Nghiệp 15 - Từ Đâu Có Nghiệp
NGHIỆP 15 – TỪ ĐÂU CÓ NGHIỆP
THÍCH MINH THÀNH
Nghiệp của mình được thuần thục tại chỗ bản ngã có mặt, cái tôi hiện hữu chỗ đó làm cho nghiệp được thuần thục.
Có ba nguyên nhân này, này các Tỳ-kheo, khởi lên các nghiệp. Thế nào là ba?
Tham là nguyên nhân khởi lên các nghiệp.
Sân là nguyên nhân khởi lên các nghiệp.
Si là nguyên nhân khởi lên các nghiệp.
Phàm nghiệp nào được làm vì tham, này các Tỳ-kheo, sanh ra từ tham, duyên khởi từ tham, tập khởi từ tham, tại chỗ nào tự ngã được hiện hữu, tại chỗ ấy, nghiệp ấy được thuần thục. Chỗ nào nghiệp ấy được thuần thục, chỗ ấy quả dị thục của nghiệp ấy được cảm thọ ngay trong hiện tại, hay trong đời sống kế tiếp, hay trong một đời sau nữa.
Phàm nghiệp nào được làm vì sân, này các Tỳ-kheo, sanh ra từ sân ... Phàm nghiệp nào được làm vì si, này các Tỳ-kheo, sanh ra từ si ... tại chỗ ấy, nghiệp ấy được thuần thục ... hay trong một đời sau nữa. (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 33.- Các Nguyên Nhân).
Này các Tỳ-kheo, không phải do nghiệp từ tham sanh, không phải do nghiệp từ sân sanh, không phải do nghiệp từ si sanh, chư Thiên được nêu rõ, loài Người được nêu rõ, hay những loài khác đang ở trong thiện thú. Này các Tỳ-kheo, chính do nghiệp từ tham sanh, chính do nghiệp từ sân sanh, chính do nghiệp từ si sanh, địa ngục được nêu rõ, các loài bàng sanh được nêu rõ, các loại ngạ quỷ được nêu rõ, và các loài khác đang ở trong ác thú. (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, IV. Phẩm Chư Thiên, (IX) (39) Nhân Duyên).
Phàm nghiệp nào do tham tác thành, này các Tỳ-kheo, sanh ra từ tham, do tham làm nhân duyên, do tham tập khởi, nghiệp ấy là bất thiện, nghiệp ấy có phạm tội, nghiệp ấy có khổ dị thục, nghiệp ấy làm nghiệp tập khởi, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp đoạn diệt. Phàm nghiệp nào do sân tác thành ... Phàm nghiệp nào do si tác thành, này các Tỳ-kheo, sanh ra từ si, do si làm nhân duyên, do si tập khởi, nghiệp ấy là bất thiện, nghiệp ấy có phạm tội, nghiệp ấy có khổ dị thục, nghiệp ấy làm nghiệp tập khởi, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp đoạn diệt. Ba pháp này, này các Tỳ-kheo, là ba nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, XI. Phẩm Chánh Giác, 107.- Ba Nhân Duyên (1))
Ví như, này các Tỳ-kheo, các hạt giống không bị bể vụn, không bị hư thối, không bị gió và nắng làm hư, còn tươi tốt được khéo gieo vào một đồng ruộng tốt, được trồng vào đất khéo sửa soạn, và được trời mưa xuống đều đặn, các hạt giống ấy, này các Tỳ-kheo, được lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 33.- Các Nguyên Nhân).
Qua các bài kinh này chúng ta càng thấy rõ hơn gốc rễ sự sanh khởi của các nghiệp, sự tập khởi của các nghiệp, sự vận hành của quả báo. Tham sân si là nguyên nhân khởi ra các nghiệp, lúc xưa mình học chung chung nghiệp là vậy, tại thói quen là vậy nhưng khi học trong kinh Nikāya mới thấy chính tham sân si mới là nguyên nhân khởi ra các nghiệp. Phàm nghiệp nào làm vì tham, tức là những suy nghĩ, những lời nói, hành động phát ra vì tham, sanh ra từ tham, duyên khởi từ tham, tập khởi từ tham. Tại sao lại nói sanh ra từ tham, duyên khởi từ tham, tập khởi từ tham? Do cái này, cái kia khởi lên thì gọi là duyên khởi, còn tập khởi là tích tụ, tập hợp nhiều thứ để sanh khởi lên. Tại chỗ nào tự ngã được hiện hữu, chỗ nào có mặt bản ngã, cái tôi, cái ta thì chỗ ấy nghiệp được thuần thục. Cho nên mình mới thấy tầm quan trọng của việc phá được thân kiến thì Nhập lưu, tại vì nếu tự ngã không hiện hữu thì nghiệp không thuần thục, cho nên từ chỗ suy nghĩ của tôi sanh ra cái tham, cái dục, ái cho tôi. Tại sao sân lại sanh ra? Tại sao lại sân hận, bực tức? Vì tại chỗ đó tự ngã hiện hữu. Nếu chỗ đó mình Như lý tác ý phá được bản ngã, chấp ngã ngay đó thì sân lập tức được giảm thiểu, lắng dịu, chỗ nào tự ngã hiện hữu thì chỗ đó nghiệp được thuần thục. Thuần thục là làm quen thuộc, điêu luyện đưa đến chỗ chín muồi. Tham sân si có thuần thục không? Rất là điêu luyện, không ai dạy, sanh ra đã biết tham, ái, dục. Cho nên tại chỗ nào tự ngã được hiện hữu, tại chỗ ấy, nghiệp ấy được thuần thục, đây là đề tài cho chúng ta quán chiếu và thực tập. Lúc nào sanh ra tham sân si thì có bản ngã, mình nhiếp phục, phá được bản ngã thì tham sân si được giảm thiểu, lắng dịu. Có một sự liên hệ mật thiết ở đây, tham sân si mạnh mẽ tức là bản ngã lớn, tham sân si vừa vừa thì bản ngã vừa vừa, tham sân si ít thì bản ngã nhỏ. Tới khi hết tham sân si thì đồng nghĩa với việc diệt tận bản ngã hoàn toàn. Lúc nào mình thấy có tham sân si thì phải biết trong tâm bản ngã đang hiện hữu, đang hoành hành, đang điều khiển thân tâm. Ví dụ đang ngồi thiền mà bị muỗi chích, lúc đó mình có quán thọ trên thọ, có cảm giác toàn thân, có Như lý tác ý "nghiệp của nó cũng là nghiệp của mình, mỗi ngày mình phải ăn cơm thì nó cũng phải tìm chút máu, đây là bữa cơm của nó. Vì ác nghiệp nên mới đi vào đường súc sanh khổ sở như vầy, mình vì tâm sân hận nên mới đau khổ hoài, giờ này đang ngồi thiền để nhiếp phục sân hận, có chút ít vầy mà mình sân hận, bản ngã, tức tối. Giống như hạt giống được mưa tưới đều, bỏ vào mảnh ruộng tốt thì nó sẽ tăng trưởng lớn mạnh. Hạt giống tham ái tự thân, sân si, bản ngã sẽ lớn mạnh cho nên phải xả bỏ. Xả cái tâm sân hận, những loài chúng sanh đang khốn khổ trong ác nghiệp này đi. Thấy được nỗi khổ của chúng sanh, nỗi khổ của tự thân, thấy được ác nghiệp mà buông xả tâm sân hận này ra, tứ đại bất tịnh vô thường, tan nát, hủy hoại này, bám chấp vào đây là khổ, không có ta, không có của ta trong này". Mình tác ý như vậy thì lúc đó cái tâm bực bội, khó chịu được giảm bớt, yên tịnh để mình trở về đề mục quán chiếu, nếu mình không khéo tu tập ngay đó thì cứ để ý rồi nhìn ngó, người tệ thì đập muỗi, người vừa vừa thì cũng bực bội, khó chịu, tế hơn là ngồi nhưng cứ để ý mấy con muỗi rồi bỏ quên đề mục thiền quán. Chỉ với một ví dụ con muỗi nhưng có thể hiểu rộng ra những cái khác.
Tại chỗ nào tự ngã được hiện hữu, tại chỗ ấy, nghiệp ấy được thuần thục. Chỗ nào nghiệp ấy được thuần thục, chỗ ấy quả dị thục của nghiệp ấy được cảm thọ ngay trong hiện tại, hay trong đời sống kế tiếp, hay trong một đời sau nữa.Ví dụ người đó chỉ trích, phê phán thì sân hận, bản ngã của mình sanh khởi lên nên chửi mắng người ta, thì người ta có ngồi yên cho mình chửi không? Hay là đánh hoặc tát người ta thì người ta có để yên cho mình tát không? Tất nhiên người ta tát lại, đánh lại, cái đó gọi là chỗ ấy quả dị thục của nghiệp ấy được cảm thọ ngay trong hiện tại. Dị thục nghĩa là sự biến đổi, thay đổi, chín muồi vào một thời điểm nào đó, Đức Phật đưa ra ba thời điểm là ngay trong hiện tại, hay trong đời sống kế tiếp, hay trong một đời sau nữa. Trong Tiểu Bộ kinh có kể lại những câu chuyên yêu nhau hoặc làm vợ chồng nhau trải qua 500 kiếp, đó là quả dị thục của nghiệp. Cho nên khi mình đánh hoặc tát người ta mà người ta đánh lại mình ngay tại đó nhưng không phải vậy là kết thúc. Mình đánh 1 cái mà người ta đánh lại 3-4 cái cũng không phải xong, tức là đi qua một kết quả thì cái nghiệp sẽ được biến đổi, đâu phải trồng một hột mít sẽ cho ra một trái, thực tế nó sẽ có đến mấy chục trái. Quả dị thục của nghiệp cũng giống như vậy, cho nên đánh người ta mà người ta đánh lại 5 cái mà vẫn chưa xong, nếu sau này còn gặp thì còn tiếp tục nữa, đời sau sanh ra lại tiếp diễn nữa, nếu cảm thọ đi sâu vào trong, chất chứa trong tâm thì nhiều đời sau trở thành kẻ thù với nhau, gặp đâu đánh đó, gặp đâu giết hại đó. Có một bà cụ già ở trong nhà làm việc nhà, có một con trâu xông vào nhà húc vào bụng bà cụ phải đi cấp cứu trong tình trạng nguy kịch. Chuyện này chưa bao giờ xảy ra, con trâu xổng chuồng cách đó rất xa, chạy vượt qua mấy cây số vào ngay nhà bà cụ già húc vào ngay bụng. Nếu mình không học về nghiệp, quả dị thục của nghiệp thì không thể nào giải thích được chuyện này, trên đường đi nó gặp biết bao nhiêu người, biết bao nhiêu nhà mà tại sao lại chọn ngay nhà bà cụ già đó xông vào húc vào người cho tới khi hả dạ mới thôi. Cho nên quả dị thục của nghiệp rất khủng khiếp, khi quán chiếu sẽ thấy rất sợ. Cô người mẫu đang trình diễn thời trang, người ta yêu cầu phải ôm con trăn vào người, cô này cố tình đưa con trăn lên để tạo dáng. Bất ngờ con trăn cắn liên tục vào ngực của cô, vì sợ và đau nên cô ngất xỉu, còn con trăn cũng chết vì cắn nhầm vào túi silicon giả cô độn ở ngực. Cô người mẫu nhập viện còn con trăn thì chết, nhiều người ôm con trăn nhưng bình an vô sự, còn cô lại bị nó cắn, con trăn ngay lúc đó bị trúng độc silicon nên chết. Con trâu khi nãy vượt qua mấy chục cây số, lại ngay cái nhà có bà cụ già để húc vào người nhiều lần, như vậy mình học cái nghiệp mới thấy quả dị thục của nghiệp ấy được cảm thọ ngay trong hiện tại, hay trong đời sống kế tiếp, hay trong một đời sau nữa. Con trâu đó là đời sống kế tiếp hoặc là đời sống sau, còn mình là kẻ vô văn phàm phu không biết nghiệp quả, thấy thì nói bà cụ xui xẻo mới bị vậy, nhưng đây là quả dị thục của nghiệp. Có em bé đang nằm ngủ cùng với mẹ bị con rắn độc bò vào gường cắn chết. Chỉ có học cái này mới giải thích được mật mã, giải tỏa được tất cả những bí mật trên thế giới. Đang nằm ngủ trong nhà lại bị xe tải tông vào nhà, chỉ có học cái này mới giải thích được hết quả dị thục của nghiệp.
Bây giờ hơn 10 tỉnh bị lũ lụt ở Trung Quốc, lũ lụt chưa từng thấy trong 70 năm qua, xe hơi bị cuốn trôi, nhà sập đổ hết, chết hàng mấy ngàn người trong khi dịch bệnh bùng phát ở Bắc Kinh, bên Mỹ thì bạo loạn gần khắp nước. Đây là thời điểm thích hợp để chúng ta về núi yên tu, sắp tới không biết mình còn tu được không. Hôm nay số lượng người nhiễm bệnh hơn 8 triệu người, Ấn Độ phải dùng 500 toa xe lửa để làm bệnh viện dã chiến, trên khắp thế giới xảy ra những chuyện chưa từng thấy trong hàng trăm năm qua, Bắc Cực lại bị cháy rừng. Từ đây sắp tới nghiệp quả dị thục của chúng sanh còn khủng khiếp hơn nữa, hơn nửa núi bị sạt lở, tiếng kêu la thấu trời ở Trung Quốc. Chúng ta không được an ổn giống như vầy hoài được đâu, đừng nghĩ rằng ngày nào mình cũng được tu học đều đều như vầy, phải trân trọng từng giây từng phút. Thế giới này đang trải qua chiến tranh, lũ lụt, dịch bệnh, thiên tai, ngoài miền Bắc bị động đất gây nứt nhà chưa từng có, rồi bạo loạn đầy rẫy, biến đổi khí hậu, nguyên nhân của những thứ này phát sanh từ tham vọng, tham lam, tham muốn, từ lòng sân hận, tràn ngập tin tức là những vụ án chém giết nhau, hãm hại nhau, dùng các chất kích thích. Còn đang ở tuổi vị thành niên, gương mặt búng ra sữa mà lại đi giết người cướp của. Một người lại vờ hỏi đường cô gái, người còn lại lấy mất xe của cô, cô này kêu gào khóc lóc. Có vô số sự tham lam, ác độc đầy rẫy trên thế giới này, vào chùa giết luôn trụ trì. Ở quê có một chùa Ni, các sư cô giành dụm tiền sửa chùa thì bị trộm vào lấy toàn bộ số tiền. Có một đám người đi từ Nam chí Bắc chuyên vào chùa trộm thùng phước sương, khủng khiếp và ghê sợ là ác nghiệp, tham dục, si mê, bản ngã của con người. Thật sự ngao ngán và nhàm chán! Mình phải có con đường xuất ly thánh đạo, mình đã được nghe, học và thực hành sám hối bản ngã và sám hối diệt ngã, tất cả những ý niệm, hình bóng của tưởng, những suy nghĩ của hành sanh khởi lên là phải tác ý đánh đuổi nó.
Cái si này mình rất khó nhận được. Nghiệp nào được làm vì si, này các Tỳ-kheo, sanh ra từ si ... tại chỗ ấy, nghiệp ấy được thuần thục ... hay trong một đời sau nữa. Hôm kết thúc khóa tu có một chú khuyết tật phát biểu ý kiến nhưng sau đó con nói bên nam không có ai phát biểu, lúc đó là si, lúc đó cái tâm mình không có trong sáng. Đây là chuyện nhỏ, chuyện hơn nữa thì người kia không có lấy món đồ đó nhưng do mình nhìn thấy gì đó, nghe gì đó rồi nói người đó lấy món đồ thì đây là nghiệp từ si. Mình thấy cái gì đó rồi mình có sự liên hệ nghĩ người đó lấy thì đó là nghiệp từ si, những chuyện như vầy thường xuyên xảy ra. Người kia là người đức hạnh, tốt lành nhưng mình cứ nghĩ họ là người xấu, người ác, là người đạo đức giả, những suy nghĩ này không bỏ mà lại được tích tụ, cuối cùng phát khởi, tập khởi ra thì sẽ có kết cục như vị Tỳ-kheo vu khống cho ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên.
Tỳ-kheo Kokalika do chứng bệnh ấy mệnh chung và sanh vào địa ngục sen hồng (Paduma) vì tâm khởi ác ý đối với Sariputta và Moggallana (Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất, X. Kokàlika).
Huynh đệ với nhau cũng vậy, mình nghĩ người đó xấu, người đó tham nên trong phòng mất món đồ gì là nghi người này ngay, từ chỗ mình có thành kiến rồi không có trí huệ để nhìn đúng, có khi mình thấy đúng như vậy mà còn không phải vậy thì nói gì đến sự tưởng tượng rồi nghĩ ra. Những cái này đều từ si, vì một án oan mà người ta phải ở tù 30 năm, thậm chí xử oan bắt người ta ở chung thân, vậy những cái này có nghiệp quả không? Có sự dị thục của nghiệp không? Cho nên cái tham, cái sân có thể thấy, nếu không thành tựu trí năm uẩn thì cái thấy tham sân chỉ ở phần thô nhất, còn người tu học trí năm uẩn nhưng cũng tùy theo cấp độ thực tập nhận diện mà thấy được đôi phần tham sân. Còn cái si mình cũng thấy ở mức độ ngủ gục hay lờ đờ, còn một cái cao hơn là con mắt mở to, vẫn nói chuyện bình thường nhưng bên trong là tâm si, tức là mình không biết lúc nào nên làm cái gì, nên nói cái gì, nên hành động như thế nào. Sự do dự, nghi ngờ cũng là trạng thái của si. Cái si này cũng kéo thêm tham và sân, một khi đã hiểu lầm thì sân hận lên rồi đổ lỗi cho người ta, thành ra lúc nào cũng phải tỉnh táo và sáng suốt, nhất là giờ ngồi thiền. Con lên mà thấy ai ngồi thiền đơ đơ, sụp mắt xuống là con thấy thương xót, phải tỉnh táo vì giờ đó là giờ ra trận, phải cầm gươm giáo và con mắt phải sáng lên chứ không phải lên ngồi thiền mà con mắt cứ lim dim thì thua rồi, trong giờ ngồi thiền lúc khuya là không có an tịnh và lắng dịu mà phải là chánh niệm tỉnh giác, phải hùng lực lên chứ còn nói nhẹ nhàng là ru ngủ, giờ đó rất dễ chết với con ma si. Mình ngồi trên bồ đoàn mà còn thua con ma si, không nhiếp phục được nó thì ra ngoài làm sao có thể thắng được? Cho nên khi ngồi trên bồ đoàn là tuyệt đối không được ngủ, còn nếu buồn ngủ là phải Như lý tác ý, không thì lạy Phật hoặc đi kinh hành. Mình phải bứng được gốc rễ của si, hôn trầm, ngủ gục khi ngồi thiền, phải diệt tận hoàn toàn. Có những vị tu trong chùa 40 năm mà khi ngồi thiền cũng ngủ ngon lành, trừ những lúc có nhiều việc phải làm quá sức, không kiểm soát được cơn mệt thì cũng du di, nhưng cái này cũng còn dở vì phải có cảm giác toàn thân để kiểm tra, chứ còn bình thường lên ngồi thiền mà cứ ngủ thì mình tu uổng công. Phải tập có sự tinh minh, ngồi đó giống như mặt trời, giống như bếp lửa cháy hừng hực khi thiền định, phải nhiệt huyết, mạnh mẽ, uy hùng vì dáng ngồi kiết già cũng được gọi là hàng ma tọa. Một ngày như vậy mình ở trong cái tâm si không biết bao nhiêu lần, đang mở mắt và đang nói chuyện nhưng cái tâm lại ở trong sự vô minh và si ám, nói không vào đâu, làm không vào đâu hết, dục ái tham sân sanh khởi mà không thấy nhưng khi nói là móc xỉa người ta, thậm chí đang lạy sám hối, đang phát lồ sám hối nhưng bên trong tâm lại đang móc méo đủ điều. Đi lại hỏi pháp ông thầy nhưng sau đó dạy lại thầy, thành ra rất đáng thương. Thương thật là thương!
Có một Phật tử hỏi pháp qua điện thoại, người đó cũng nói quý kính tôn trọng thầy thì con "dạ". Sau đó người đó nói là thầy với cô Chơn Tín Toàn về giảng định nghĩa ngũ uẩn, định nghĩa về hành chưa được đầy đủ thì con nói "dạ, xin chú chỉ dạy thêm giùm con". Chú gửi đoạn "làm cho hiện hành các pháp hữu vi, làm cho hiện hành sắc với sánh tánh, thọ với thọ tánh, hành với hành tánh, tưởng với tưởng tánh". Thành ra con thấy sợ cái tâm si này, rất khủng khiếp, nếu mức độ nhận diện ngũ uẩn không sâu rồi mình nghĩ là mình trí tuệ, mình tưởng mình đang ở trong trí tuệ nhưng thực tế mình lại ở trong cái si. Trong cái tâm si thì suy nghĩ theo chiều hướng si, nói theo si, hành động trong si. Hôm đó con mời chú Trí Hòa lên định nghĩa nhân duyên sanh diệt của ngũ uẩn trong lớp Trung cấp Phật học, con mời 3 lần bằng micro mà chú cứ đứng trơ trơ, con mời chú đảnh lễ quý thầy mà chú vẫn đứng im, con xuống hỏi thì chú nói chú không nghe. Lúc đó cái tâm bị run cộng với trạng thái sợ rồi si, nên rối loạn hết không còn bình tĩnh nữa. Lớp học nhỏ mà con nói bằng micro đến 3 lần mời chú đảnh lễ đại chúng mà chú cứ đứng trơ trơ. Thành ra tâm si rất khủng khiếp, đừng tin vào tâm thức của mình, cái biết của mình là cái biết trong vô minh, tham ái, trong nghiệp, trong bản ngã. Mình phải y chỉ vào thánh đạo, thánh trí, thánh pháp và thánh nhân. Khi nãy nói thiền thì đại chúng đều chắp tay nhưng có 2 chú mới vào ngồi im, không nhìn ai hết thì đó là si. Mình mới vào học thì phải để ý những người xung quanh để học hỏi, mình thấy người ta lạy thì mình lạy, mình thấy người ta chắp tay thì mình chắp tay, lúc ngồi đó thì thọ; tưởng; hành trong người hoạt động lung tung nên không để ý người kế bên, không nhận diện được thực tại, không thấy biết được sự thật ngay trong giây phút hiện tại đó thì là si. Trên đường đi mà có vào tiệm đồ chay nào thì con cũng chọn chỗ ngồi có thể nhìn thấy hết toàn bộ không gian của quán và mọi người, không bao giờ con ngồi quay mặt vào vách tường. Cho nên khi tụng kinh, ngồi thiền, nghe pháp, làm việc, khi nói hay suy nghĩ thì phải kiểm tra và nhận diện ngũ uẩn thì mới có khả năng vượt thoát khỏi nó. Khi đọc pháp lệnh ngồi thiền: Thân ngồi, lưng thẳng, cổ thẳng, vai đều, thân vai thả lỏng nhưng các chú mới lên ngồi gập lưng thì lúc đó là si. Pháp lệnh ra như vậy mà mình không nắm bắt, chỗ đó là sự thật ngay trong hiện tại mà mình không nhận diện, nhận biết được. Khi pháp lệnh vang lên như vậy thì mình phải đi theo pháp lệnh đó, khi thiền quán nghe bài tứ đại thì nói tới đâu tâm mình phải đi tới đó, hay hướng dẫn tâm từ tới đâu thì tâm mình phải theo được tới đó, nếu mình không theo được thì phải biết mình không theo được, còn nếu theo được thì cũng phải biết theo được khoảng bao nhiêu phần, như vậy mình mới thoát ra khỏi si. Ví dụ đang nghe hướng dẫn quán bất tịnh mà mình lại thích tâm hiền thì lại là chuyện khác, đó là cái tâm không dễ sử dụng, đó là cái tâm cứng cỏi, sâu trong đó cũng có bản ngã, không chấp nhận học pháp và không tùy thuận pháp. Vì vậy sự tu học của mình càng nhận diện ngũ uẩn thì càng vi tế, càng sâu sắc để mình biết được si thật sự ra sao, phàm phu chỉ biết si là ngủ gục, lờ đờ còn mình phải ở cấp độ cao hơn. Nhiều lúc nói ra rồi mình mới phát hiện bị hớ thì đó cũng là si, đó là bình thường chứ đừng nói trong trí năm uẩn. Cho nên khi con nghe người nào nói mà thấy sai nhiều quá thì con im lặng, không nói nữa, để cho người đó tự nhìn thấy. Nếu sai ít thì còn nhắc chứ còn nhiều lần thì con sẽ không nói nữa vì người đó không để tâm học hỏi. Khổng tử từng nói một cái đỉnh ba chân thì Ta chỉ nâng một chân, người học phải nâng 2 chân còn lại, người có tâm tha thiết học hỏi cầu pháp sẽ khác với người không muốn học hỏi. Mình phải tập nhận diện ra được tâm si trong khi ngồi thiền, trước khi ngồi thiền và sau khi ngồi thiền, trước khi suy nghĩ, trong lúc suy nghĩ và sau khi suy nghĩ. Nhiều khi đang nói thì sân nói, bản ngã nói, dục nói mà mình không biết, thành ra nhận diện năm uẩn rất hay và tuyệt diệu. Đừng nghĩ rằng thân là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức là xong rồi nhận diện ngũ uẩn theo đó thì cho là tôi biết thì cái đó là chỉ làm rập khuôn cho tiểu học, phải nhận diện sâu sắc hơn nữa để biết được sự sanh khởi, an trú và chấm dứt của ngũ uẩn, sau đó là nhận diện lậu hoặc, sự sanh khởi của dục tham, sân hận, si mê, bản ngã, sự an trú, sự chấm dứt và sự vận hành của nó như thế nào, tập nhận diện cơ cấu, sự vận hành của các lậu hoặc. Nhưng phải đi theo từng bước, tức là tập nhận diện ngũ uẩn cho thuần thục trước, sau đó mới nhận diện lậu hoặc vì tổng cương lĩnh tu hành của mình là tẩy trừ lậu hoặc, đoạn tận các lậu hoặc, còn giờ mình không biết không thấy thì làm sao tẩy trừ, đoạn tận.
Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy. (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc).
Với sự tu tập hướng ngoại, mê tín, tà kiến mà trước nay mình đã đi theo, mình không thấy ngũ uẩn, không thấy lậu hoặc thì tu tới chừng nào mới đoạn tận được? Điều này không thể xảy ra. Ngũ uẩn không thấy, lậu hoặc không biết thì làm sao có thể nhiếp phục và đoạn tận? Chỉ làm được một chút phước lành bên ngoài rồi tự ngã theo đó thuần thục. Tự ngã thuần thục bên trong các thiện pháp làm được bên ngoài cho nên chúng ta phải học, phải nghe kinh và thiền quán thì mới khai mở trí huệ.
Này các Tỳ-kheo, không phải do nghiệp từ tham sanh, không phải do nghiệp từ sân sanh, không phải do nghiệp từ si sanh, chư Thiên được nêu rõ, loài Người được nêu rõ, hay những loài khác đang ở trong thiện thú (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, IV. Phẩm Chư Thiên, (IX) (39) Nhân Duyên). Sở dĩ có ra thế giới của chư Thiên, loài người và các đường lành không phải từ nơi cái nghiệp của tham sân si, tức là cái tâm đầy rẫy tham sân si như vậy làm nguyên nhân để sanh khởi ra nghiệp thì cái tâm đó sẽ đưa đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Những cái nghiệp từ tham sân si sẽ đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, còn cõi chư Thiên, loài người hay các thế giới tốt lành không phải sanh ra từ tham sân si. Mình phải hiểu đây là tham sân si cấp độ nặng mới xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nêu rõ tức là được biểu hiện ra. Này các Tỳ-kheo, chính do nghiệp từ tham sanh, chính do nghiệp từ sân sanh, chính do nghiệp từ si sanh, địa ngục được nêu rõ, các loài bàng sanh được nêu rõ, các loại ngạ quỷ được nêu rõ, và các loài khác đang ở trong ác thú. (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, IV. Phẩm Chư Thiên, (IX) (39) Nhân Duyên). Chính do tham sân si mà địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh được biểu hiện, chiêu cảm ra thế giới đó.
Có ba nguyên nhân này, này các Tỳ-kheo, khởi lên các nghiệp. Thế nào là ba? Không tham là nguyên nhân khởi lên các nghiệp. Không sân là nguyên nhân khởi lên các nghiệp. Không si là nguyên nhân khởi lên các nghiệp.
Phàm nghiệp nào được làm vì không tham, này các Tỳ-kheo, sanh ra từ không tham, duyên khởi từ không tham, tập khởi từ không tham. Vì rằng tham được từ bỏ, như vậy, nghiệp ấy được đoạn tận, được cắt đứt từ gốc rễ, được làm như thân cây tala, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai.
Phàm nghiệp nào được làm vì không sân ... Phàm nghiệp nào được làm vì không si, này các Tỳ-kheo, sanh ra từ không si ... Vì rằng si được từ bỏ, như vậy, nghiệp ấy được đoạn tận, được cắt đứt từ gốc rễ, được làm như thân cây tala, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 33.- Các Nguyên Nhân).
Phàm nghiệp nào do không tham, không sân, không si tác thành sanh ra từ không tham, không sân, không si, do không tham, không sân, không si làm nhân duyên thì nghiệp ấy là thiện, nghiệp ấy không phạm tội, nghiệp ấy có lạc dị thục, nghiệp ấy đưa đến nghiệp đoạn diệt, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp tập khởi.
Ví như này các Tỳ-kheo, các hạt giống không thể bị bể vụn, không bị hư thối, không bị gió và nắng làm hư, còn được tươi tốt, được khéo gieo. Và một người lấy lửa đốt chúng, sau khi lấy lửa đốt, làm cho chúng thành tro, sau khi làm thành tro, quạt chúng trong gió lớn, hay cho vào dòng nước sông chảy nhanh mang cuốn đi. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các hạt giống ấy được đoạn tận, được cắt đứt từ gốc rễ, được làm cho như thân cây tala, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai.
Có ba nguyên nhân này, này các Tỳ-kheo, khởi lên các nghiệp:
Phàm có hạnh nghiệp nào,
Sanh từ tham sân si,
Do kẻ vô trí làm
Dầu có ít hay nhiều
Tại đây được cảm thọ,
Không phải tại chỗ khác
Do vậy vị Tỳ-kheo
Từ bỏ tham, sân, si
Làm khởi lên minh trí,
Từ bỏ mọi ác thú.
(Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 33.- Các Nguyên Nhân).
Như vậy nghiệp nào được làm vì không tham, sanh ra từ không tham, duyên khởi từ không tham, tập khởi từ không tham? Chính là nghiệp từ tâm giải thoát, bi tâm giải thoát, hỷ tâm giải thoát và xả tâm giải thoát, đây chính là nghiệp từ không tham sân si. Các bậc thánh thành tựu chánh trí, các bậc đại thiện tri thức chia sẻ pháp cho mình không phải vì tham danh lợi, không phải vì mong muốn được cung kính mà đó là từ tâm, bi tâm của các ngài, các ngài không phải vì tham danh lợi, vì muốn nổi tiếng mà các ngài truyền pháp cho mình. Khi quở trách, la rầy, nhắc nhở mình không phải các ngài làm từ tâm sân mà là tâm từ nhưng các ngài thể hiện theo cách khác. Đây là chỗ thâm sâu, trong các khóa tu mình bị la rầy thì đây là việc làm từ tâm từ, tâm đại bi nhưng người không học dòng pháp thì vào tu sẽ không chịu được, người ta sẽ rút lui cho nên mọi người mắt tai nghe thấy mà đâu phải sự thật, họ hiểu theo cái tâm phàm phu, "sao đi tu mà bị la rầy ghê quá", đây là sự khác nhau giữa đa văn thánh đệ tử và vô văn phàm phu chính là chỗ này. Người bình thường vào đây tu học sẽ khó chịu vì bị la rầy, đây là sự vô minh. Nếu không la rầy thì làm sao mình biết sai chỗ nào vì mình cứ nghĩ mình thông minh, thành ra mình phải biết cái thấy biết của mình không đúng, mình tin vào thì mình sẽ tạo nghiệp. Như vậy mình mới thấy được thánh pháp khủng khiếp như thế nào, mình tu không đúng chánh pháp thì muốn đoạn tận mà đoạn không được, không đoạn tận được cái giận, bản ngã, không biết đường để nhiếp phục. Nhưng tu đúng chánh pháp là diệt tận đến mức không còn sanh khởi trở lại trong tương lai, đây là sức mạnh của thánh trí, thánh đạo, thánh pháp. Nếu không học mà cứ lạy hoài thì bản ngã có lắng dịu không? Người nổi sân mà cứ tập cái hạnh quỳ lạy hoài thì chưa diệt được hết nhưng ít nhất cũng hiền ngoan, tu tập từ từ thì bản ngã sẽ hiền lại chứ bình thường là rất hung tàn, hung bạo. Mình tu như vầy thì cứ lạy sám hối diệt ngã, cứ tác ý đánh đuổi, huấn luyện liên tục thì bản ngã sẽ hiền lại. Phải có sự Như lý tác ý liên tục thường xuyên, bệnh nào thì tác ý bệnh đó suốt ngày, mình đập cho nó không thể ngẩng đầu lên được, bắt bản ngã phải hạ đầu xuống, từ đó mình mới thấy sự hỷ lạc, hạnh phúc của sự chiến thắng trong giai đoạn đầu. Mình có quyền tự hào khi nhiếp phục được tham sân si, nở lên nụ cười chiến thắng, các cảnh giới của chư thiền trong các tầng thiền đã giảm bớt tham sân si cho nên sanh lên các tầng trời. Những vị lãnh đạo nguyên thủ quốc gia, những người có phước đức lớn thì tham sân si của họ không có nặng, họ giận lắm nhưng nhìn không thể biết được, một phần do họ nhiếp phục được những cái thô nên sanh ra là thiên chủ hoặc nhân chủ, ở cõi người là đứng trên thiên hạ hoặc ở cõi trời là thống lãnh. Còn bậc diệt tận hoàn toàn ác pháp để không còn sanh khởi trở lại trong tương lai là bậc A-la-hán. Mình còn nhiều tham sân si thì phải biết rằng địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đang chờ phía trước, cái tham sân si của mình mà thô, nặng, trầm trọng, sanh khởi lên là xâm chiếm hết toàn bộ cơ thể thì hỡi ơi, con đường phía trước vào 3 đường ác.
Này các Tỳ-kheo, không phải do nghiệp từ không tham sanh, không phải do nghiệp từ không sân sanh, không phải do nghiệp từ không sân sanh, địa ngục được nêu rõ, loài bàng sanh được nêu rõ, cõi ngạ quỹ được nêu rõ, và các loài khác đang ở trong ác thú. Nhưng này các Tỳ-kheo, chính do nghiệp từ không tham sanh, chính do nghiệp từ không sân sanh, chính do nghiệp từ không si sanh, chư Thiên được nêu rõ, loài Người được nêu rõ, và các loài khác đang ở trong thiện thú (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, IV. Phẩm Chư Thiên, (IX) (39) Nhân Duyên).
Từ chỗ không tham sân si nên được sanh ra giữa chư Thiên, loài người hoặc ở thế giới phúc báo, an lạc. Thấy cái gì cũng đẹp, nghe những lời êm ái, tiếp xúc cảm nhận những cảm thọ lạc vì nó tương ứng với cái tâm. Cái tâm tham sân si làm khổ mình, khổ người thì phải ở trong cảnh khổ.
Phàm nghiệp nào do vô tham tác thành, này các Tỳ-kheo, sanh ra từ vô tham, do vô tham làm nhân duyên, do vô tham tập khởi, nghiệp ấy là thiện, nghiệp ấy không có phạm tội, nghiệp ấy có lạc dị thục, nghiệp ấy đưa đến nghiệp đoạn diệt, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp tập khởi (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, XI. Phẩm Chánh Giác, 108.- Ba Nhân Duyên (2)).
Có những vị lạy Đức Phật 1 lạy, cúng dường 1 bữa ăn, họ khởi cái niệm cung kính thì hàng ngàn kiếp sau họ cũng không hưởng hết quả đó. Vì cái niệm cung kính, cái niệm tùy hỷ, sự hoan hỷ đó đâu phải từ tham, họ bố thí và cúng dường thì làm sao từ tham được, họ không sân hận, si mê vì họ thấy đó là bậc đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng đảnh lễ, đáng tôn trọng, đáng chắp tay thì cái nghiệp đó không phải sanh ra từ tham sân si, cho nên họ có lạc dị thục. Chỉ cúng dường 1 bữa ăn nhưng họ sanh ra hàng ngàn kiếp sau hưởng phúc đức ở cõi trời hoặc là nghe được bài pháp của Đức Phật là hướng Dự lưu, Nhập lưu cho đến các thánh quả, thậm chí chứng quả A-la-hán ngay tại chỗ, đó là dị thục quả của thiện nghiệp được họ tích tập trong nhiều kiếp. Vì vậy phải siêng năng làm điều lành, làm những việc phước thiện, công đức.
Này các Tỳ-kheo, có ba căn bản làm phước. Thế nào là ba?
Căn bản làm phước do bố thí,
Căn bản làm phước do giới đức,
Căn bản làm phước do tu tập.
(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương VIII. Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (VI) (36) Phước Nghiệp Sự).
Bố thí là ở bên ngoài, tiền của, tài sản, những phương tiện để được đầy đủ. Giới đức là để cho mình ngăn 3 đường ác đạo từ đó có cuộc sống bình an. Tu tập là để đoạn tận tham sân si. Đây là 3 phước lớn, cho nên cái ác có dị thục khủng khiếp thì cái thiện cũng có dị thục vô lượng. Mình phải có những cái thiện nghiệp, có những cái lạc dị thục này, hạnh phúc, an lạc thì mới thuận tiện để tu chứ nếu rơi vào thân súc sanh bị què, ghẻ lở thì làm sao thiền định được, nếu có linh tánh thì cũng chỉ là cảm nhận được phần nào thôi. Có những con vật vào giờ tụng kinh, lạy Phật là nó đi lại là do nó cảm nhận được chánh pháp, cho nên mình phải có thiện nghiệp, cái này mới bảo bọc, che chở để mình thể nhập thánh đạo, chứng nhập thánh trí chứ mình sanh ra như chú bị khuyết tật thì mình có dám đi tu không? Có bị mặc cảm không khi ai cũng lành lặn mà mình lại bị tật nguyền, ai cũng đi thiền hành còn chú lại không dám đi, vì vậy phước báo rất quan trọng. Có nhiều người bị tật nguyền nhưng bản ngã của họ rất hung ác, đó là từ bóng đêm đi vào bóng đêm, bần khổ đa oán, hoạnh kết ác duyên những tội ác cho nên càng nghèo khổ thì càng oán hận, lại kết thêm những ác duyên để tăng trưởng thêm tội nghiệp. Phải nhớ những thiện sự, phước sự, cái gì làm được thì cố gắng làm vì nó sẽ bảo bọc, che chở cho mình và làm cho mình có đời sống đầy đủ, bình an để tu học. Còn không mình sẽ rơi vào những tấm thân đui, điếc, què, bị thần kinh, ngu ngơ, khờ khạo không thể nhận thức được chánh pháp thâm sâu. Chính do từ cái nghiệp không tham, không sân, không si mà có ra được thế giới của chư Thiên, loài người và những cõi lành. Tất cả những nghiệp ấy là thiện, từ nghiệp đó sẽ đưa đến chỗ chấm dứt tất cả các nghiệp, kiếp cuối cùng của Thái tử Tất-đạt-đa là đỉnh cao cùng cực chí thiện của phước báo. Nó có trình tự chứ không phải tự nhiên bị què, chột, điên loạn hoặc được chứng ngộ, tức là Ngài đã viên mãn tất cả những thiện nghiệp, thiện pháp, công đức phước báo, đến cuối cùng là đoạn tận tất cả các nghiệp và chứng thành Chánh Giác. Cho nên mình lỡ sanh vào thân tật nguyền, ngu khờ hoặc cái thân ganh tỵ, đố kỵ thì phải sám hối, nhận thức, thay đổi thật nhiều để phá được những nghiệp chướng đó ra, từ đó mới thể nhập được thánh pháp, còn không thì không thể nhập được, chỉ học cho biết nhận thức vậy thôi, vẫn đứng ngoài cửa chùa. Phải Nhập lưu hoặc Dự lưu mới bảo đảm, đầu tiên phải phá được thân kiến, khi phá được rồi thì tự động hoài nghi và giới cấm thủ sẽ tiêu tan. Từ nghiệp thiện đưa đến sự đoạn tận tất cả các nghiệp, giống như hạt giống bị đốt thành tro bụi, gió lớn thổi bị bay đi rồi bỏ xuống dòng sông chảy siết cuốn đi. Tất cả những mầm móng của tham sân si, bản ngã là phải diệt tận như vậy, tuy rằng nó rất lớn và hung mạnh nhưng mình cứ tẩy trừ, đánh đuổi hoài và làm đúng thì chắc chắn sẽ có kết quả, làm đúng theo lời Đức Phật thì tin chắc sẽ thành tựu niềm tin bất động đối với Đức phật, đối với giáo pháp, đối với bốn đôi tám chúng.
Đại chúng trải tâm từ đến vô số những người đang bị bệnh trên toàn thế giới. Núi lửa phun trào, dịch bệnh, chiến tranh, lũ lụt thiên tai, hạn hán, mất mùa, đói khổ. Hồi hướng phước báu này đến tất cả chúng sanh đang khổ sở. Hồi hướng phước báu này đến chư Thiên, sơn thần, địa thần và tất cả những vị hữu tình nghe được âm thanh này được thể nhập thánh pháp.
./.
THÍCH MINH THÀNH
Nghiệp của mình được thuần thục tại chỗ bản ngã có mặt, cái tôi hiện hữu chỗ đó làm cho nghiệp được thuần thục.
Có ba nguyên nhân này, này các Tỳ-kheo, khởi lên các nghiệp. Thế nào là ba?
Tham là nguyên nhân khởi lên các nghiệp.
Sân là nguyên nhân khởi lên các nghiệp.
Si là nguyên nhân khởi lên các nghiệp.
Phàm nghiệp nào được làm vì tham, này các Tỳ-kheo, sanh ra từ tham, duyên khởi từ tham, tập khởi từ tham, tại chỗ nào tự ngã được hiện hữu, tại chỗ ấy, nghiệp ấy được thuần thục. Chỗ nào nghiệp ấy được thuần thục, chỗ ấy quả dị thục của nghiệp ấy được cảm thọ ngay trong hiện tại, hay trong đời sống kế tiếp, hay trong một đời sau nữa.
Phàm nghiệp nào được làm vì sân, này các Tỳ-kheo, sanh ra từ sân ... Phàm nghiệp nào được làm vì si, này các Tỳ-kheo, sanh ra từ si ... tại chỗ ấy, nghiệp ấy được thuần thục ... hay trong một đời sau nữa. (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 33.- Các Nguyên Nhân).
Này các Tỳ-kheo, không phải do nghiệp từ tham sanh, không phải do nghiệp từ sân sanh, không phải do nghiệp từ si sanh, chư Thiên được nêu rõ, loài Người được nêu rõ, hay những loài khác đang ở trong thiện thú. Này các Tỳ-kheo, chính do nghiệp từ tham sanh, chính do nghiệp từ sân sanh, chính do nghiệp từ si sanh, địa ngục được nêu rõ, các loài bàng sanh được nêu rõ, các loại ngạ quỷ được nêu rõ, và các loài khác đang ở trong ác thú. (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, IV. Phẩm Chư Thiên, (IX) (39) Nhân Duyên).
Phàm nghiệp nào do tham tác thành, này các Tỳ-kheo, sanh ra từ tham, do tham làm nhân duyên, do tham tập khởi, nghiệp ấy là bất thiện, nghiệp ấy có phạm tội, nghiệp ấy có khổ dị thục, nghiệp ấy làm nghiệp tập khởi, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp đoạn diệt. Phàm nghiệp nào do sân tác thành ... Phàm nghiệp nào do si tác thành, này các Tỳ-kheo, sanh ra từ si, do si làm nhân duyên, do si tập khởi, nghiệp ấy là bất thiện, nghiệp ấy có phạm tội, nghiệp ấy có khổ dị thục, nghiệp ấy làm nghiệp tập khởi, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp đoạn diệt. Ba pháp này, này các Tỳ-kheo, là ba nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, XI. Phẩm Chánh Giác, 107.- Ba Nhân Duyên (1))
Ví như, này các Tỳ-kheo, các hạt giống không bị bể vụn, không bị hư thối, không bị gió và nắng làm hư, còn tươi tốt được khéo gieo vào một đồng ruộng tốt, được trồng vào đất khéo sửa soạn, và được trời mưa xuống đều đặn, các hạt giống ấy, này các Tỳ-kheo, được lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 33.- Các Nguyên Nhân).
Qua các bài kinh này chúng ta càng thấy rõ hơn gốc rễ sự sanh khởi của các nghiệp, sự tập khởi của các nghiệp, sự vận hành của quả báo. Tham sân si là nguyên nhân khởi ra các nghiệp, lúc xưa mình học chung chung nghiệp là vậy, tại thói quen là vậy nhưng khi học trong kinh Nikāya mới thấy chính tham sân si mới là nguyên nhân khởi ra các nghiệp. Phàm nghiệp nào làm vì tham, tức là những suy nghĩ, những lời nói, hành động phát ra vì tham, sanh ra từ tham, duyên khởi từ tham, tập khởi từ tham. Tại sao lại nói sanh ra từ tham, duyên khởi từ tham, tập khởi từ tham? Do cái này, cái kia khởi lên thì gọi là duyên khởi, còn tập khởi là tích tụ, tập hợp nhiều thứ để sanh khởi lên. Tại chỗ nào tự ngã được hiện hữu, chỗ nào có mặt bản ngã, cái tôi, cái ta thì chỗ ấy nghiệp được thuần thục. Cho nên mình mới thấy tầm quan trọng của việc phá được thân kiến thì Nhập lưu, tại vì nếu tự ngã không hiện hữu thì nghiệp không thuần thục, cho nên từ chỗ suy nghĩ của tôi sanh ra cái tham, cái dục, ái cho tôi. Tại sao sân lại sanh ra? Tại sao lại sân hận, bực tức? Vì tại chỗ đó tự ngã hiện hữu. Nếu chỗ đó mình Như lý tác ý phá được bản ngã, chấp ngã ngay đó thì sân lập tức được giảm thiểu, lắng dịu, chỗ nào tự ngã hiện hữu thì chỗ đó nghiệp được thuần thục. Thuần thục là làm quen thuộc, điêu luyện đưa đến chỗ chín muồi. Tham sân si có thuần thục không? Rất là điêu luyện, không ai dạy, sanh ra đã biết tham, ái, dục. Cho nên tại chỗ nào tự ngã được hiện hữu, tại chỗ ấy, nghiệp ấy được thuần thục, đây là đề tài cho chúng ta quán chiếu và thực tập. Lúc nào sanh ra tham sân si thì có bản ngã, mình nhiếp phục, phá được bản ngã thì tham sân si được giảm thiểu, lắng dịu. Có một sự liên hệ mật thiết ở đây, tham sân si mạnh mẽ tức là bản ngã lớn, tham sân si vừa vừa thì bản ngã vừa vừa, tham sân si ít thì bản ngã nhỏ. Tới khi hết tham sân si thì đồng nghĩa với việc diệt tận bản ngã hoàn toàn. Lúc nào mình thấy có tham sân si thì phải biết trong tâm bản ngã đang hiện hữu, đang hoành hành, đang điều khiển thân tâm. Ví dụ đang ngồi thiền mà bị muỗi chích, lúc đó mình có quán thọ trên thọ, có cảm giác toàn thân, có Như lý tác ý "nghiệp của nó cũng là nghiệp của mình, mỗi ngày mình phải ăn cơm thì nó cũng phải tìm chút máu, đây là bữa cơm của nó. Vì ác nghiệp nên mới đi vào đường súc sanh khổ sở như vầy, mình vì tâm sân hận nên mới đau khổ hoài, giờ này đang ngồi thiền để nhiếp phục sân hận, có chút ít vầy mà mình sân hận, bản ngã, tức tối. Giống như hạt giống được mưa tưới đều, bỏ vào mảnh ruộng tốt thì nó sẽ tăng trưởng lớn mạnh. Hạt giống tham ái tự thân, sân si, bản ngã sẽ lớn mạnh cho nên phải xả bỏ. Xả cái tâm sân hận, những loài chúng sanh đang khốn khổ trong ác nghiệp này đi. Thấy được nỗi khổ của chúng sanh, nỗi khổ của tự thân, thấy được ác nghiệp mà buông xả tâm sân hận này ra, tứ đại bất tịnh vô thường, tan nát, hủy hoại này, bám chấp vào đây là khổ, không có ta, không có của ta trong này". Mình tác ý như vậy thì lúc đó cái tâm bực bội, khó chịu được giảm bớt, yên tịnh để mình trở về đề mục quán chiếu, nếu mình không khéo tu tập ngay đó thì cứ để ý rồi nhìn ngó, người tệ thì đập muỗi, người vừa vừa thì cũng bực bội, khó chịu, tế hơn là ngồi nhưng cứ để ý mấy con muỗi rồi bỏ quên đề mục thiền quán. Chỉ với một ví dụ con muỗi nhưng có thể hiểu rộng ra những cái khác.
Tại chỗ nào tự ngã được hiện hữu, tại chỗ ấy, nghiệp ấy được thuần thục. Chỗ nào nghiệp ấy được thuần thục, chỗ ấy quả dị thục của nghiệp ấy được cảm thọ ngay trong hiện tại, hay trong đời sống kế tiếp, hay trong một đời sau nữa.Ví dụ người đó chỉ trích, phê phán thì sân hận, bản ngã của mình sanh khởi lên nên chửi mắng người ta, thì người ta có ngồi yên cho mình chửi không? Hay là đánh hoặc tát người ta thì người ta có để yên cho mình tát không? Tất nhiên người ta tát lại, đánh lại, cái đó gọi là chỗ ấy quả dị thục của nghiệp ấy được cảm thọ ngay trong hiện tại. Dị thục nghĩa là sự biến đổi, thay đổi, chín muồi vào một thời điểm nào đó, Đức Phật đưa ra ba thời điểm là ngay trong hiện tại, hay trong đời sống kế tiếp, hay trong một đời sau nữa. Trong Tiểu Bộ kinh có kể lại những câu chuyên yêu nhau hoặc làm vợ chồng nhau trải qua 500 kiếp, đó là quả dị thục của nghiệp. Cho nên khi mình đánh hoặc tát người ta mà người ta đánh lại mình ngay tại đó nhưng không phải vậy là kết thúc. Mình đánh 1 cái mà người ta đánh lại 3-4 cái cũng không phải xong, tức là đi qua một kết quả thì cái nghiệp sẽ được biến đổi, đâu phải trồng một hột mít sẽ cho ra một trái, thực tế nó sẽ có đến mấy chục trái. Quả dị thục của nghiệp cũng giống như vậy, cho nên đánh người ta mà người ta đánh lại 5 cái mà vẫn chưa xong, nếu sau này còn gặp thì còn tiếp tục nữa, đời sau sanh ra lại tiếp diễn nữa, nếu cảm thọ đi sâu vào trong, chất chứa trong tâm thì nhiều đời sau trở thành kẻ thù với nhau, gặp đâu đánh đó, gặp đâu giết hại đó. Có một bà cụ già ở trong nhà làm việc nhà, có một con trâu xông vào nhà húc vào bụng bà cụ phải đi cấp cứu trong tình trạng nguy kịch. Chuyện này chưa bao giờ xảy ra, con trâu xổng chuồng cách đó rất xa, chạy vượt qua mấy cây số vào ngay nhà bà cụ già húc vào ngay bụng. Nếu mình không học về nghiệp, quả dị thục của nghiệp thì không thể nào giải thích được chuyện này, trên đường đi nó gặp biết bao nhiêu người, biết bao nhiêu nhà mà tại sao lại chọn ngay nhà bà cụ già đó xông vào húc vào người cho tới khi hả dạ mới thôi. Cho nên quả dị thục của nghiệp rất khủng khiếp, khi quán chiếu sẽ thấy rất sợ. Cô người mẫu đang trình diễn thời trang, người ta yêu cầu phải ôm con trăn vào người, cô này cố tình đưa con trăn lên để tạo dáng. Bất ngờ con trăn cắn liên tục vào ngực của cô, vì sợ và đau nên cô ngất xỉu, còn con trăn cũng chết vì cắn nhầm vào túi silicon giả cô độn ở ngực. Cô người mẫu nhập viện còn con trăn thì chết, nhiều người ôm con trăn nhưng bình an vô sự, còn cô lại bị nó cắn, con trăn ngay lúc đó bị trúng độc silicon nên chết. Con trâu khi nãy vượt qua mấy chục cây số, lại ngay cái nhà có bà cụ già để húc vào người nhiều lần, như vậy mình học cái nghiệp mới thấy quả dị thục của nghiệp ấy được cảm thọ ngay trong hiện tại, hay trong đời sống kế tiếp, hay trong một đời sau nữa. Con trâu đó là đời sống kế tiếp hoặc là đời sống sau, còn mình là kẻ vô văn phàm phu không biết nghiệp quả, thấy thì nói bà cụ xui xẻo mới bị vậy, nhưng đây là quả dị thục của nghiệp. Có em bé đang nằm ngủ cùng với mẹ bị con rắn độc bò vào gường cắn chết. Chỉ có học cái này mới giải thích được mật mã, giải tỏa được tất cả những bí mật trên thế giới. Đang nằm ngủ trong nhà lại bị xe tải tông vào nhà, chỉ có học cái này mới giải thích được hết quả dị thục của nghiệp.
Bây giờ hơn 10 tỉnh bị lũ lụt ở Trung Quốc, lũ lụt chưa từng thấy trong 70 năm qua, xe hơi bị cuốn trôi, nhà sập đổ hết, chết hàng mấy ngàn người trong khi dịch bệnh bùng phát ở Bắc Kinh, bên Mỹ thì bạo loạn gần khắp nước. Đây là thời điểm thích hợp để chúng ta về núi yên tu, sắp tới không biết mình còn tu được không. Hôm nay số lượng người nhiễm bệnh hơn 8 triệu người, Ấn Độ phải dùng 500 toa xe lửa để làm bệnh viện dã chiến, trên khắp thế giới xảy ra những chuyện chưa từng thấy trong hàng trăm năm qua, Bắc Cực lại bị cháy rừng. Từ đây sắp tới nghiệp quả dị thục của chúng sanh còn khủng khiếp hơn nữa, hơn nửa núi bị sạt lở, tiếng kêu la thấu trời ở Trung Quốc. Chúng ta không được an ổn giống như vầy hoài được đâu, đừng nghĩ rằng ngày nào mình cũng được tu học đều đều như vầy, phải trân trọng từng giây từng phút. Thế giới này đang trải qua chiến tranh, lũ lụt, dịch bệnh, thiên tai, ngoài miền Bắc bị động đất gây nứt nhà chưa từng có, rồi bạo loạn đầy rẫy, biến đổi khí hậu, nguyên nhân của những thứ này phát sanh từ tham vọng, tham lam, tham muốn, từ lòng sân hận, tràn ngập tin tức là những vụ án chém giết nhau, hãm hại nhau, dùng các chất kích thích. Còn đang ở tuổi vị thành niên, gương mặt búng ra sữa mà lại đi giết người cướp của. Một người lại vờ hỏi đường cô gái, người còn lại lấy mất xe của cô, cô này kêu gào khóc lóc. Có vô số sự tham lam, ác độc đầy rẫy trên thế giới này, vào chùa giết luôn trụ trì. Ở quê có một chùa Ni, các sư cô giành dụm tiền sửa chùa thì bị trộm vào lấy toàn bộ số tiền. Có một đám người đi từ Nam chí Bắc chuyên vào chùa trộm thùng phước sương, khủng khiếp và ghê sợ là ác nghiệp, tham dục, si mê, bản ngã của con người. Thật sự ngao ngán và nhàm chán! Mình phải có con đường xuất ly thánh đạo, mình đã được nghe, học và thực hành sám hối bản ngã và sám hối diệt ngã, tất cả những ý niệm, hình bóng của tưởng, những suy nghĩ của hành sanh khởi lên là phải tác ý đánh đuổi nó.
Cái si này mình rất khó nhận được. Nghiệp nào được làm vì si, này các Tỳ-kheo, sanh ra từ si ... tại chỗ ấy, nghiệp ấy được thuần thục ... hay trong một đời sau nữa. Hôm kết thúc khóa tu có một chú khuyết tật phát biểu ý kiến nhưng sau đó con nói bên nam không có ai phát biểu, lúc đó là si, lúc đó cái tâm mình không có trong sáng. Đây là chuyện nhỏ, chuyện hơn nữa thì người kia không có lấy món đồ đó nhưng do mình nhìn thấy gì đó, nghe gì đó rồi nói người đó lấy món đồ thì đây là nghiệp từ si. Mình thấy cái gì đó rồi mình có sự liên hệ nghĩ người đó lấy thì đó là nghiệp từ si, những chuyện như vầy thường xuyên xảy ra. Người kia là người đức hạnh, tốt lành nhưng mình cứ nghĩ họ là người xấu, người ác, là người đạo đức giả, những suy nghĩ này không bỏ mà lại được tích tụ, cuối cùng phát khởi, tập khởi ra thì sẽ có kết cục như vị Tỳ-kheo vu khống cho ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên.
Tỳ-kheo Kokalika do chứng bệnh ấy mệnh chung và sanh vào địa ngục sen hồng (Paduma) vì tâm khởi ác ý đối với Sariputta và Moggallana (Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất, X. Kokàlika).
Huynh đệ với nhau cũng vậy, mình nghĩ người đó xấu, người đó tham nên trong phòng mất món đồ gì là nghi người này ngay, từ chỗ mình có thành kiến rồi không có trí huệ để nhìn đúng, có khi mình thấy đúng như vậy mà còn không phải vậy thì nói gì đến sự tưởng tượng rồi nghĩ ra. Những cái này đều từ si, vì một án oan mà người ta phải ở tù 30 năm, thậm chí xử oan bắt người ta ở chung thân, vậy những cái này có nghiệp quả không? Có sự dị thục của nghiệp không? Cho nên cái tham, cái sân có thể thấy, nếu không thành tựu trí năm uẩn thì cái thấy tham sân chỉ ở phần thô nhất, còn người tu học trí năm uẩn nhưng cũng tùy theo cấp độ thực tập nhận diện mà thấy được đôi phần tham sân. Còn cái si mình cũng thấy ở mức độ ngủ gục hay lờ đờ, còn một cái cao hơn là con mắt mở to, vẫn nói chuyện bình thường nhưng bên trong là tâm si, tức là mình không biết lúc nào nên làm cái gì, nên nói cái gì, nên hành động như thế nào. Sự do dự, nghi ngờ cũng là trạng thái của si. Cái si này cũng kéo thêm tham và sân, một khi đã hiểu lầm thì sân hận lên rồi đổ lỗi cho người ta, thành ra lúc nào cũng phải tỉnh táo và sáng suốt, nhất là giờ ngồi thiền. Con lên mà thấy ai ngồi thiền đơ đơ, sụp mắt xuống là con thấy thương xót, phải tỉnh táo vì giờ đó là giờ ra trận, phải cầm gươm giáo và con mắt phải sáng lên chứ không phải lên ngồi thiền mà con mắt cứ lim dim thì thua rồi, trong giờ ngồi thiền lúc khuya là không có an tịnh và lắng dịu mà phải là chánh niệm tỉnh giác, phải hùng lực lên chứ còn nói nhẹ nhàng là ru ngủ, giờ đó rất dễ chết với con ma si. Mình ngồi trên bồ đoàn mà còn thua con ma si, không nhiếp phục được nó thì ra ngoài làm sao có thể thắng được? Cho nên khi ngồi trên bồ đoàn là tuyệt đối không được ngủ, còn nếu buồn ngủ là phải Như lý tác ý, không thì lạy Phật hoặc đi kinh hành. Mình phải bứng được gốc rễ của si, hôn trầm, ngủ gục khi ngồi thiền, phải diệt tận hoàn toàn. Có những vị tu trong chùa 40 năm mà khi ngồi thiền cũng ngủ ngon lành, trừ những lúc có nhiều việc phải làm quá sức, không kiểm soát được cơn mệt thì cũng du di, nhưng cái này cũng còn dở vì phải có cảm giác toàn thân để kiểm tra, chứ còn bình thường lên ngồi thiền mà cứ ngủ thì mình tu uổng công. Phải tập có sự tinh minh, ngồi đó giống như mặt trời, giống như bếp lửa cháy hừng hực khi thiền định, phải nhiệt huyết, mạnh mẽ, uy hùng vì dáng ngồi kiết già cũng được gọi là hàng ma tọa. Một ngày như vậy mình ở trong cái tâm si không biết bao nhiêu lần, đang mở mắt và đang nói chuyện nhưng cái tâm lại ở trong sự vô minh và si ám, nói không vào đâu, làm không vào đâu hết, dục ái tham sân sanh khởi mà không thấy nhưng khi nói là móc xỉa người ta, thậm chí đang lạy sám hối, đang phát lồ sám hối nhưng bên trong tâm lại đang móc méo đủ điều. Đi lại hỏi pháp ông thầy nhưng sau đó dạy lại thầy, thành ra rất đáng thương. Thương thật là thương!
Có một Phật tử hỏi pháp qua điện thoại, người đó cũng nói quý kính tôn trọng thầy thì con "dạ". Sau đó người đó nói là thầy với cô Chơn Tín Toàn về giảng định nghĩa ngũ uẩn, định nghĩa về hành chưa được đầy đủ thì con nói "dạ, xin chú chỉ dạy thêm giùm con". Chú gửi đoạn "làm cho hiện hành các pháp hữu vi, làm cho hiện hành sắc với sánh tánh, thọ với thọ tánh, hành với hành tánh, tưởng với tưởng tánh". Thành ra con thấy sợ cái tâm si này, rất khủng khiếp, nếu mức độ nhận diện ngũ uẩn không sâu rồi mình nghĩ là mình trí tuệ, mình tưởng mình đang ở trong trí tuệ nhưng thực tế mình lại ở trong cái si. Trong cái tâm si thì suy nghĩ theo chiều hướng si, nói theo si, hành động trong si. Hôm đó con mời chú Trí Hòa lên định nghĩa nhân duyên sanh diệt của ngũ uẩn trong lớp Trung cấp Phật học, con mời 3 lần bằng micro mà chú cứ đứng trơ trơ, con mời chú đảnh lễ quý thầy mà chú vẫn đứng im, con xuống hỏi thì chú nói chú không nghe. Lúc đó cái tâm bị run cộng với trạng thái sợ rồi si, nên rối loạn hết không còn bình tĩnh nữa. Lớp học nhỏ mà con nói bằng micro đến 3 lần mời chú đảnh lễ đại chúng mà chú cứ đứng trơ trơ. Thành ra tâm si rất khủng khiếp, đừng tin vào tâm thức của mình, cái biết của mình là cái biết trong vô minh, tham ái, trong nghiệp, trong bản ngã. Mình phải y chỉ vào thánh đạo, thánh trí, thánh pháp và thánh nhân. Khi nãy nói thiền thì đại chúng đều chắp tay nhưng có 2 chú mới vào ngồi im, không nhìn ai hết thì đó là si. Mình mới vào học thì phải để ý những người xung quanh để học hỏi, mình thấy người ta lạy thì mình lạy, mình thấy người ta chắp tay thì mình chắp tay, lúc ngồi đó thì thọ; tưởng; hành trong người hoạt động lung tung nên không để ý người kế bên, không nhận diện được thực tại, không thấy biết được sự thật ngay trong giây phút hiện tại đó thì là si. Trên đường đi mà có vào tiệm đồ chay nào thì con cũng chọn chỗ ngồi có thể nhìn thấy hết toàn bộ không gian của quán và mọi người, không bao giờ con ngồi quay mặt vào vách tường. Cho nên khi tụng kinh, ngồi thiền, nghe pháp, làm việc, khi nói hay suy nghĩ thì phải kiểm tra và nhận diện ngũ uẩn thì mới có khả năng vượt thoát khỏi nó. Khi đọc pháp lệnh ngồi thiền: Thân ngồi, lưng thẳng, cổ thẳng, vai đều, thân vai thả lỏng nhưng các chú mới lên ngồi gập lưng thì lúc đó là si. Pháp lệnh ra như vậy mà mình không nắm bắt, chỗ đó là sự thật ngay trong hiện tại mà mình không nhận diện, nhận biết được. Khi pháp lệnh vang lên như vậy thì mình phải đi theo pháp lệnh đó, khi thiền quán nghe bài tứ đại thì nói tới đâu tâm mình phải đi tới đó, hay hướng dẫn tâm từ tới đâu thì tâm mình phải theo được tới đó, nếu mình không theo được thì phải biết mình không theo được, còn nếu theo được thì cũng phải biết theo được khoảng bao nhiêu phần, như vậy mình mới thoát ra khỏi si. Ví dụ đang nghe hướng dẫn quán bất tịnh mà mình lại thích tâm hiền thì lại là chuyện khác, đó là cái tâm không dễ sử dụng, đó là cái tâm cứng cỏi, sâu trong đó cũng có bản ngã, không chấp nhận học pháp và không tùy thuận pháp. Vì vậy sự tu học của mình càng nhận diện ngũ uẩn thì càng vi tế, càng sâu sắc để mình biết được si thật sự ra sao, phàm phu chỉ biết si là ngủ gục, lờ đờ còn mình phải ở cấp độ cao hơn. Nhiều lúc nói ra rồi mình mới phát hiện bị hớ thì đó cũng là si, đó là bình thường chứ đừng nói trong trí năm uẩn. Cho nên khi con nghe người nào nói mà thấy sai nhiều quá thì con im lặng, không nói nữa, để cho người đó tự nhìn thấy. Nếu sai ít thì còn nhắc chứ còn nhiều lần thì con sẽ không nói nữa vì người đó không để tâm học hỏi. Khổng tử từng nói một cái đỉnh ba chân thì Ta chỉ nâng một chân, người học phải nâng 2 chân còn lại, người có tâm tha thiết học hỏi cầu pháp sẽ khác với người không muốn học hỏi. Mình phải tập nhận diện ra được tâm si trong khi ngồi thiền, trước khi ngồi thiền và sau khi ngồi thiền, trước khi suy nghĩ, trong lúc suy nghĩ và sau khi suy nghĩ. Nhiều khi đang nói thì sân nói, bản ngã nói, dục nói mà mình không biết, thành ra nhận diện năm uẩn rất hay và tuyệt diệu. Đừng nghĩ rằng thân là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức là xong rồi nhận diện ngũ uẩn theo đó thì cho là tôi biết thì cái đó là chỉ làm rập khuôn cho tiểu học, phải nhận diện sâu sắc hơn nữa để biết được sự sanh khởi, an trú và chấm dứt của ngũ uẩn, sau đó là nhận diện lậu hoặc, sự sanh khởi của dục tham, sân hận, si mê, bản ngã, sự an trú, sự chấm dứt và sự vận hành của nó như thế nào, tập nhận diện cơ cấu, sự vận hành của các lậu hoặc. Nhưng phải đi theo từng bước, tức là tập nhận diện ngũ uẩn cho thuần thục trước, sau đó mới nhận diện lậu hoặc vì tổng cương lĩnh tu hành của mình là tẩy trừ lậu hoặc, đoạn tận các lậu hoặc, còn giờ mình không biết không thấy thì làm sao tẩy trừ, đoạn tận.
Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy. (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc).
Với sự tu tập hướng ngoại, mê tín, tà kiến mà trước nay mình đã đi theo, mình không thấy ngũ uẩn, không thấy lậu hoặc thì tu tới chừng nào mới đoạn tận được? Điều này không thể xảy ra. Ngũ uẩn không thấy, lậu hoặc không biết thì làm sao có thể nhiếp phục và đoạn tận? Chỉ làm được một chút phước lành bên ngoài rồi tự ngã theo đó thuần thục. Tự ngã thuần thục bên trong các thiện pháp làm được bên ngoài cho nên chúng ta phải học, phải nghe kinh và thiền quán thì mới khai mở trí huệ.
Này các Tỳ-kheo, không phải do nghiệp từ tham sanh, không phải do nghiệp từ sân sanh, không phải do nghiệp từ si sanh, chư Thiên được nêu rõ, loài Người được nêu rõ, hay những loài khác đang ở trong thiện thú (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, IV. Phẩm Chư Thiên, (IX) (39) Nhân Duyên). Sở dĩ có ra thế giới của chư Thiên, loài người và các đường lành không phải từ nơi cái nghiệp của tham sân si, tức là cái tâm đầy rẫy tham sân si như vậy làm nguyên nhân để sanh khởi ra nghiệp thì cái tâm đó sẽ đưa đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Những cái nghiệp từ tham sân si sẽ đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, còn cõi chư Thiên, loài người hay các thế giới tốt lành không phải sanh ra từ tham sân si. Mình phải hiểu đây là tham sân si cấp độ nặng mới xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nêu rõ tức là được biểu hiện ra. Này các Tỳ-kheo, chính do nghiệp từ tham sanh, chính do nghiệp từ sân sanh, chính do nghiệp từ si sanh, địa ngục được nêu rõ, các loài bàng sanh được nêu rõ, các loại ngạ quỷ được nêu rõ, và các loài khác đang ở trong ác thú. (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, IV. Phẩm Chư Thiên, (IX) (39) Nhân Duyên). Chính do tham sân si mà địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh được biểu hiện, chiêu cảm ra thế giới đó.
Có ba nguyên nhân này, này các Tỳ-kheo, khởi lên các nghiệp. Thế nào là ba? Không tham là nguyên nhân khởi lên các nghiệp. Không sân là nguyên nhân khởi lên các nghiệp. Không si là nguyên nhân khởi lên các nghiệp.
Phàm nghiệp nào được làm vì không tham, này các Tỳ-kheo, sanh ra từ không tham, duyên khởi từ không tham, tập khởi từ không tham. Vì rằng tham được từ bỏ, như vậy, nghiệp ấy được đoạn tận, được cắt đứt từ gốc rễ, được làm như thân cây tala, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai.
Phàm nghiệp nào được làm vì không sân ... Phàm nghiệp nào được làm vì không si, này các Tỳ-kheo, sanh ra từ không si ... Vì rằng si được từ bỏ, như vậy, nghiệp ấy được đoạn tận, được cắt đứt từ gốc rễ, được làm như thân cây tala, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 33.- Các Nguyên Nhân).
Phàm nghiệp nào do không tham, không sân, không si tác thành sanh ra từ không tham, không sân, không si, do không tham, không sân, không si làm nhân duyên thì nghiệp ấy là thiện, nghiệp ấy không phạm tội, nghiệp ấy có lạc dị thục, nghiệp ấy đưa đến nghiệp đoạn diệt, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp tập khởi.
Ví như này các Tỳ-kheo, các hạt giống không thể bị bể vụn, không bị hư thối, không bị gió và nắng làm hư, còn được tươi tốt, được khéo gieo. Và một người lấy lửa đốt chúng, sau khi lấy lửa đốt, làm cho chúng thành tro, sau khi làm thành tro, quạt chúng trong gió lớn, hay cho vào dòng nước sông chảy nhanh mang cuốn đi. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các hạt giống ấy được đoạn tận, được cắt đứt từ gốc rễ, được làm cho như thân cây tala, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai.
Có ba nguyên nhân này, này các Tỳ-kheo, khởi lên các nghiệp:
Phàm có hạnh nghiệp nào,
Sanh từ tham sân si,
Do kẻ vô trí làm
Dầu có ít hay nhiều
Tại đây được cảm thọ,
Không phải tại chỗ khác
Do vậy vị Tỳ-kheo
Từ bỏ tham, sân, si
Làm khởi lên minh trí,
Từ bỏ mọi ác thú.
(Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 33.- Các Nguyên Nhân).
Như vậy nghiệp nào được làm vì không tham, sanh ra từ không tham, duyên khởi từ không tham, tập khởi từ không tham? Chính là nghiệp từ tâm giải thoát, bi tâm giải thoát, hỷ tâm giải thoát và xả tâm giải thoát, đây chính là nghiệp từ không tham sân si. Các bậc thánh thành tựu chánh trí, các bậc đại thiện tri thức chia sẻ pháp cho mình không phải vì tham danh lợi, không phải vì mong muốn được cung kính mà đó là từ tâm, bi tâm của các ngài, các ngài không phải vì tham danh lợi, vì muốn nổi tiếng mà các ngài truyền pháp cho mình. Khi quở trách, la rầy, nhắc nhở mình không phải các ngài làm từ tâm sân mà là tâm từ nhưng các ngài thể hiện theo cách khác. Đây là chỗ thâm sâu, trong các khóa tu mình bị la rầy thì đây là việc làm từ tâm từ, tâm đại bi nhưng người không học dòng pháp thì vào tu sẽ không chịu được, người ta sẽ rút lui cho nên mọi người mắt tai nghe thấy mà đâu phải sự thật, họ hiểu theo cái tâm phàm phu, "sao đi tu mà bị la rầy ghê quá", đây là sự khác nhau giữa đa văn thánh đệ tử và vô văn phàm phu chính là chỗ này. Người bình thường vào đây tu học sẽ khó chịu vì bị la rầy, đây là sự vô minh. Nếu không la rầy thì làm sao mình biết sai chỗ nào vì mình cứ nghĩ mình thông minh, thành ra mình phải biết cái thấy biết của mình không đúng, mình tin vào thì mình sẽ tạo nghiệp. Như vậy mình mới thấy được thánh pháp khủng khiếp như thế nào, mình tu không đúng chánh pháp thì muốn đoạn tận mà đoạn không được, không đoạn tận được cái giận, bản ngã, không biết đường để nhiếp phục. Nhưng tu đúng chánh pháp là diệt tận đến mức không còn sanh khởi trở lại trong tương lai, đây là sức mạnh của thánh trí, thánh đạo, thánh pháp. Nếu không học mà cứ lạy hoài thì bản ngã có lắng dịu không? Người nổi sân mà cứ tập cái hạnh quỳ lạy hoài thì chưa diệt được hết nhưng ít nhất cũng hiền ngoan, tu tập từ từ thì bản ngã sẽ hiền lại chứ bình thường là rất hung tàn, hung bạo. Mình tu như vầy thì cứ lạy sám hối diệt ngã, cứ tác ý đánh đuổi, huấn luyện liên tục thì bản ngã sẽ hiền lại. Phải có sự Như lý tác ý liên tục thường xuyên, bệnh nào thì tác ý bệnh đó suốt ngày, mình đập cho nó không thể ngẩng đầu lên được, bắt bản ngã phải hạ đầu xuống, từ đó mình mới thấy sự hỷ lạc, hạnh phúc của sự chiến thắng trong giai đoạn đầu. Mình có quyền tự hào khi nhiếp phục được tham sân si, nở lên nụ cười chiến thắng, các cảnh giới của chư thiền trong các tầng thiền đã giảm bớt tham sân si cho nên sanh lên các tầng trời. Những vị lãnh đạo nguyên thủ quốc gia, những người có phước đức lớn thì tham sân si của họ không có nặng, họ giận lắm nhưng nhìn không thể biết được, một phần do họ nhiếp phục được những cái thô nên sanh ra là thiên chủ hoặc nhân chủ, ở cõi người là đứng trên thiên hạ hoặc ở cõi trời là thống lãnh. Còn bậc diệt tận hoàn toàn ác pháp để không còn sanh khởi trở lại trong tương lai là bậc A-la-hán. Mình còn nhiều tham sân si thì phải biết rằng địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đang chờ phía trước, cái tham sân si của mình mà thô, nặng, trầm trọng, sanh khởi lên là xâm chiếm hết toàn bộ cơ thể thì hỡi ơi, con đường phía trước vào 3 đường ác.
Này các Tỳ-kheo, không phải do nghiệp từ không tham sanh, không phải do nghiệp từ không sân sanh, không phải do nghiệp từ không sân sanh, địa ngục được nêu rõ, loài bàng sanh được nêu rõ, cõi ngạ quỹ được nêu rõ, và các loài khác đang ở trong ác thú. Nhưng này các Tỳ-kheo, chính do nghiệp từ không tham sanh, chính do nghiệp từ không sân sanh, chính do nghiệp từ không si sanh, chư Thiên được nêu rõ, loài Người được nêu rõ, và các loài khác đang ở trong thiện thú (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, IV. Phẩm Chư Thiên, (IX) (39) Nhân Duyên).
Từ chỗ không tham sân si nên được sanh ra giữa chư Thiên, loài người hoặc ở thế giới phúc báo, an lạc. Thấy cái gì cũng đẹp, nghe những lời êm ái, tiếp xúc cảm nhận những cảm thọ lạc vì nó tương ứng với cái tâm. Cái tâm tham sân si làm khổ mình, khổ người thì phải ở trong cảnh khổ.
Phàm nghiệp nào do vô tham tác thành, này các Tỳ-kheo, sanh ra từ vô tham, do vô tham làm nhân duyên, do vô tham tập khởi, nghiệp ấy là thiện, nghiệp ấy không có phạm tội, nghiệp ấy có lạc dị thục, nghiệp ấy đưa đến nghiệp đoạn diệt, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp tập khởi (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, XI. Phẩm Chánh Giác, 108.- Ba Nhân Duyên (2)).
Có những vị lạy Đức Phật 1 lạy, cúng dường 1 bữa ăn, họ khởi cái niệm cung kính thì hàng ngàn kiếp sau họ cũng không hưởng hết quả đó. Vì cái niệm cung kính, cái niệm tùy hỷ, sự hoan hỷ đó đâu phải từ tham, họ bố thí và cúng dường thì làm sao từ tham được, họ không sân hận, si mê vì họ thấy đó là bậc đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng đảnh lễ, đáng tôn trọng, đáng chắp tay thì cái nghiệp đó không phải sanh ra từ tham sân si, cho nên họ có lạc dị thục. Chỉ cúng dường 1 bữa ăn nhưng họ sanh ra hàng ngàn kiếp sau hưởng phúc đức ở cõi trời hoặc là nghe được bài pháp của Đức Phật là hướng Dự lưu, Nhập lưu cho đến các thánh quả, thậm chí chứng quả A-la-hán ngay tại chỗ, đó là dị thục quả của thiện nghiệp được họ tích tập trong nhiều kiếp. Vì vậy phải siêng năng làm điều lành, làm những việc phước thiện, công đức.
Này các Tỳ-kheo, có ba căn bản làm phước. Thế nào là ba?
Căn bản làm phước do bố thí,
Căn bản làm phước do giới đức,
Căn bản làm phước do tu tập.
(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương VIII. Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (VI) (36) Phước Nghiệp Sự).
Bố thí là ở bên ngoài, tiền của, tài sản, những phương tiện để được đầy đủ. Giới đức là để cho mình ngăn 3 đường ác đạo từ đó có cuộc sống bình an. Tu tập là để đoạn tận tham sân si. Đây là 3 phước lớn, cho nên cái ác có dị thục khủng khiếp thì cái thiện cũng có dị thục vô lượng. Mình phải có những cái thiện nghiệp, có những cái lạc dị thục này, hạnh phúc, an lạc thì mới thuận tiện để tu chứ nếu rơi vào thân súc sanh bị què, ghẻ lở thì làm sao thiền định được, nếu có linh tánh thì cũng chỉ là cảm nhận được phần nào thôi. Có những con vật vào giờ tụng kinh, lạy Phật là nó đi lại là do nó cảm nhận được chánh pháp, cho nên mình phải có thiện nghiệp, cái này mới bảo bọc, che chở để mình thể nhập thánh đạo, chứng nhập thánh trí chứ mình sanh ra như chú bị khuyết tật thì mình có dám đi tu không? Có bị mặc cảm không khi ai cũng lành lặn mà mình lại bị tật nguyền, ai cũng đi thiền hành còn chú lại không dám đi, vì vậy phước báo rất quan trọng. Có nhiều người bị tật nguyền nhưng bản ngã của họ rất hung ác, đó là từ bóng đêm đi vào bóng đêm, bần khổ đa oán, hoạnh kết ác duyên những tội ác cho nên càng nghèo khổ thì càng oán hận, lại kết thêm những ác duyên để tăng trưởng thêm tội nghiệp. Phải nhớ những thiện sự, phước sự, cái gì làm được thì cố gắng làm vì nó sẽ bảo bọc, che chở cho mình và làm cho mình có đời sống đầy đủ, bình an để tu học. Còn không mình sẽ rơi vào những tấm thân đui, điếc, què, bị thần kinh, ngu ngơ, khờ khạo không thể nhận thức được chánh pháp thâm sâu. Chính do từ cái nghiệp không tham, không sân, không si mà có ra được thế giới của chư Thiên, loài người và những cõi lành. Tất cả những nghiệp ấy là thiện, từ nghiệp đó sẽ đưa đến chỗ chấm dứt tất cả các nghiệp, kiếp cuối cùng của Thái tử Tất-đạt-đa là đỉnh cao cùng cực chí thiện của phước báo. Nó có trình tự chứ không phải tự nhiên bị què, chột, điên loạn hoặc được chứng ngộ, tức là Ngài đã viên mãn tất cả những thiện nghiệp, thiện pháp, công đức phước báo, đến cuối cùng là đoạn tận tất cả các nghiệp và chứng thành Chánh Giác. Cho nên mình lỡ sanh vào thân tật nguyền, ngu khờ hoặc cái thân ganh tỵ, đố kỵ thì phải sám hối, nhận thức, thay đổi thật nhiều để phá được những nghiệp chướng đó ra, từ đó mới thể nhập được thánh pháp, còn không thì không thể nhập được, chỉ học cho biết nhận thức vậy thôi, vẫn đứng ngoài cửa chùa. Phải Nhập lưu hoặc Dự lưu mới bảo đảm, đầu tiên phải phá được thân kiến, khi phá được rồi thì tự động hoài nghi và giới cấm thủ sẽ tiêu tan. Từ nghiệp thiện đưa đến sự đoạn tận tất cả các nghiệp, giống như hạt giống bị đốt thành tro bụi, gió lớn thổi bị bay đi rồi bỏ xuống dòng sông chảy siết cuốn đi. Tất cả những mầm móng của tham sân si, bản ngã là phải diệt tận như vậy, tuy rằng nó rất lớn và hung mạnh nhưng mình cứ tẩy trừ, đánh đuổi hoài và làm đúng thì chắc chắn sẽ có kết quả, làm đúng theo lời Đức Phật thì tin chắc sẽ thành tựu niềm tin bất động đối với Đức phật, đối với giáo pháp, đối với bốn đôi tám chúng.
Đại chúng trải tâm từ đến vô số những người đang bị bệnh trên toàn thế giới. Núi lửa phun trào, dịch bệnh, chiến tranh, lũ lụt thiên tai, hạn hán, mất mùa, đói khổ. Hồi hướng phước báu này đến tất cả chúng sanh đang khổ sở. Hồi hướng phước báu này đến chư Thiên, sơn thần, địa thần và tất cả những vị hữu tình nghe được âm thanh này được thể nhập thánh pháp.
./.