Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Làm Sao Để Thành Người Xuất Gia Đúng Nghĩa 4 - Kinh Xóm Ngựa - Trung Bộ

2026-03-03 00:54:59
KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI - LÀM SAO ĐỂ THÀNH NGƯỜI XUẤT GIA ĐÚNG NGHĨA 4 - KINH XÓM NGỰA - TRUNG BỘ

Thích Minh Thành

Rõ biết trước mặt, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác toàn thân. An tịnh toàn thân, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào.

Kính thưa đại chúng, chúng ta tiếp tục tìm hiểu về vấn đề người xuất gia phải tu tập như thế nào. Chúng ta đang tìm hiểu đến năm triền cái, Đức Phật có từng ví dụ về năm sự che đậy, trói cột tâm. Người bị tham dục giống như người mắc nợ, thoát khỏi tham dục giống như người làm ăn khá giả, thoát khỏi nợ cũ và dư tiền để nuôi gia đình. Người bị sân hận giống như người bị bệnh trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu, người thoát ra khỏi sân hận như người ăn uống điều độ, khỏi bệnh, người đó được sung sướng, hoan hỉ. Năm cái này rất quan trọng, nếu mình không để ý năm tên giặc này, không để tâm kiểm tra, dò xét, quán sát xem nó có nằm trong năm trạng thái này không thì ngay lập tức gội rửa và tác ý diệt tận, nếu không năm cái này che mờ trí huệ, làm tâm mình u ám, trói cột và mình sống trong bất an. Triền cái thứ ba là hôn trầm – thụy miên được Đức Phật ví dụ như người bị nhốt trong ngục.

Này các Tỳ-kheo, như một người bị nhốt trong ngục. Người ấy sau một thời gian được khỏi tù tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn. Người ấy nghĩ: "Ta trước kia bị nhốt trong ngục, nay ta được khỏi tù tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn. "Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Ðoạn trừ các triền cái))

Đây chính là trạng thái của sơ thiền, một người bị hôn trầm – thụy miên thì người này thường ở trong trạng thái si dại, đờ đẫn, không tỉnh táo, nhìn mặt u ám. Nếu ai nói không có trạng thái này là còn vô minh vì chưa thấy được thân tâm mình, nếu không bị hôn trầm – thụy miên chỉ có hai trường hợp, thứ nhất người đó đã ra khỏi năm triền cái, chứng đạt sơ thiền, thứ hai là vô minh, không biết được trạng thái đó. Vì vậy có nhiều Phật tử nói mà nghe giật mình "Thưa thầy, con hết bản ngã rồi, con sạch cái ngã rồi" nhưng nhìn thấy họ là sợ, họ nói họ vô ngã nhưng nghe là sợ vì bản ngã người đó rất khủng khiếp. Cho nên một là bậc thánh nhân đã đoạn tận ngã kiến, hai là kẻ vô văn phàm phu không biết bản ngã là gì. Thưa thật là nếu chúng ta không nhận diện năm uẩn, không tu đúng theo chánh pháp Nikāya mình sẽ không biết trạng thái của dục tham ái hoạt động ra sao, mình không biết trạng thái của sân ra sao, hoạt động ra sao, tồn tại trong tâm như thế nào và nó biến đổi, chấm dứt ra sao đều không biết, mình cũng không biết trạng thái si áp đảo, khống chế mình ra sao vì nếu mình biết thì mình đâu còn si nữa. Nếu một người có tu tập, quán chiếu thì mình sẽ biết được nhưng đây là biết sau khi nó đã xảy ra, mình tu từ từ thì ngay lúc đó sẽ biết, tu giỏi thì chưa sanh đã chặn đứng. Trở lại hôn trầm, nếu thấy một người lúc nào cũng si dại, đờ dẫn, ngáo ngơ, thân ngồi đây nhưng tâm hồn ở tận đâu, ngồi nói chuyện mà cái tâm ở đâu đâu thì đó là hôn trầm – thụy miên, buồn ngủ thì Đức Phật ví dụ người này giống như bị nhốt trong ngục tù, lúc nào cũng ở trong trạng thái đó. Có nhiều người nặng về si cũng có nhiều người nặng về sân, lúc nào nhìn cũng giống như chuẩn bị bốc hỏa, chỉ cần bắt được rơm rạ, chất dễ cháy là phựt ngay. Khi nào dục tham khởi lên thì tác ý "mày là kẻ mắc nợ", khi sân khởi lên là tác ý "mày là kẻ bị bệnh nặng, bệnh nan y", khi hôn trầm kéo đến thì nói với cảm giác đó "mày là tù nhân bị nhốt vào ngục rồi", cho nên phải quán chiếu thoát khỏi cái ngục này.

Tỳ-kheo lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận.  Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm và thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử hối tiếc, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Ðoạn trừ các triền cái))

Cho nên khi bị hôn trầm – thụy miên làm người mơ màng, lơ ngơ thì phải tác ý mạnh mẽ hướng về ánh sáng Mặt Trời trước mặt, ngồi thiền đừng mở đèn mờ ảo chỉ khiến cho buồn ngủ. Mình sẽ bất ngờ khi qua thiền viện lớn nhất Myanmar, ngồi thiền trong rừng nên sẽ có rất nhiều muỗi nên mỗi người có một cái mùng rồi ngồi thiền trong mùng, xung quanh tối đen như mực rồi thật sự không biết thiền trong hoàn cảnh thuận lợi cho việc ngủ thì có thiền được không. Vì thế mà không được ngồi thiền trong bóng đêm, mở đèn sáng mà tâm còn tối hù, mắt cứ sụp xuống thì nói gì đến việc ngồi thiền trong bóng đêm cho nên phải ngồi ở nơi có ánh sáng nhưng đừng để bị chói mắt cho nên khi bị hôn trầm mơ màng, không tỉnh táo thì phải biết rằng mình đang ở trong ngục và phải tác ý để thoát khỏi ngục đó, quán chiếu hình ảnh bản thân chạy ra khỏi đó, đánh phá cảm giác hôn trầm nằm ở ngay con mắt và cái đầu, để ý hai chỗ đó để tác ý, ngay chỗ nào bị trục trặc có vấn đề trong cảm giác toàn thân thì phải hướng tâm vào đó. Hôn trầm là con mắt nhướng lên nhướng xuống, cái đầu nặng rồi quẹo qua một bên. Sân là nóng lên ngay lồng ngực rồi bốc lên làm đỏ mặt, đỏ tai. Dục là ngay chỗ phát dục. Khi nào những cái này phát khởi thì phải hướng tâm ngay đó và tác ý ngay đó để tan cảm giác đó ra và lắng dịu xuống. Khi sân giận khởi thì lồng ngực hoạt động mạnh, bốc lên làm đổi màu mặt, mắt đỏ, miệng giật giật, từ lồng ngực lan tỏa ra toàn thân, thậm chí có người tay chân run rẩy, người nào cộc tính mà giận lên thì mặt chuyển màu xanh. Cảm giác si ở chỗ hai con mắt và trên đầu làm nặng nề, trì trệ. Còn dục thì ở ngay chỗ phát dục. Mình phải hướng tâm về ngay chỗ sanh khởi cảm thọ rồi tác ý làm cảm thọ đó tan ra, an tịnh, lắng dịu xuống. Khi sân thì tác ý cho đến khi cảm giác sân tan ra, dễ chịu, bình thường trở lại thì mới sân và sau đó trải tâm từ, không chỉ dừng lại ở trạng thái bình thường mà còn phải trải tâm từ vì chỉ có trải tâm từ thì mới bứng tận gốc rễ của sân hận, nếu không chỉ bớt giận ngay đó nhưng vài ngày sau bốc hỏa lại vì cái thọ chỉ mới lắng xuống chứ chưa tan hết hoàn toàn, ở bề mặt không có, ngoài mặt nói chuyện bình thường nhưng sân thẳm bên trong cảm thọ vẫn còn hờn ghét. Cái hờn khác với giận, hờn nhẹ hơn giận, chỉ là trạng thái không ưa, không thích, như vậy phải tác ý cho tan cảm giác giận đó rồi trải tâm từ thì lúc đó sẽ ngọt ngào, dạt dào tình thường, cái sân hận đó sẽ được bứng tận gốc rễ để không còn sanh khởi trở lại trong tương lai. Còn không chỉ xóa bên ngoài, bề nổi phía trên của cảm thọ còn lắng sâu bên dưới vẫn còn, cho nên lần sau nếu có chuyện gì xảy ra thì sân giận sẽ bung lên lại rồi cộng thêm với lần trước thì giận gấp đôi, rất dễ giận vì cái hờn vẫn còn trong thân tâm thành ra thân tâm con người rất phức tạp và khủng khiếp, phải bỏ nhiều thời gian công sức nội quán mới thấy rõ được. Cái dục rất ghê gớm nếu không cẩn thận tu tập quán chiếu thì diệt trừ nó không phải chuyện dễ dàng, không phải đơn giản mà giữ giới được nhất là trong xã hội hiện đại bây giờ thì càng khó khăn hơn nữa. Cho nên trước khi đi ngủ phải trách dục, tức là phải tác ý diệt dục trước khi ngủ, mình quán chiếu rằng nó cứ thúc giục, đòi hỏi, tìm kiếm, tác ý càng mạnh chừng nào thì càng có công năng lớn chừng đó, sau khi tác ý phải trải tâm từ rộng lớn rồi mới đi vào giấc ngủ, tức là trước khi ngủ phải tác ý diệt dục và trải tâm từ thì khi ngủ mới không nằm mộng lung tung, những vọng tưởng không sanh khởi nhiều.

Ví dụ mình thường bị hôn trầm, buồn ngủ thì nằm ngủ một chút, đâu có sao nhưng buồn ngủ ngay lúc giảng pháp trị đúng bệnh của mình mà mình lắng nghe thì có thể giải được bệnh tâm ngàn năm. Đúng hôm đó thầy giảng pháp đó, đánh vào trọng tâm hóa giải hôn trầm mà mình lại ngủ làm mất đi cơ hội có thể suốt đời không được nghe được lần 2, có thể hôm đó mình thành tựu chánh kiến nhưng lại bị hôn trầm phá mình. Vì vậy mình đừng nghĩ buồn ngủ thì ngủ một chút nhưng cái ngủ đó có thể trở thành việc đại sự của đời tu, cho nên giấc ngủ của thụy miên, vô minh là ngàn năm. Học cái này mình có thể nhìn mặt người đó mà biết được chút ít về người đó, có người có gương mặt như Mặt Trời, sáng rực, nhìn mặt là biết người này thông minh, có phước đức. Nhưng cũng có nhiều người nhìn vào chỉ thấy một màu héo úa, rã rượi, điều này cũng biểu hiện ra nghiệp của người đó, từ trong cảm thọ tích tụ trong thân cộng với nghiệp thì biểu hiện ra thân rồi thân đó có gương mặt như vậy, thành ra không phải tự nhiên mà nghiệp trong quá khứ biểu hiện ra mặt, đừng trách ai hết về nghiệp của mình vì:

Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy. (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII) (57) Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)

Cho nên phải để ý hôn trầm, người tu trí huệ phải cực kì cẩn thận với hôn trầm, không phá được nó là không bao giờ thành tựu trí huệ. Vào ngồi thiền là ngủ gục, mơ màng, mơ tưởng, thậm chí được hướng dẫn ngồi thiền phải mở mắt mà vẫn nhắm mắt "con thấy nhắm mắt mới định, còn mở mắt bị động", là do nhắm mắt thì ngủ gục nên định. Vấn đề là phải tập làm chủ cảm giác, tập có sự chánh niệm tỉnh giác cao độ không phải chỉ trong giờ ngồi thiền mà trong tất cả trường hợp đều phải tuệ tri. Có một người dừng xe để mẹ xuống xe mà lại dừng ngay chỗ khuất tầm nhìn làm mẹ bị xe tải cán chết tại chỗ, đó là không có cẩn thận vì cẩn thận từ chỗ chánh niệm tỉnh giác, quán sát, gọi là ăn coi nồi, ngồi coi hướng, làm con gái phải có ý tứ, đây là lời nói của thế gian còn chánh niệm tỉnh giác trong đạo Phật thâm sâu hơn điều đó rất nhiều, tỉnh giác chánh niệm theo thánh trí năm uẩn chứ không phải tỉnh giác chánh niệm bình thường, tùy theo mức độ tu tập tâm đến đâu thì chánh niệm tỉnh giác sẽ tương xứng với mức độ đó, thành ra không phải ai cũng có chánh niệm tỉnh giác như nhau, không phải ai biết chữ cũng viết được cuốn sách Đường Xưa Mây Trắng (Thích Nhất Hạnh), chữ viết thì ai cũng biết nhưng sử dụng nó ở mức độ nào mới là quan trọng, vì vậy sự chánh niệm tỉnh giác của tâm cũng giống như vậy, cần phải có sự để tâm, để ý, rèn luyện cho thật sâu sắc thì chánh niệm tỉnh giác đó để phá hôn trầm – thụy miên, khi đã phá được sẽ có hạnh phúc, sung sướng, hoan hỉ.

Để đối phó với trạo cử thì trước tiên phải tập an tịnh và trầm lặng. Thế Tôn là bậc thuyết giảng về an tịnh và đưa chúng sanh đạt đến chỗ an tịnh.

Này Cunda, ở đây vị đạo sư xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo tuyên bố và được khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Và các vị đệ tử được tinh thông diệu pháp, và phạm hạnh hoàn toàn viên mãn được tỏ lộ cho các vị ấy với tất cả thứ bậc vị trí liên hệ, được trở thành diệu dụng, được khéo trình bày cho loài Người, và vị đạo sư của những vị ấy viên tịch. Này Cunda, vị đạo sư như vậy có viên tịch, các đệ tử không có ưu tư. Vì cớ sao? Vị đạo sư của chúng ta xuất hiện ở đời là bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo tuyên thuyết, được khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, được vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Còn chúng ta được tinh thông diệu pháp, và phạm hạnh hoàn toàn viên mãn được tỏ lộ cho chúng ta biết với tất cả thứ bậc vị trí liên hệ, được trở thành diệu dụng, được khéo trình bày cho loài Người, và vị Ðạo sư của chúng ta viên tịch. Này Cunda, vị đạo sư như vậy có viên tịch, các đệ tử không có ưu tư.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Upavàna đang đứng sau lưng hầu quạt Thế Tôn. Tôn giả Upavàna bạch Thế Tôn:

- Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thật kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, pháp thoại này thật là thanh tịnh! Bạch Thế Tôn, pháp thoại này thật là tuyệt đối thanh tịnh! Bạch Thế Tôn, pháp thoại này tên là gì?

- Này Upavàna, pháp thoại này là Thanh tịnh (Pàsàdikà), hãy như vậy mà phụng trì.

Thế Tôn thuyết dạy như vậy. Tôn giả Upavàna hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn. (Trường Bộ Kinh, 29. Kinh Thanh tịnh)

Sự cứu cánh tu tập là đạt đến chỗ an tịnh tất cả ngũ uẩn, không còn dao động. Còn dục, sân, si mê, bản ngã mới có dao động, không còn những cái này là không còn dao động mà sẽ là bất động tâm giải thoát. Tại sao thân còn lăng xăng? Tại sao miệng nói hoài? Vì bên trong thân tâm là một sự dao động rất mạnh, sự dao động đó từ dục lậu thúc giục bên trong làm ngồi không yên, ở một mình không được, vì vậy nhiếp phục được nó là cả một công trình để tâm vào đó. Có nhiều gia đình tần suất sửa nhà rất nhiều, nay đập cái này, mai xây cửa mới, cái bếp dời chỗ liên tục, càng bất an thì càng di chuyển nhiều, cho nên tu phải tập an tịnh toàn thân, lắng dịu toàn thân, còn động rất dễ tạo nghiệp, người trường thọ, sống lâu thì càng ít động, càng tĩnh thì trí càng sáng, người càng dao động thì càng ít sâu sắc còn người sâu sắc thì lại ít dao động. Nói theo ngoài đời thì trầm tĩnh mới sâu sắc, còn nói trong đạo là định huệ, cho nên sự lăng xăng của thân được Đức Phật ví dụ như một người nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại. Người rời vào trạng thái lăng xăng, tâm luôn dao động thì người này giống như nô lệ, bị lệ thuộc, ví dụ chỉ cần nghe ai nói xấu mình là tâm động chuyển, ở yên không được phải đi hỏi cho ra lẽ, chỉ cần người ta chọc tức là mình tức tối, sân si thì đó đã là nô lệ, không có tự do, vì thế phải tập an tịnh và trầm lặng. Lúc đầu thực tập sẽ khó nhưng tập rồi sẽ quen, việc phòng hộ, thu nhiếp các căn là cả một công phu tu tập, không phải lúc nào cũng nhìn, lúc nào cũng nói, khi cần nói mới nói, cần nhìn thì mới nhìn còn lại chỉ lo nhìn tâm lậu hoặc, phiền não để tẩy sạch, càng nhìn ra bên ngoài thì càng dao động. Trạo hối là một sự hối hận và dao động cho nên khi có giới đức, giới hạnh viên mãn thì mới thoát được trạo hối, khi làm sai điều gì thì ngồi lại sẽ thấy tâm bất an, ví dụ thấy món đồ đẹp không ai có ai canh chừng là lấy cắp, tối ngồi thiền thì làm sao thanh tịnh được, suy nghĩ không biết có ai thấy không rồi hối hận thì đó là trạo hối, phạm giới nhẹ thì trạo hối nhẹ, phạm giới nghiêm trọng thì càng trạo hối mạnh hơn nên không thể vào định được, lúc đó hình bóng hiện lên, cảm giác sanh khởi, suy nghĩ nối tiếp suy nghĩ, tâm không an định được, sống trong lo sợ, sợ người ta vạch trần tội lỗi của mình. Ví dụ có một người sát sanh, sau này họ tu tập đi từ từ vào dòng pháp, nhìn thấy ngũ uẩn thân tâm, khi ngồi thiền những hình bóng tội lỗi đó hiện ra làm họ đau khổ, nước mắt tràn ra, sợ hãi phải đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, lúc đó tòa án lương tâm đang xử lí chính họ làm họ bất an, lo lắng. Vậy làm sao để chấm dứt trạo hối? Người này phải sám hối ăn năn, sửa đổi, phát nguyện rất nhiều, từ đó về sau không phạm lỗi đó nữa, cái tâm từ từ được sự sám hối phát lồ, được sự bày tỏ tu tập gội rửa làm sạch tâm. Còn giờ tội cũ chưa sám hối lại phạm tiếp tội mới, khi ngồi thiền bị trạo hối liên tục thì làm sao vào định được? Tâm tiếp tục bị bất an, đó là lý do tại sao tu hoài vẫn không vào định được, vì có quá nhiều tội lỗi, quá nhiều sai phạm, giới hạnh không thanh tịnh, tâm không an định, tu là phải sâu sắc như vậy. Chỉ với một triền cái trạo hối đã bất an, không thể nhập định còn nói gì đến việc có đủ năm triền cái thì làm sao tu được? Cho nên việc chứng nhập Sơ thiền là cực kì khó khăn, người chứng được Sơ thiền phải diệt được ngũ triền cái, tức là trạng thái tâm lúc đó không có năm triền cái thì mới vào được Sơ thiền, sanh ra sự hỷ lạc, hân hoan cho nên trong bài kinh này câu nào Đức Phật cũng nói người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ, vì người đó đã thoát ra khỏi trạng thái đó.

Người ấy sau một thời gian thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người giải thoát, được tự do đi lại.

Người ấy nghĩ: "Ta trước kia bị cảnh nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại. Nay ta thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người giải thoát, được tự do đi lại". Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Ðoạn trừ các triền cái))

Đó chính là trạng thái của Sơ thiền, cho nên lúc bình thường phải cẩn thận tu tập tâm, tu tập thân, tu tập miệng, tu tập ý.

Thân hành, khẩu hành, ý hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Giới hạnh))

Phải là một người cực kì chân thành, tha thiết tu học, phải để tâm rất nhiều trong sự hành trì mới có thể làm được điều này. Ví dụ mình lỡ nói một câu làm họ buồn giận thì sao khi nhớ lại mình hối hận, có nhiều người nói một câu rồi hối hận suốt đời, trạo hối suốt cả đời chứ không phải chỉ trong vài ngày, cho nên phải cực kì cẩn thận trong suy nghĩ, lời nói, hành động, phải có chánh niệm tỉnh giác. Vì thế mà Đức Phật dạy ngài La-hầu-la rất kĩ, trước khi suy nghĩ phải xem suy nghĩ đó là thiện hay bất thiện, nếu bất thiện lập tức dừng lại diệt tận, khi đang suy nghĩ xem thiện hay bất thiện và sau khi suy nghĩ phải xét lại thiện hay bất thiện, nếu thiện thì tiếp tục phát triển, bất thiện thì dừng lại chấm dứt. Trước khi nói phải suy xét, trong khi nói phải suy xét và sau khi nói rồi cũng phải suy xét, quán xét xem thiện hay bất thiện. Trước khi làm phải cân nhắc, trong khi làm quán sát, làm xong cũng phải suy xét, cân nhắc là thiện hay bất thiện. Bài kinh này có tên Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala (Trung Bộ Kinh), đó là bài kinh Đức Phật dạy cho con cưng của mình là ngài La-hầu-la, sau khi nghe xong ngài La-hầu-la thực tập theo và không lâu sau đó chứng thánh quả A-la-hán.

Nếu không có chánh niệm tỉnh giác, không có định hướng vào nội tâm nhìn lại ngũ uẩn sâu sắc thì làm sao nhìn ra được, cho nên những lời nói, hành động của mình đều bị buông thả. Chúng ta thường trực ở trong trạng thái của buông lung phóng dật, khi phát hiện ra điều này Minh Thành rất xót xa cho cuộc đời tu của mình. Nếu bất cứ khi nào mình không trú vào Tứ Niệm Xứ, không trú trong pháp thì lúc đó đang thả lỏng các căn, buông lung phóng dật. Trừ khi nào quán thân trên thân, quán thọ trên các thọ, quán tâm trên tâm, trừ khi nào chiêm nghiệm quán chiếu về pháp thì lúc đó có thể mình giữ giới được đôi phần, còn nếu đã buông cái pháp ra thì trạng thái mình thường trú chính là trạng thái buông lung phóng dật vì lúc đó mình không thấy sắc là vô thường, khổ, vô ngã, không thấy những cảm giác là vô thường, khổ, vô ngã, không thấy tham sân si, tham ái, tham dục, bản ngã hoạt động mà chỉ thấy một cái tôi to lớn, ai chạm vào là sân si, thấy cái gì đẹp thì thích, gặp cái gì khó chịu là bực, còn không thích không ghét thì cứ trơ ra, lúc nào cũng thấy đó là Trần Văn A, Nguyễn Thị B chứ không thấy đó là đống bất tịnh, cấu uế, như vậy là vô minh và tham ái.

Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga))

Từ rất xa xưa trong vô lượng vô biên kiếp không thể kể được khi nào chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc. Đến khi biển cả khô cạn không còn giọt nước đến trơ đáy mà chúng sanh vẫn không thể chấm dứt sầu, bi, khổ, ưu, não trong ngũ uẩn. Thật sự rất ghê gớm! Trạng thái thường trực của chúng ta là vô minh và tham ái, khát ái, trừ người nào tu tập thánh tri kiến, thánh trí tuệ thì mới buông bỏ tham ái được chút ít, còn không vẫn ở trong trạng thái đó hết. Bây giờ mọi người thấy đồ ăn ngon có thích không? Thấy cảnh đẹp có khoái không, có muốn chụp hình lại không? Được người ta cúng dường món đồ đẹp thì tâm có phơi phới không? Lúc trước gương mặt ốm hóp hai gò má còn giờ mập ra trắng trẻo có thích không? Chỗ nào mình cũng dính mắc, sập bẫy của tham ái và chấp thủ trong ngũ thủ uẩn, chỉ khi nào gặp các trường hợp đó mà mình chỉ thấy đó là vô thường, khổ, vô ngã, không có gì đáng để ưa thích thì mới bắt đầu khởi động trí tuệ chánh kiến, chỉ là mới bắt đầu thôi chứ vẫn chưa thật sự thể nhập được hết dòng trí tuệ đó. Có bao giờ người tặng cho mình món đồ đẹp đẽ, quý giá mà mình nghĩ đó là vô thường, coi chừng cái này làm hại đời tu làm mình tham đắm, dính mắc vào đây là khổ không? Có khi nào mình nghĩ vậy không hay là gặp đồ mới, xịn là thích thú, khoái chí, cười vui? Đó chính là tham ái và mình thường trú trong đó chứ không trú trong sự xả ly, ly tham. Có bao giờ mình đi kinh hành trong chùa mà thấy cái chùa là vô thường, có gì trong đây để ưa thích, thích thú không? Đó là những ý niệm trí tuệ, chánh trí, đó là những tác ý chánh tư duy. Mỗi lần nhìn vào gương có thấy "đây là xác thân vô thường, đây là bộ xương, đây là đống gan ruột phèo phổi, đây là cát bụi sẽ tan hoại, không có gì là tôi, là của tôi", có bao giờ mình tác ý như vậy không? Đó là thánh tư duy, chánh kiến, Như lý tác ý, đây là sự tu được Đức Phật dạy mà mình không tác ý thì mình ở trong vô minh, tham ái, bản ngã, tu để được sung sướng thì thái tử Tất-đạt-đa đâu có bỏ mọi thứ để vào rừng độc cư, tu để làm này làm kia thì thái tử không cần bỏ cha bỏ mẹ, ngay trong hoàng cung có thể xây lên đại tự, là cái chùa vĩ đại rồi ngài vừa làm vua làm trụ trì, có vàng bạc châu báu để làm từ thiện, thế nhưng tại sao ngài lại bỏ hết tất cả? Vì vậy nếu không khéo thì sự tu của mình đặt trên sắc uẩn, dính mắc trong tấm thân, được người ta khen có tướng hảo thì vui mừng, tối ngồi thiền cười một mình. Phải tập tác ý thì từ từ mình mới có tâm bình an và trí huệ, phải tác ý thường xuyên và liên tục không chỉ trong giờ ngồi thiền mà cả trong những sinh hoạt thường ngày. Ví dụ khi thấy món ăn ngon phải tác ý "mình tham cái này trăm ngàn lần rồi, tại sao cứ ham thích hoài vậy, có gì trong này đâu, tỉnh ra đi", tác ý để dục ái tham giảm thiểu thì đó là công phu, trong Quy Sơn Cảnh Sách có câu Nội cần khắc niệm chi công, nghĩa là trong thường nhớ nghĩ công phu. Khắc chế những vọng niệm tham ái, tham lam trong tâm mình cũng được gọi là công phu chứ không phải làm này làm kia bên ngoài mới gọi là công phu, bổn phận của mình thì mình làm nhưng điều quan trọng hơn tất cả chính là nhiếp phục tham sân si, vô minh và bản ngã trong thân tâm mình, nếu không làm được cái này thì đời tu là số 0, không thành tựu giới – định – tuệ, không thành tựu giải thoát, giải thoát tri kiến thì đời tu là con số 0.

Này các Tỳ-kheo, như một người giàu có, nhiều tài sản, đang đi qua bãi sa mạc. Đó là hoài nghi, tâm mình bị hoài nghi xâm chiếm, chi phối, mình ở trong đó không quyết được, ở trong một bãi sa mạc hoang vu rộng lớn không biết đường nào để đi. Cái tâm trong trạng thái hoài nghi là đi trong hoang mạc, sa mạc hoang vu, không xác định được phương hướng. Người thế gian thì không nói nhưng tại sao người tu lại không xác định được phương hướng? Phương hướng của mình là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, mình còn tham bất cứ cái gì thì vẫn còn khổ dù là ngôi chùa hay tượng Phật. Có câu chuyện được truyền lại, có một cô sư cô có tượng Phật rất đẹp, có vài cô ở chung phòng cũng có tượng Phật, cô này thắp hương trầm rất thơm mà chỉ để ngay mũi tượng Phật của cô thôi, cô sợ để qua bên kia hưởng ké mất thơm, vì thế lâu ngày mũi tượng Phật của cô đen nhám lại vì bị ám khói nhang. Cho nên dù yêu thích tượng Phật hay ngôi chùa thì vẫn còn bị dính mắc, đó không phải Phật thiệt mà chỉ là sắc uẩn thôi, còn yêu thích nó là lỡ có ai lấy mất thì sầu, bi, khổ, ưu, não, hoặc là lỡ làm bể hoặc bị trầy thì phiền não sanh khởi. Vì vậy nếu mình còn yêu thích, ham muốn, nắm chặt vào cái gì thì cái đó làm cho mình khổ, không thể sai khác được, đó là pháp ấn của chư Phật. Bất cứ cái gì mà càng ưa thích thì cái đó càng làm mình đau khổ nhiều nhất, thích ít thì khổ ít, thích nhiều thì khổ nhiều, không thích thì không khổ, cho nên tu mà trở thành "Thích Đủ Thứ" là một sự thất bại. Tu là để đi đến chỗ ly tham, nhàm chán, chỉ là những thứ trống rỗng dễ tan hoại, hoại diệt, hiện tại miền Trung bao nhiêu người đau khổ vì gia đình ly tán, cha mất, mẹ mất, ông bà mất, nhà cửa sự nghiệp trôi theo dòng nước, gà vịt, trâu bò, heo chết hết, ruộng lúa hoa màu mất trắng, chuẩn bị bão lại đổ vào miền Trung tiếp, không có gì chắc chắn trên đời này vậy mà không chấp nhận gọi là vô minh, cứ nói đó là đẹp, là có thật, đó là vô minh và tham ái nặng nề. Vô minh che đậy mọi thứ, không nhìn thấy bản chất sự thật của thế gian, cả một cuộc đời gầy dựng tài sản mà chỉ cần một cơn bão thì mất trắng hoàn toàn, thậm chí mất luôn cả mạng, không phải chỉ một người bị như vậy mà hàng trăm người, hàng ngàn người. Mình phải thấy những điều này để bớt tham, xả ly từ từ để bớt chấp thủ, còn không cứ nắm chặt thì khổ vẫn khổ, vì vậy tu là phải xác quyết chánh kiến, học cho tới nơi tới chốn, phải tìm hiểu ra được cái thấy biết chính xác về sự thật của cuộc đời này. Không có lung lay, không ngờ vực, không có hoài nghi, còn những cái này là còn khổ, không thể thay đổi được, sắc; thọ; tưởng; hành; thức là khổ, không thể khác hơn được. Từ ngày Như Lai thành đạo dưới cội Bồ đề đến ngày Như Lai nhắm mắt dưới cây Tala song thọ ở khoảng giữa đó tất cả những điều gì Như Lai tuyên bố không thể đổi khác, không thể sai khác. Đó là lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya, không thể đổi khác.

Này Cunda, trong thời gian giữa đêm Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh Ðẳng Giác và đêm Như Lai nhập Vô dư y Niết-bàn giới, trong thời gian ấy, những gì Như Lai nói trong khi thuyết giảng, nói chuyện hay trình bày, tất cả là như vậy, chớ không gì khác. Do vậy mới gọi là Như Lai. (Trường Bộ Kinh, 29. Kinh Thanh tịnh)

Sắc là vô thường, là khổ, là vô ngã, thọ; tưởng; hành; thức là vô thường, là khổ, là vô ngã. Một tỉ năm sau sự thật này vẫn là sự thật, không thể thay đổi được. Vì vậy phải thấy thế gian đang tràn ngập đau khổ, đau khổ nhất là vô minh và si ám, sống trong bóng tối và mê muội. Khổ đến vậy mà vẫn chưa tỉnh, vẫn còn si mê, được nhắc nhở còn muốn chống đối, phải trải tâm từ đến những người như vậy. Có một ông cụ nhịn đói 3 ngày đêm vì nước ngập tới nóc khi bão kéo đến, ông được một người cho hộp cơm thì ông khóc ràng rụa, hình ảnh này rất xúc động. Chúng ta ăn cơm hằng ngày thấy bình thường nhưng đến khi lâm vào tình cảnh đó được cho hộp cơm thì nước mắt tràn ra vì hạnh phúc, vì đói khát. Mình tu là để mình có được sự cảm thông, chia sẻ, mình tu để có trái tim nhân hậu, từ tâm thì mới tu đúng chánh pháp. Đừng tu rồi trở thành người sống lãng quên, không biết trên dưới, trước sau, không biết kính trọng, rất là đau khổ cho những người đó. Cái khổ nhất của tất cả cái khổ là mình khổ mà mình không biết là mình khổ, cái vô minh nặng nề nhất trong tất cả vô minh là mình bị vô minh mà mình không biết, đây là cái vô minh nhất, đau khổ nhất. Đức Thế Tôn nói trong địa ngục bị thiêu đốt trong dầu sôi vẫn chưa phải khổ, ôm cột đồng cháy đỏ vẫn chưa phải khổ nhưng vô minh mới thật sự là khổ, không biết không thấy được tự thân của mình, không thấy được sự thật đang diễn ra trước mắt mình, không nhìn thấy được vực thẳm, hố sâu, hầm lửa đang hiện diện trước mắt nên phải cẩn thận, nếu không sau này sẽ hối hận.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.