ hẹp, nhỏ bé. Đó chỉ là một ví dụ nhỏ, còn nhiều điều khác nữa, như: món ăn, áo mặc, câu nói hoặc ánh nhìn, hành động – những thứ này không là gì cả nên khi tâm dính mắc vào những thứ đó, mình nói: “Mày muốn thành kiến, thành trùng, thành gián, thành ruồi, thành muỗi, thành chí, thành rận, thành rệp hay sao mà lại có cái tâm nhỏ hẹp, nhỏ nhích, nhỏ nhoi như vậy?” Phải phá vỡ, phá tung, phá sạch, thoát ra, mở rộng tấm lòng, trải tâm từ vô lượng vô biên, cùng khắp. Sau đó lập tức trở về cảm giác toàn thân, mở rộng cảm giác, mở rộng tưởng của mình, để chúng lan ra khắp phương trước, phương sau, phương trên, phương dưới, phương phải, phương trái; lan ra cùng khắp mười phương, bề ngang, bề dọc, khắp tất cả không gian vô tận, trú vào vô lượng tâm. Nỗ lực mở tâm rộng ra, tập cho tâm được quảng đại, vô thượng, vô lượng.
Chúng ta biết rằng, chư Thiên thích cúng dường thực phẩm cho Tôn giả Ma Ha Ca Diếp nhất. Vì khi ăn cơm, Ngài trú vào vô lượng tâm định, mà người trú vào vô lượng tâm định thì công đức, phước báu của người cúng dường là không thể tưởng tượng nổi. Chư Thiên thì biết được tâm của người khác, vì vậy rất nhiều chư Thiên muốn cúng dường cho Ngài Ma Ha Ca Diếp. Không phải một mình Ngài Ma Ha Ca Diếp trú vào định này, các vị khác cũng có, nhưng Ngài chuyên trú vào vô lượng tâm định khi thọ thực. Còn chúng ta đến giờ ăn thì chỉ nghĩ xem hôm đó ăn bún riêu hay bánh canh thì làm sao trú vào vô lượng tâm định được. Đưa món ăn lên xúc là đã bị sắc xâm chiếm, rồi đến hương, mùi bốc lên, lưỡi nếm vị của món ăn, khi đó thọ, tưởng, hành vận hành xem món ăn ngon hay không ngon, dở hay ngọt, mặn, chua, cay, đắng, chát…
Đây là đang nói đến tâm được quảng đại hay không quảng đại. Như chúng ta đã thực tập từ vô lượng tâm, khi Ngài Ma Ha Ca Diếp ăn cơm cũng vậy, trải tâm ra trước mặt, sau lưng, phải, trái, trên, dưới, bề dọc, bề ngang, cùng khắp, Ngài ngồi dùng cơm, nhưng tâm trùm cả trái đất, trùm cả hư không và Ngài trú trong vô lượng tâm định. Tuy chúng ta chưa được vô lượng tâm định nhưng ít nhất cũng phải trú trong tâm rộng lớn, rộng rãi, đừng trú trong những tư tưởng nhỏ hẹp. Ví dụ: khi gặp ai đó và chào họ, nhưng họ không nhìn mình thì cũng đâu có sao. Chúng ta đâu có là gì trong cuộc đời này, chỉ là cái nùi giẻ. Hoặc khi người ta đang bận, không thấy nhưng mình cũng giận, đó là khổ. Nhiều khi chúng ta cứ hơn thua, phải quấy những chuyện không đáng, khiến cho sức khỏe, tâm lực, trí huệ của mình mất đi, sanh ra thêm những phiền não, sầu bi – những thứ này ngày càng dồn chất nhiều thêm, có khi dẫn đến bị bệnh. Những cái giận, buồn, bực bội cứ tích tụ như vậy thì đương nhiên mình bị bệnh, lên tăng xông, lên huyết áp; hoặc cứ lo, cứ sợ nên bị bệnh tim, đủ thứ chứng bệnh. Cái thân cộng với cái tâm, thêm những sầu, bi, khổ, ưu, não cũng đã đủ mệt, nhưng chúng càng ngày càng chồng chất lên nhiều thêm là tại vì tâm nhỏ hẹp, tâm chấp thủ, tâm tính toán theo thường tình, theo nghiệp thức, theo vô minh, theo tham ái, theo bản ngã.
Chúng ta hãy mở tâm nhỏ hẹp ra. Mỗi lần dính vào những phiền não thì phải kêu tâm mình mở ra, buông ra, bung ra, rộng ra, lớn ra, trải tâm ra. Ngồi xuống trải tâm ngay lập tức hoặc trải tâm tại chỗ đang đứng. Dễ trải tâm nhất là ở tại núi rừng này, đứng ra ngoài trời trống, trải tâm rộng ra. Đứng chỗ rộng cao thì chúng ta mới thâu hết không gian bao la vào tâm mình một cách sâu sắc và cất giữ trong đó. Khi về nhà, tuy ở trong căn phòng ba bốn vách tường, nhưng chúng ta vẫn quán tâm mình bung ra khỏi vách tường, trải rộng ra giống như núi đồi ở trên Linh Quy Pháp Ấn. Thâu hình ảnh không gian vô tận vào trong tâm và cất giữ trong đó, khi nào cần thì mình bung ra, làm cho tâm mình rộng mở, rộng lớn, bao la. Hãy tu tập tâm quảng đại, tâm rộng lớn, tâm rộng mở, tâm rộng thênh, tâm thênh thang thì chúng ta sẽ thoát ra những cảm giác, những nghĩ tưởng nhỏ hẹp.
Khi Khổng Tử còn ở quê được lên chỗ phố chợ, ông thấy quê mình rất nhỏ. Sau đó, ông đi lên thành thị thì ông thấy phố chợ, thị trấn của ông nhỏ bé. Khi ông lên đến kinh thành thì lại thấy thành thị ngày xưa rất nhỏ bé so với kinh thành. Cuối cùng, khi đứng trên đỉnh Thái Sơn, ông thấy cả thiên hạ này nhỏ bé. Cũng vậy, người quen ở ngòi, cống, rạch, sông thì không biết được sự mênh mông của biển cả. Tâm nhỏ hẹp của hơn thua, của phải quấy, của đúng sai, của thị phi, của ganh tị, của đố kị là là những con rạch, con sông nhỏ; là ống cống, là đường mương, là cầu tiêu hôi hám. Mình hãy tu tập tâm quảng đại như biển cả, như đại dương.
Thâm sâu và vô lượng là tâm này!
Bao la và thênh thang là tâm này!
Rộng lớn và vô biên là tâm này!
Thoát ra những hình ảnh, thoát ra những lời nói lầm thầm suy tưởng và trú trong một trạng thái tâm rộng mở thênh thang, vô lượng. Thường thường thực tập Từ Vô Lượng Tâm, Bi Vô Lượng Tâm, Hỷ Vô Lượng Tâm, Xả Vô Lượng Tâm cho nhuần nhuyễn thì chúng ta sẽ thấy tâm mình thoát ra tấm thân mấy chục kí. Mấy chục kí lô thịt này không thể trói cột, không thể giam hãm tâm của mình được. Cho nên nhớ thực tập bốn tâm vô lượng: Từ – Bi – Hỷ – Xả, có thời gian thì cứ thực tập. Cô Toàn và Minh Thành đều có những bài giảng, cứ mở lên, nghe theo và thực tập thì từ từ tâm chúng ta sẽ quen với trạng thái rộng mở. Khi ngồi thiền mà bị rơi vào trạng thái si, hôn ám thì mình hãy mở lớn con mắt ra để cảm nhận không gian trước mặt, cảm nhận không gian rộng lớn, bao la và trải tâm của mình ra thì sẽ hết hôn trầm. Phải làm từ từ, nhiều lần cho quen thì mới được, còn chưa quen thì 1-2 lần đầu có thể mình chưa thành công. Cảm nhận đôi mắt thật mạnh, cảm nhận phía trước mặt thật sáng rực như mặt trời, sau đó cảm nhận không gian bao la, mênh mông, mở tầm mắt hết mức, phóng tận chân trời nếu lúc đó có thể nhìn thấy được, nếu không thì chúng ta quán tưởng, lúc đó tâm mình sẽ thoát ra trạng thái của triền cái, của si ám.
Thức uẩn cũng vậy, chẳng hạn khi nghe một câu nói rồi cứ bực hoài, thì mình nói: “Vậy thì nhà ngươi điếc luôn đi, đừng nghe nữa. Nghe để mà phiền não, nghe để mà tức tối, nghe để mà sân hận, nghe để mà ràng buộc, làm đau khổ thì nghe làm cái gì! Điếc luôn đi! Đừng nghe nữa!” Nói như vậy để chúng ta thoát tâm ra khỏi thọ, tưởng, hành, diệt tận luôn những suy nghĩ, hình bóng đó. Chúng ta không trú trong thức, mà chỉ rõ biết tham, sân, si. Bung thọ, tưởng, hành, thức của mình ra, không trú trong đó. Nghe mà để phiền não, thấy mà để bực bội, tham ái thì mình phải thoát nó ra. Chẳng hạn khi thấy điều gì làm mình sân hận, dính mắc thì chúng ta hãy quán đến những người mù không nhìn thấy, nếu lúc đó ta không nhìn thấy thì mình không có giận, tại vì nhìn thấy cho nên mình mới sân.“Thấy mà sân thì đừng thấy gì nữa, làm người mù luôn đi.”, chúng ta tác ý như vậy thì sẽ phá vỡ được thức uẩn trú trong sự sân đó. Còn bằng không cái biết đó cứ chạy lòng vòng trong những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ không đi ra được. Giống như kiến bò miệng chén, cứ bò lòng vòng không đi ra được, 2 ngày, 3 ngày, 5 ngày, 1 tháng trôi qua nhưng nó vẫn bò xung quanh miệng chén. Vì vậy, chúng ta phải kêu nó thoát ra, đi ra, hãy bung tâm, mở tâm của mình ra thì lúc đó ta sẽ thấy phép màu xuất hiện, đó là chúng ta tu tập tâm. Bung ra được thì rất hạnh phúc, chúng ta cho Hỷ Vô Lượng Tâm tràn ngập. Từ – Bi – Hỷ – Xả hay lắm, thế nên, chúng ta phải tu tập bốn tâm vô lượng, thì tốc độ của tâm khi chuyển hóa, giải phá phiền não sẽ rất nhẹ, rất nhanh. Những người chạy xe mê tốc độ, dù bị phạt nhưng nhìn không có cảnh sát thì cứ thích phóng lên, tốc độ thì của xe thì đưa đến nguy hiểm. Còn tốc độ của tâm trong sự tu tập thì đưa đến sự an lạc và giải thoát. Cho nên phải thoát khỏi cái biết, cái thức sanh ra tham, sân, si, bản ngã.
Để thoát ra hẳn khỏi những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ và nhận thức thì đòi hỏi mình cần phải có sự hành trì, có sự nhận diện ngũ uẩn thường xuyên, liên tục và một sự thiện xảo, khéo léo biết được: đây là sắc, đây là thọ, đây là tưởng, đây là hành, đây là thức. Do duyên xúc nên mới sanh ra thọ, tưởng, hành như vậy. Khi đó, chúng ta cần Như Lý Tác Ý và sử dụng tưởng rộng lớn, vô lượng để tu tập thì sẽ thấy mình thoát ra được tấm thân mấy chục kí lô thịt này. Tâm mình được rộng lớn, bao la, thênh thang, bình an, không còn muốn hơn thua, phải quấy nữa. Nhìn lại những chuyện nhỏ nhặt, những người xung quanh giống y như trò chơi của những đứa con nít, chúng giành giật đồ chơi bằng mũ, giành giật nhà bằng đất sét. Tất cả những thứ đó đều là vô giá trị, vô nghĩa, vô ích. Không có gì đáng để cho mình giận, không có gì đáng để cho mình tham, không có gì đáng để cho mình hơn thua trong trò chơi trẻ con, trong trò của vô văn phàm phu, trong trò của mê muội, si mê, đau khổ. Ngũ uẩn dựng lên vô số vở tuồng trong nước mắt, trong bi thương, trong sầu khổ. Hãy thoát ra! Đó là tu tập tâm quảng đại.
Tâm hữu hạn, tâm vô thượng
Tâm hữu hạn hay tâm vô thượng cũng giống như vậy. Ví dụ: trong chúng có 10 người, nhưng mình chỉ chơi có 7 người, còn 3 người không chơi. Hoặc trong đạo tràng, nhìn mặt người nào đó thì liền thấy không thích dù chỉ mới nhìn thôi, chưa nói chuyện gì hết. Nhưng thích hay không thích để làm gì? Đó là hữu hạn. Hãy xoá bỏ ngay những cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ như vậy và trú trong xả thọ. Vì vậy, phải tu tập tâm xả cho nhuần nhuyễn thì tâm mình mới nhẹ, không thôi nó rất nặng, cứ chất vào thêm. Ví dụ: gia đình trong nhà có mấy người nhưng lại giận nhau thì sống có khỏe không? Không tu tập tâm xả, va vào cái giận nên rất khó chịu, ăn cơm không ngon, ngủ không yên, đi ra đi vào nhìn mặt rất bứt rứt. Cho nên phải thực tập tâm xả để được tâm vô thượng, vô lượng, bằng không tâm sẽ hữu hạn, nhỏ hẹp.
Từ đầu đến giờ là Minh Thành giảng phần Quán Tâm Trên Tâm kết hợp với Bốn Tâm Vô Lượng để mọi người thực tập. Ở đây là thực tập tâm xả, không muốn hơn thua với ai. Như trong bài Tâm Hiền, Ngài Xá Lợi Phất tu như “bò sừng bị chặt, không còn hăng hái để tranh đua”. Còn cặp sừng đó làm chi để mà đổ máu, vậy thì hãy cưa cặp sừng đó, chặt cặp sừng đó, không còn vũ khí để sanh ra sân tư duy, hại tư duy nữa, diệt tận những tư duy, suy nghĩ về sân, về hại người khác. Không ưa, ghét bỏ để làm gì? Làm cho mình khổ chứ không được gì cả. Thử nghĩ, giận, ghét người khác thì mình có khỏe không hay mình cũng khổ và người ta cũng sầu đau. Thế nên, hãy trú trong tâm xả, địa chỉ thường trú của mình là ở trong tâm xả. Trong đạo tràng có ai hỏi mình địa chỉ thường trú ở đâu thì đừng nói là ở Sài Gòn, Hóc Môn, Phú Yên hay Hải Phòng, mà hãy trả lời: “Địa chỉ thường trú của con là Tâm Xả” – ở ngay đó là căn nhà hạnh phúc. Cứ muốn được vui, được hạnh phúc, an lạc, giải thoát mà tâm không chịu xả, gặp gì cũng nắm, gặp gì cũng buộc, gặp gì cũng siết thì làm sao vui cười cho nổi. Quán Hỷ Vô Lượng Tâm nhưng không hỷ nổi, nhiều khi đọc: “Người tu tâm thật là hiền – Trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên” nhưng không cười được. Đó là vì không chịu xả nên tu hỷ không được, mới giận hay bực mình chuyện gì đó nên không cười nổi.
Sự tu tập tâm cần phải thiện xảo, khéo léo và phải biết trạng thái tâm của mình lúc đó là tâm định hay loạn. Nếu loạn thì phải làm cho tâm được an định. Còn nếu tâm định thì phải chánh niệm tỉnh giác, trú vững chắc, kiên trú, vững mạnh trong định đó.
Ngoài ra, Tâm giải thoát hay không giải thoát cũng phải tuệ tri. Phải biết bằng trí tuệ rằng tâm mình đã giải thoát khỏi cơn giận; giải thoát khỏi dục, tham, ái; tâm mình đã đi ra khỏi trạng thái của sân, của hôn trầm, của si; tâm mình đã đi ra khỏi cảm giác hơn thua, bản ngã. Chúng ta biết bằng trí tuệ rằng mình đã sử dụng tất cả binh khí, pháp khí, vũ khí, phương tiện, nghệ thuật, thủ thuật trong Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo để thoát ra được tham, sân, si, vô minh, bản ngã và hiện tại tâm mình là tâm giải thoát. Chúng ta biết được tâm giải thoát đó và hoan hỉ, an lạc trong tâm này. Như vậy thì tu mới thấy vui, hạnh phúc, bình an, giải thoát và nhẹ nhàng.
Quán tánh sanh diệt trên tâm
Như vậy vị ấy sống quán tâm trên nội tâm; hay sống quán tâm trên ngoại tâm; hay sống quán tâm trên nội tâm, ngoại tâm. Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm; hay sống quán tánh diệt tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. "Có tâm đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Tất cả sự tu tập đó là vị ấy sống quán tâm ở trong tâm, quán tâm ở ngoài tâm, sống quán cả trong lẫn ngoài tâm, quán sự sanh khởi và diệt tận của tâm. Có tâm như vậy, vị ấy sống an trú, chánh niệm, với hy vọng, với sự chờ mong tha thiết, chân thành là đạt được chánh trí huệ, xuất ly năm uẩn để nhàm chán, từ bỏ, giải thoát, không nương tựa, chấp trước bất cứ vật gì ở trên đời.
Trong tâm có gì, ngoài tâm có gì cũng phải biết bằng trí tuệ. Ngoài tâm là những sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp bên ngoài, mỗi khi xúc vào đều phải biết bằng trí tuệ. Bên trong có những thọ, tưởng, hành, thức gì cũng phải biết bằng trí tuệ. Trong, ngoài, trên, dưới, trước, sau, tất cả căn, trần, thức, 18 giới đều phải dùng Thánh Tri Kiến, Chánh Trí Huệ để nhìn. Phải hy vọng đạt đến Chánh Trí Huệ đó.
Tất cả sự sanh khởi đều phải đến lúc hoại diệt, như vậy sao ta không diệt luôn đi, để nó sanh lên làm gì? Tự nhiên có khi đang tu mà ngồi buồn, rồi không muốn ngồi thiền, không muốn nghe pháp, nhưng cũng không biết tại sao, cứ buồn nhẹ nhẹ, chán nản, nhìn gì cũng chán. Khi đó, phải nắm bắt liền rằng nguy hiểm đang đến, phải thấy tâm mình ngay tức khắc. Biết được đó là dục lậu, tâm không thỏa mãn, muốn có gì đó mà không biết muốn có gì, buồn nhưng cũng không biết tại sao buồn, rơi vào trạng thái nản nản, chán chán, không muốn làm gì nữa. Tu cũng làm biếng không muốn tu, ngồi thiền cũng làm biếng không muốn ngồi, nghe pháp cũng không muốn nghe. Lâu lâu có điều đó thì phải thấy được và trị nó. Phải tác ý và đánh đuổi ngay: “Đây là cái gì? Đi ra khỏi tâm ta”, mở pháp, mở bài Như Lý Tác Ý mãnh liệt nghe để phấn khởi, hân hoan, nỗ lực, tinh tấn trở lại. Cho nên phải thấy được tánh sanh diệt của tâm.
“Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm; hay sống quán tánh diệt tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm.” Khởi lên hình bóng, khởi lên suy nghĩ, có ra nhận thức gì thì phải nhìn thấy nó. Sau đó, nó biến đổi, rồi chấm dứt thì cũng phải nhìn thấy trò ảo ảnh sanh diệt đó. Đức Phật nói thức giống như trò ảo thuật, cho nên cái biết làm cho chúng ta tham, sân, si, phiền não, thì hãy nói: “Đây là trò ảo thuật của tâm thức”, rồi đứng ngay vị trí chánh quán của mình, không để trò ảo thuật đó làm lay động, lôi kéo. Mỗi khi giận lên, buồn lên, dục, tham, ái sanh khởi thì mình biết đó là trò ảo thuật của thức uẩn. Chính thức uẩn sanh khởi lên những điều đó, cho nên, không tin tưởng vào những cái biết, không tin tưởng vào những cái thấy, nghe, nhận thức, cảm giác này. Thay vào đó hãy y cứ vào Chánh Trí Huệ, y cứ vào Thánh Tri Kiến, y cứ vào Chánh Kiến – thấy đúng sự vô thường, khổ, vô ngã. Không có gì đáng giận, đáng buồn, đáng ghét hết, thân này là trống rỗng, trống không, trống trơn, không có gì bên trong, nó là vô ngã. Khi đó, đọc lên bài “Thân trống rỗng”: “Thân trống rỗng không ai trong đó…” thì chúng ta sẽ thấy được điều diệu kì, phép màu của sự quán tâm trên tâm.
Sống an trú chánh niệm như vậy thì luôn luôn lúc nào sự hy vọng, mục tiêu, chỗ nhắm, chỗ hướng tới cũng là đạt được Chánh Trí Huệ, thấy cho bằng được tính chất vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng của ngũ uẩn. Bất cứ sự tu nào cũng đều phải hướng về mục tiêu đó. Chính vì vậy sống không chấp trước, không nương tựa bất cứ một vật gì trên đời để cho tâm mình được bình an, nhẹ nhàng, thanh thản, không dựa vào, chấp vào những ngũ uẩn tạm bợ, ảo ảnh như trò ảo thuật nữa. Từ đó, sống với trí huệ chân thật – Chánh Trí và không còn sống với những ảo tưởng, những suy tưởng ảo hóa, những nhận thức theo vô minh.
./.
KINH NIỆM XỨ GIẢNG GIẢI
QUÁN TÂM
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Quán tâm trên tâm PAGEREF _Toc112061055 \h 1
II.Các trạng thái của tâm PAGEREF _Toc112061056 \h 4
1.Tâm thâu nhiếp, tâm tán loạn PAGEREF _Toc112061057 \h 4
2.Tâm nhỏ hẹp, tâm rộng lớn PAGEREF _Toc112061058 \h 8
3.Tâm hữu hạn, tâm vô thượng PAGEREF _Toc112061059 \h 13
III.Quán tánh sanh diệt trên tâm PAGEREF _Toc112061060 \h 14
Quán tâm trên tâm
Chúng ta đã được nghe Đức Phật phơi bày sự thật về thân, về cảm thọ, hôm nay chúng ta tiếp tục được nghe Đức Thế Tôn khai thị về sự quán chiếu nội tâm.
Này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm?
Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo,
Với tâm có tham, tuệ tri: "Tâm có tham";
Hay với tâm không tham, tuệ tri: "Tâm không tham".
Hay với tâm có sân, tuệ tri: "Tâm có sân";
Hay với tâm không sân, tuệ tri: "Tâm không sân".
Hay với tâm có si, tuệ tri: "Tâm có si";
Hay với tâm không si, tuệ tri: "Tâm không si".
Hay với tâm thâu nhiếp, tuệ tri: "Tâm được thâu nhiếp".
Hay với tâm tán loạn, tuệ tri: "Tâm bị tán loạn".
Hay với tâm quảng đại, tuệ tri: "Tâm được quảng đại";
Hay với tâm không quảng đại, tuệ tri: "Tâm không được quảng đại".
Hay với tâm hữu hạn, tuệ tri: "Tâm hữu hạn".
Hay với tâm vô thượng, tuệ tri: "Tâm vô thượng".
Hay với tâm có định, tuệ tri: "Tâm có định";
Hay với tâm không định, tuệ tri: "Tâm không định".
Hay với tâm giải thoát, tuệ tri: "Tâm có giải thoát";
Hay với tâm không giải thoát, tuệ tri: "Tâm không giải thoát".
Như vậy vị ấy sống quán tâm trên nội tâm; hay sống quán tâm trên ngoại tâm; hay sống quán tâm trên nội tâm, ngoại tâm. Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm; hay sống quán tánh diệt tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. "Có tâm đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Sự tu học của chúng ta khó là tại vì mình quen hướng ngoại. Sự hướng ngoại của chúng ta rất sắc bén, thuần thục, nhuần nhuyễn và quen thuộc. Chính vì vậy, khi ngồi lại tu, nhìn lại tâm mình là điều hết sức khó vì chúng ta đã quen nhìn ra bên ngoài. Đức Phật nói rằng:
“Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói. Và tâm này bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1, Chương I. Một Pháp, VI. Phẩm Búng Ngón Tay, bài kinh Tâm Ðược Tu Tập)
Ô nhiễm từ bên ngoài vào là ô nhiễm từ những hình sắc, những âm thanh, những mùi vị, những sự tiếp xúc – những thứ này làm cho tâm chúng ta bị ô nhiễm. Nếu không giữ gìn, bảo hộ và hộ trì căn thường xuyên, thường trực thì thói quen của chúng ta là sự buông thả, thả lỏng sáu căn. Và quán tâm là bước đầu tiên cần nhìn lại trong sự tu tập. Đức Phật luôn nói chúng ta hãy vào khu rừng, vào căn nhà trống, dưới gốc cây, ven suối, ở bãi đất trống, nơi xa vắng ngồi kiết già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, đó chính là bước đầu của sự quay trở lại, từ đó, chúng ta mới phát hiện ra các loại tâm. Trong Kinh Niệm Xứ, Đức Phật tóm tắt cho chúng ta thấy những dạng tâm: tâm có tham, có sân, có si; hay là tâm không có tham, không có sân, không có si…
Phần trước, chúng ta đã nhìn thấy các cảm thọ, và chữ tâm ở phần này tức là tưởng, hành, thức. Khi đối diện lại với tự tâm của mình, chúng ta sẽ thấy sự thật hết sức khủng khiếp. Hằng ngày, tâm của mình có rất nhiều hình bóng, suy nghĩ, nhận thức theo chiều hướng của tham, dục, ái, nóng giận, hơn thua, sân hận, si mê và bản ngã. Cho nên, khi để ý lại nội tâm, ta mới thấy bên trong có rất nhiều hình bóng. Nhiều người mới tu khi nhận diện tưởng uẩn thì họ nói không có tưởng, nhưng thật ra không phải, vì cái nhìn đó là nhìn ra bên ngoài. Khi chúng ta khép mắt nhìn xuống, quay trở về bên trong thì mình mới phát hiện ra được những hình bóng trong đó liên tục. Chính vì chỗ không thấy, không biết các tưởng, các hành, các nghĩ tưởng nên sự vận hành của ngôn ngữ, của hành động, của tâm thức luôn ở trong trạng thái không hiểu rõ, không thấy rõ, không biết rõ, đó là trạng thái của vô minh, của si.
Khi thường trực, thường xuyên để ý vào bên trong thì chúng ta sẽ thấy rất nhiều hình ảnh, rất nhiều lời nói huyên thuyên, thì thầm, rỉ rả suốt ngày đêm; thấy những hình bóng của tham, của dục, của ái xuất hiện và xâm chiếm, áp đảo. Cho nên, khi có tham xuất hiện, mình phải rõ biết nội tâm đang có tham, sự rõ biết đó là sự chánh niệm tỉnh giác. Sau khi biết nội tâm có tham thì không phải chỉ biết đến hình bóng tham, suy nghĩ tham rồi thôi, mà phải tuệ tri có tham và Như Lý Tác Ý, sử dụng một hình ảnh khác để dẹp phá hình ảnh đó.
Ví dụ, trong tâm có hình ảnh về tham ái, dục vọng sanh khởi, những suy nghĩ chạy lòng vòng, đương nhiên là cảm giác có mặt. Lúc đó chúng ta đem hình ảnh bộ xương, hình ảnh giòi bò lúc nhúc, hình ảnh của 32 thể trược: gan, phèo, phổi,… để đánh phá hình bóng kia. Như vậy là chúng ta dùng hình ảnh này để đánh phá hình ảnh kia, làm cho hình ảnh tham, ái, dục tan biến, không còn tồn tại hiện hữu nữa, mà bị triệt tiêu, diệt tận. Đó gọi là tuệ tri và cũng gọi là tinh cần, nhiệt tâm, tinh tấn tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp. Như vậy, đầu tiên là phải thường xuyên để ý, trở về bên trong.
Bước thứ hai, khi để ý thấy xuất hiện tham, sân, si thì phải biết có hình bóng, suy nghĩ đó. Sau khi biết, phải dùng nhiều phương tiện, nhiều cách thức Như Lý Tác Ý để quán chiếu, quán tưởng, đánh phá, trừ diệt. Khi đánh phá, trừ diệt có khi ta thắng nhưng cũng có lúc bại, nhưng sự nhận biết được tham, sân, si đã là giai đoạn trí tuệ. Sau khi biết được thì công phu tác ý, quán chiếu của mình sẽ dần dần được thành tựu.
Có những người mới tu trong thời gian ngắn thì bị sốc vì không ngờ bên trong tâm lại có nhiều phiền não, dục, tham, ái như vậy. Nhưng đừng lo, đừng sợ vì sự thấy biết của mình đã là một bước của trí tuệ, tiếp theo đó là giai đoạn cố gắng công phu quán chiếu, tác ý thường xuyên và liên tục. Ban đầu thì những giặc phiền não rất mạnh, nhưng kế đó dần dần sẽ giảm, sau đó là 50 : 50, rồi cũng có những lúc chúng ta quật ngã được nó trong sự chiến thắng, trong sự nỗ lực đánh bại kẻ thù của nội tâm.
Bậc A-la-hán gọi là sát tặc, giết được kẻ giặc – giặc tham, giặc sân, giặc si, giặc vô minh và giặc bản ngã. Chúng ta cũng vậy, bước trên con đường tu tập này thì mọi người đều là những dũng sĩ, những anh hùng chiến đấu trong trận chiến quyết liệt mà lặng lẽ, âm thầm nơi nội tâm. Cho nên sau khi biết có tham thì phải ra sức, ra công để đánh phá; biết có sân thì không chỉ dừng lại ở đó mà phải liên tục tác ý trải tâm từ, trải lòng thương và dẹp đi những hình ảnh, suy nghĩ lầm thầm, làm cho chúng dừng lại, lắng xuống, yên tịnh.
Các trạng thái của tâm
Ở đây, Đức Phật chia ra 8 cặp trạng thái của tâm:
Tham hay không tham;
Sân hay không sân;
Si hay không si;
Thâu nhiếp hay tán loạn;
Rộng lớn hay nhỏ hẹp;
Hữu hạn hay vô thượng;
Định hay không định;
Giải thoát hay không giải thoát.
Tám cặp này bao trùm hết tất cả trạng thái của tâm. Tất cả tâm hành của mình đều không ra ngoài 16 trạng thái này, tức là 8 cặp phạm trù. Chúng ta đã tìm hiểu khi tham, sân, si phải dùng pháp gì để tác ý, dùng pháp gì để quán chiếu, hãy luôn luôn ghi nhớ và nhìn trở lại để hành trì.
Tâm thâu nhiếp, tâm tán loạn
Kế tiếp, đối với tâm được thâu nhiếp hay tâm bị tán loạn thì chúng ta phải biết tâm mình được thâu nhiếp hoặc tâm bị tán loạn mình cũng phải biết. Nếu không quay lại để quán tâm nơi tâm thì khi tán loạn mình sẽ không biết mà nhập làm một với tâm tán loạn đó. Còn khi để ý, dò xét, quán chiếu thì giống như chúng ta đứng ra để nhìn lại tâm của mình. Vì vậy, khi có một sự quán chiếu, dò xét, để ý, để tâm, dòm ngó, xem xét thì lúc đó có một bước để tách tâm mình ra khỏi những trạng thái đó. Như vậy mới gọi là quán tâm. Còn lúc tâm buông thả, buông lung, tán loạn mà không có sự dò xét, để ý thì sẽ nhập cuộc với nó, thậm chí ngay khi trên bồ đoàn chứ không phải ở ngoài. Khi suy nghĩ lung tung, nếu không có sức tự chủ, không có sức tuệ quán thì mình sẽ đi theo suy nghĩ đó. Đi theo một hồi thì mình mới nhận ra là đi xa quá, nên mới quay lại.
Cho nên, sự quán tâm trên tâm không phải đơn giản, chỉ cần một phút không chánh niệm tỉnh giác, không đứng ở vị trí của sự quán chiếu thì lúc đó chúng ta đồng hóa mình với những thọ, tưởng, hành – chúng dẫn mình đi. Cụm từ “không để nó dẫn mình đi” rất quan trọng, chúng ta không được để thọ, tưởng, hành dẫn đi. Chúng ta có thường bị dẫn đi không? Khi phát hiện được thì mình có quay lại không? Và thường đến lúc nào mình mới phát hiện?
Chúng ta thường nói nhận diện ngũ uẩn, nhận diện cơn sân nhưng thật ra thường thường là nhận diện ở phía sau, tức là nó khởi lên rồi mình mới nhìn lại biết lúc nãy có sân, có tham, đó là mình ở phía sau đuôi, là nhận diện của quá khứ. Cho nên, một sự nhận diện tâm gọi là sắc bén, chánh niệm tỉnh giác, thường xuyên và liên tục là bắt chụp được những khoảnh khắc, giống như sư tử vồ mồi. Khi sư tử đi săn, nó đi rất nhẹ, con mồi không hay biết, đến khi sư tử vồ, chụp lấy thì con mồi không thoát được. Tuệ quán sắc bén của chúng ta cũng phải giống vậy để nắm bắt được những hình bóng giết người này. Đức Thế Tôn gọi là sát nhân – kẻ giết người: sắc là kẻ giết người, cảm giác là kẻ giết người, những hình bóng trong tâm là kẻ giết người, những suy nghĩ lầm thầm là kẻ giết người, sự rõ biết là kẻ giết người. Nếu không có sự chánh quán một cách mạnh mẽ thì mình sẽ bị nó giết.
Hôm qua, có một tin hết sức xót xa, một đứa con mới chỉ 17 tuổi nhưng giết mẹ để lấy tiền của, tài sản. Đứa con này rủ thêm một người bạn để giết chết mẹ ruột của mình. Càng ngày thì những vụ việc như vậy càng nhiều. Thật là khủng khiếp, ghê rợn, đau đớn, đau xót! Bản thân người đó không biết rằng chính những cảm giác, những suy nghĩ ham muốn đó giết họ, giết hết tất cả sự hiếu thảo, ân đức, nghĩa tình. Cho nên phải hết sức thận trọng trước những cảm giác, nghĩ tưởng. Chúng ta đã học, sắc này rất ác độc, là kẻ giết người. Học vào dòng pháp Nikāya rồi sẽ thấy được nhiều điều bất ngờ. Chúng ta cứ nghĩ là do người khác ở ngoài hại mình, nhưng không phải, chính do tâm mình hại mình.
Đức Thế Tôn nói chúng sanh bị giết chết trong chính tư tưởng của họ. Những hình bóng của sân hận thúc giục bên trong, nếu người này không biết, không thấy, không phát giác, không phát hiện, không nhiếp phục được mà đi theo những hình bóng, những lời nói lầm thầm, những cảm giác thúc giục thì sẽ phát ra những ngôn ngữ, hành động dẫn đến tội ác. Cho nên những hình bóng hết sức nguy hiểm, vì vậy, phải nhìn kĩ những hình bóng trong nội tâm. Đó là những hình bóng giết người, những lời nói giết người. Những hình bóng đó làm cho mình đau khổ, sầu, bi, ưu, não, bực bội, tức tối, sầu hận, thúc giục trong tâm mình phải đi, phải nói, phải làm.
Thế nên, sự quán tâm trên tâm là nhìn ra tất cả hình bóng, đứng ra khỏi để nhìn trở lại, kiểm soát, quản lý, huấn luyện và giáo dục tâm mình. Ví dụ: trong tâm có hình bóng sân hận, tức tối, ta đây thì lúc đó mình phải lấy hình bóng quỳ mọp xuống lạy để đánh phá hình bóng ngẩng đầu, hất mặt lên. Đó chính là lấy hình bóng này đánh phá hình bóng kia, làm cho tâm mình được lắng dịu, dễ chịu, hiền lành, hiền hòa, hiền dịu, hiền đức, hiền hậu, hiền lương, tập theo hạnh của Hiền Thánh.
Hãy đem hình ảnh nùi giẻ rách, hình ảnh của người hèn hạ, thấp hèn nhất trong cuộc đời này để đánh phá những hình ảnh khác. Trước hình ảnh Phật tử lên cúng dường Trai tăng, đảnh lễ, đưa bao thư, thì mọi người phải nhớ đến câu “lạy ông đi qua, lạy bà đi lại”, phải nhớ mình là kẻ ăn xin, không được hãnh diện trên hình thức người ta quỳ lạy, dâng cúng. Không được cho phép bản thân hãnh diện, bản ngã ngay lúc đó mà phải thấy rằng mình là kẻ ăn xin, sống nhờ vào sự bố thí cúng dường của đàn na tín thí. Lấy hình ảnh đó để phá hình bóng thân kiến ảo tưởng về cái tôi trong tâm mình. Dùng hình bóng này để dẹp hình bóng kia; dùng tưởng của thiện để diệt tưởng bất thiện; dùng tưởng của Thánh trí huệ để dập phá tưởng của vô minh, si ám; dùng tưởng vô ngã để phá tưởng hữu ngã; dùng tưởng bất tịnh để đánh đuổi tưởng tịnh; dùng tưởng khổ để phá vỡ những tưởng, những tư, những suy nghĩ, suy tưởng, suy tư về lạc, vui sướng và hạnh phúc.
Chúng ta có những buổi thiền quán về ngũ uẩn là để thấy được tính chất khổ trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Những hình bóng, lời nói, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức đó đưa vào tâm mình để tưới tẩm, gội rửa, châm dầu vào ngọn đèn Thánh trí tuệ Năm uẩn. Làm cho ngọn đèn tỏa sáng, soi rọi những bóng tối hắc ám, âm u trong những ngõ ngách mà trước đây mình cho rằng là đẹp đẽ, thường còn, vui sướng, sạch sẽ và hạnh phúc. Cho nên phải nhớ pháp quán tưởng hết sức quan trọng. Khi quán thì sẽ có tưởng, nên gọi là quán tưởng, mà quán tưởng là phải căn cứ trên sự thật chứ không phải tưởng ra cái không có. Những tưởng của mình phải tương ứng với pháp, tương ứng với chân lý, tương ứng với Thánh trí, tương ứng với Thánh đạo, đó gọi là thiền quán, quán tưởng. Không phải chỉ cần mình kêu những hình bóng sân hận, dục đừng khởi lên nữa là nó sẽ vĩnh viễn đi luôn, không đơn giản như vậy. Mà chúng ta cần phải đưa vào những hình bóng như cửu tưởng, quán tứ đại, 32 thể trược để đánh phá những hình bóng của vô minh, tham ái và chấp thủ.
Một điều ghê gớm nữa chính là hành uẩn, nó rất khủng khiếp, nó giết chết mình. Chỉ cần một câu nói của ý hành là chúng ta có thể bỏ tu. Khi quán bất tịnh, hành uẩn nói “vẫn thấy là tịnh”, nghĩ rằng mình sẽ không quán được, như vậy là xong, coi như bỏ hẳn sự tu. Một câu nói của hành uẩn mà chúng ta dạ vâng trước nó là mình đi theo nó rồi không tu bất tịnh quán. Vô cùng dễ sợ đối với hành uẩn. Cho nên, khi nhận diện ngũ uẩn, cần có một sự chánh niệm tỉnh giác hết sức tinh anh, sáng suốt. Bằng không những lời nói của hành uẩn rất ngọt ngào, ngọt như đường cát, mát như đường phèn, rất dễ nghe, dễ thương và mình sẽ trở thành người dễ bảo của nó, nó kêu sao thì mình cũng răm rắp nghe theo, thế nên cứ mê muội, đau khổ, phiền não. Hễ quán tới vô ngã, hành uẩn nói: “Sao là vô ngã được, thân này thấy rõ ràng như vậy thì làm sao là vô ngã được”, nghĩ vậy là coi như xong. Vì vậy, phải nhận thức được: “Hành uẩn, mi là kẻ giết người, mi là thứ vô minh, si ám, ta không nghe lời mi đâu. Ta nghe lời của Đức Phật, ta nghe lời của Thánh Pháp, Thánh Trí.” Đó là chúng ta nhìn thấy được tâm, biết quán tâm ở trên tâm, tức là thấy được những hình bóng, nghĩ tưởng của mình.
Hành uẩn lầm thầm rất đáng sợ, cho nên, phải lắng nghe thật kĩ xem có lời nói gì bên trong, từ đâu phát ra lời nói đó. Đây là mức độ đào sâu hơn, vì không phải tự dưng mình phát ra suy nghĩ đó, mà bên trong là một sự chấp ngã, tham ái, muốn được thoải mái.Ví dụ: lần đầu thực hành chánh quán thọ thực, mình nói: “Sao ăn khổ quá vậy!”, chắc chắn ngày đầu tiên sẽ nói vậy, nhưng khi tập quen rồi thì chúng ta sẽ thấy lạc, thấy hạnh phúc. Bởi vì khi ăn mà cảm nhận được thân tâm; khi ăn mà nhìn rõ được hết tất cả trong ngoài các pháp; khi ăn mà tuệ tri, tỏ tường hết tất cả những gì ở trong, ở ngoài đang có mặt và diễn ra; tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức mình đều thấy rõ. Cho nên phải thường thường nhìn vào tâm, để hiểu được mình hơn. Dù cho có hiểu được thiên địa vạn vật, nhưng mình không hiểu được mình thì cũng uổng công, cũng đau khổ hoài vì chính bên trong chính mình mà ta không biết, không hiểu.
Cho nên tâm thâu nhiếp thì phải biết là tâm đang thâu nhiếp mà tâm bị tán loạn thì phải biết tâm đang tán loạn. Và khi biết tâm đang tán loạn thì phải thâu nhiếp tâm, an tịnh, tịnh chỉ, trở về hơi thở, cảm giác toàn thân trở lại. Quý vị cứ thực tập vào những lúc chúng ta hơi buông lung phóng dật, tán loạn, hãy quay trở lại cảm nhận hơi thở, cảm giác toàn thân, an tịnh toàn thân thì quý vị lập tức sẽ thấy hiệu quả tức thời xuất hiện. Không ở đâu xa, không phải đợi 5 năm, 10 năm mới có kết quả, chỉ cần thâu nhiếp lại là được an tịnh, trở về hơi thở, cảm nhận toàn thân là lập tức có sự lắng dịu, dễ chịu.
Tâm nhỏ hẹp, tâm rộng lớn
Tâm nhỏ hẹp hay rộng lớn chúng ta cũng phải biết. Đừng cứ lòng vòng trong những mừng giận, thương ghét, đúng sai, hay dở, phải quấy, hơn thua rồi tính toán bằng, hơn, thua, nhỏ hay lớn, đúng hay sai, phải hay quấy. Những thọ, tưởng, hành, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức cứ lòng vòng như vậy, chúng ta tác ý: “Kiến bò miệng chén hay sao? Người không muốn làm, mi muốn làm kiến, con ruồi, con muỗi, con rận, con chí hay sao mà suốt ngày cứ lúc nhúc, nhỏ hẹp, nhỏ mọn, nhỏ nhích, nhỏ nhoi vậy? Mở tâm ra đi!” Phải tu tập tâm rộng mở, cảm nhận trước mặt, cảm nhận vùng trời đất này, cảm nhận không gian bao la vô tận. Mở tâm từ, tâm bi mẫn ra khắp thế giới đang đau khổ, miền Trung đang quằn quại, những người đi cứu hộ chết mười mấy người, chủ tịch huyện cũng chết, những người đi vào cứu hộ lại gặp phải lúc sạt lở nửa ngọn núi. Và chúng ta đang ngồi đây, tại Linh Quy Pháp Ấn, bất thình lình núi cũng có thể sạt xuống chôn hết mọi người tại đây. Tất cả mọi chuyện đều có thể xảy ra. Ngoài miền Bắc, trong căn nhà 5-7 người đang ngồi ăn cơm, ngay lúc đó bỗng nhiên sạt lở và họ bị chôn vùi tại đó. Những trận động đất thì không bàn, nó làm cho vô số những căn nhà, những sinh mạng bị tàn phá. Hãy trải tâm chúng ta rộng ra đến những thảm cảnh, những khổ cảnh, những đau thương của chúng sanh đang quằn quại. Biết bao nhiêu những nỗi khổ trên cuộc đời này, mà mình thì cứ lo hơn thua từng chút để làm gì? Quán chiếu được vậy, tâm mình sẽ thoát ra.
Chẳng hạn, chia gối nằm ở chỗ nghỉ trong khóa tu, mình thích gối nằm kia, nhưng lại được chia gối nằm khác, cô kế bên có được cái gối nằm mình rất vừa ý, khi đi ra đi vào chỗ nghỉ, nhìn thấy cái gối đó mình cứ nhớ, cứ suy nghĩ về nó. Không nên như vậy, hãy thoát ra khỏi cái tâm nhỏ hẹp, nhỏ bé. Đó chỉ là một ví dụ nhỏ, còn nhiều điều khác nữa, như: món ăn, áo mặc, câu nói hoặc ánh nhìn, hành động – những thứ này không là gì cả nên khi tâm dính mắc vào những thứ đó, mình nói: “Mày muốn thành kiến, thành trùng, thành gián, thành ruồi, thành muỗi, thành chí, thành rận, thành rệp hay sao mà lại có cái tâm nhỏ hẹp, nhỏ nhích, nhỏ nhoi như vậy?” Phải phá vỡ, phá tung, phá sạch, thoát ra, mở rộng tấm lòng, trải tâm từ vô lượng vô biên, cùng khắp. Sau đó lập tức trở về cảm giác toàn thân, mở rộng cảm giác, mở rộng tưởng của mình, để chúng lan ra khắp phương trước, phương sau, phương trên, phương dưới, phương phải, phương trái; lan ra cùng khắp mười phương, bề ngang, bề dọc, khắp tất cả không gian vô tận, trú vào vô lượng tâm. Nỗ lực mở tâm rộng ra, tập cho tâm được quảng đại, vô thượng, vô lượng.
Chúng ta biết rằng, chư Thiên thích cúng dường thực phẩm cho Tôn giả Ma Ha Ca Diếp nhất. Vì khi ăn cơm, Ngài trú vào vô lượng tâm định, mà người trú vào vô lượng tâm định thì công đức, phước báu của người cúng dường là không thể tưởng tượng nổi. Chư Thiên thì biết được tâm của người khác, vì vậy rất nhiều chư Thiên muốn cúng dường cho Ngài Ma Ha Ca Diếp. Không phải một mình Ngài Ma Ha Ca Diếp trú vào định này, các vị khác cũng có, nhưng Ngài chuyên trú vào vô lượng tâm định khi thọ thực. Còn chúng ta đến giờ ăn thì chỉ nghĩ xem hôm đó ăn bún riêu hay bánh canh thì làm sao trú vào vô lượng tâm định được. Đưa món ăn lên xúc là đã bị sắc xâm chiếm, rồi đến hương, mùi bốc lên, lưỡi nếm vị của món ăn, khi đó thọ, tưởng, hành vận hành xem món ăn ngon hay không ngon, dở hay ngọt, mặn, chua, cay, đắng, chát…
Đây là đang nói đến tâm được quảng đại hay không quảng đại. Như chúng ta đã thực tập từ vô lượng tâm, khi Ngài Ma Ha Ca Diếp ăn cơm cũng vậy, trải tâm ra trước mặt, sau lưng, phải, trái, trên, dưới, bề dọc, bề ngang, cùng khắp, Ngài ngồi dùng cơm, nhưng tâm trùm cả trái đất, trùm cả hư không và Ngài trú trong vô lượng tâm định. Tuy chúng ta chưa được vô lượng tâm định nhưng ít nhất cũng phải trú trong tâm rộng lớn, rộng rãi, đừng trú trong những tư tưởng nhỏ hẹp. Ví dụ: khi gặp ai đó và chào họ, nhưng họ không nhìn mình thì cũng đâu có sao. Chúng ta đâu có là gì trong cuộc đời này, chỉ là cái nùi giẻ. Hoặc khi người ta đang bận, không thấy nhưng mình cũng giận, đó là khổ. Nhiều khi chúng ta cứ hơn thua, phải quấy những chuyện không đáng, khiến cho sức khỏe, tâm lực, trí huệ của mình mất đi, sanh ra thêm những phiền não, sầu bi – những thứ này ngày càng dồn chất nhiều thêm, có khi dẫn đến bị bệnh. Những cái giận, buồn, bực bội cứ tích tụ như vậy thì đương nhiên mình bị bệnh, lên tăng xông, lên huyết áp; hoặc cứ lo, cứ sợ nên bị bệnh tim, đủ thứ chứng bệnh. Cái thân cộng với cái tâm, thêm những sầu, bi, khổ, ưu, não cũng đã đủ mệt, nhưng chúng càng ngày càng chồng chất lên nhiều thêm là tại vì tâm nhỏ hẹp, tâm chấp thủ, tâm tính toán theo thường tình, theo nghiệp thức, theo vô minh, theo tham ái, theo bản ngã.
Chúng ta hãy mở tâm nhỏ hẹp ra. Mỗi lần dính vào những phiền não thì phải kêu tâm mình mở ra, buông ra, bung ra, rộng ra, lớn ra, trải tâm ra. Ngồi xuống trải tâm ngay lập tức hoặc trải tâm tại chỗ đang đứng. Dễ trải tâm nhất là ở tại núi rừng này, đứng ra ngoài trời trống, trải tâm rộng ra. Đứng chỗ rộng cao thì chúng ta mới thâu hết không gian bao la vào tâm mình một cách sâu sắc và cất giữ trong đó. Khi về nhà, tuy ở trong căn phòng ba bốn vách tường, nhưng chúng ta vẫn quán tâm mình bung ra khỏi vách tường, trải rộng ra giống như núi đồi ở trên Linh Quy Pháp Ấn. Thâu hình ảnh không gian vô tận vào trong tâm và cất giữ trong đó, khi nào cần thì mình bung ra, làm cho tâm mình rộng mở, rộng lớn, bao la. Hãy tu tập tâm quảng đại, tâm rộng lớn, tâm rộng mở, tâm rộng thênh, tâm thênh thang thì chúng ta sẽ thoát ra những cảm giác, những nghĩ tưởng nhỏ hẹp.
Khi Khổng Tử còn ở quê được lên chỗ phố chợ, ông thấy quê mình rất nhỏ. Sau đó, ông đi lên thành thị thì ông thấy phố chợ, thị trấn của ông nhỏ bé. Khi ông lên đến kinh thành thì lại thấy thành thị ngày xưa rất nhỏ bé so với kinh thành. Cuối cùng, khi đứng trên đỉnh Thái Sơn, ông thấy cả thiên hạ này nhỏ bé. Cũng vậy, người quen ở ngòi, cống, rạch, sông thì không biết được sự mênh mông của biển cả. Tâm nhỏ hẹp của hơn thua, của phải quấy, của đúng sai, của thị phi, của ganh tị, của đố kị là là những con rạch, con sông nhỏ; là ống cống, là đường mương, là cầu tiêu hôi hám. Mình hãy tu tập tâm quảng đại như biển cả, như đại dương.
Thâm sâu và vô lượng là tâm này!
Bao la và thênh thang là tâm này!
Rộng lớn và vô biên là tâm này!
Thoát ra những hình ảnh, thoát ra những lời nói lầm thầm suy tưởng và trú trong một trạng thái tâm rộng mở thênh thang, vô lượng. Thường thường thực tập Từ Vô Lượng Tâm, Bi Vô Lượng Tâm, Hỷ Vô Lượng Tâm, Xả Vô Lượng Tâm cho nhuần nhuyễn thì chúng ta sẽ thấy tâm mình thoát ra tấm thân mấy chục kí. Mấy chục kí lô thịt này không thể trói cột, không thể giam hãm tâm của mình được. Cho nên nhớ thực tập bốn tâm vô lượng: Từ – Bi – Hỷ – Xả, có thời gian thì cứ thực tập. Cô Toàn và Minh Thành đều có những bài giảng, cứ mở lên, nghe theo và thực tập thì từ từ tâm chúng ta sẽ quen với trạng thái rộng mở. Khi ngồi thiền mà bị rơi vào trạng thái si, hôn ám thì mình hãy mở lớn con mắt ra để cảm nhận không gian trước mặt, cảm nhận không gian rộng lớn, bao la và trải tâm của mình ra thì sẽ hết hôn trầm. Phải làm từ từ, nhiều lần cho quen thì mới được, còn chưa quen thì 1-2 lần đầu có thể mình chưa thành công. Cảm nhận đôi mắt thật mạnh, cảm nhận phía trước mặt thật sáng rực như mặt trời, sau đó cảm nhận không gian bao la, mênh mông, mở tầm mắt hết mức, phóng tận chân trời nếu lúc đó có thể nhìn thấy được, nếu không thì chúng ta quán tưởng, lúc đó tâm mình sẽ thoát ra trạng thái của triền cái, của si ám.
Thức uẩn cũng vậy, chẳng hạn khi nghe một câu nói rồi cứ bực hoài, thì mình nói: “Vậy thì nhà ngươi điếc luôn đi, đừng nghe nữa. Nghe để mà phiền não, nghe để mà tức tối, nghe để mà sân hận, nghe để mà ràng buộc, làm đau khổ thì nghe làm cái gì! Điếc luôn đi! Đừng nghe nữa!” Nói như vậy để chúng ta thoát tâm ra khỏi thọ, tưởng, hành, diệt tận luôn những suy nghĩ, hình bóng đó. Chúng ta không trú trong thức, mà chỉ rõ biết tham, sân, si. Bung thọ, tưởng, hành, thức của mình ra, không trú trong đó. Nghe mà để phiền não, thấy mà để bực bội, tham ái thì mình phải thoát nó ra. Chẳng hạn khi thấy điều gì làm mình sân hận, dính mắc thì chúng ta hãy quán đến những người mù không nhìn thấy, nếu lúc đó ta không nhìn thấy thì mình không có giận, tại vì nhìn thấy cho nên mình mới sân.“Thấy mà sân thì đừng thấy gì nữa, làm người mù luôn đi.”, chúng ta tác ý như vậy thì sẽ phá vỡ được thức uẩn trú trong sự sân đó. Còn bằng không cái biết đó cứ chạy lòng vòng trong những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ không đi ra được. Giống như kiến bò miệng chén, cứ bò lòng vòng không đi ra được, 2 ngày, 3 ngày, 5 ngày, 1 tháng trôi qua nhưng nó vẫn bò xung quanh miệng chén. Vì vậy, chúng ta phải kêu nó thoát ra, đi ra, hãy bung tâm, mở tâm của mình ra thì lúc đó ta sẽ thấy phép màu xuất hiện, đó là chúng ta tu tập tâm. Bung ra được thì rất hạnh phúc, chúng ta cho Hỷ Vô Lượng Tâm tràn ngập. Từ – Bi – Hỷ – Xả hay lắm, thế nên, chúng ta phải tu tập bốn tâm vô lượng, thì tốc độ của tâm khi chuyển hóa, giải phá phiền não sẽ rất nhẹ, rất nhanh. Những người chạy xe mê tốc độ, dù bị phạt nhưng nhìn không có cảnh sát thì cứ thích phóng lên, tốc độ thì của xe thì đưa đến nguy hiểm. Còn tốc độ của tâm trong sự tu tập thì đưa đến sự an lạc và giải thoát. Cho nên phải thoát khỏi cái biết, cái thức sanh ra tham, sân, si, bản ngã.
Để thoát ra hẳn khỏi những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ và nhận thức thì đòi hỏi mình cần phải có sự hành trì, có sự nhận diện ngũ uẩn thường xuyên, liên tục và một sự thiện xảo, khéo léo biết được: đây là sắc, đây là thọ, đây là tưởng, đây là hành, đây là thức. Do duyên xúc nên mới sanh ra thọ, tưởng, hành như vậy. Khi đó, chúng ta cần Như Lý Tác Ý và sử dụng tưởng rộng lớn, vô lượng để tu tập thì sẽ thấy mình thoát ra được tấm thân mấy chục kí lô thịt này. Tâm mình được rộng lớn, bao la, thênh thang, bình an, không còn muốn hơn thua, phải quấy nữa. Nhìn lại những chuyện nhỏ nhặt, những người xung quanh giống y như trò chơi của những đứa con nít, chúng giành giật đồ chơi bằng mũ, giành giật nhà bằng đất sét. Tất cả những thứ đó đều là vô giá trị, vô nghĩa, vô ích. Không có gì đáng để cho mình giận, không có gì đáng để cho mình tham, không có gì đáng để cho mình hơn thua trong trò chơi trẻ con, trong trò của vô văn phàm phu, trong trò của mê muội, si mê, đau khổ. Ngũ uẩn dựng lên vô số vở tuồng trong nước mắt, trong bi thương, trong sầu khổ. Hãy thoát ra! Đó là tu tập tâm quảng đại.
Tâm hữu hạn, tâm vô thượng
Tâm hữu hạn hay tâm vô thượng cũng giống như vậy. Ví dụ: trong chúng có 10 người, nhưng mình chỉ chơi có 7 người, còn 3 người không chơi. Hoặc trong đạo tràng, nhìn mặt người nào đó thì liền thấy không thích dù chỉ mới nhìn thôi, chưa nói chuyện gì hết. Nhưng thích hay không thích để làm gì? Đó là hữu hạn. Hãy xoá bỏ ngay những cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ như vậy và trú trong xả thọ. Vì vậy, phải tu tập tâm xả cho nhuần nhuyễn thì tâm mình mới nhẹ, không thôi nó rất nặng, cứ chất vào thêm. Ví dụ: gia đình trong nhà có mấy người nhưng lại giận nhau thì sống có khỏe không? Không tu tập tâm xả, va vào cái giận nên rất khó chịu, ăn cơm không ngon, ngủ không yên, đi ra đi vào nhìn mặt rất bứt rứt. Cho nên phải thực tập tâm xả để được tâm vô thượng, vô lượng, bằng không tâm sẽ hữu hạn, nhỏ hẹp.
Từ đầu đến giờ là Minh Thành giảng phần Quán Tâm Trên Tâm kết hợp với Bốn Tâm Vô Lượng để mọi người thực tập. Ở đây là thực tập tâm xả, không muốn hơn thua với ai. Như trong bài Tâm Hiền, Ngài Xá Lợi Phất tu như “bò sừng bị chặt, không còn hăng hái để tranh đua”. Còn cặp sừng đó làm chi để mà đổ máu, vậy thì hãy cưa cặp sừng đó, chặt cặp sừng đó, không còn vũ khí để sanh ra sân tư duy, hại tư duy nữa, diệt tận những tư duy, suy nghĩ về sân, về hại người khác. Không ưa, ghét bỏ để làm gì? Làm cho mình khổ chứ không được gì cả. Thử nghĩ, giận, ghét người khác thì mình có khỏe không hay mình cũng khổ và người ta cũng sầu đau. Thế nên, hãy trú trong tâm xả, địa chỉ thường trú của mình là ở trong tâm xả. Trong đạo tràng có ai hỏi mình địa chỉ thường trú ở đâu thì đừng nói là ở Sài Gòn, Hóc Môn, Phú Yên hay Hải Phòng, mà hãy trả lời: “Địa chỉ thường trú của con là Tâm Xả” – ở ngay đó là căn nhà hạnh phúc. Cứ muốn được vui, được hạnh phúc, an lạc, giải thoát mà tâm không chịu xả, gặp gì cũng nắm, gặp gì cũng buộc, gặp gì cũng siết thì làm sao vui cười cho nổi. Quán Hỷ Vô Lượng Tâm nhưng không hỷ nổi, nhiều khi đọc: “Người tu tâm thật là hiền – Trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên” nhưng không cười được. Đó là vì không chịu xả nên tu hỷ không được, mới giận hay bực mình chuyện gì đó nên không cười nổi.
Sự tu tập tâm cần phải thiện xảo, khéo léo và phải biết trạng thái tâm của mình lúc đó là tâm định hay loạn. Nếu loạn thì phải làm cho tâm được an định. Còn nếu tâm định thì phải chánh niệm tỉnh giác, trú vững chắc, kiên trú, vững mạnh trong định đó.
Ngoài ra, Tâm giải thoát hay không giải thoát cũng phải tuệ tri. Phải biết bằng trí tuệ rằng tâm mình đã giải thoát khỏi cơn giận; giải thoát khỏi dục, tham, ái; tâm mình đã đi ra khỏi trạng thái của sân, của hôn trầm, của si; tâm mình đã đi ra khỏi cảm giác hơn thua, bản ngã. Chúng ta biết bằng trí tuệ rằng mình đã sử dụng tất cả binh khí, pháp khí, vũ khí, phương tiện, nghệ thuật, thủ thuật trong Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo để thoát ra được tham, sân, si, vô minh, bản ngã và hiện tại tâm mình là tâm giải thoát. Chúng ta biết được tâm giải thoát đó và hoan hỉ, an lạc trong tâm này. Như vậy thì tu mới thấy vui, hạnh phúc, bình an, giải thoát và nhẹ nhàng.
Quán tánh sanh diệt trên tâm
Như vậy vị ấy sống quán tâm trên nội tâm; hay sống quán tâm trên ngoại tâm; hay sống quán tâm trên nội tâm, ngoại tâm. Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm; hay sống quán tánh diệt tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. "Có tâm đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Tất cả sự tu tập đó là vị ấy sống quán tâm ở trong tâm, quán tâm ở ngoài tâm, sống quán cả trong lẫn ngoài tâm, quán sự sanh khởi và diệt tận của tâm. Có tâm như vậy, vị ấy sống an trú, chánh niệm, với hy vọng, với sự chờ mong tha thiết, chân thành là đạt được chánh trí huệ, xuất ly năm uẩn để nhàm chán, từ bỏ, giải thoát, không nương tựa, chấp trước bất cứ vật gì ở trên đời.
Trong tâm có gì, ngoài tâm có gì cũng phải biết bằng trí tuệ. Ngoài tâm là những sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp bên ngoài, mỗi khi xúc vào đều phải biết bằng trí tuệ. Bên trong có những thọ, tưởng, hành, thức gì cũng phải biết bằng trí tuệ. Trong, ngoài, trên, dưới, trước, sau, tất cả căn, trần, thức, 18 giới đều phải dùng Thánh Tri Kiến, Chánh Trí Huệ để nhìn. Phải hy vọng đạt đến Chánh Trí Huệ đó.
Tất cả sự sanh khởi đều phải đến lúc hoại diệt, như vậy sao ta không diệt luôn đi, để nó sanh lên làm gì? Tự nhiên có khi đang tu mà ngồi buồn, rồi không muốn ngồi thiền, không muốn nghe pháp, nhưng cũng không biết tại sao, cứ buồn nhẹ nhẹ, chán nản, nhìn gì cũng chán. Khi đó, phải nắm bắt liền rằng nguy hiểm đang đến, phải thấy tâm mình ngay tức khắc. Biết được đó là dục lậu, tâm không thỏa mãn, muốn có gì đó mà không biết muốn có gì, buồn nhưng cũng không biết tại sao buồn, rơi vào trạng thái nản nản, chán chán, không muốn làm gì nữa. Tu cũng làm biếng không muốn tu, ngồi thiền cũng làm biếng không muốn ngồi, nghe pháp cũng không muốn nghe. Lâu lâu có điều đó thì phải thấy được và trị nó. Phải tác ý và đánh đuổi ngay: “Đây là cái gì? Đi ra khỏi tâm ta”, mở pháp, mở bài Như Lý Tác Ý mãnh liệt nghe để phấn khởi, hân hoan, nỗ lực, tinh tấn trở lại. Cho nên phải thấy được tánh sanh diệt của tâm.
“Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm; hay sống quán tánh diệt tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm.” Khởi lên hình bóng, khởi lên suy nghĩ, có ra nhận thức gì thì phải nhìn thấy nó. Sau đó, nó biến đổi, rồi chấm dứt thì cũng phải nhìn thấy trò ảo ảnh sanh diệt đó. Đức Phật nói thức giống như trò ảo thuật, cho nên cái biết làm cho chúng ta tham, sân, si, phiền não, thì hãy nói: “Đây là trò ảo thuật của tâm thức”, rồi đứng ngay vị trí chánh quán của mình, không để trò ảo thuật đó làm lay động, lôi kéo. Mỗi khi giận lên, buồn lên, dục, tham, ái sanh khởi thì mình biết đó là trò ảo thuật của thức uẩn. Chính thức uẩn sanh khởi lên những điều đó, cho nên, không tin tưởng vào những cái biết, không tin tưởng vào những cái thấy, nghe, nhận thức, cảm giác này. Thay vào đó hãy y cứ vào Chánh Trí Huệ, y cứ vào Thánh Tri Kiến, y cứ vào Chánh Kiến – thấy đúng sự vô thường, khổ, vô ngã. Không có gì đáng giận, đáng buồn, đáng ghét hết, thân này là trống rỗng, trống không, trống trơn, không có gì bên trong, nó là vô ngã. Khi đó, đọc lên bài “Thân trống rỗng”: “Thân trống rỗng không ai trong đó…” thì chúng ta sẽ thấy được điều diệu kì, phép màu của sự quán tâm trên tâm.
Sống an trú chánh niệm như vậy thì luôn luôn lúc nào sự hy vọng, mục tiêu, chỗ nhắm, chỗ hướng tới cũng là đạt được Chánh Trí Huệ, thấy cho bằng được tính chất vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng của ngũ uẩn. Bất cứ sự tu nào cũng đều phải hướng về mục tiêu đó. Chính vì vậy sống không chấp trước, không nương tựa bất cứ một vật gì trên đời để cho tâm mình được bình an, nhẹ nhàng, thanh thản, không dựa vào, chấp vào những ngũ uẩn tạm bợ, ảo ảnh như trò ảo thuật nữa. Từ đó, sống với trí huệ chân thật – Chánh Trí và không còn sống với những ảo tưởng, những suy tưởng ảo hóa, những nhận thức theo vô minh.
./.