Phật Đản Sanh Đem Niềm Tin Tối Thượng
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
PHẬT ĐẢN SANH ĐEM NIỀM TIN TỐI THƯỢNG!
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn hiền đức và các chư vị hiền trí nam nữ Phật tử, buổi chiều hôm nay chúng ta có buổi pháp đàm. Trong mùa Phật đản, buổi pháp thoại sáng nay với chủ đề địa cầu chấn động, chúng ta còn rất nhiều bản kinh trong chánh tạng Nikāya, chiều nay chúng ta pháp đàm để ai còn thắc mắc, nghi vấn chưa hiểu về Đức Phật thì quý vị có thể nêu lên câu hỏi, hoặc là mình có sự cảm ơn đối với Đức Phật thì cũng nêu lên, nhớ ơn hoặc có những điều chưa hiểu, nghi ngờ trong cuộc đời Đức Phật cũng như những giáo pháp của ngài dạy, hay những sự kiện mình nghe nói, mình đọc còn chưa sáng tỏ thì nêu lên để hỏi hoặc mình nói lời cảm ơn, nhớ ơn đối với Đức Phật, hoặc mình nói lên, bày tỏ lên sự lợi ích, sự hạnh phúc, sự an lạc từ khi mình đi vào đạo Phật, mình biết chánh pháp, mình tu học, nhất là trong những cái lời dạy gốc của Đức Phật thì mời tất cả quý vị nêu câu hỏi hoặc là chia sẻ.
Trong mùa Phật Đản này là cơ hội để chúng ta quán niệm, tưởng niệm, nhớ niệm về cuộc đời của Đức Phật. Rằm tháng tư Phật giáo ở trên thế giới lấy cái ngày đó trở thành cái ngày tam hợp, tam hợp là ba sự kiện vĩ đại của Đức Phật hợp lại làm thành một ngày lễ. Chúng ta nghe Vesak tức là tam hợp, là sự kiện đản sanh, sự kiện thành đạo và nhập Niết-bàn cho nên ở trong mùa Phật Đản này chúng ta không những nhắc lại sự đản sanh của Đức Phật mà còn nhớ lại sự thành đạo, sự nhập Niết-bàn của ngài. Ở trong kinh Đại bát Niết-bàn rất là cảm động, bản kinh này phải lên núi mới học, không gian mới phù hợp vì nó dài lắm, trong đó kể hết những ngày cuối cuộc đời của Đức Phật.
Cho nên trong tuần lễ Phật Đản này, từ ngày mùng 1 tháng 4 của mình là bắt đầu cho tới rằm tháng tư là thời gian chúng ta đọc lịch sử Đức Phật, lạy trí đức Như Lai, lễ về những cái lễ trong nghi thức giáo hội soạn ra, tóm thâu cuộc đời Đức Phật thành mười mấy lạy. Chúng ta nhớ lại để cho mình tăng thượng lớn mạnh niềm tin, để mình tu học. Tại sao mà mình tu không tiến? Vì niềm tin của mình không có đủ, ví dụ quý vị tin ở trong góc nền nhà quý vị có chôn vàng ở dưới, trước khi cha mẹ quý vị qua đời trên cái giường bệnh, sắp sửa chút hơi thở cuối cùng cha dặn "con ơi nhà mình có vàng, con nhớ cho kỹ nha, góc đó, chỗ đó đào xuống sâu một thước thì cha có để một hũ vàng 50 kg. Con nhớ là phải đào cái chỗ đó nha con". Sau khi ba mình qua đời mình có đào không?
Thứ nhất là vì số vàng quá lớn, quá giá trị, cái đó là quan trọng nhất rồi, chắc chắn là mình sẽ đào, nhiều khi chưa đợi ông già ra đi nữa đã lén đào trước rồi, tối ngủ không được. Nằm xuống là hình ảnh hủ vàng hiện ra, có lạc thọ, suy nghĩ phải đào lên để thành tỷ phú, như vậy chắc chắn là mình sẽ đào, trừ khi mình không có tin lời ba của mình, "ông nghèo mà làm gì có tiền, tiền không có thì vàng đâu ra có nguyên cái hủ mấy chục ký" thì mình sẽ không đào. Cũng vậy tại sao mình không có đào cái tâm của mình? Không có đào cái tâm địa, cái đất tâm của mình để mình thấy được cái hũ vàng thánh trí ở trong đó? Là gì lòng tin của mình đối với Đức Phật chưa có đầy đủ, cho nên nghe vậy đó chứ còn tu thì cứ tu từ từ, tới đâu hay tới đó, vàng đâu mà 50 kg, 50 kg vàng là con ví dụ cho thánh trí ngũ uẩn.
Ví dụ một chút để cho quý vị thấy lòng tin của mình đối với Phật pháp chưa có bao nhiêu hết, cho nên mình tu không có quyết liệt, nếu mình tin bằng cả tấm lòng của mình, giống như mình tin cái hũ vàng đó thì quý vị nghe nói xong thì xăn tay áo lên đào lên. Trong Nikāya, Đức Phật nói một người thành tựu lòng tin đối với Phật có địa vị là Thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn, dự vào dòng Thánh, nói đơn giản là vị này lập tức xăn tay áo lấy cuốc đào ngay lập tức. Còn mình nghe khổ vậy thôi, nghe thì cũng biết là khổ nhưng để đó, cho nên có một bài kinh rất quan trọng nhất nhắc lại cho quý vị thấy, cái này tổng hợp tinh hoa, tinh túy, cốt tủy cho quý vị nghe. Lòng tin của mình chưa có đủ lòng tin mình chưa đủ.
"- Này các Tỳ-kheo, có bốn lòng tin tối thượng này. Thế nào là bốn?
Dầu cho các loại hữu tình nào, này các Tỳ-kheo, không chân hay hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được xem là tối thượng. Những ai đặt lòng tin vào đức Phật, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng" (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IV). Các Lòng Tin)
Thế Tôn nói dù cho các loài hữu tình, hữu tình là những chúng sanh có tình cảm, có tình thức. Không chân là con rắn, con lươn, con trùng… Hai chân là con người, con gà, con vịt…Nhiều chân là những con rết, con cuốn chiếu… Thế Tôn nói rằng tất cả những cái loại đó, dù là không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân thì Đức Thế Tôn là bậc tối thượng, ngài sanh ra trong loài người hai chân, trong tất cả các loài đó thì Thế Tôn là bậc tối thượng.
Loài có sắc ở đây là chỉ cho chư thiên, không sắc là chỉ cho chư thiên vô sắc giới sống bằng tâm thôi, không có cái hình tướng, sống bằng thọ; tưởng; hành; thức thôi, cái sắc rất là vi tế cho nên quý vị thấy mình nằm chiêm, thí dụ như mình nằm chiêm bao thấy mình đi lên Đà Lạt, mình có cái hình bóng đó, có cảm giác đó, có suy nghĩ đó, mình có sự rõ biết rõ ràng mình đi Đà Lạt cái cảnh nó như vậy nhưng cái đó là sắc tưởng chứ không phải là sắc tướng, phải phân biệt hai cái này. Bây giờ ở đây sắc tướng của đóa hoa hồng nhưng trở về nhà mình nhớ lại thì hình bóng của cái này trong tâm mình gọi là sắc tưởng, sắc tướng khác sắc tưởng. Bây giờ chú ngồi đây, con nhìn thấy chú là thấy được sắc thân, sắc tướng của chú nhưng khi tối con trở về nhà nhớ lại chú ngồi đó, mang mắt kính vậy đó thì cái hình bóng ở trong tâm gọi là sắc tưởng.
Cái thân của chư thiên, của thần, của tiên, của ma, của ngạ quỷ, của địa ngục này kia là sắc tưởng cho nên mình chạm vào đâu có được nhưng mà họ có cảm giác, họ có hiểu biết, họ có suy nghĩ. Cái thân tướng của chư thiên, chư thần, thần tiên không phải là con người mà mình rờ được, chỉ là cái bóng thôi cho nên quý vị thấy người ta kêu bằng bóng ma, cái bóng lờ mờ vậy thôi, đó là thế giới sắc giới, còn mình là dục giới, thế giới của mình là thế giới của dục. Tất cả con người sống trong đây là dục, từ dục sanh ra, sự sống của mình căn cứ trên cái dục. Mình có muốn đủ thứ không? Mình rất nặng về dục, dục nam nữ, dục ăn, dục ngủ, dục chơi, dục nói, dục đi đâu đi đó, Đức Phật gọi năm dục trưởng dưỡng, năm thứ này nuôi lớn lòng tham muốn, đó là sắc; thanh; hương; vị; xúc, sắc đẹp, tiếng hay, mùi hấp dẫn, vị ngon, sự xúc chạm nhưng không phải chỉ là đụng chạm nam nữ mà có tới 6 xúc, thích nhìn, thích nghe, điếc thì hay ngóng, ngọng thì hay nói, thích được tiếp xúc cho nên ở trong nhà chịu không nổi, dù có dịch bệnh cũng phải đi ra ngoài.
Thế giới của mình là thế giới của dục, nhìn cái đẹp là mình thích, mình muốn, nếu như nhìn hoa chưng bị héo là thấy bực mình. Tiếp xúc là sanh dục, tiếp xúc là sanh sân rồi tạo nghiệp nhưng mà hoàn toàn không biết cho nên vô minh. Thế giới của mình là từ cái dục nam nữ của cha mẹ nên mình được sinh ra, còn nhỏ là dục cái núm vú của mẹ rồi cái bình sữa, sau đó là bánh kẹo, lớn lên là bạn bè, tình cảm nam nữ, lớn chút nữa là thành đạt, tiền bạc, lớn chút nữa là muốn địa vị, lớn chút nữa là làm cha, làm ông, làm sếp, lớn chút nữa là vào bệnh viện. Cho nên thế giới của mình là thế giới của dục rất là nặng, chính vì cái tâm dục, tâm muốn nên mình không đi ra khỏi thế giới này được.
Làm sao mình đi lên trời ở được? Có những cảnh giới của chư thiên không có dục, mà có dục cũng vi tế lắm, nhiều khi nắm tay, ôm nhau một cái là xong rồi chứ không có cái dục nặng nề giống thế giới của mình, cho nên mình muốn lên trời mà cái tâm mình còn cái dục nặng nên đi không được. Bây giờ đừng nói chi xa, vô chùa tu mà vô không nổi nữa, tu một ngày thôi cũng không nổi, quý vị dục cũng nhẹ nên mới ngồi ở đây. Ăn chay một ngày không nổi, đi chùa một ngày không nổi, mới có nửa ngày đã bỏ chạy, ăn trưa xong là về, nó xâm chiếm, chi phối trong tâm của chúng sanh cho nên đây là dục giới, thế giới của dục. Vì thế mình mới học cái này để mình biết mình đang ở đâu, nhiều khi mình tưởng mình ngon lắm, mình ngồi vậy đó nhưng nó thúc giục "lẹ lẹ đi ra, về còn làm công chuyện". Đang ngồi tụng kinh, đang ngồi thiền, đang ở trong chùa mà nó thúc giục "lẹ lẹ về", ra cứ lấy xe chạy mất, mà không cẩn thận thì nguy hiểm.
Đức Phật nói tất cả pháp lấy dục làm gốc rễ, làm căn bản, chính cái dục này làm cho người ta khổ đau. Tất cả cái khổ đau thì cái dục là gốc rễ, nếu một người tu ly dục, ly tham thì người này hết khổ. Tuy mình chưa tu được nhưng mình phải hiểu được cái này để mình biết mình tu, nếu không mình tưởng tu là cái gì đó, thật ra là tu ngay chỗ ham muốn này. Thí dụ mình chỉ muốn ăn hủ tiếu thôi, không muốn ăn cơm nhưng chiều đó người ta nấu hủ tiếu bưng lên hết, đến lượt mình thì hết nên đưa mình cơm, mệt chưa, khổ không? Tại mình muốn cái đó, nếu không muốn thì ăn cái gì cũng được. Bây giờ mình muốn mệt hay muốn khỏe? Ví dụ đơn giản như nó thấy được tu ngay chỗ đó, "cái gì tôi ăn cũng được, tôi ăn dễ lắm", dễ nuôi, dễ sống, dễ dạy, dễ bảo, dễ tu, dễ học. Mình tập cái dễ vậy đó là tâm mình nhẹ nhàng cho nên chú Tân rất dễ mới đi với Minh Thành được, còn mình muốn phải vầy mới được, không vầy là không được thì mình khổ lắm, đi tới đâu thì khổ tới đó vì không phải ai cũng giống ý mình, người ta không theo ý mình thì mình khó chịu cho nên đây là chỗ quý vị phải để ý để nhiếp phục tham muốn trong tâm, như vậy là tu sâu.
Đang đi một hàng nhưng mình muốn đi lên trước, mình muốn đi lẹ, mình không muốn ở phía sau, mình chen vô khi người ta đang xếp hàng nên bị cự "chị đi đâu đây, phải xếp hàng", rồi cự lại người ta, đó là tham không được nên sân. Kinh pháp ngay chỗ đó, sau đó khởi bản ngã lên "biết tôi là ai không", cái khổ là từ chỗ thúc giục trong tâm, nó muốn mau, muốn nhanh, muốn lẹ, muốn hơn người ta mà không được thì bực bội, sân lên không được thì khởi bản ngã lên, sau đó là đấu khẩu, đấu võ, ra tới tòa án thưa kiện nhau. Chuyện chẳng có gì ngoài việc muốn cho nhanh lẹ, muốn trước, muốn mau, chạy xe tạt đầu nên tông xe. Như vậy tất cả mọi thứ lấy cái muốn đó là gốc của tất cả khổ đau, cái muốn, cái thúc giục là cái cội gốc của tất cả khổ đau. Phải hiểu cái này cho sâu sắc trong sự tu, nhiếp phục được sự thúc giục đó thì sự tu của mình hay lắm, tuyệt vời lắm, vi diệu lắm.
Hồi sáng con chia sẻ cho các vị xong là con bước lên xe đi, con vừa về tới là bước lên đây luôn, con nhiếp phục sự thúc giục bên trong nên quý vị thấy đi ra giống như không đi đâu cả, giống như bình thường. Đó là tu, con đi vào quý vị có thấy con có công chuyện lăng xăng nhiều lắm không? Cái tu nằm ở chỗ đó, người thật việc thật cho quý vị thấy, còn mình không có tu, không thực tập an tịnh, lắng dịu là mình lăng xăng, mình tất bật, tâm mình bị rối, mình không có nhiếp phục cái thúc giục, mình động loạn, tâm mình mờ tối, bị che khuất, trí không sáng. Vì thế phải nhiếp phục sự thúc giục, cái muốn thì cái tâm mới trầm tĩnh, cái tâm trầm tĩnh thì mới tỏa sáng, khi tỏa sáng thì mới nhìn thấy được cái gì nên, cái gì không nên, cái nào đúng, cái nào sai, cái nào tốt, cái nào xấu, cái nào hại, cái nào không hại, cái nào đen, cái nào trắng, cái nào tội, cái nào phước.
Đồng thời cũng đi lên cầu thang thì người đi trước rồi tới người đi sau, mình vội vàng muốn vượt lên mà người ta không cho vượt, chạy xe cũng vậy, mình cũng muốn vượt lên mà người trước không cho vượt rồi có chuyện. Khổ không? Vậy có phải cái muốn này là khổ không? Đây là thế giới của sự thúc giục, ham muốn cho nên ta khổ đau. Hôm nay phân tích cái này kỹ để quý vị thấy ý nghĩa của chữ dục giới, bây giờ mẹ mình nói một câu nhắc nhở nhưng mình chưa kịp bình tĩnh suy nghĩ, chánh niệm quán xét của câu nói của mẹ là đúng hay không là mình cự lại liền, trong đó quý vị không thấy được cái sân ở phía sau, cái thúc giục ở phía trước, nó thúc giục phải nói ra. Mình không thấy cảm thọ thúc giục để nói cho hả dạ, nếu mình chặn được cái đó thì mình bắt đầu làm cho lắng dịu cái bực bội trong cảm giác, khi cái thọ sanh khởi lên thì cái thúc giục phải biểu hiện ra, phải phát ra. Từ ý hành phát ra khẩu hành, từ suy nghĩ phát ra lời nói, từ lời nói phát ra hành động, nhưng trước đó là cảm thọ, trong cảm thọ, cảm giác đó có sự thúc giục cho nên cái sự tu là kiểm tra xem nó thúc giục cái gì.
Nhìn lại cảm giác, nhìn lại suy nghĩ xem nó có thúc giục cái gì không, bắt nó an tịnh, lắng dịu, làm cho nó an tịnh, lắng dịu, thì còn. Năm từ "an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương" là thực hành từ đây cho đến ngày chết, cho đến khi chứng sơ quả, nhị quả, tam quả, tứ quả. Thế Tôn nói Như Lai là bậc an tịnh, thuyết pháp để hướng dẫn chúng sanh đạt đến cảnh giới của an tịnh, thành ra tất cả những chuyện ở trong gia đình, vợ chồng, con cái, anh em, bạn bè, huynh đệ tỷ muội có sự gay gỗ, bất hòa, rạn nứt hay là đổ vỡ là mình không nhìn thấy cái cảm thọ sân hận thúc giục, mình không có nhiếp phục, chế ngự nếu mình biết kiềm chế lại. Nó mới trong cái cảm giác, mới ở trong suy nghĩ là mình chặn được, mình nói ra người ta mới biết trừ bậc đó là bậc có tha tâm không, là người đó đọc được suy nghĩ của mình thì mình giấu không được. Nhưng nếu là người phàm phu bình thường mà mình chặn ở trong thọ; tưởng; hành, mình chặn ở trong cảm giác, ở trong suy nghĩ không cho nó phát ra miệng thì người đó có biết không? Không biết, nếu có biết đi nữa thì cũng biết nhẹ, "cái mặt nhìn thấy khó chịu" vậy thôi nhưng mà mình nói ra là hư hết trơn.
Tại sao mình nói ra? Tại sao mình có hành động? Là vì mình không có chặn đứng được ở trong cảm thọ thúc giục, bực bội, khó chịu, sân hận. Thành ra cái cảm giác là hết sức quan trọng, kiểm tra và kiểm soát, kiểm kê, kiểm điểm, kiểm toán thường xuyên cảm giác thúc giục ở trong con người của mình. Tại sao mình lấy muỗng, lấy tô rớt bể, va chạm nhau tạo tiếng động, đó là làm trong sự thúc giục, còn nếu mình làm trong sự an tịnh, lắng dịu là cái chén để xuống người ta không nghe tiếng, cái đũa để xuống, cái muỗng để xuống cũng không nghe tiếng. Mình đi không có sự thúc giục, mình nhiếp phục và chế ngự củ sự thúc giục, hấp tấp, vội vàng là mình đi nhẹ nhàng, không nghe tiếng động, đi rất là thong dong, đi rất là nhẹ nhàng, thảnh thơi, bình an. Quý vị thấy con để cái dùi chuông xuống không có nghe tiếng, nhưng mà nếu cho quý vị không có tu tập để xuống là nghe tiếng động liền. Đó là nhiếp phục từng chút, từng chút, quý vị thấy tu nó nhỏ xíu chứ không có nhiều nhưng mà cái nhỏ nhỏ cộng lại thành cái hơi vừa vừa, nhiều cái vừa vừa cộng lại thành ra cái lớn, nhiều cái lớn lên cộng lại thành đức lớn, gọi là đại đức.
Đại Đức là công đức to lớn, mà công đức to lớn là từ công phu sinh ra đạo đức, cái công phu đó từ cái những cái nhỏ nhỏ. Không phải tự nhiên có dĩa hoa này mà phải từ mỗi bông hoa kết thành, không phải tự nhiên có bông hoa mà nó được kết thành từ những cánh hoa, như vậy mỗi cánh hoa rất mỏng nhưng kết hợp lại thành bông hoa, nhiều bông hoa kết hợp lại thành một vườn, một rừng hoa, nhưng có khi mình không chịu cánh hoa mà chỉ muốn có vườn hoa thôi, vậy là mình không tu. Tu là từ cái cánh nhỏ đó, tức là từng chút, từng chút, muốn vậy phải kiểm soát sự thúc giục, hối hả, tham muốn ở trong mình. Chẳng hạn như giờ bước tới cổng chùa rồi thì đi vào nhẹ nhàng, đi từ tốn giống như đi thiền hành, giống như đi kinh hành trên chánh điện, đó là mình đang đi thiền hành, đang đi kinh hành mà không phải đợi đến giờ đi kinh hành, tới chùa là thực hành đi kinh thành.
Đừng đợi tới giờ ông thầy kêu đi thiền hành, đi kinh hành thì lúc đó mình mới đi kinh hành. Có nhiều người đi kinh hành nhưng mà vẫn thúc giục là đạp lên ống quần người đi trước làm họ chúi nhủi, đi không nhìn, cứ việc thẳng cẳng mà đi rồi đạp trúng dép của người ta, đạp trúng lai quần của người. Nói chuyện cũng vậy, người ta chưa nói hết là mình nhảy vô chặn họng, ngoài đời người ta gọi là "ăn cơm hớt", nhiều khi không phải là với người ngang hàng, với người nhỏ mà cha mẹ nói mình cũng nhảy vô luôn, cái này là bất kính, không có hiếu thảo, làm trong dục, trong bản ngã, trong sân hận. Như vậy trong lúc nói chuyện có tu không? Không phải đợi lên bàn thờ mới tu, chữ bàn thờ này có nhiều nghĩa lắm , không phải đợi đến chùa rồi mới tu, đến chùa càng tu nhiều hơn, trong khi nói chuyện với cha mẹ mình, nói chuyện với chồng con, với vợ của mình, nói chuyện với anh em, nhân viên, đồng nghiệp, với bạn đạo của mình thì hãy nghe người ta nói hết câu, sau khi người ta nói hết câu đó thì mình chờ một chút xem còn có câu thứ hai nữa không, không phải mới vừa hết câu thứ nhất, người ta vẫn còn câu thứ hai là mình nhảy vô, cứ để người ta nói hết, người ta yên một chút thì lúc đó mình mới nói
Khi mình học được một cái này thì phép màu sẽ xảy ra trong nhà mình, vì mình sẽ hiểu được con của mình, chồng của mình, vợ của mình, người ta nói hết ra không còn chất chứa trong này, người ta mới nói có nửa câu mình nhảy vô "không được nói, nói hoài", lần sau người ta định nói thì mình cũng chặn lại "nói hoài", lâu ngày chất chứa vô thì đến một lúc nào đó bùng nổ, bể nhà đổ vỡ là vì không giải tỏa được cảm xúc, cảm thọ đó. Mình lấy quyền làm mẹ, lấy quyền làm vợ, mình lấy quyền làm bà chủ cho nên nhân viên mới giết bà chủ, một vụ án khủng khiếp, kinh hoàng ngày xưa có cậu nhận viên giết 5 người trong gia đình người chủ vì cứ hở chút là chửi, hở chút là mắng, một ngày nhịn hết nổi nên giết hết người trong nhà. Do không nói được, trong khi mình lấy quyền làm bà, quyền làm chủ, làm sếp áp đặt chứ không lắng nghe, chồng cũng vậy, chị em cũng vậy, là do sự thúc giục trong tâm, bản ngã, tham dục, sân si trong tâm nên thích áp đặt, không cần hiểu ai cả nên đây là chỗ thất bại.
Con tu nhĩ căn viên thông 10 năm trước khi đi vào Nikāya cho nên bây giờ con có thể ngồi lắng nghe các thầy, các cô, học trò, cư sĩ xa gần 3-4 tiếng đồng hồ. Nghe được như vậy là kì tích xuất hiện, phép màu xuất hiện, mình hiểu được người ta nên mình không cần nói nhiều, chỉ cần nói 1-2 câu thôi là họ chắp tay lạy kêu lên "sư phụ nói trúng tim con rồi". Tại vì mình nghe mình hiểu chứ có cái gì đâu, người ta nói hết tấm lòng, mình nghe hiểu, chồng mình, cha mẹ, anh em mình cũng giống vậy thôi, mình phải để người ta nói. Trở lại vấn đề cái bước đi của mình, cái nói chuyện của mình, cách dọn cơm của mình, chùa Quảng Phước Sa Đéc của sư bà, một bậc tu hành đắc đạo, Minh Thành đi chùa đó lúc mới có 7 tuổi thôi, vô cái bếp không nghe tiếng động gì hết, 40 người đang nấu không nghe tiếng động, bây giờ sư bà mất rồi thì chùa khác liền, không còn như xưa. Muốn làm như vậy là phải nhiếp phục cái dục rất nhiều, nhiếp phục cái tâm thúc giục rất nhiều thì nó mới an tịnh, lắng dịu được, còn mình thì chặt, bầm thoải mái cho nên làm cái gì cũng phải làm cho thiệt nhẹ, đó là sự nhiếp phục được sự thúc giục trong con người mình.
Nếu mình không có tu là kéo ghế ầm ầm, quý vị nghĩ rằng cái nhỏ đó mình tu được thì quý vị thấy mình tu kỹ không? Có tu giỏi không? Ăn cơm cũng vậy, không nhai ào ào, vừa nhai vừa nói chuyện là văng đồ ăn ra, người ta nhìn thấy là gớm. Tất cả đều phải kiểm soát, chánh niệm hết, từ cái nhỏ từ từ mình mới nhiếp phục những cái vừa vừa, sao đó mình nhiếp phục những cái lớn. Khi mình nhiếp phục được dục tham thì mình sẽ có một thân tâm dễ chịu, không có dao động nhiều nữa cho nên mình tu một thời gian sẽ có sức trầm tĩnh, định tĩnh, niệm lực, định luật, đạo lực, có chuyện lớn xảy ra tâm mình vẫn có thể lắng dịu được, có động thì nhẹ thôi, mình bứt cái khổ. Mình nhiếp phục được tham muốn như vậy thì từ từ mình đi ra khỏi thế giới của dục giới, mình lên sắc giới.
Trong tam giới này Đức Phật là bậc tối tôn tối thượng là vì những cái dục đó người ra hết, ngài thoát ra hết, ngài không còn trong đó nữa, ngài nhiếp phục hết. Những ý nghĩ, những cái cảm giác, những cái tưởng trong tâm khởi lên cái gì ngài đều nhiếp phục hết rồi diệt tận luôn, tâm ngài hoàn toàn trong sạch, trong suốt, trong veo. Còn mình tùm lum hết mà mình không thấy, không ai chỉ cho là mình không thấy, có khi mìn thấy rồi mình cũng thôi kệ, cho qua luôn, cái "thôi kệ" này khác với "thôi kệ" của Thiền sư. Nhớ kỹ đó, cái thế giới của dục này ham muốn sắc; thanh; hương; vị; xúc, ham nhìn, ham nghe, xa xa đằng kia có ai nói chuyện trúng cái tên của mình là mình lại hỏi nhưng thật ra là do trùng tên, không phải chuyện của mình nhưng cứ thích nghe, cái dục của nhĩ xúc muốn được nghe. Cái dục nhìn thấy là nghe cái cảnh nào đẹp là cố gắng đi đến, chết cũng hả dạ, phải đi lại nhìn rồi về chết cũng được, đó là dục nhãn xúc. Cho nên trong kinh Nikāya chỉ mình sâu sắc lắm, dục nghe món ăn ngon là nhiều người bay qua bên nước ngoài đi ăn cho được cái món đó, gần hơn là chạy từ quận này chạy qua quận kia để tìm món ăn, đó là thiệt xúc, ham muốn món ăn.
Đức Phật nhiếp một hết những dục đó, không còn nữa. Bây giờ mình nói gần gần trước, chư thiên có tâm dục nhẹ rất là nhiều cho nên không ở dục giới nữa, không ở thế giới của dục mà lên sắc giới. Đây là thế giới của những hình sắc vi tế giống như cái bóng ở trong tâm khi mình nằm chiêm bao, đó là cảnh của sắc giới, không có cái thân thịt da như vầy cho nên người ta tự tại, người ta đi xuyên qua tường vách, người ta muốn bay đâu là bay vì người ta chỉ có cái bóng thôi, cái sắc vi tế chứ không có sắc thô phù như mình cho nên không có bệnh. Chư thiên chỉ có ngũ suy tướng hiện thôi, tức là năm cái biểu hiện suy hao của tuổi trời, khi nó hiện ra những cái đó là các ngài hoảng sợ, nếu có Đức Phật là phải đi tìm Đức Phật liền, còn nếu không có Đức Phật thì kiếm mấy vị thánh nhân học đạo, còn không là sẽ rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Khi nó biểu hiện sự suy tàn của cái thân chư thiên thì các vị này rất lo sợ, không còn muốn ngồi trên cái tòa của mình nữa, bay ra mùi hôi.
Ở đây muốn nói là tâm dục nhẹ, có sắc tướng đẹp, một vị trời, tức là một thiên nhân xuống dưới đây là hết cái Sài Gòn này sáng bừng lên, một vị xuống thôi là mấy chục quận huyện sáng rực lên vì cái ngài là đỉnh cao của sắc đẹp. Thân bằng ánh sáng, cái thân đó là do phước đức tích tụ thành, còn cái thân mình là nghiệp, còn họ có thân đó là cái phước rất lớn vì họ tu thập thiện với tứ vô lượng tâm. Trong 10 cái thiện thì thân ba, miệng bốn, ý ba, thân là phải từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, miệng là từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, ý là từ bỏ gì tham, sân, si hoặc là tà kiến. Các ngài từ bỏ được 10 cái đó và tu tứ vô lượng tâm, là cái tâm từ vô lượng chứ không phải tu tâm từ nhỏ nhỏ như mình, không phải là tôi thương cha, thương mẹ, anh em tôi mới thương chứ mấy người dưng tôi không thương. Họ tu tâm từ vô lượng, từ vô lượng tâm, cái tâm xót thương là bi vô lượng tâm, tu tâm hỷ vô lượng, tu tâm xả vô lượng.
Tu Bát Quan Trai giới, tu thập thiện, tu tứ vô lượng tâm thì các vị này sanh lên sắc giới, thậm chí làm Phạm Thiên là vua trời và những vị thiên chủ của của tầng trời 33, cai quản rất nhiều cung điện và các vị này suy nghĩ "mình bây giờ là tối tôn, tối thượng, tối cao, là bất biến rồi, vĩnh cửu, là thường hằng, là chúa tể, là đấng sáng tạo sáng thế giới rồi" vì họ có tuổi thọ rất dài, 1000 năm của mình mới có một ngày của chư thiên, họ sống từ 500 tuổi đổ lên, rồi 3000, 5000 tuổi cho nên các ngài mới nghĩ rằng mình là bất biến, là thường hằng, là Niết-bàn rồi, không còn sanh tử gì nữa. Ngài Mục-kiền-liên đọc được ý nghĩ như vậy nên ngài biến mất ở Kỳ thọ Cấp-cô-độc viên, ở Linh Thứu hiện ra ở trước chư vị phạm thiên, ngài đi tới như vậy thì các chư thiên mời ngài ngồi. Các vị ấy mới khoe vừa làm cung điện có bao nhiêu phòng ốc, bao nhiêu thất bảo, chúng tôi ở đây coi như là hạnh phúc tuyệt đối lắm. Ngài Mục-kiền-liên lấy ngón chân cái chạm vào cung điện thì cung điện lắc lư, rưng chuyển nên chư thiên hoảng sợ, mấy vị thiên nhân nhỏ hỏi rằng đây có phải Thế Tôn, Như Lai không thì chư thiên nói đây là ngài Mục-kiền-liên là đệ tử của Đức Phật. Sau đó ngài Mục-kiền-liên thuyết pháp về vô thường, biến hoại, các ông còn trong sanh diệt, chưa phải bất biến, thường còn, thường hằng.
"Rồi Tôn giả Mahà Moggalàna, như nhà lực sĩ duỗi ra cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, Tôn giả biến mất ở Jetavana và hiện ra ở cõi trời Ba mươi ba.
Rồi một số đông chư Thiên cõi Ba mươi ba đi đến Tôn giả Mohà Moggalàna; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahà Moggalàna rồi đứng một bên. Tôn giả Mahà Moggalàna nói với chư Thiên đang đứng một bên:
-- Lành thay, chư Hiền, là sự thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: 'Ðây bậc Ứng Cúng,... Phật, Thế Tôn'. Do nhân thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, như vậy ở đây, một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
Lành thay, chư Hiền, là tịnh tín bất động đối với Pháp... đối với chúng Tăng...
Lành thay, chư Hiền, là sự thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định. Do nhân thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, chư Hiền, như vậy ở đây, một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
-- Lành thay, Tôn giả Moggalàna, là sự thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: 'Ðây là bậc Ứng Cúng,... Phật, Thế Tôn'. Do nhân thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, thưa Tôn giả Moggalàna, như vậy ở đây, một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
Lành thay, Tôn giả Moggalàna, là sự thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp... đối với chúng Tăng... các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định. Do nhân thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, thưa Tôn giả Moggalàna, như vậy ở đây, một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này" (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), II. Phẩm Một Ngàn, hay Vườn Vua, VIII. Du Hành Chư Thiên)
Như vậy tới đây nãy giờ nói để giải thích từ sắc giới cho quý vị thấy, sắc giới là không có bệnh, không phải ăn uống rồi tiểu tiện hôi dơ như mình, cho nên mình không thấy được chư thiên, chỉ có các bậc thánh, các vị thượng thiện nhân mới có thể gặp và giao tiếp được với chư thiên. Mình để ý có những vị tu sĩ, cư sĩ cũng có nhưng mà hiếm, những vị này khi sắp xảy ra chuyện gì nguy hiểm sẽ được báo mộng. Lâu lâu mình có nghe cái đó không? Sẽ được báo mộng cho rằng đừng có đi đó chỗ đó, đừng có làm cái đó. Và khi mà sự kiện xảy ra y hệt như những gì trong đó nói thì đó là chư thiên báo mộng, thiên thần hỗ trợ, phù hộ, còn thời Đức Phật thì ngài thuyết pháp hằng ngày cho chư thiên cho nên ở trên tam giải thoát môn trên Linh Quy Pháp Ấn là con lấy giờ mà Đức Phật thuyết pháp cho chư thiên rồi con ngồi trên cổng đó giảng pháp, tự nhiên sau này người ta kêu Cổng Trời luôn.
Giờ mình tu trên núi ở ngoài trời thì đó là giờ Đức Phật thuyết pháp cho chư thiên là 4-5 giờ sáng, giờ đó rất quan trọng, giờ đó là tinh hoa của trời đất, âm dương hội tụ, giao hòa, đó là giờ mình tỉnh táo, tỉnh sáng nhất trong một ngày cho nên tu giờ đó hiệu quả gấp nhiều lần so với những giờ khác. Giờ đó mình nên thức dậy để thiền, tụng kinh hoặc là quán chiếu thì rất tốt. Vô sắc giới là không có hình sắc, không có hình sắc mà chỉ có tâm tưởng thôi, những vị này chứng các tầng thiền từ không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng và phi tưởng xứ, đó là bốn tầng thiền định lớn cao ở trên, những cái vị này sống bằng tâm thọ; tưởng; hành; thức chứ không có sắc, còn hồi nãy cõi sắc là sắc vi tế. Trong ba cõi đó Thế Tôn là bậc tối tôn tối thượng, quý vị có thể tưởng tượng nổi Đức Phật là ai không? Trong tam giới là 10.000 thế giới, từ thế giới của dục, thế giới của sắc và thế giới của vô sắc thì Đức Phật là bậc tối tôn tối cao vô thượng ở trong tam giới, tam thiên đại thiên thế giới. Mình có một bậc đại đạo sư như vậy thì quý vị có tự thấy mình hân hoan, hãnh diện, hạnh phúc không?
Mình chọn một bậc sư phụ của mình là vô thượng Chánh đẳng Chánh Giác, mình quá hãnh diện, hạnh phúc, vinh dự, sung sướng khi mình làm một người đệ tử Phật. Quý vị là cực kỳ thông minh mới chọn làm đệ tử của ngài, còn người ta hễ chỗ nào linh là xách giỏ chạy lại cầu xin, dầu cho mang cái tiếng là đệ tử quy y Phật nhưng đó là quy y với thần tiên, thờ Diêu Trì Kim Mẫu, bà Chúa Xứ… Cái đó là thần tiên không phải Phật, những vị đó là còn ở trong lục đạo trong khi Đức Thế Tôn đi ra khỏi lục đạo cho nên mới là bậc tối tôn tối thượng trong tam giới, trong 10.000 thế giới, ở trong lục đạo luân hồi ngài đi ra khỏi nó. Cho nên mình tu mà mình mong đời sau được hưởng là mình đi ở trong lục đạo luân hồi, nó là thiện pháp, nó là tốt nhưng mà cái thiện đó vài bữa hết thì lúc đó trở thành bất thiện, nó thành ác.
Như vậy những ai đặt lòng tin vào Đức Phật là đặt lòng tin vào tối thượng, với những ai đặt lòng tin tối thượng họ được quả dị thục tối thượng. Trở lại ví dụ đào cái hố vàng 50 kí, mình có tin Phật tuyệt đối 100% chưa? Nếu mình tin chắc 100% là mình Dự Lưu rồi, là mình quyết chắc không còn đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đó là bật Dự Lưu, chỉ qua lại trời người đến lúc Niết-bàn thôi, không bao giờ rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nữa là bật Dự Lưu đó, những vị đó tin Phật tuyệt đối 100%. Mình tin bao nhiêu phần trăm? Đức Phật của mình siêu khủng bất khả tư nghì, không thể tưởng tượng nổi, đối với cái trí phàm phu của mình thì mình không hiểu Phật được bao nhiêu. Mình có suy nghĩ cái gì cũng ở trong hành uẩn, mình có cảm thọ cái gì, cảm giác gì, cảm xúc cái gì cũng ở trong thọ uẩn thôi, trong tâm mình có hình bóng gì cũng nằm trong tưởng uẩn thôi, mình có nhận thức cái gì đi nữa, mình có biết cái đi nữa cũng ở trong thức uẩn thôi, mình có là đại phú, đại gia giàu nhất hành tinh cũng không đi ra khỏi sắc uẩn, cũng nằm trong cái đống sắc uẩn đó thôi, mình ở trong ngũ uẩn đó, mình vòng vòng như kiến bò miệng chén, như con cá lia thia ở trong cái chậu hoặc là giống như con chim ở trong lồng. Thành ra tất cả chúng sanh là tù nhân ở trong ngũ uẩn tức là vô minh, tham ái, nô lệ cho những cái ham muốn, đi ra khỏi nó không được.
Ông vua là quyền uy nhất thiên hạ nhưng có bị hoàng hậu làm cho khổ không? Có bị mấy bà thứ phi làm cho mệt không? Chẳng những tâm cung lục viện còn chưa đủ nữa có khi là loạn xạ hết, khổ đau vì ái dục. Những vị thần linh có phép thần thông ghê gớm nhưng vẫn đau khổ vì sân hận, nhiều khi đi ngang cái cây hay cái miếu mà nói bậy thì khi về có khi bị bệnh, thậm chí là hộc máu. Hồi đó chùa Quảng Phước của sư bà ở Sa Đéc dưới quê Minh Thành, nghe kể lại có một ông rất là hung dữ, ngang tàn lắm, cứng đầu cứng cổ lắm, không sợ thần thánh, Phật gì hết. Nhưng trong chùa có một vị tu đắc đạo thì biết bao long thiên hộ pháp ở trong đó thế mà ông đó đi vào chỉ mặt từng tượng nói nặng nói nhẹ này kia, đến khi chỉ vào tượng ông hộ pháp là ú ớ, tay chân cứng ngắt, hộc máu chết tại chỗ cho nên mình phải kính nể thần linh. Phật rất hiền từ, không bao giờ làm gì tổn hại chúng sanh nhưng các vị thần, các vị long thiên hộ pháp, Đức Phật hỏi ba lần mà điều đó là đúng nhưng người đó không trả lời thì thần Dạ-xoa sẽ cầm cái chày kim cang nện xuống cái đầu bể làm 7 phần.
"-- Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: 'Sắc là tự ngã của ta', Ông có quyền hành gì đối với sắc ấy và có nói được rằng: 'Sắc của tôi như thế này, sắc của tôi không phải như thế này' không?
Ðược nói vậy Niganthaputta Saccaka giữ im lặng. Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Niganthaputta Saccaka:
-- Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: 'Sắc là tự ngã của ta', Ông có quyền hành gì đối với sắc ấy và có nói được rằng: 'Sắc của tôi phải như thế này, sắc của tôi không phải như thế này' không?
Lần thứ hai, Niganthaputta Saccaka vẫn giữ im lặng.
Rồi Thế Tôn nói với Niganthaputta Saccaka:
-- Này Aggivessana, nay Ông phải trả lời. Nay không phải lúc Ông giữ im lặng nữa. Này Aggivessana, ai được Như Lai hỏi đến lần thứ ba một câu hỏi hợp lý mà không trả lời, thời đầu của người ấy sẽ bị bể ra làm bảy mảnh tại chỗ.
Lúc bấy giờ thần Dạ xoa Vajirapani (Kim Cang Thủ) đang cầm một chùy sắt to lớn, cháy đỏ, sáng chói, đứng trên không trên đầu Niganthaputta Saccaka với ý định: 'Nếu Thế Tôn hỏi đến câu hỏi thứ ba, một câu hỏi hợp lý mà Niganthaputta Saccaka không trả lời, thì ta sẽ đánh bể đầu nó ra làm bảy mảnh'. Chỉ có Thế Tôn và Niganthaputta Saccaka mới thấy thần Dạ xoa Vajirapani. Niganthaputta Saccaka sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng, ngược, chỉ tìm thấy sự che chở nơi Thế Tôn, chỉ tìm thấy sự an ổn nơi Thế Tôn, chỉ tìm thấy sự nương tựa nơi Thế Tôn, liền bạch Thế Tôn:
-- Tôn giả Gotama hãy hỏi tôi, tôi sẽ trả lời.
-- Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: 'Sắc là tự ngã của ta', thì Ông có quyền hành gì đối với sắc ấy và có nói được rằng: 'Sắc của tôi phải như thế này, sắc của tôi không phải như thế này' không?
-- Thưa không, Tôn giả Gotama" (Trung Bộ Kinh, 35. Tiểu kinh Saccaka)
Đức Phật thương chúng sanh không hết nên không muốn làm ai khổ, tuy nhiên các vị thần không hề nể nang cho nên người ta mới nói phải kiêng nể các vị thần thánh. Các chư thần có phước, có tâm lực rất mạnh, uy lực rất lớn, thậm chí trong kinh nói là nuốt mặt trời, mặt trăng, làm cho cái thế giới này tối đen luôn, các vị có thần thông làm cho trái đất này bị rung chuyển, địa chấn nhưng các vị này khổ với cái tâm sân hận, rất dễ tức giận, bản ngã rất lớn, chính cái này làm cho các vị này đọa, rớt xuống. Các vị thần phải rất định tâm mới có thần thông, muốn có thần thông là phải định mới được nhưng vì cái tâm sân, cái bản ngã chưa có phá, kiến chấp về thân chưa phá cho nên vẫn còn đau khổ vì tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái. Làm tiên thì vẫn có sự yêu thương, cái ái thô không còn nhiều nhưng mà cái ái tế vẫn còn, cái yêu thương vi tế, cái tâm luyến ái đó vẫn còn nên cũng tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não. Mình tu là để hết tham, sân, si, vô minh, dục ái, bớt được bao nhiêu là đỡ khổ bấy nhiêu, bớt được ba chục là đỡ khổ ba chục, bớt được tham, sân, si 50 là đỡ khổ bao nhiêu 50%. Bây giờ mình bớt nó bảy chục thì đỡ khổ 70%, bớt 90% thì cái khổ còn 10%, bớt 98% thì cái khổ còn 2%, bớt 99% thì cái khổ chỉ còn 1%, Đức Phật bớt 100% cái khổ, các bậc Thánh A-la-hán khi nhập Niết-bàn là bớt 100%, chứng được tâm bất động giải thoát, không còn một chút tham, sân, si nào nữa. Như vậy có đáng cho mình chắp tay đảnh lễ, cúng dường, cung kính không?
Mình phải biết tại sao mình lạy Phật? Vì những cái mình làm mà mình không biết, thậm chí biết cũng làm chưa được, còn cái ngài đã làm xong hết rồi, "sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại cái trạng thái như thế này nữa" đó là câu tuyên ngôn của các bậc Thánh. Sanh đã tận nghĩa là sự sinh ra, cái đời sống không có còn bị sanh ra nữa, phạm hạnh đã thành, đức hạnh thanh tịnh, cao thượng đã thành tựu, việc cần làm là đoạn tận tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại cái trạng thái như thế này nữa, đó là tuyên ngôn của bậc Thánh, nói câu này xong là các ngài chứng đắc Niết-bàn bất tử, đây là đời sống cuối cùng, không còn bị sanh nữa.
Mình vẫn còn bị sanh, mình vẫn còn bị già, bị bệnh, bị chết, mình bị tham, sân, si, mình không muốn nhưng vẫn bị, mình bị cái bản ngã, cái tôi làm cho mình khổ. Trong bài kinh Thánh Cầu nghĩa là sự tìm cầu thánh thiện, Đức Phật nói rằng các ông đó bị sanh mà đi tìm cái bị sanh, các ông bị già, bị bệnh mà các ông đi tìm cái bị già, bị bệnh, các ông bị chết mà các ông đi tìm cái bị chết, các ông bị sầu, bi, khổ, ưu, não mà các ông lại đi tìm cái bị sầu, bi, khổ, ưu, não giống vậy nữa. Còn ta, Như Lai bị sanh nhưng ta đi tìm cái không sanh, ta bị già nhưng ta không chấp nhận cái bị già mà đi tìm cái không già, bất sanh bất lão, ta bị bệnh nhưng ta không chấp nhận cái bị bệnh đó, ta đi tìm cái không bệnh, ta bị chết mà ta không chấp nhận, ta đi tìm cái bất tử và nay ta đã chứng nhập bất tử.
"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm.
Rồi này các Tỳ-kheo, Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; và đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị bệnh, tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị chết, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị sầu, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sầu, tìm cầu cái không sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái vô sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, tìm cầu cái không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Và tri kiến khởi lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa" (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Chúng ta có thấy tuyệt diệu, tối thượng không? Có một cái triết học nào, một cái tôn giáo nào, một vị giáo chủ nào nói đầy đủ một cái thánh đạo, một cái đạo lộ, một sự tuyên bố địa cầu chấn động là ngài giải thoát sanh tử. Lúc còn làm thái tử đó thì vua Tịnh Phạn nói với ngài rằng đừng đi xuất gia, ở lại hoàng cung, muốn gì vua cha cho cái đó nhưng ngài nói rằng phụ vượng cho con đừng có già, con không muốn già, phụ vương cho con trẻ hoài không có già thì con không đi tu, con không có muốn bệnh, phụ vương cho con không bệnh thì con không đi tu nữa, con không muốn chết, phụ vương cho con bất tử thì con không có đi tu, con không muốn tham, sân, si, phụ vương cho con cái không tham, không sân, không si đó được không. Ngài nói ra như vậy thì phụ vương nhức đầu luôn, vì đây là kiếp cuối của Bồ-tát nên trong tâm ngài thúc đẩy, cái dục như ý túc thúc đẩy.
Cái dục nãy khác, cái dục này khác, cái dục này là cái tham muốn nhiệt thành, nóng bỏng để cắt đứt hết những cái sanh tử luân hồi, còn mình cũng muốn nhưng mà mình muốn đi vô tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não là trật lất. Một cái muốn để đi lên, còn một cái muốn để đi xuống, muốn đi lên gọi là dục như ý túc, muốn đi xuống là dục lạc. Phải hiểu được cái đó chứ không phải tu là không có muốn, mình muốn tu nên mới đi chùa, còn không muốn đi chùa thì giờ này đâu có ngồi ở đây, muốn học nên mới ngồi đây nghe pháp, muốn giải thoát khổ đau cho nên mới hành trì, như vậy không có muốn cái thấp hèn, phàm phu tham, sân, si, dục ái mà muốn cái thiện pháp, cái thánh pháp, cái trí tuệ, cái thánh đạo.
Vì vậy tin Phật là tuyệt vời, phải cố gắng tăng trưởng lòng tin, nhất là trong mùa Phật đản, mình tin Đức Phật thì mình mới bớt khổ, mình tin Đức Phật thì mình mới bớt tham, sân, si, mình tin Đức Phật thì mình mới hết hơn thua, phải quấy, mình tin Đức Phật thì mình mới bớt dục tham. Nếu không tin Phật thì không nhớ lời Phật, Phật kêu đào trong cái tâm của mình để thấy báu vật thánh trí tuệ mà mình không chịu, mình cứ chạy ra ngoài tìm cái này, tìm cái kia để cầu cái này, xin cái nọ. Ai có thể làm cho mình hết tham? Ai làm cho mình hết giận? Mình phải biết được cái nguy hiểm của cơn giận, phải biết cơn giận ở trong cảm thọ của mình, mình biết tác hại, nỗi khổ của nó đem lại nên mình không muốn thì mình mới nhiếp phục, chế ngự, từ từ nó để nó lắng dịu và đoạn tận nó luôn. Nhân mùa Phật Đản chúng ta nhắc lại, chúng ta nhớ lại, chúng ta ôn lại, chúng ta làm cho mình phát khởi lòng tin tối thượng.
"Này các Tỳ-kheo, dầu cho loại pháp hữu vi nào, Thánh đạo tám ngành được xem là tối thượng, những ai đặt lòng tin vào Thánh đạo Tám ngành, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng" (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IV). Các Lòng Tin)
Hãy đặt lòng tin vào Tứ Niệm Xứ, đặt lòng tin vào Bát Chánh Đạo. Bát Chánh Đạo là thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng và định đúng. Thấy đúng là thấy được ngũ uẩn này là sắc; thọ; tưởng; hành; thức không có tôi, không có của tôi, không có tự ngã của tôi, thấy đúng nhân quả. thấy đúng tội phước, thấy đúng cái này làm là khổ, cái này làm là vui, thấy đúng chạy theo tham, sân, si, là chạy theo khổ, là chạy theo nước mắt, là chạy theo máu hồng, là chạy theo tai họa, tai nạn, chết chóc. Nhiếp phục là hết khổ, thấy như vậy là thấy đúng, từ cái thấy đúng đó mới suy nghĩ theo những cái đó, mình nói theo cái đó, mình làm theo, mình sống theo như vậy, mình tập trung tất cả tâm ý của mình vào trong công việc đó thì gọi là quán đúng, định đúng. Tất cả toàn tâm toàn ý, mình chỉ hướng một cái hướng nó đi ra thôi, một cái hướng đi lên thôi, người có niềm tin như vậy được xem là niềm tin tối thượng, không có một niềm tin nào cao hơn niềm tin này nữa, niềm tin này là tối cao, tối thượng, tối tôn, tối đệ nhất, đó là tin vào thánh pháp, Bát Chánh Đạo.
Quý vị đang tin vào chỗ tối thượng thì quý vị thấy mình hạnh phúc không? Có hoan hỉ không? Có sung sướng không? Có hãnh diện không? Có thú vị không? Có phấn khởi không? Có quyết chí đi lên không?
"Dầu cho loại pháp nào, này các Tỳ-kheo, hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp, tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khát ái, sự nhổ lên tham ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham đoạn diệt, Niết-bàn. Những ai đặt lòng tin vào pháp ly tham, này các Tỳ-kheo, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng" (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IV). Các Lòng Tin)
Lìa sự thúc giục, ham muốn đối với mọi thứ ở trên đời này, tập cái tâm bớt muốn chứ chưa nói bỏ liền, tập rời xa từ từ, cuối cùng là thoát ra. Ly tham là pháp tối thượng trong tất cả các pháp, chúng ta thấy đó là cái sự cống hiến vĩ đại của Đức Phật khi xuất hiện trên cuộc đời này, không ai thấy được điều đó, chỉ có Đức Phật mới chỉ được, tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khát ái, sự nhổ lên tham ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn, những ai đặt lòng tin vào pháp ly tham là đặt lòng tin vào tối thượng, với những ai đặt lòng tin vào tối thượng họ được kết quả tối thượng.
Nhiếp phục kiêu mạng là sống khiêm hạ, hạ cái bản ngã mình xuống. Tu là cái đó rất quan trọng, mỗi cái lạy Phật là phải nhớ thực hành sự khiêm hạ, khiêm cung, nhiếp phục khát ái, nhổ lên tham ái, chặt đứt tái sanh, đoạn diệt tham, ly tham, đoạn diệt Niết-bàn là dập tắt hết tất cả tham, sân, si.
"Dầu cho loại chúng Tăng hay hội chúng nào, này các Tỳ-kheo, chúng Tăng đệ tử của Như Lai được xem là tối thượng trong tất cả hội chúng ấy. Tức là bốn đôi tám vị, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời. Những ai đặt lòng tin vào chúng Tăng, này các Tỳ-kheo, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng. Này các Tỳ-kheo, đây là bốn lòng tin tối thượng" (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IV). Các Lòng Tin)
Chúng Tăng – đệ tử của Như Lai là tối thượng, tối cao trong tất cả các đoàn thể. Tại sao mà ở ngoài ai nói không nghe nhưng vô thầy nói là "dạ mô Phật, dạ", người tu đúng chánh pháp nữa thì vô thượng phước điền cho nên Đức Phật mới nói bốn đôi tám vị chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là ruộng phước vô thượng ở trên đời, những ai đặt lòng tin vào chúng Tăng là họ đặt lòng tin vào tối thượng, ai đặt lòng tin vào tối thượng họ được kết quả tối thượng. Hạnh phúc quá! Mình là đệ tử của tam bảo tối thượng, tối cao là đệ nhất hạnh phúc, hoan hỉ lên, sung sướng lên. Cho nên trong mùa Phật Đản này cho mình hân hoan, phấn khởi, hạnh phúc, sung sướng, hãnh diện vì mình là con thật sự của Đức Phật, trên hành tinh này có 8 tỷ người nhưng chỉ à năm sáu trăm triệu là đệ tử của Đức Phật, là quy y tam bảo. Con số báo cáo chỉ có 500-600 triệu tín đồ Phật giáo, đó là tính cái con số trên tờ giấy là có quy y nhưng thật sự đi chùa tu học như quý vị là đếm được bao nhiêu? Lại còn nghe được kinh gốc của Đức Phật nhận diện được ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si và có phương pháp nhiếp phục, chế ngự nữa thì thật sung sướng, còn hơn trúng độc đắc, đó là gì hiếm có, hy hữu chưa từng có trên cuộc đời này cho nên vui lên, hân hoan lên, hạnh phúc lên, sung sướng lên, vinh hạnh lên vì mình đệ tử của bậc tối thượng, trong 10.000 thế giới, tam thiên đại thiên thế giới mà mình được chọn sư phụ của mình. Mình được làm con của Đức Phật, chúc mừng cho quý vị, đại chúc mừng cho quý vị.
Tâm biết ơn Phật này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la
./.
PHẬT ĐẢN SANH ĐEM NIỀM TIN TỐI THƯỢNG!
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn hiền đức và các chư vị hiền trí nam nữ Phật tử, buổi chiều hôm nay chúng ta có buổi pháp đàm. Trong mùa Phật đản, buổi pháp thoại sáng nay với chủ đề địa cầu chấn động, chúng ta còn rất nhiều bản kinh trong chánh tạng Nikāya, chiều nay chúng ta pháp đàm để ai còn thắc mắc, nghi vấn chưa hiểu về Đức Phật thì quý vị có thể nêu lên câu hỏi, hoặc là mình có sự cảm ơn đối với Đức Phật thì cũng nêu lên, nhớ ơn hoặc có những điều chưa hiểu, nghi ngờ trong cuộc đời Đức Phật cũng như những giáo pháp của ngài dạy, hay những sự kiện mình nghe nói, mình đọc còn chưa sáng tỏ thì nêu lên để hỏi hoặc mình nói lời cảm ơn, nhớ ơn đối với Đức Phật, hoặc mình nói lên, bày tỏ lên sự lợi ích, sự hạnh phúc, sự an lạc từ khi mình đi vào đạo Phật, mình biết chánh pháp, mình tu học, nhất là trong những cái lời dạy gốc của Đức Phật thì mời tất cả quý vị nêu câu hỏi hoặc là chia sẻ.
Trong mùa Phật Đản này là cơ hội để chúng ta quán niệm, tưởng niệm, nhớ niệm về cuộc đời của Đức Phật. Rằm tháng tư Phật giáo ở trên thế giới lấy cái ngày đó trở thành cái ngày tam hợp, tam hợp là ba sự kiện vĩ đại của Đức Phật hợp lại làm thành một ngày lễ. Chúng ta nghe Vesak tức là tam hợp, là sự kiện đản sanh, sự kiện thành đạo và nhập Niết-bàn cho nên ở trong mùa Phật Đản này chúng ta không những nhắc lại sự đản sanh của Đức Phật mà còn nhớ lại sự thành đạo, sự nhập Niết-bàn của ngài. Ở trong kinh Đại bát Niết-bàn rất là cảm động, bản kinh này phải lên núi mới học, không gian mới phù hợp vì nó dài lắm, trong đó kể hết những ngày cuối cuộc đời của Đức Phật.
Cho nên trong tuần lễ Phật Đản này, từ ngày mùng 1 tháng 4 của mình là bắt đầu cho tới rằm tháng tư là thời gian chúng ta đọc lịch sử Đức Phật, lạy trí đức Như Lai, lễ về những cái lễ trong nghi thức giáo hội soạn ra, tóm thâu cuộc đời Đức Phật thành mười mấy lạy. Chúng ta nhớ lại để cho mình tăng thượng lớn mạnh niềm tin, để mình tu học. Tại sao mà mình tu không tiến? Vì niềm tin của mình không có đủ, ví dụ quý vị tin ở trong góc nền nhà quý vị có chôn vàng ở dưới, trước khi cha mẹ quý vị qua đời trên cái giường bệnh, sắp sửa chút hơi thở cuối cùng cha dặn "con ơi nhà mình có vàng, con nhớ cho kỹ nha, góc đó, chỗ đó đào xuống sâu một thước thì cha có để một hũ vàng 50 kg. Con nhớ là phải đào cái chỗ đó nha con". Sau khi ba mình qua đời mình có đào không?
Thứ nhất là vì số vàng quá lớn, quá giá trị, cái đó là quan trọng nhất rồi, chắc chắn là mình sẽ đào, nhiều khi chưa đợi ông già ra đi nữa đã lén đào trước rồi, tối ngủ không được. Nằm xuống là hình ảnh hủ vàng hiện ra, có lạc thọ, suy nghĩ phải đào lên để thành tỷ phú, như vậy chắc chắn là mình sẽ đào, trừ khi mình không có tin lời ba của mình, "ông nghèo mà làm gì có tiền, tiền không có thì vàng đâu ra có nguyên cái hủ mấy chục ký" thì mình sẽ không đào. Cũng vậy tại sao mình không có đào cái tâm của mình? Không có đào cái tâm địa, cái đất tâm của mình để mình thấy được cái hũ vàng thánh trí ở trong đó? Là gì lòng tin của mình đối với Đức Phật chưa có đầy đủ, cho nên nghe vậy đó chứ còn tu thì cứ tu từ từ, tới đâu hay tới đó, vàng đâu mà 50 kg, 50 kg vàng là con ví dụ cho thánh trí ngũ uẩn.
Ví dụ một chút để cho quý vị thấy lòng tin của mình đối với Phật pháp chưa có bao nhiêu hết, cho nên mình tu không có quyết liệt, nếu mình tin bằng cả tấm lòng của mình, giống như mình tin cái hũ vàng đó thì quý vị nghe nói xong thì xăn tay áo lên đào lên. Trong Nikāya, Đức Phật nói một người thành tựu lòng tin đối với Phật có địa vị là Thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn, dự vào dòng Thánh, nói đơn giản là vị này lập tức xăn tay áo lấy cuốc đào ngay lập tức. Còn mình nghe khổ vậy thôi, nghe thì cũng biết là khổ nhưng để đó, cho nên có một bài kinh rất quan trọng nhất nhắc lại cho quý vị thấy, cái này tổng hợp tinh hoa, tinh túy, cốt tủy cho quý vị nghe. Lòng tin của mình chưa có đủ lòng tin mình chưa đủ.
"- Này các Tỳ-kheo, có bốn lòng tin tối thượng này. Thế nào là bốn?
Dầu cho các loại hữu tình nào, này các Tỳ-kheo, không chân hay hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được xem là tối thượng. Những ai đặt lòng tin vào đức Phật, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng" (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IV). Các Lòng Tin)
Thế Tôn nói dù cho các loài hữu tình, hữu tình là những chúng sanh có tình cảm, có tình thức. Không chân là con rắn, con lươn, con trùng… Hai chân là con người, con gà, con vịt…Nhiều chân là những con rết, con cuốn chiếu… Thế Tôn nói rằng tất cả những cái loại đó, dù là không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân thì Đức Thế Tôn là bậc tối thượng, ngài sanh ra trong loài người hai chân, trong tất cả các loài đó thì Thế Tôn là bậc tối thượng.
Loài có sắc ở đây là chỉ cho chư thiên, không sắc là chỉ cho chư thiên vô sắc giới sống bằng tâm thôi, không có cái hình tướng, sống bằng thọ; tưởng; hành; thức thôi, cái sắc rất là vi tế cho nên quý vị thấy mình nằm chiêm, thí dụ như mình nằm chiêm bao thấy mình đi lên Đà Lạt, mình có cái hình bóng đó, có cảm giác đó, có suy nghĩ đó, mình có sự rõ biết rõ ràng mình đi Đà Lạt cái cảnh nó như vậy nhưng cái đó là sắc tưởng chứ không phải là sắc tướng, phải phân biệt hai cái này. Bây giờ ở đây sắc tướng của đóa hoa hồng nhưng trở về nhà mình nhớ lại thì hình bóng của cái này trong tâm mình gọi là sắc tưởng, sắc tướng khác sắc tưởng. Bây giờ chú ngồi đây, con nhìn thấy chú là thấy được sắc thân, sắc tướng của chú nhưng khi tối con trở về nhà nhớ lại chú ngồi đó, mang mắt kính vậy đó thì cái hình bóng ở trong tâm gọi là sắc tưởng.
Cái thân của chư thiên, của thần, của tiên, của ma, của ngạ quỷ, của địa ngục này kia là sắc tưởng cho nên mình chạm vào đâu có được nhưng mà họ có cảm giác, họ có hiểu biết, họ có suy nghĩ. Cái thân tướng của chư thiên, chư thần, thần tiên không phải là con người mà mình rờ được, chỉ là cái bóng thôi cho nên quý vị thấy người ta kêu bằng bóng ma, cái bóng lờ mờ vậy thôi, đó là thế giới sắc giới, còn mình là dục giới, thế giới của mình là thế giới của dục. Tất cả con người sống trong đây là dục, từ dục sanh ra, sự sống của mình căn cứ trên cái dục. Mình có muốn đủ thứ không? Mình rất nặng về dục, dục nam nữ, dục ăn, dục ngủ, dục chơi, dục nói, dục đi đâu đi đó, Đức Phật gọi năm dục trưởng dưỡng, năm thứ này nuôi lớn lòng tham muốn, đó là sắc; thanh; hương; vị; xúc, sắc đẹp, tiếng hay, mùi hấp dẫn, vị ngon, sự xúc chạm nhưng không phải chỉ là đụng chạm nam nữ mà có tới 6 xúc, thích nhìn, thích nghe, điếc thì hay ngóng, ngọng thì hay nói, thích được tiếp xúc cho nên ở trong nhà chịu không nổi, dù có dịch bệnh cũng phải đi ra ngoài.
Thế giới của mình là thế giới của dục, nhìn cái đẹp là mình thích, mình muốn, nếu như nhìn hoa chưng bị héo là thấy bực mình. Tiếp xúc là sanh dục, tiếp xúc là sanh sân rồi tạo nghiệp nhưng mà hoàn toàn không biết cho nên vô minh. Thế giới của mình là từ cái dục nam nữ của cha mẹ nên mình được sinh ra, còn nhỏ là dục cái núm vú của mẹ rồi cái bình sữa, sau đó là bánh kẹo, lớn lên là bạn bè, tình cảm nam nữ, lớn chút nữa là thành đạt, tiền bạc, lớn chút nữa là muốn địa vị, lớn chút nữa là làm cha, làm ông, làm sếp, lớn chút nữa là vào bệnh viện. Cho nên thế giới của mình là thế giới của dục rất là nặng, chính vì cái tâm dục, tâm muốn nên mình không đi ra khỏi thế giới này được.
Làm sao mình đi lên trời ở được? Có những cảnh giới của chư thiên không có dục, mà có dục cũng vi tế lắm, nhiều khi nắm tay, ôm nhau một cái là xong rồi chứ không có cái dục nặng nề giống thế giới của mình, cho nên mình muốn lên trời mà cái tâm mình còn cái dục nặng nên đi không được. Bây giờ đừng nói chi xa, vô chùa tu mà vô không nổi nữa, tu một ngày thôi cũng không nổi, quý vị dục cũng nhẹ nên mới ngồi ở đây. Ăn chay một ngày không nổi, đi chùa một ngày không nổi, mới có nửa ngày đã bỏ chạy, ăn trưa xong là về, nó xâm chiếm, chi phối trong tâm của chúng sanh cho nên đây là dục giới, thế giới của dục. Vì thế mình mới học cái này để mình biết mình đang ở đâu, nhiều khi mình tưởng mình ngon lắm, mình ngồi vậy đó nhưng nó thúc giục "lẹ lẹ đi ra, về còn làm công chuyện". Đang ngồi tụng kinh, đang ngồi thiền, đang ở trong chùa mà nó thúc giục "lẹ lẹ về", ra cứ lấy xe chạy mất, mà không cẩn thận thì nguy hiểm.
Đức Phật nói tất cả pháp lấy dục làm gốc rễ, làm căn bản, chính cái dục này làm cho người ta khổ đau. Tất cả cái khổ đau thì cái dục là gốc rễ, nếu một người tu ly dục, ly tham thì người này hết khổ. Tuy mình chưa tu được nhưng mình phải hiểu được cái này để mình biết mình tu, nếu không mình tưởng tu là cái gì đó, thật ra là tu ngay chỗ ham muốn này. Thí dụ mình chỉ muốn ăn hủ tiếu thôi, không muốn ăn cơm nhưng chiều đó người ta nấu hủ tiếu bưng lên hết, đến lượt mình thì hết nên đưa mình cơm, mệt chưa, khổ không? Tại mình muốn cái đó, nếu không muốn thì ăn cái gì cũng được. Bây giờ mình muốn mệt hay muốn khỏe? Ví dụ đơn giản như nó thấy được tu ngay chỗ đó, "cái gì tôi ăn cũng được, tôi ăn dễ lắm", dễ nuôi, dễ sống, dễ dạy, dễ bảo, dễ tu, dễ học. Mình tập cái dễ vậy đó là tâm mình nhẹ nhàng cho nên chú Tân rất dễ mới đi với Minh Thành được, còn mình muốn phải vầy mới được, không vầy là không được thì mình khổ lắm, đi tới đâu thì khổ tới đó vì không phải ai cũng giống ý mình, người ta không theo ý mình thì mình khó chịu cho nên đây là chỗ quý vị phải để ý để nhiếp phục tham muốn trong tâm, như vậy là tu sâu.
Đang đi một hàng nhưng mình muốn đi lên trước, mình muốn đi lẹ, mình không muốn ở phía sau, mình chen vô khi người ta đang xếp hàng nên bị cự "chị đi đâu đây, phải xếp hàng", rồi cự lại người ta, đó là tham không được nên sân. Kinh pháp ngay chỗ đó, sau đó khởi bản ngã lên "biết tôi là ai không", cái khổ là từ chỗ thúc giục trong tâm, nó muốn mau, muốn nhanh, muốn lẹ, muốn hơn người ta mà không được thì bực bội, sân lên không được thì khởi bản ngã lên, sau đó là đấu khẩu, đấu võ, ra tới tòa án thưa kiện nhau. Chuyện chẳng có gì ngoài việc muốn cho nhanh lẹ, muốn trước, muốn mau, chạy xe tạt đầu nên tông xe. Như vậy tất cả mọi thứ lấy cái muốn đó là gốc của tất cả khổ đau, cái muốn, cái thúc giục là cái cội gốc của tất cả khổ đau. Phải hiểu cái này cho sâu sắc trong sự tu, nhiếp phục được sự thúc giục đó thì sự tu của mình hay lắm, tuyệt vời lắm, vi diệu lắm.
Hồi sáng con chia sẻ cho các vị xong là con bước lên xe đi, con vừa về tới là bước lên đây luôn, con nhiếp phục sự thúc giục bên trong nên quý vị thấy đi ra giống như không đi đâu cả, giống như bình thường. Đó là tu, con đi vào quý vị có thấy con có công chuyện lăng xăng nhiều lắm không? Cái tu nằm ở chỗ đó, người thật việc thật cho quý vị thấy, còn mình không có tu, không thực tập an tịnh, lắng dịu là mình lăng xăng, mình tất bật, tâm mình bị rối, mình không có nhiếp phục cái thúc giục, mình động loạn, tâm mình mờ tối, bị che khuất, trí không sáng. Vì thế phải nhiếp phục sự thúc giục, cái muốn thì cái tâm mới trầm tĩnh, cái tâm trầm tĩnh thì mới tỏa sáng, khi tỏa sáng thì mới nhìn thấy được cái gì nên, cái gì không nên, cái nào đúng, cái nào sai, cái nào tốt, cái nào xấu, cái nào hại, cái nào không hại, cái nào đen, cái nào trắng, cái nào tội, cái nào phước.
Đồng thời cũng đi lên cầu thang thì người đi trước rồi tới người đi sau, mình vội vàng muốn vượt lên mà người ta không cho vượt, chạy xe cũng vậy, mình cũng muốn vượt lên mà người trước không cho vượt rồi có chuyện. Khổ không? Vậy có phải cái muốn này là khổ không? Đây là thế giới của sự thúc giục, ham muốn cho nên ta khổ đau. Hôm nay phân tích cái này kỹ để quý vị thấy ý nghĩa của chữ dục giới, bây giờ mẹ mình nói một câu nhắc nhở nhưng mình chưa kịp bình tĩnh suy nghĩ, chánh niệm quán xét của câu nói của mẹ là đúng hay không là mình cự lại liền, trong đó quý vị không thấy được cái sân ở phía sau, cái thúc giục ở phía trước, nó thúc giục phải nói ra. Mình không thấy cảm thọ thúc giục để nói cho hả dạ, nếu mình chặn được cái đó thì mình bắt đầu làm cho lắng dịu cái bực bội trong cảm giác, khi cái thọ sanh khởi lên thì cái thúc giục phải biểu hiện ra, phải phát ra. Từ ý hành phát ra khẩu hành, từ suy nghĩ phát ra lời nói, từ lời nói phát ra hành động, nhưng trước đó là cảm thọ, trong cảm thọ, cảm giác đó có sự thúc giục cho nên cái sự tu là kiểm tra xem nó thúc giục cái gì.
Nhìn lại cảm giác, nhìn lại suy nghĩ xem nó có thúc giục cái gì không, bắt nó an tịnh, lắng dịu, làm cho nó an tịnh, lắng dịu, thì còn. Năm từ "an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương" là thực hành từ đây cho đến ngày chết, cho đến khi chứng sơ quả, nhị quả, tam quả, tứ quả. Thế Tôn nói Như Lai là bậc an tịnh, thuyết pháp để hướng dẫn chúng sanh đạt đến cảnh giới của an tịnh, thành ra tất cả những chuyện ở trong gia đình, vợ chồng, con cái, anh em, bạn bè, huynh đệ tỷ muội có sự gay gỗ, bất hòa, rạn nứt hay là đổ vỡ là mình không nhìn thấy cái cảm thọ sân hận thúc giục, mình không có nhiếp phục, chế ngự nếu mình biết kiềm chế lại. Nó mới trong cái cảm giác, mới ở trong suy nghĩ là mình chặn được, mình nói ra người ta mới biết trừ bậc đó là bậc có tha tâm không, là người đó đọc được suy nghĩ của mình thì mình giấu không được. Nhưng nếu là người phàm phu bình thường mà mình chặn ở trong thọ; tưởng; hành, mình chặn ở trong cảm giác, ở trong suy nghĩ không cho nó phát ra miệng thì người đó có biết không? Không biết, nếu có biết đi nữa thì cũng biết nhẹ, "cái mặt nhìn thấy khó chịu" vậy thôi nhưng mà mình nói ra là hư hết trơn.
Tại sao mình nói ra? Tại sao mình có hành động? Là vì mình không có chặn đứng được ở trong cảm thọ thúc giục, bực bội, khó chịu, sân hận. Thành ra cái cảm giác là hết sức quan trọng, kiểm tra và kiểm soát, kiểm kê, kiểm điểm, kiểm toán thường xuyên cảm giác thúc giục ở trong con người của mình. Tại sao mình lấy muỗng, lấy tô rớt bể, va chạm nhau tạo tiếng động, đó là làm trong sự thúc giục, còn nếu mình làm trong sự an tịnh, lắng dịu là cái chén để xuống người ta không nghe tiếng, cái đũa để xuống, cái muỗng để xuống cũng không nghe tiếng. Mình đi không có sự thúc giục, mình nhiếp phục và chế ngự củ sự thúc giục, hấp tấp, vội vàng là mình đi nhẹ nhàng, không nghe tiếng động, đi rất là thong dong, đi rất là nhẹ nhàng, thảnh thơi, bình an. Quý vị thấy con để cái dùi chuông xuống không có nghe tiếng, nhưng mà nếu cho quý vị không có tu tập để xuống là nghe tiếng động liền. Đó là nhiếp phục từng chút, từng chút, quý vị thấy tu nó nhỏ xíu chứ không có nhiều nhưng mà cái nhỏ nhỏ cộng lại thành cái hơi vừa vừa, nhiều cái vừa vừa cộng lại thành ra cái lớn, nhiều cái lớn lên cộng lại thành đức lớn, gọi là đại đức.
Đại Đức là công đức to lớn, mà công đức to lớn là từ công phu sinh ra đạo đức, cái công phu đó từ cái những cái nhỏ nhỏ. Không phải tự nhiên có dĩa hoa này mà phải từ mỗi bông hoa kết thành, không phải tự nhiên có bông hoa mà nó được kết thành từ những cánh hoa, như vậy mỗi cánh hoa rất mỏng nhưng kết hợp lại thành bông hoa, nhiều bông hoa kết hợp lại thành một vườn, một rừng hoa, nhưng có khi mình không chịu cánh hoa mà chỉ muốn có vườn hoa thôi, vậy là mình không tu. Tu là từ cái cánh nhỏ đó, tức là từng chút, từng chút, muốn vậy phải kiểm soát sự thúc giục, hối hả, tham muốn ở trong mình. Chẳng hạn như giờ bước tới cổng chùa rồi thì đi vào nhẹ nhàng, đi từ tốn giống như đi thiền hành, giống như đi kinh hành trên chánh điện, đó là mình đang đi thiền hành, đang đi kinh hành mà không phải đợi đến giờ đi kinh hành, tới chùa là thực hành đi kinh thành.
Đừng đợi tới giờ ông thầy kêu đi thiền hành, đi kinh hành thì lúc đó mình mới đi kinh hành. Có nhiều người đi kinh hành nhưng mà vẫn thúc giục là đạp lên ống quần người đi trước làm họ chúi nhủi, đi không nhìn, cứ việc thẳng cẳng mà đi rồi đạp trúng dép của người ta, đạp trúng lai quần của người. Nói chuyện cũng vậy, người ta chưa nói hết là mình nhảy vô chặn họng, ngoài đời người ta gọi là "ăn cơm hớt", nhiều khi không phải là với người ngang hàng, với người nhỏ mà cha mẹ nói mình cũng nhảy vô luôn, cái này là bất kính, không có hiếu thảo, làm trong dục, trong bản ngã, trong sân hận. Như vậy trong lúc nói chuyện có tu không? Không phải đợi lên bàn thờ mới tu, chữ bàn thờ này có nhiều nghĩa lắm , không phải đợi đến chùa rồi mới tu, đến chùa càng tu nhiều hơn, trong khi nói chuyện với cha mẹ mình, nói chuyện với chồng con, với vợ của mình, nói chuyện với anh em, nhân viên, đồng nghiệp, với bạn đạo của mình thì hãy nghe người ta nói hết câu, sau khi người ta nói hết câu đó thì mình chờ một chút xem còn có câu thứ hai nữa không, không phải mới vừa hết câu thứ nhất, người ta vẫn còn câu thứ hai là mình nhảy vô, cứ để người ta nói hết, người ta yên một chút thì lúc đó mình mới nói
Khi mình học được một cái này thì phép màu sẽ xảy ra trong nhà mình, vì mình sẽ hiểu được con của mình, chồng của mình, vợ của mình, người ta nói hết ra không còn chất chứa trong này, người ta mới nói có nửa câu mình nhảy vô "không được nói, nói hoài", lần sau người ta định nói thì mình cũng chặn lại "nói hoài", lâu ngày chất chứa vô thì đến một lúc nào đó bùng nổ, bể nhà đổ vỡ là vì không giải tỏa được cảm xúc, cảm thọ đó. Mình lấy quyền làm mẹ, lấy quyền làm vợ, mình lấy quyền làm bà chủ cho nên nhân viên mới giết bà chủ, một vụ án khủng khiếp, kinh hoàng ngày xưa có cậu nhận viên giết 5 người trong gia đình người chủ vì cứ hở chút là chửi, hở chút là mắng, một ngày nhịn hết nổi nên giết hết người trong nhà. Do không nói được, trong khi mình lấy quyền làm bà, quyền làm chủ, làm sếp áp đặt chứ không lắng nghe, chồng cũng vậy, chị em cũng vậy, là do sự thúc giục trong tâm, bản ngã, tham dục, sân si trong tâm nên thích áp đặt, không cần hiểu ai cả nên đây là chỗ thất bại.
Con tu nhĩ căn viên thông 10 năm trước khi đi vào Nikāya cho nên bây giờ con có thể ngồi lắng nghe các thầy, các cô, học trò, cư sĩ xa gần 3-4 tiếng đồng hồ. Nghe được như vậy là kì tích xuất hiện, phép màu xuất hiện, mình hiểu được người ta nên mình không cần nói nhiều, chỉ cần nói 1-2 câu thôi là họ chắp tay lạy kêu lên "sư phụ nói trúng tim con rồi". Tại vì mình nghe mình hiểu chứ có cái gì đâu, người ta nói hết tấm lòng, mình nghe hiểu, chồng mình, cha mẹ, anh em mình cũng giống vậy thôi, mình phải để người ta nói. Trở lại vấn đề cái bước đi của mình, cái nói chuyện của mình, cách dọn cơm của mình, chùa Quảng Phước Sa Đéc của sư bà, một bậc tu hành đắc đạo, Minh Thành đi chùa đó lúc mới có 7 tuổi thôi, vô cái bếp không nghe tiếng động gì hết, 40 người đang nấu không nghe tiếng động, bây giờ sư bà mất rồi thì chùa khác liền, không còn như xưa. Muốn làm như vậy là phải nhiếp phục cái dục rất nhiều, nhiếp phục cái tâm thúc giục rất nhiều thì nó mới an tịnh, lắng dịu được, còn mình thì chặt, bầm thoải mái cho nên làm cái gì cũng phải làm cho thiệt nhẹ, đó là sự nhiếp phục được sự thúc giục trong con người mình.
Nếu mình không có tu là kéo ghế ầm ầm, quý vị nghĩ rằng cái nhỏ đó mình tu được thì quý vị thấy mình tu kỹ không? Có tu giỏi không? Ăn cơm cũng vậy, không nhai ào ào, vừa nhai vừa nói chuyện là văng đồ ăn ra, người ta nhìn thấy là gớm. Tất cả đều phải kiểm soát, chánh niệm hết, từ cái nhỏ từ từ mình mới nhiếp phục những cái vừa vừa, sao đó mình nhiếp phục những cái lớn. Khi mình nhiếp phục được dục tham thì mình sẽ có một thân tâm dễ chịu, không có dao động nhiều nữa cho nên mình tu một thời gian sẽ có sức trầm tĩnh, định tĩnh, niệm lực, định luật, đạo lực, có chuyện lớn xảy ra tâm mình vẫn có thể lắng dịu được, có động thì nhẹ thôi, mình bứt cái khổ. Mình nhiếp phục được tham muốn như vậy thì từ từ mình đi ra khỏi thế giới của dục giới, mình lên sắc giới.
Trong tam giới này Đức Phật là bậc tối tôn tối thượng là vì những cái dục đó người ra hết, ngài thoát ra hết, ngài không còn trong đó nữa, ngài nhiếp phục hết. Những ý nghĩ, những cái cảm giác, những cái tưởng trong tâm khởi lên cái gì ngài đều nhiếp phục hết rồi diệt tận luôn, tâm ngài hoàn toàn trong sạch, trong suốt, trong veo. Còn mình tùm lum hết mà mình không thấy, không ai chỉ cho là mình không thấy, có khi mìn thấy rồi mình cũng thôi kệ, cho qua luôn, cái "thôi kệ" này khác với "thôi kệ" của Thiền sư. Nhớ kỹ đó, cái thế giới của dục này ham muốn sắc; thanh; hương; vị; xúc, ham nhìn, ham nghe, xa xa đằng kia có ai nói chuyện trúng cái tên của mình là mình lại hỏi nhưng thật ra là do trùng tên, không phải chuyện của mình nhưng cứ thích nghe, cái dục của nhĩ xúc muốn được nghe. Cái dục nhìn thấy là nghe cái cảnh nào đẹp là cố gắng đi đến, chết cũng hả dạ, phải đi lại nhìn rồi về chết cũng được, đó là dục nhãn xúc. Cho nên trong kinh Nikāya chỉ mình sâu sắc lắm, dục nghe món ăn ngon là nhiều người bay qua bên nước ngoài đi ăn cho được cái món đó, gần hơn là chạy từ quận này chạy qua quận kia để tìm món ăn, đó là thiệt xúc, ham muốn món ăn.
Đức Phật nhiếp một hết những dục đó, không còn nữa. Bây giờ mình nói gần gần trước, chư thiên có tâm dục nhẹ rất là nhiều cho nên không ở dục giới nữa, không ở thế giới của dục mà lên sắc giới. Đây là thế giới của những hình sắc vi tế giống như cái bóng ở trong tâm khi mình nằm chiêm bao, đó là cảnh của sắc giới, không có cái thân thịt da như vầy cho nên người ta tự tại, người ta đi xuyên qua tường vách, người ta muốn bay đâu là bay vì người ta chỉ có cái bóng thôi, cái sắc vi tế chứ không có sắc thô phù như mình cho nên không có bệnh. Chư thiên chỉ có ngũ suy tướng hiện thôi, tức là năm cái biểu hiện suy hao của tuổi trời, khi nó hiện ra những cái đó là các ngài hoảng sợ, nếu có Đức Phật là phải đi tìm Đức Phật liền, còn nếu không có Đức Phật thì kiếm mấy vị thánh nhân học đạo, còn không là sẽ rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Khi nó biểu hiện sự suy tàn của cái thân chư thiên thì các vị này rất lo sợ, không còn muốn ngồi trên cái tòa của mình nữa, bay ra mùi hôi.
Ở đây muốn nói là tâm dục nhẹ, có sắc tướng đẹp, một vị trời, tức là một thiên nhân xuống dưới đây là hết cái Sài Gòn này sáng bừng lên, một vị xuống thôi là mấy chục quận huyện sáng rực lên vì cái ngài là đỉnh cao của sắc đẹp. Thân bằng ánh sáng, cái thân đó là do phước đức tích tụ thành, còn cái thân mình là nghiệp, còn họ có thân đó là cái phước rất lớn vì họ tu thập thiện với tứ vô lượng tâm. Trong 10 cái thiện thì thân ba, miệng bốn, ý ba, thân là phải từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, miệng là từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, ý là từ bỏ gì tham, sân, si hoặc là tà kiến. Các ngài từ bỏ được 10 cái đó và tu tứ vô lượng tâm, là cái tâm từ vô lượng chứ không phải tu tâm từ nhỏ nhỏ như mình, không phải là tôi thương cha, thương mẹ, anh em tôi mới thương chứ mấy người dưng tôi không thương. Họ tu tâm từ vô lượng, từ vô lượng tâm, cái tâm xót thương là bi vô lượng tâm, tu tâm hỷ vô lượng, tu tâm xả vô lượng.
Tu Bát Quan Trai giới, tu thập thiện, tu tứ vô lượng tâm thì các vị này sanh lên sắc giới, thậm chí làm Phạm Thiên là vua trời và những vị thiên chủ của của tầng trời 33, cai quản rất nhiều cung điện và các vị này suy nghĩ "mình bây giờ là tối tôn, tối thượng, tối cao, là bất biến rồi, vĩnh cửu, là thường hằng, là chúa tể, là đấng sáng tạo sáng thế giới rồi" vì họ có tuổi thọ rất dài, 1000 năm của mình mới có một ngày của chư thiên, họ sống từ 500 tuổi đổ lên, rồi 3000, 5000 tuổi cho nên các ngài mới nghĩ rằng mình là bất biến, là thường hằng, là Niết-bàn rồi, không còn sanh tử gì nữa. Ngài Mục-kiền-liên đọc được ý nghĩ như vậy nên ngài biến mất ở Kỳ thọ Cấp-cô-độc viên, ở Linh Thứu hiện ra ở trước chư vị phạm thiên, ngài đi tới như vậy thì các chư thiên mời ngài ngồi. Các vị ấy mới khoe vừa làm cung điện có bao nhiêu phòng ốc, bao nhiêu thất bảo, chúng tôi ở đây coi như là hạnh phúc tuyệt đối lắm. Ngài Mục-kiền-liên lấy ngón chân cái chạm vào cung điện thì cung điện lắc lư, rưng chuyển nên chư thiên hoảng sợ, mấy vị thiên nhân nhỏ hỏi rằng đây có phải Thế Tôn, Như Lai không thì chư thiên nói đây là ngài Mục-kiền-liên là đệ tử của Đức Phật. Sau đó ngài Mục-kiền-liên thuyết pháp về vô thường, biến hoại, các ông còn trong sanh diệt, chưa phải bất biến, thường còn, thường hằng.
"Rồi Tôn giả Mahà Moggalàna, như nhà lực sĩ duỗi ra cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, Tôn giả biến mất ở Jetavana và hiện ra ở cõi trời Ba mươi ba.
Rồi một số đông chư Thiên cõi Ba mươi ba đi đến Tôn giả Mohà Moggalàna; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahà Moggalàna rồi đứng một bên. Tôn giả Mahà Moggalàna nói với chư Thiên đang đứng một bên:
-- Lành thay, chư Hiền, là sự thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: 'Ðây bậc Ứng Cúng,... Phật, Thế Tôn'. Do nhân thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, như vậy ở đây, một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
Lành thay, chư Hiền, là tịnh tín bất động đối với Pháp... đối với chúng Tăng...
Lành thay, chư Hiền, là sự thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định. Do nhân thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, chư Hiền, như vậy ở đây, một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
-- Lành thay, Tôn giả Moggalàna, là sự thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: 'Ðây là bậc Ứng Cúng,... Phật, Thế Tôn'. Do nhân thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, thưa Tôn giả Moggalàna, như vậy ở đây, một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
Lành thay, Tôn giả Moggalàna, là sự thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp... đối với chúng Tăng... các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định. Do nhân thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, thưa Tôn giả Moggalàna, như vậy ở đây, một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này" (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), II. Phẩm Một Ngàn, hay Vườn Vua, VIII. Du Hành Chư Thiên)
Như vậy tới đây nãy giờ nói để giải thích từ sắc giới cho quý vị thấy, sắc giới là không có bệnh, không phải ăn uống rồi tiểu tiện hôi dơ như mình, cho nên mình không thấy được chư thiên, chỉ có các bậc thánh, các vị thượng thiện nhân mới có thể gặp và giao tiếp được với chư thiên. Mình để ý có những vị tu sĩ, cư sĩ cũng có nhưng mà hiếm, những vị này khi sắp xảy ra chuyện gì nguy hiểm sẽ được báo mộng. Lâu lâu mình có nghe cái đó không? Sẽ được báo mộng cho rằng đừng có đi đó chỗ đó, đừng có làm cái đó. Và khi mà sự kiện xảy ra y hệt như những gì trong đó nói thì đó là chư thiên báo mộng, thiên thần hỗ trợ, phù hộ, còn thời Đức Phật thì ngài thuyết pháp hằng ngày cho chư thiên cho nên ở trên tam giải thoát môn trên Linh Quy Pháp Ấn là con lấy giờ mà Đức Phật thuyết pháp cho chư thiên rồi con ngồi trên cổng đó giảng pháp, tự nhiên sau này người ta kêu Cổng Trời luôn.
Giờ mình tu trên núi ở ngoài trời thì đó là giờ Đức Phật thuyết pháp cho chư thiên là 4-5 giờ sáng, giờ đó rất quan trọng, giờ đó là tinh hoa của trời đất, âm dương hội tụ, giao hòa, đó là giờ mình tỉnh táo, tỉnh sáng nhất trong một ngày cho nên tu giờ đó hiệu quả gấp nhiều lần so với những giờ khác. Giờ đó mình nên thức dậy để thiền, tụng kinh hoặc là quán chiếu thì rất tốt. Vô sắc giới là không có hình sắc, không có hình sắc mà chỉ có tâm tưởng thôi, những vị này chứng các tầng thiền từ không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng và phi tưởng xứ, đó là bốn tầng thiền định lớn cao ở trên, những cái vị này sống bằng tâm thọ; tưởng; hành; thức chứ không có sắc, còn hồi nãy cõi sắc là sắc vi tế. Trong ba cõi đó Thế Tôn là bậc tối tôn tối thượng, quý vị có thể tưởng tượng nổi Đức Phật là ai không? Trong tam giới là 10.000 thế giới, từ thế giới của dục, thế giới của sắc và thế giới của vô sắc thì Đức Phật là bậc tối tôn tối cao vô thượng ở trong tam giới, tam thiên đại thiên thế giới. Mình có một bậc đại đạo sư như vậy thì quý vị có tự thấy mình hân hoan, hãnh diện, hạnh phúc không?
Mình chọn một bậc sư phụ của mình là vô thượng Chánh đẳng Chánh Giác, mình quá hãnh diện, hạnh phúc, vinh dự, sung sướng khi mình làm một người đệ tử Phật. Quý vị là cực kỳ thông minh mới chọn làm đệ tử của ngài, còn người ta hễ chỗ nào linh là xách giỏ chạy lại cầu xin, dầu cho mang cái tiếng là đệ tử quy y Phật nhưng đó là quy y với thần tiên, thờ Diêu Trì Kim Mẫu, bà Chúa Xứ… Cái đó là thần tiên không phải Phật, những vị đó là còn ở trong lục đạo trong khi Đức Thế Tôn đi ra khỏi lục đạo cho nên mới là bậc tối tôn tối thượng trong tam giới, trong 10.000 thế giới, ở trong lục đạo luân hồi ngài đi ra khỏi nó. Cho nên mình tu mà mình mong đời sau được hưởng là mình đi ở trong lục đạo luân hồi, nó là thiện pháp, nó là tốt nhưng mà cái thiện đó vài bữa hết thì lúc đó trở thành bất thiện, nó thành ác.
Như vậy những ai đặt lòng tin vào Đức Phật là đặt lòng tin vào tối thượng, với những ai đặt lòng tin tối thượng họ được quả dị thục tối thượng. Trở lại ví dụ đào cái hố vàng 50 kí, mình có tin Phật tuyệt đối 100% chưa? Nếu mình tin chắc 100% là mình Dự Lưu rồi, là mình quyết chắc không còn đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đó là bật Dự Lưu, chỉ qua lại trời người đến lúc Niết-bàn thôi, không bao giờ rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nữa là bật Dự Lưu đó, những vị đó tin Phật tuyệt đối 100%. Mình tin bao nhiêu phần trăm? Đức Phật của mình siêu khủng bất khả tư nghì, không thể tưởng tượng nổi, đối với cái trí phàm phu của mình thì mình không hiểu Phật được bao nhiêu. Mình có suy nghĩ cái gì cũng ở trong hành uẩn, mình có cảm thọ cái gì, cảm giác gì, cảm xúc cái gì cũng ở trong thọ uẩn thôi, trong tâm mình có hình bóng gì cũng nằm trong tưởng uẩn thôi, mình có nhận thức cái gì đi nữa, mình có biết cái đi nữa cũng ở trong thức uẩn thôi, mình có là đại phú, đại gia giàu nhất hành tinh cũng không đi ra khỏi sắc uẩn, cũng nằm trong cái đống sắc uẩn đó thôi, mình ở trong ngũ uẩn đó, mình vòng vòng như kiến bò miệng chén, như con cá lia thia ở trong cái chậu hoặc là giống như con chim ở trong lồng. Thành ra tất cả chúng sanh là tù nhân ở trong ngũ uẩn tức là vô minh, tham ái, nô lệ cho những cái ham muốn, đi ra khỏi nó không được.
Ông vua là quyền uy nhất thiên hạ nhưng có bị hoàng hậu làm cho khổ không? Có bị mấy bà thứ phi làm cho mệt không? Chẳng những tâm cung lục viện còn chưa đủ nữa có khi là loạn xạ hết, khổ đau vì ái dục. Những vị thần linh có phép thần thông ghê gớm nhưng vẫn đau khổ vì sân hận, nhiều khi đi ngang cái cây hay cái miếu mà nói bậy thì khi về có khi bị bệnh, thậm chí là hộc máu. Hồi đó chùa Quảng Phước của sư bà ở Sa Đéc dưới quê Minh Thành, nghe kể lại có một ông rất là hung dữ, ngang tàn lắm, cứng đầu cứng cổ lắm, không sợ thần thánh, Phật gì hết. Nhưng trong chùa có một vị tu đắc đạo thì biết bao long thiên hộ pháp ở trong đó thế mà ông đó đi vào chỉ mặt từng tượng nói nặng nói nhẹ này kia, đến khi chỉ vào tượng ông hộ pháp là ú ớ, tay chân cứng ngắt, hộc máu chết tại chỗ cho nên mình phải kính nể thần linh. Phật rất hiền từ, không bao giờ làm gì tổn hại chúng sanh nhưng các vị thần, các vị long thiên hộ pháp, Đức Phật hỏi ba lần mà điều đó là đúng nhưng người đó không trả lời thì thần Dạ-xoa sẽ cầm cái chày kim cang nện xuống cái đầu bể làm 7 phần.
"-- Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: 'Sắc là tự ngã của ta', Ông có quyền hành gì đối với sắc ấy và có nói được rằng: 'Sắc của tôi như thế này, sắc của tôi không phải như thế này' không?
Ðược nói vậy Niganthaputta Saccaka giữ im lặng. Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Niganthaputta Saccaka:
-- Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: 'Sắc là tự ngã của ta', Ông có quyền hành gì đối với sắc ấy và có nói được rằng: 'Sắc của tôi phải như thế này, sắc của tôi không phải như thế này' không?
Lần thứ hai, Niganthaputta Saccaka vẫn giữ im lặng.
Rồi Thế Tôn nói với Niganthaputta Saccaka:
-- Này Aggivessana, nay Ông phải trả lời. Nay không phải lúc Ông giữ im lặng nữa. Này Aggivessana, ai được Như Lai hỏi đến lần thứ ba một câu hỏi hợp lý mà không trả lời, thời đầu của người ấy sẽ bị bể ra làm bảy mảnh tại chỗ.
Lúc bấy giờ thần Dạ xoa Vajirapani (Kim Cang Thủ) đang cầm một chùy sắt to lớn, cháy đỏ, sáng chói, đứng trên không trên đầu Niganthaputta Saccaka với ý định: 'Nếu Thế Tôn hỏi đến câu hỏi thứ ba, một câu hỏi hợp lý mà Niganthaputta Saccaka không trả lời, thì ta sẽ đánh bể đầu nó ra làm bảy mảnh'. Chỉ có Thế Tôn và Niganthaputta Saccaka mới thấy thần Dạ xoa Vajirapani. Niganthaputta Saccaka sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng, ngược, chỉ tìm thấy sự che chở nơi Thế Tôn, chỉ tìm thấy sự an ổn nơi Thế Tôn, chỉ tìm thấy sự nương tựa nơi Thế Tôn, liền bạch Thế Tôn:
-- Tôn giả Gotama hãy hỏi tôi, tôi sẽ trả lời.
-- Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: 'Sắc là tự ngã của ta', thì Ông có quyền hành gì đối với sắc ấy và có nói được rằng: 'Sắc của tôi phải như thế này, sắc của tôi không phải như thế này' không?
-- Thưa không, Tôn giả Gotama" (Trung Bộ Kinh, 35. Tiểu kinh Saccaka)
Đức Phật thương chúng sanh không hết nên không muốn làm ai khổ, tuy nhiên các vị thần không hề nể nang cho nên người ta mới nói phải kiêng nể các vị thần thánh. Các chư thần có phước, có tâm lực rất mạnh, uy lực rất lớn, thậm chí trong kinh nói là nuốt mặt trời, mặt trăng, làm cho cái thế giới này tối đen luôn, các vị có thần thông làm cho trái đất này bị rung chuyển, địa chấn nhưng các vị này khổ với cái tâm sân hận, rất dễ tức giận, bản ngã rất lớn, chính cái này làm cho các vị này đọa, rớt xuống. Các vị thần phải rất định tâm mới có thần thông, muốn có thần thông là phải định mới được nhưng vì cái tâm sân, cái bản ngã chưa có phá, kiến chấp về thân chưa phá cho nên vẫn còn đau khổ vì tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái. Làm tiên thì vẫn có sự yêu thương, cái ái thô không còn nhiều nhưng mà cái ái tế vẫn còn, cái yêu thương vi tế, cái tâm luyến ái đó vẫn còn nên cũng tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não. Mình tu là để hết tham, sân, si, vô minh, dục ái, bớt được bao nhiêu là đỡ khổ bấy nhiêu, bớt được ba chục là đỡ khổ ba chục, bớt được tham, sân, si 50 là đỡ khổ bao nhiêu 50%. Bây giờ mình bớt nó bảy chục thì đỡ khổ 70%, bớt 90% thì cái khổ còn 10%, bớt 98% thì cái khổ còn 2%, bớt 99% thì cái khổ chỉ còn 1%, Đức Phật bớt 100% cái khổ, các bậc Thánh A-la-hán khi nhập Niết-bàn là bớt 100%, chứng được tâm bất động giải thoát, không còn một chút tham, sân, si nào nữa. Như vậy có đáng cho mình chắp tay đảnh lễ, cúng dường, cung kính không?
Mình phải biết tại sao mình lạy Phật? Vì những cái mình làm mà mình không biết, thậm chí biết cũng làm chưa được, còn cái ngài đã làm xong hết rồi, "sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại cái trạng thái như thế này nữa" đó là câu tuyên ngôn của các bậc Thánh. Sanh đã tận nghĩa là sự sinh ra, cái đời sống không có còn bị sanh ra nữa, phạm hạnh đã thành, đức hạnh thanh tịnh, cao thượng đã thành tựu, việc cần làm là đoạn tận tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại cái trạng thái như thế này nữa, đó là tuyên ngôn của bậc Thánh, nói câu này xong là các ngài chứng đắc Niết-bàn bất tử, đây là đời sống cuối cùng, không còn bị sanh nữa.
Mình vẫn còn bị sanh, mình vẫn còn bị già, bị bệnh, bị chết, mình bị tham, sân, si, mình không muốn nhưng vẫn bị, mình bị cái bản ngã, cái tôi làm cho mình khổ. Trong bài kinh Thánh Cầu nghĩa là sự tìm cầu thánh thiện, Đức Phật nói rằng các ông đó bị sanh mà đi tìm cái bị sanh, các ông bị già, bị bệnh mà các ông đi tìm cái bị già, bị bệnh, các ông bị chết mà các ông đi tìm cái bị chết, các ông bị sầu, bi, khổ, ưu, não mà các ông lại đi tìm cái bị sầu, bi, khổ, ưu, não giống vậy nữa. Còn ta, Như Lai bị sanh nhưng ta đi tìm cái không sanh, ta bị già nhưng ta không chấp nhận cái bị già mà đi tìm cái không già, bất sanh bất lão, ta bị bệnh nhưng ta không chấp nhận cái bị bệnh đó, ta đi tìm cái không bệnh, ta bị chết mà ta không chấp nhận, ta đi tìm cái bất tử và nay ta đã chứng nhập bất tử.
"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm.
Rồi này các Tỳ-kheo, Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; và đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị bệnh, tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị chết, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị sầu, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sầu, tìm cầu cái không sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái vô sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, tìm cầu cái không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Và tri kiến khởi lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa" (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Chúng ta có thấy tuyệt diệu, tối thượng không? Có một cái triết học nào, một cái tôn giáo nào, một vị giáo chủ nào nói đầy đủ một cái thánh đạo, một cái đạo lộ, một sự tuyên bố địa cầu chấn động là ngài giải thoát sanh tử. Lúc còn làm thái tử đó thì vua Tịnh Phạn nói với ngài rằng đừng đi xuất gia, ở lại hoàng cung, muốn gì vua cha cho cái đó nhưng ngài nói rằng phụ vượng cho con đừng có già, con không muốn già, phụ vương cho con trẻ hoài không có già thì con không đi tu, con không có muốn bệnh, phụ vương cho con không bệnh thì con không đi tu nữa, con không muốn chết, phụ vương cho con bất tử thì con không có đi tu, con không muốn tham, sân, si, phụ vương cho con cái không tham, không sân, không si đó được không. Ngài nói ra như vậy thì phụ vương nhức đầu luôn, vì đây là kiếp cuối của Bồ-tát nên trong tâm ngài thúc đẩy, cái dục như ý túc thúc đẩy.
Cái dục nãy khác, cái dục này khác, cái dục này là cái tham muốn nhiệt thành, nóng bỏng để cắt đứt hết những cái sanh tử luân hồi, còn mình cũng muốn nhưng mà mình muốn đi vô tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não là trật lất. Một cái muốn để đi lên, còn một cái muốn để đi xuống, muốn đi lên gọi là dục như ý túc, muốn đi xuống là dục lạc. Phải hiểu được cái đó chứ không phải tu là không có muốn, mình muốn tu nên mới đi chùa, còn không muốn đi chùa thì giờ này đâu có ngồi ở đây, muốn học nên mới ngồi đây nghe pháp, muốn giải thoát khổ đau cho nên mới hành trì, như vậy không có muốn cái thấp hèn, phàm phu tham, sân, si, dục ái mà muốn cái thiện pháp, cái thánh pháp, cái trí tuệ, cái thánh đạo.
Vì vậy tin Phật là tuyệt vời, phải cố gắng tăng trưởng lòng tin, nhất là trong mùa Phật đản, mình tin Đức Phật thì mình mới bớt khổ, mình tin Đức Phật thì mình mới bớt tham, sân, si, mình tin Đức Phật thì mình mới hết hơn thua, phải quấy, mình tin Đức Phật thì mình mới bớt dục tham. Nếu không tin Phật thì không nhớ lời Phật, Phật kêu đào trong cái tâm của mình để thấy báu vật thánh trí tuệ mà mình không chịu, mình cứ chạy ra ngoài tìm cái này, tìm cái kia để cầu cái này, xin cái nọ. Ai có thể làm cho mình hết tham? Ai làm cho mình hết giận? Mình phải biết được cái nguy hiểm của cơn giận, phải biết cơn giận ở trong cảm thọ của mình, mình biết tác hại, nỗi khổ của nó đem lại nên mình không muốn thì mình mới nhiếp phục, chế ngự, từ từ nó để nó lắng dịu và đoạn tận nó luôn. Nhân mùa Phật Đản chúng ta nhắc lại, chúng ta nhớ lại, chúng ta ôn lại, chúng ta làm cho mình phát khởi lòng tin tối thượng.
"Này các Tỳ-kheo, dầu cho loại pháp hữu vi nào, Thánh đạo tám ngành được xem là tối thượng, những ai đặt lòng tin vào Thánh đạo Tám ngành, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng" (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IV). Các Lòng Tin)
Hãy đặt lòng tin vào Tứ Niệm Xứ, đặt lòng tin vào Bát Chánh Đạo. Bát Chánh Đạo là thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng và định đúng. Thấy đúng là thấy được ngũ uẩn này là sắc; thọ; tưởng; hành; thức không có tôi, không có của tôi, không có tự ngã của tôi, thấy đúng nhân quả. thấy đúng tội phước, thấy đúng cái này làm là khổ, cái này làm là vui, thấy đúng chạy theo tham, sân, si, là chạy theo khổ, là chạy theo nước mắt, là chạy theo máu hồng, là chạy theo tai họa, tai nạn, chết chóc. Nhiếp phục là hết khổ, thấy như vậy là thấy đúng, từ cái thấy đúng đó mới suy nghĩ theo những cái đó, mình nói theo cái đó, mình làm theo, mình sống theo như vậy, mình tập trung tất cả tâm ý của mình vào trong công việc đó thì gọi là quán đúng, định đúng. Tất cả toàn tâm toàn ý, mình chỉ hướng một cái hướng nó đi ra thôi, một cái hướng đi lên thôi, người có niềm tin như vậy được xem là niềm tin tối thượng, không có một niềm tin nào cao hơn niềm tin này nữa, niềm tin này là tối cao, tối thượng, tối tôn, tối đệ nhất, đó là tin vào thánh pháp, Bát Chánh Đạo.
Quý vị đang tin vào chỗ tối thượng thì quý vị thấy mình hạnh phúc không? Có hoan hỉ không? Có sung sướng không? Có hãnh diện không? Có thú vị không? Có phấn khởi không? Có quyết chí đi lên không?
"Dầu cho loại pháp nào, này các Tỳ-kheo, hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp, tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khát ái, sự nhổ lên tham ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham đoạn diệt, Niết-bàn. Những ai đặt lòng tin vào pháp ly tham, này các Tỳ-kheo, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng" (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IV). Các Lòng Tin)
Lìa sự thúc giục, ham muốn đối với mọi thứ ở trên đời này, tập cái tâm bớt muốn chứ chưa nói bỏ liền, tập rời xa từ từ, cuối cùng là thoát ra. Ly tham là pháp tối thượng trong tất cả các pháp, chúng ta thấy đó là cái sự cống hiến vĩ đại của Đức Phật khi xuất hiện trên cuộc đời này, không ai thấy được điều đó, chỉ có Đức Phật mới chỉ được, tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khát ái, sự nhổ lên tham ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn, những ai đặt lòng tin vào pháp ly tham là đặt lòng tin vào tối thượng, với những ai đặt lòng tin vào tối thượng họ được kết quả tối thượng.
Nhiếp phục kiêu mạng là sống khiêm hạ, hạ cái bản ngã mình xuống. Tu là cái đó rất quan trọng, mỗi cái lạy Phật là phải nhớ thực hành sự khiêm hạ, khiêm cung, nhiếp phục khát ái, nhổ lên tham ái, chặt đứt tái sanh, đoạn diệt tham, ly tham, đoạn diệt Niết-bàn là dập tắt hết tất cả tham, sân, si.
"Dầu cho loại chúng Tăng hay hội chúng nào, này các Tỳ-kheo, chúng Tăng đệ tử của Như Lai được xem là tối thượng trong tất cả hội chúng ấy. Tức là bốn đôi tám vị, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời. Những ai đặt lòng tin vào chúng Tăng, này các Tỳ-kheo, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng. Này các Tỳ-kheo, đây là bốn lòng tin tối thượng" (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IV). Các Lòng Tin)
Chúng Tăng – đệ tử của Như Lai là tối thượng, tối cao trong tất cả các đoàn thể. Tại sao mà ở ngoài ai nói không nghe nhưng vô thầy nói là "dạ mô Phật, dạ", người tu đúng chánh pháp nữa thì vô thượng phước điền cho nên Đức Phật mới nói bốn đôi tám vị chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là ruộng phước vô thượng ở trên đời, những ai đặt lòng tin vào chúng Tăng là họ đặt lòng tin vào tối thượng, ai đặt lòng tin vào tối thượng họ được kết quả tối thượng. Hạnh phúc quá! Mình là đệ tử của tam bảo tối thượng, tối cao là đệ nhất hạnh phúc, hoan hỉ lên, sung sướng lên. Cho nên trong mùa Phật Đản này cho mình hân hoan, phấn khởi, hạnh phúc, sung sướng, hãnh diện vì mình là con thật sự của Đức Phật, trên hành tinh này có 8 tỷ người nhưng chỉ à năm sáu trăm triệu là đệ tử của Đức Phật, là quy y tam bảo. Con số báo cáo chỉ có 500-600 triệu tín đồ Phật giáo, đó là tính cái con số trên tờ giấy là có quy y nhưng thật sự đi chùa tu học như quý vị là đếm được bao nhiêu? Lại còn nghe được kinh gốc của Đức Phật nhận diện được ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si và có phương pháp nhiếp phục, chế ngự nữa thì thật sung sướng, còn hơn trúng độc đắc, đó là gì hiếm có, hy hữu chưa từng có trên cuộc đời này cho nên vui lên, hân hoan lên, hạnh phúc lên, sung sướng lên, vinh hạnh lên vì mình đệ tử của bậc tối thượng, trong 10.000 thế giới, tam thiên đại thiên thế giới mà mình được chọn sư phụ của mình. Mình được làm con của Đức Phật, chúc mừng cho quý vị, đại chúc mừng cho quý vị.
Tâm biết ơn Phật này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la
./.