Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

7 Cách Trừ Phiền Não - Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc 1

2026-03-03 00:54:59
Kinh Nikāya Giảng Giải

BẢY CÁCH TRỪ PHIỀN NÃO

KINH TẤT CẢ LẬU HOẶC 1

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Trí tuệ về lậu Hoặc PAGEREF _Toc83021534 \h 1

II.Phương pháp diệt trừ lậu hoặc PAGEREF _Toc83021535 \h 4

1.Dùng Như lý tác ý chiếu phá Phi Như lý tác ý PAGEREF _Toc83021536 \h 4

2.Từ tâm hóa giải sân hận PAGEREF _Toc83021537 \h 7

3.Chiếu phá cái tôi PAGEREF _Toc83021538 \h 10

Trí tuệ về lậu Hoặc

Khoảng thời gian từ đầu năm học đến nay là tiền phương tiện, là sự chuẩn bị và bây giờ chúng ta chính thức đi vào kinh tạng. Từ đầu năm đến giờ chúng ta trang bị căn bản trí, những nền tảng, sự thấy biết các pháp thân tâm của chúng ta. Sau khi nắm được cảm giác toàn thân, thấy biết về năm uẩn, nhìn nhận một phần tham sân si, bản ngã và lậu hoặc thì bây giờ chúng ta chính thức bước vào kinh tạng Nikāya, tương đương với Trung A-hàm là Trung Bộ kinh.

Chúng ta sẽ tìm hiểu bài kinh số 2 “Tất Cả Lậu Hoặc” của kinh Trung Bộ. Sau khi nghe đoạn kinh thì chúng ta sẽ thấy rằng không phải dễ để có thể hiểu được. Mặc dù đã có tiền phương tiện, đã có sự chuẩn bị từ đầu năm, đã có các bước trang bị những tư cụ để có thể mở được cánh cửa của Thánh pháp tạng nhưng khi vừa chạm đến chúng ta đã thấy nhiều lớp ngôn ngữ, nhiều khái niệm, nhiều nghĩa lý thâm sâu. Cho nên chúng ta sẽ học bài kinh rất chậm và kĩ, vì bài kinh này tuyệt đối không thể thiếu đối với một người tu theo đạo Phật, bài kinh này nói về bảy cách đoạn trừ phiền não.

Có 7 cách đoạn trừ phiền não:

Có những lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ.

Có những lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ.

Có những lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ.

có những lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ.

Có những lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ,

Có những lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ.

Có những lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ.

Cách thứ nhất "Các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ", tức là do sự thấy biết đúng mới có thể đoạn trừ phiền não.

Khi đó Đức Thế Tôn ở Xá-vệ, tại vườn Kì-đà của ông Cấp-cô-độc, đây là thể loại vô vấn tự thuyết, nghĩa là không có người hỏi mà tự Đức Phật nói. Đức Phật nói rằng:

"Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Người pháp môn phòng hộ tất cả lậu hoặc. Hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ nói. –"Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Thế Tôn nói như sau:

-- Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy. (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc)

Một người muốn diệt tận các phiền não, tham sân si và lậu hoặc thì người đó phải là người biết, phải là người thấy thân tâm chính mình. Nếu một người muốn nhiếp phục và diệt tận phiền não, tham sân si và lậu hoặc nhưng họ lại không thấy, không biết chính mình thì người này không thể diệt tận được hết lậu hoặc và phiền não, sự việc đó không thể xảy ra. Cho nên, thấy biết ở đây chính là thấy biết năm uẩn, thế nên, khi học kinh Nikāya mà đọc liền chánh văn là không thể hiểu được. Đây cũng là lý do tại sao sáu tháng vừa rồi chỉ học phần nhận diện năm uẩn, vì nếu không thấy không biết tâm như thế nào thì làm sao thanh lọc sự ô nhiễm của tâm.

"Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy". Thấy biết ở đây là thấy biết thân tâm chính mình, mà thân tâm của mình chính là sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Thân tâm này là một cục thịt tứ đại, là những tổ hợp của cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức, người nào thấy biết được điều đó thì Ngài mới nói cho người đó. Trước và sau khi nhận diện năm uẩn sự tu rất khác nhau, ngồi thiền sẽ thấy được cái nào là thọ; tưởng; hành và thấy được tham sân si trú ẩn trong ba loại cảm giác.

Ở đây có nói đến từ "lậu hoặc", chữ lậu hoặc khác với phiền não, khác với tham sân si. Phiền não là sự buồn bực, buồn phiền, lo buồn nhẹ, tham sân si có cái thô, cái tế trong cảm giác nhưng lậu hoặc lại không thấy được, nó ở cấp độ rất vi tế. Chúng ta tu theo cách bình thường không thiền định, không nhận diện năm uẩn, không độc cư, nhập thất thì chúng ta không biết được lậu hoặc, thậm chí có độc cư, nhập thất nhưng không có người hướng dẫn, chia sẻ cũng không thể biết được lậu hoặc là gì. Từ chỗ lậu hoặc mới phát khởi ra những thứ ở trên, lậu hoặc là một trạng thái tâm hoạt động ngấm ngầm và trạng thái này rất sâu kín, nhỏ nhiệm, vi tế, nó điều khiển tất cả năm uẩn vậy mà chúng ta lại không thấy, không biết.

“Lậu” là rỉ chảy, “hoặc” là sự mê hoặc, mê lầm. Chúng ta có thể hiểu nôm na, thông dụng thì “lậu” nghĩa là buôn hàng lậu, giống như những người đi buôn lậu, họ giấu đồ rất giỏi, rất khéo léo, tinh vi, thậm chí là nuốt vào bụng nhưng nếu có máy soi chiếu vẫn phát hiện ra, cho nên hải quan mà không có những công cụ, thiết bị, máy móc tốt và hiện đại thì những người buôn lậu qua mặt vù vù. Lậu hoặc cũng giống như vậy, nó trốn tránh, len lỏi, trá hình, vi tế, nó qua mặt mình liên tục mà mình không hề hay biết. Tâm chúng ta là một cái tâm uế nhiễm, chữ lậu hoặc có nghĩa rộng là một cái tâm uế nhiễm, cấu nhiễm, cái tâm rác bẩn, cấu uế. Một lu nước để lâu ngày thì trong lu sẽ bốc mùi hôi thối, đầy lăng quăng, nòng nọc, những con vi trùng sinh sôi nảy nở trong đó và đây là nước cấu bẩn, tâm chúng ta cũng giống như lu nước này vậy.

Có ba loại tâm cấu nhiễm: dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Khi Bồ-tát Tất-đạt-đa ngồi dưới cội Bồ-đề thì đầu tiên Ngài thành tựu bốn Thánh trí về năm uẩn, kế đó Ngài thành tựu bốn Thánh trí về lậu hoặc. Nếu không Thành tựu Thánh trí về năm uẩn thì không bao giờ thành tựu Thánh trí về lậu hoặc. Cho nên, phải thành tựu bốn Thánh trí về năm uẩn trước rồi mới thành tựu bốn Thánh trí về lậu hoặc, đó là cánh cửa bước vào pháp, giống như phải bước vào cửa chùa thì mới nhìn thấy trong chùa có cái gì, không bước vào cổng chùa thì làm sao biết trong này có cái gì, trí năm uẩn giống như cánh cổng vào ngôi chùa, sau đó đi vào mới xem trong chùa có gì. Vì vậy thành tựu về bốn Thánh trí năm uẩn trước, sau đó Bồ-tát mới thành tựu bốn Thánh trí về lậu hoặc, tiếp theo chứng được tam minh.

Bốn Thánh trí về năm uẩn là: ngũ uẩn sanh, ngũ uẩn diệt và con đường đưa đến sự chấm dứt về năm uẩn. Nghĩa là sắc; thọ; tưởng; hành; thức là năm uẩn; năm uẩn sanh khởi do vô minh và tham ái; năm uẩn đoạn diệt do hết vô minh và hết tham ái; con đường để chấm dứt năm uẩn là Bát Chánh Đạo. Năm uẩn là chìa khóa để chúng ta mở kho tàng kinh tạng Nikāya, người ta nói "Ở trong chăn mới biết chăn có rận", nghĩa là phải thành tựu trí năm uẩn thì mới thấy ra lậu hoặc tham sân si, phiền não ở trong năm uẩn.

Ví dụ người ta đưa mình ly nước cam tươi bằng sành và có nắp đậy, nếu chỉ để đó chứ không mở nắp ra xem thì mình sẽ không thấy trong đó sẽ có hột cam hoặc có cái gì rơi vào ly nước. Do mình cầm ly nước, mở nắp ra và xem kĩ trước khi uống có cái gì trong đó thì mình mới quyết định uống hay không uống. Việc nhìn lại ngũ uẩn giống như ly nước cam và hột cam, chất dơ trong ly nước chính là lậu hoặc.

Vì thế ở trong ngũ uẩn mới thấy ra được lậu hoặc và tham sân si, còn không thấy ngũ uẩn, chỉ nhìn ra ngoài thì không thấy được. Cho nên Đức Phật nói rằng: "Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy". Vì vậy, nếu không nhận diện ngũ uẩn thường xuyên sẽ không thấy tham sân si với lậu hoặc, mà không thấy thì làm sao chúng ta có thể vớt nó ra, lấy nó ra?

Lậu hoặc do tri kiến được đoạn trừ

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy: có như lý tác ý và không như lý tác ý". (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)

Qua đây chúng ta thấy được cách giảng pháp, cách trình bày của Đức Phật rất thuận thứ, tuần tự, thứ lớp. Chúng ta học cách học của Đức Phật là tối thượng, những bài kinh này chính là cách giảng pháp của Đức Phật. Khi Đức Phật nêu ra điều gì đều có thứ lớp, tuần tự, sau đó Ngài giải thích rồi cho ví dụ chứng minh rất cụ thể. Như vậy, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy? Chính là có Như lý tác ý và không Như lý tác ý, đây là cái lõi của pháp hành.

Dùng Như lý tác ý chiếu phá Phi Như lý tác ý

 "Này các Tỳ-kheo, do không như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng. Này các Tỳ-kheo, do như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt". (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)

Đây là tổng cương lĩnh của bảy cách đoạn trừ phiền não. Đó là câu tóm thâu tất cả pháp hành của bảy phương pháp bên dưới, trong đây dùng từ "không" nhưng thường thì trong kinh dùng từ "phi", phi có nghĩa là không đúng. Tại sao người thấy, người biết có thể diệt tận các lậu hoặc, tham sân si, mê lầm? Vì có Như lý tác ý và có sự không Như lý tác ý. “Như lý” là đúng như chân lý, “tác ý” là tác động tâm ý của mình đúng như chân lý. Tác động tâm ý là sự chủ động suy tư, suy xét, quán sát, tư duy, nhắc nhở mình bằng chính mình. Phi Như lý tác ý là tác động tâm ý không đúng như chân lý, là sự nghĩ sai, suy xét sai, suy tư sai, diễn dịch sai. Do suy nghĩ sai sự thật cho nên phiền não, lậu hoặc, tham sân si chưa sanh sẽ sanh, còn đã sanh thì tăng trưởng, phát triển lớn mạnh. Do mình nghĩ sai cho nên tham dục, sân hận, si mê, mê lầm, lậu hoặc sanh, nếu nó đã có mà mình còn suy nghĩ sai nữa thì nó sẽ tăng trưởng, phát triển lớn mạnh quảng đại, bành trướng, áp đảo.

Ví dụ, một cô tiểu thư đi chùa thấy một vị thầy làm hương đăng rất từ ái, trẻ trung, vị thầy này viết chữ rất đẹp và có tướng hảo. Cô về nhà phi Như lý tác ý đem lòng thương vị thầy đó, đây là do cô suy nghĩ sai vì đây là người xuất gia. Việc phi Như lý tác ý này cứ lặp tới lặp lui, tăng trưởng phát triển nên cuối cùng cô bị bệnh. Ở đây chúng ta dùng từ "tương tư" là không đúng, mà đây là cô tiểu thư đơn phương suy nghĩ về vị thầy và do suy nghĩ sai này lặp tới lặp lui nên những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ sanh ra và diễn ra liên tục, nó tăng trưởng, phát triển. Cho nên "do không như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng", cuối cùng cô suy sụp và đòi chết, đó là phi Như lý tác ý.

Chúng ta đi tu nên phải từ bỏ tất cả cha mẹ, anh em, ông bà, cô bác, tất cả lục thân quyến thuộc, tất cả tài sắc, sự nghiệp… nhưng tình cờ mình đi ngang một người có ánh mắt, nụ cười khả ái, khi mình tiếp xúc thì sanh thọ. Hơn nữa, mình lại phi Như lý tác ý để cho hình bóng, sắc tưởng đó xâm chiếm, ám ảnh trong tâm, những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng đó cứ lặp tới lặp lui để nuôi dưỡng phi Như lý tác ý. Cứ tiếp tục như vậy trong thời gian dài thì sẽ muốn gặp gỡ, nói chuyện, như vậy là dục lậu chưa sanh nay sanh khởi, dục lậu đã sanh được phát triển quảng đại, cuối cùng có nguy cơ hoàn tục.

Thay vào đó, chúng ta cần phải Như lý tác ý: "Mình đã bỏ cha bỏ mẹ, bỏ gia đình ra đi tìm chí nguyện xuất gia cao thượng, thoát tục, xuất trần. Mình phải tìm cái gì vô thượng tịch tịnh, tối thắng, an lạc đạo lộ. Những cái này là những cái đưa đến ràng buộc, hệ lụy, trói buộc, đau khổ, mình đã từ bỏ chẳng lẽ bây giờ mình quay trở lại hay sao? Hãy từ bỏ, quăng bỏ, giải thoát đối với tâm niệm tham ái này". Đó là Minh Thành cho Như lý tác ý nhẹ nhàng chứ thực tế phải mạnh mẽ hơn nữa vì càng mạnh thì tuệ lực càng phát triển mới đủ sức đánh bật được phi Như lý tác ý. Cho nên, dùng chân lý đúng đánh đuổi cái chân lý sai nhưng đây là do sự tác động tâm ý, mà tác động tâm ý phải do chính mình chủ động suy nghĩ mới được, phải làm khơi dậy trong mình một sức mạnh, một nội lực, một công lực, một chí nguyện cao thượng.

Đức Phật có nói, này các Tỳ-kheo, ngày xưa ta bị sanh, ta bị già, ta bị bệnh, ta bị chết, ta bị sầu, bị đau khổ đau nên ta đi tìm cái không sanh, không già, ta đi tìm cái không bệnh, không chết, không sầu và nay ta đã chứng nhập cái bất tử. Các ông bị sanh lại đi tìm cái bị sanh, các ông bị già lại đi tìm cái bị già, các ông bị bệnh lại đi tìm cái bị bệnh, các ông bị chết lại đi tìm cái bị chết, các ông bị sầu đau, khổ ưu não lại đi tìm cái sầu đau, khổ ưu não hay sao. Cho nên, đến đây là vừa đủ để nhàm chán, từ bỏ để thoát ra cái khổ uẩn này.

"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm.

Này các Tỳ-kheo, Ta cũng vậy, trước khi Giác Ngộ, khi chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già, lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu"... tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm. Này các Tỳ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Tại sao Ta, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già... (như trên)... tự mình bi ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm? Vậy Ta, tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, hãy tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già... cái không già... tự mình bị bệnh... cái không bệnh... tự mình bị chết... cái bất tử... tự mình bị sầu... cái không sầu... tự mình bi ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị nhiễm, hãy tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)

Nhờ có học pháp, có sự suy tư về những lời Thánh ngôn của Đức Phật cho nên chúng ta mới lấy ra để đánh phá cái suy nghĩ sai, suy nghĩ theo mê lầm, dục tham ái, suy nghĩ theo thói quen của nghiệp, theo tập khí, vô minh, lậu hoặc. Chúng ta phải đánh phá thì dục lậu chưa sanh không sanh khởi, dục lậu đã sanh sẽ được trừ diệt, đây chính là bí kiếp của Chánh pháp. Tổng cương lĩnh của pháp hành kinh Nikāya thuần túy chính là Như lý tác ý cộng với thiền định, tức là chỉ và quán. Quán là Như lý tác ý đã nói ở trên, nó là tuệ lực, là tinh tấn lực, dũng mãnh lực, mãnh hổ lực, hung hãn lực, là tinh cần, nhiệt tâm, chánh niệm tỉnh giác, là mạnh mẽ, oai hùng, là đại hùng đại lực. Còn nếu ác bất thiện pháp sanh khởi mà mình cứ đi theo thọ; tưởng; hành, những hình bóng hiện ra là mình đi theo, mình không ra khỏi những suy nghĩ, cảm giác, mình bị chìm đắm trong biển khổ, đi theo nghiệp, thói quen tập khí, theo dục tham ái.

Từ tâm hóa giải sân hận

Sân cũng giống như vậy. Ví dụ, mình đang đi thiền hành nhẹ nhàng, thảnh thơi nhưng có điện thoại chửi xối xả thì lúc đó mình ra sao? Nếu là phi Như lý tác ý sẽ bực bội, sân hận, đi theo cảm thọ do nhĩ xúc sanh. Mình không biết do duyên có lỗ tai, có âm thanh của điện thoại và có sự rõ biết âm thanh, ba pháp này hội tụ, giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của lỗ tai gọi là nhĩ xúc, từ nhĩ xúc sanh ra thọ gọi là thọ do nhĩ xúc sanh, sau đó thanh tưởng và thanh tư. Chúng ta suy nghĩ về những âm thanh và những âm thanh đó cứ vang lại trong tâm mà không thấy các pháp vận hành, chỉ thấy một cái tôi to tướng "Tôi đang giận", đó là tà kiến, là vô minh, chấp thủ, là không phải người tu. Những cảm giác cứ bừng lên bốc cháy nên mình bị nhiệt não, bị thiêu đốt trong cái thọ do nhĩ xúc sanh đó.

Cho nên, các pháp vận hành rất rõ, "thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, không có thời gian, đến để mà thấy, được người trí tự mình giác hiểu". Đó chính là Chánh pháp, Chánh pháp chỉ cho mình thấy rõ ràng căn nguyên, nguồn cội của tham dục, sân hận sanh khởi, vận hành, an trú trong tâm, cách nào chúng nó vận hành và cách nào để chúng nó chấm dứt đều được Đức Phật nói rõ ràng. Nếu cứ phi Như lý tác ý thì cơn giận cứ diễn ra liên tục, không phải ngay đó mới giận mà ngày mai cũng giận, ngày mốt cũng giận làm ăn không ngon ngủ không yên, thậm chí cả tháng sau âm vang của thanh tưởng, thanh tư cứ vang vọng trong tai, nó làm chúng ta khổ triền miên. Có những người vì một câu nói, vì một hành động mà mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm cho đến sống để dạ, chết đem theo, thật sự đau khổ vô cùng. Nhưng thật chất chỉ là thọ do nhĩ xúc sanh hoặc là thọ do nhãn xúc sanh chứ không có gì cả, nhưng vì vô văn phàm phu ít nghe, không học Chánh pháp, không gặp bậc chân nhân, không thuần thục pháp của bậc chân nhân, không tu tập pháp của bậc chân nhân nên bị năm uẩn khống chế, dẫn dắt, nó nhận chìm, sai khiến, trói cột.

Khi đó, nếu tác động tâm ý ngược chiều lại, các pháp này là duyên sanh, trước khi nghe điện thoại mình không tức giận, do mình nghe nên mới có cảm thọ này nên cảm thọ này vô thường, sanh khởi rồi diệt, cảm thọ này tan biến, là đồ lắp ráp. Nếu đi theo cảm thọ này là sẽ đau khổ, mình không muốn khổ nên phải tác ý: "Thương thay cho ta! Đau xót thay cho ta! Đau buồn thay cho ta! Ta đi tu mười năm ăn chay rát ruột cạo đầu rát da, thức khuya dậy sớm, nhịn sắc, nhịn dục vậy mà chỉ có một chút sân này nhịn không được thì làm cái gì? Tu cái gì?". Mình phải trách mắng, quở trách, huấn luyện, dạy dỗ cái tâm mình để nó nhả ra, khạc ra, vứt bỏ những cảm giác sân hận đó.

Sau đó trải tâm từ, trở về an trú cảm giác toàn thân, làm cho toàn thân trong mỗi tế bào, mỗi lỗ chân lông, mạch máu, huyết quản đều thấm nhuần lòng từ, bi mẫn, xót thương, từ tâm đối với cảm giác sân hận của chính mình. Phải biết thương mình vì "Mình đã khổ với cảm giác này bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp rồi, mình đã bị nó đốt bao nhiêu ngàn vạn năm rồi, vậy mà bây giờ mình lại tiếp tục bỏ thêm nhiên liệu vào để nó đốt tiếp nữa hay sao?". Sau khi tác ý như vậy thì trải tâm từ mình sẽ thấy toàn thân chấn động, cả cơ thể được thấm nhuần lòng từ trong sự thực tập cảm giác toàn thân hằng ngày nhuần nhuyễn của mình. Lúc đó từ đảnh tóc cho đến gót chân không có chỗ nào bằng sợi lông mà không có cảm giác của từ tâm, bi mẫn, xót thương, tình thương, từ cảm giác từ tâm, tình thương lan tỏa khắp thân tâm mình trải tâm từ bao trùm sang cả đối tượng mà mình sân hận. Trong bài kinh “Cái cưa”, Đức Phật nói như cầm tấm vải phủ lên người kia thì tâm từ cũng giống vậy, nó lan tỏa, bao trùm đối tượng sân hận đó.

"Chư Tỳ-kheo, như những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân; dầu vậy, nếu một ai ở đây khởi ý nhiễm loạn, người ấy do vậy không phải là người thực hành giáo pháp của Ta. Ở đây, chư Tỳ-kheo các Ông phải học tập như sau: "Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm; chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ; chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân". Chư Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví Dụ Cái Cưa)

Chúng ta làm cho cảm giác nóng giận được an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, tan biến hoàn toàn. Và lan tỏa cảm giác thương yêu, từ bi, từ tâm bao trùm và thấm nhuần đối tượng kia giống như tắm dưới vòi hoa sen, nước chảy thấm từ đỉnh đầu cho đến gót chân. Cảm giác thương yêu, từ tâm của mình lan tỏa đến đối tượng kia, thương người đó giống như thương mình và thương mình giống như thương người đó vì chúng ta đều là nạn nhân của sân hận, nạn nhân của sự nhiệt não nóng bức, nạn nhân của tham sân si, phiền não, lậu hoặc, chúng ta cùng là những chúng sanh đang khổ đau. Đó là trải tâm từ và cũng là sự tác động tâm ý đúng như chân lý, lúc đó chúng ta lập tức sẽ làm cho sân hận được an tịnh, lắng dịu, làm sạch sân hận, bứng tận gốc rễ của nó, sanh khởi lên cảm giác từ tâm. Đức Phật đã nói tu tập tâm từ thành cỗ xe, thành căn cứ địa, thành thành quách vững chắc.

"Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, thời vị ấy rất khó bị phi nhân não hại.

Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện"". (Tương Ưng Bộ, tập II – Thiên Nhân Duyên, chương IX. Tương Ưng Thí Dụ, III. Gia Ðình)

Thế nào là tu tập tâm từ thành cỗ xe? Nghĩa là bất cứ khi nào mình đề máy chiếc xe cũng nổ máy, mình muốn đi đến đâu thì xe sẽ đi đến đó đúng như ý muốn. Cũng vậy, tu tâm từ cho đến khi nào tâm từ này thành một công cụ mà bất cứ khi nào mình muốn cũng có thể dùng. Khi tác ý "Tình thương ơi, tình thương ơi" là bắt đầu tình thương trong thân tâm tuôn ra như mạch nước, cảm giác từ tâm lan tỏa cùng khắp, muốn đưa từ tâm đến người nào thì dòng cảm thọ, cảm giác lan tỏa đến người đó. Thậm chí là cho tâm từ bung ra khắp giảng đường, bao trùm cả ngôi chùa này, lan ra khắp quận Bình Thạnh, ra khắp các quận khác, lan xuống miền Tây, ra miền Trung và miền Bắc… khắp cả dải đất hình chữ S này được bao phủ bởi tâm từ bi. Không dừng lại ở đây mà cần lan tỏa tâm từ này ra khắp khu vực Đông Nam Á, Châu Á, trải dài qua các nước Châu Mỹ, Châu Úc, Châu Âu, Châu Phi và lan ra khắp năm châu bốn biển… mình mở tâm từ vô lượng, đó là công phu tu tập tâm từ.

Chúng ta muốn được như vậy phải trải qua sự rèn luyện liên tục chứ không phải chỉ nói trên miệng. Phải thực tập hằng ngày để tâm từ này thành cỗ xe, thành căn cứ địa, thành thành quách, bất cứ khi nào chúng ta lên xe muốn đi đâu là đi được đến đó, tâm từ của mình cũng vậy, muốn đưa tâm từ đến ai là người đó sẽ nhận được từ tâm lan tỏa của mình. Cho đến một lúc thực hành tâm từ này nhuần nhuyễn thì tâm từ sẽ trở thành từ vô lượng tâm, nó không còn là một cái tâm nhỏ hẹp, nhỏ mọn nữa mà nó trở thành một cái tâm rộng mở, rộng lớn vô lượng, vô tận, vô biên không có gì chướng ngại. Giống như câu "Pháp lực bất tư nghì. Từ bi vô chướng ngại", đó là một sức mạnh không chỉ nói trên miệng mà nó còn là sức mạnh nội lực của thiền định tâm từ. Phải thực tập cho nhuần nhuyễn, lão luyện, thuần thục thành cỗ xe. Bất cứ lúc nào cũng có thể trải tâm từ, đối với những người hại mình, nói xấu mình, làm mình đau khổ là càng phải trải tâm từ đến với họ nhiều nhất, đó là những chủ nợ của chúng ta cho nên phải trải tâm từ đến họ nhiều hơn. Hãy trải từ tâm ra khắp phương trên phương dưới, bề dọc bề ngang, khắp hư không giới, vô biên giới, lan tỏa cùng khắp mười phương hư không.

Chiếu phá cái tôi

Nếu không tác động tâm ý, tức là không suy tư, quán xét, quán chiếu đúng như sự thật, mình suy nghĩ sai thì vô minh chưa sanh sẽ sanh, vô minh đã sanh sẽ tăng trưởng, phát triển bành trướng, xâm chiếm nội tâm mình. Vô minh là mình không thấy năm uẩn mà chỉ thấy một cái tôi to tướng.

"Vị ấy không như lý tác ý như sau:

"Ta có mặt trong thời quá khứ, hay ta không có mặt trong thời quá khứ?

Ta có mặt trong thời quá khứ như thế nào?

Ta có mặt trong thời quá khứ hình vóc như thế nào?

Trước kia ta là gì và ta đã có mặt như thế nào trong thời quá khứ?

Ta sẽ có mặt trong thời vị lai hay ta sẽ không có mặt trong thời vị lai?

Ta sẽ có mặt trong thời vị lai như thế nào?

Ta sẽ có mặt trong thời vị lai, hình vóc như thế nào?

Trước kia ta là gì và ta sẽ có mặt như thế nào trong thời vị lai?

Hay nay vị ấy có nghi ngờ về mình trong thời hiện tại: Ta có mặt hay ta không có mặt?

Ta có mặt như thế nào?

Ta có mặt hình vóc như thế nào?

Chúng sanh này từ đâu đến?

Và rồi nó sẽ đi đâu?". (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)

Tức là nghĩ rằng không biết ngày xưa mình có mặt hay không có mặt, mình có mặt như thế nào, hình hài vóc dáng của mình như thế nào, trước kia mình là cái gì, sau này mình sẽ có mặt hay không có mặt, sau này mình có mặt như thế nào, vóc dáng của mình sau này sẽ ra sao, mình nghi ngờ trong hiện tại hình dáng của ta như thế nào, chúng sanh từ đâu đến và sau khi chết sẽ đi về đâu?

"Với người không như lý tác ý như vậy, một trong sáu tà kiến này khởi lên:

"Ta có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn;

"Ta không có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật như chơn;

"Do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn;

"Do tự mình, ta tưởng tri ta không có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn.

"Không do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; hay tà kiến này khởi lên với người ấy:

"Chính tự ngã của ta nói, cảm giác, hưởng thọ quả báo các nghiệp thiện ác đã làm chỗ này, chỗ kia, chính tự ngã ấy của ta là thường trú, thường hằng, hằng tồn, không chuyển biến, và sẽ vĩnh viễn tồn tại".

Này các Tỳ-kheo, như vậy gọi là tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược". (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)

Tất cả những cái này đều là sự chấp ngã, cho rằng có một cái tôi trước kia, bây giờ hoặc mai sau tôi sẽ như vậy, cứ lòng vòng như vậy không đi ra nổi cái tôi, cái ta, cái bản ngã. Những suy nghĩ đó sẽ tạo thành tà kiến là cái nhìn sai lầm về ngũ uẩn. Kiến trù lâm là kiến chấp hoang vu giống như rừng rậm, những kiếp chấp này cứ tranh luận. Có biết bao tư tưởng, chủ thuyết nói hoài không kết thúc gọi là hý luận phù phiếm, hễ còn trong bản ngã là cứ nói hoài không thể đi đến kết thúc rồi dẫn đến tranh chấp, trói buộc. Đó chính là kiến chấp về bản ngã, nó là sai lầm, là rừng rậm, hoang vu, là sự tranh luận không có ngày kết thúc. Đó là sự trói cột, kiết phượt, kiết sử một khi dính vào kiến chấp về thân (thân kiến). Những suy nghĩ trên là phi Như lý tác ý, nếu mình cứ nghĩ "tôi" hoài thì "vô minh lậu chưa sanh được sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được tăng trưởng", còn nếu tác động tâm ý suy xét cho đúng là "Có gì là tôi trong này? Sắc này là tứ đại đất, nước, gió, lửa".

"Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn". (Tăng Chi Bộ, chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V) Một Ung Nhọt)

Hãy tác ý bằng những câu kinh này, vì thế, chúng ta cần phải học thuộc lòng, khi nào hữu sự mình lấy ra tác ý để đánh đuổi vô minh, sự không hiểu biết trong suy nghĩ, cảm giác, hình bóng tư tưởng, trong sự nhận thức. Phải có những Thánh trí này mới đuổi được tà kiến ra khỏi thân tâm, nếu không tà kiến sẽ xâm chiếm, áp đảo, trù dập mình.

Trong sáu căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý cái nào cũng cho là của tôi. Sáu trần sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp (thọ; tưởng; hành) trong tâm cũng nghĩ là của tôi. Sáu thức là sự rõ biết sắc này là tôi, rõ biết âm thanh (nhĩ thức) là tôi, rõ biết mùi vị (tỷ thức, thiệt thức) là tôi, rõ biết sự đụng chạm (thân thức) là tôi, biết được thọ; tưởng; hành trong tâm mình cũng là tôi, ý thức là tôi, trong sáu xúc: Nhãn xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc, cái nào cũng là tôi. Đến sáu thọ: Thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do ý xúc sanh, cái nào cũng là tôi. Vui cũng "Tôi đang vui", buồn cũng "Tôi buồn quá" hoặc là "Tôi có thấy vui buồn gì đâu".

Cái nào cũng gắn chữ "tôi" vào thì đó là kiến trù lâm, tà kiến, kiến hoang vu, kiến tranh chấp, kiến hý luận, kiến kiết phược. Sáu căn mình cũng cho là mình, sáu trần cũng là mình, sáu xúc, sáu thọ, sáu tư, sáu xúc, sáu ái, sáu tưởng, sáu tầm cũng là mình, cái nào cũng là tôi, mình, ta, tao… đó là cái nhìn thấy của rừng rậm, cái thấy biết của hoang vu, của hý luận, khẩu tranh, cạnh tranh, chiến tranh sẽ sanh khởi không có ngày kết thúc, nó sẽ trói cột, ràng buộc.

Cho đến khi nào bậc Đa văn Thánh đệ tử nhìn thấy con mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này không phải là tôi, sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp không phải là tôi… cho đến khi nào vị Đa văn Thánh đệ tử nhìn thấy nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức không phải là tôi… cho đến khi nào bậc Đa văn Thánh đệ tử tuệ tri, biết bằng trí tuệ một cách như thật nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc không phải là tôi… cho đến khi nào vị Đa văn Thánh đệ tử thành tựu trí tuệ thấy biết một cách chân chánh đúng như thật thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do ý xúc sanh không phải là tôi… cho đến khi nào vị Đa văn Thánh đệ tử tuệ tri đúng như thật với chánh trí sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái không phải là tôi… cho đến khi nào vị Đa văn Thánh đệ tử thành tựu trí tuệ biết một cách chân chánh như thật sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng không phải là tôi, không phải của tôi… thì vị đệ tử đó Nhập Lưu vào được dòng trí tuệ của bậc Thánh.

./.