Thiền Quán - Bi Vô Lượng Tâm 2
TINH HOA NIKĀYA
GIẢNG GIẢI BÀI THIỀN QUÁN
BI VÔ LƯỢNG TÂM 2
–Thích Minh Thành–
Với sự hân hoan, hỷ lạc thấm đượm toàn thân chúng ta và trải rộng vùng trời đất này, không gian bao la này, niềm hỷ lạc của tình thương với một nội tâm buông xả, rộng rãi, bình an, thanh tịnh, tịnh lạc, hân hoan, hoan hỉ trong giây phút hiện tại này. Cảm nhận sâu sắc mỗi hơi thở, cảm nhận sâu sắc toàn bộ cơ thể, cảm nhận sâu sắc sự an lạc, hỷ lạc nhuần thấm khắp châu thân. Tâm an tịnh, lắng dịu và dễ chịu, an tịnh… lắng dịu… dễ chịu và ngọt ngào, tiếp tục trú trong cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu và ngọt ngào này. Chúng ta có một cái tâm xót thương, "tâm bi là tâm bi mẫn, mong sự an lạc, bình an và hạnh phúc đến với chúng sanh. Tâm bi vô lượng này cần phải tu tập để khai mở các cảm giác cảm thọ hiền hòa, hiền thiện, khai mở lòng bi mẫn, tâm hiền lành, diệt trừ những tâm ác, tâm bất thiện, những tâm làm hại mình, làm hại người, hoặc làm hại cả mình lẫn người.
Trước khi bước vào bài tập, hít vào và thở ra nhẹ nhàng 4 lần, đồng thời thầm đọc các câu sau đây nhằm để khơi gợi cho tâm và cảm thọ sanh khởi theo chiều hướng hiền thiện, hiền hòa".
Nhẹ nhàng ơi! (hít vào)
Nhẹ nhàng ơi! (thở ra)
An lạc ơi! (hít vào)
An lạc ơi! (thở ra)
Hiền tâm ơi! (hít vào)
Hiền tâm ơi! (thở ra)
Thiện tâm ơi! (hít vào)
Thiện tâm ơi! (thở ra)
Ta khơi dậy trong ta
Tình thương và hiền tâm
Ta khơi dậy trong ta
Hiền tâm và tình thương.
Tình thương sống trong ta,
Hiền tâm sống trong ta.
Tình thương có trong ta,
Hiền tâm có trong ta.
Ta rộng mở tình thương,
Đến các loài hữu tình,
Ta rộng mở hiền tâm
Đến các loài hữu tình.
Bằng tình thương hữu tình,
Bằng hiền tâm chân thật,
Bằng tấm lòng thương tưởng
Đến tất cả hữu tình
Và thương cả chính mình
Hiện đang còn lặn hụp
Trong sanh tử khổ đau
Trong những tâm ác ý
Muốn làm hại lẫn nhau.
Vì sự đau khổ này
Của ta và hữu tình
Ta thành tâm, tha thiết
Tu tập trải Bi tâm.
Tâm bi là tâm thiện,
Tâm hiền thiện, hiền hòa
Tâm hiền lành, hiền đức,
Tâm hiền phúc, hiền lương.
Tâm vẫn thường nghĩ đến
Những điều thiện, điều hiền
Tâm vẫn thường yêu thích
Làm những việc hiền lương.
Tâm vẫn thường mong muốn
Hạnh phúc đến muôn loài
Tâm vẫn thường tha thiết
Mong mọi loài bình yên.
Kính thưa quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng, nãy giờ chúng ta thực tập thiền quán bi vô lượng tâm để khơi gợi cho tâm và cảm thọ sanh khởi theo chiều hướng hiền thiện, hiền hòa cũng như ôn lại bài thực tập chúng ta đã chia sẻ, hôm nay chúng ta tiếp tục giải thích về bài thực tập bi vô lượng tâm.
"Tâm bi là tâm thiện, tâm hiền thiện, hiền hòa, tâm hiền lành, hiền đức, tâm hiền phúc, hiền lương, tâm vẫn thường nghĩ đến những điều thiện, điều hiền, tâm vẫn thường yêu thích làm những việc hiền lương, tâm vẫn thường mong muốn hạnh phúc đến muôn loài, tâm vẫn thường tha thiết mong mọi loài bình yên", đây là định nghĩa về tâm bi. Tâm bi là tâm thiện, tâm hiền thiện, hiền hòa, hiền lành, hiền đức, hiền phúc, hiền lương, những từ này không phải đơn giản mà dễ hiểu, cũng là hiền nhưng ở nhiều khía cạnh khác nhau. Tâm thiện là tâm lành, tâm thiện lành là tâm luôn hướng đến điều lành, nghĩ gì về người khác cũng theo chiều thiện chứ không theo chiều hướng bất thiện, ví dụ khi đi trên đường thấy có lưỡi lam hoặc miểng chai nếu người có tâm thiện thì tự động người này lượm bỏ qua góc kẹt nào đó để tự thân mình không bị tổn thương hoặc để những người khác đi qua cũng không bị tổn thương, tức là mọi cái thấy, nghe, cảm xúc của người này đều theo chiều thiện lành, khi nghĩ về thầy, về cha mẹ lúc nào cũng nhớ ơn, cảm ơn, nhớ những điều cha mẹ, cô bác, thầy, huynh đệ.. đã làm cho mình chứ người này không nghĩ về điều xấu của cha mẹ, thầy hoặc theo chiều bất thiện của những người thân thương, vì thế trong suy nghĩ đó là suy nghĩ hiền, chữ "hiền trí" trong kinh Nikāya vi tế đến như vậy, tức là khi suy nghĩ về bất kì ai cũng nghĩ về điều tốt của người đó, đó gọi là nghĩ hiền, cái này phải có sự nhận diện ngũ uẩn minh bạch mới tu được tâm hiền. Ngược lại, cha mẹ, ông bà, thầy cô la rầy, quở trách muốn mình tốt lên nhưng mình lại suy nghĩ xấu về cha mẹ, thầy cô khó, cái gì cũng la, không muốn lại gần, những người đó la bằng tình thương, bằng từ tâm muốn giúp mình nên người, muốn mình thành tựu pháp nhưng do tâm không hiền, không thiện nên mình nghĩ theo tiêu cực, chính cái nghĩ đó làm mình rơi vào tâm bất thiện, đó là do mình không tu tâm hiền trong suy nghĩ, chính vì suy nghĩ tiêu cực nên làm mất đi thiện pháp, bất thiện pháp sanh khởi, sau đó tiếp tục suy nghĩ như vậy nữa thì bất thiện càng tăng dần lên thì lúc đó mình không tu nữa, thậm chí có người quay lại phỉ báng thầy hoặc ghét cha mẹ mình, đó là tâm hung dữ nên có những nghiệp quả, quả báo như vậy. Đương nhiên khi suy nghĩ sẽ có những hình ảnh đi chung với nhau, đa số thường nhớ những hình ảnh của người cau có, ghét mình chứ không nhớ những gương mặt từ ái, không nhớ những sự quan tâm trong từng miếng ăn giấc ngủ của cha mẹ mà lại nhớ những sự la mắng, chia tài sản không đều, người nhiều người ít. Như vậy làm cho nghĩ tưởng của mình không hiền thiện nên đi theo tâm hung dữ, bất thiện, từ đó làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình, gây bất hòa trong huynh đệ, không còn tình nghĩa thầy trò, trong thân tộc đi đến chia ly, chia lìa cũng từ tâm không hiền thiện, cho nên tâm hiền này bao trùm hết thế gian và xuất thế gian, từ phàm phu cho đến các bậc hiền Thánh, đây là lý do chúng ta thường nói phải tu tâm hiền. Tâm hiền còn làm không được thì làm sao quán đến vô thường, khổ, vô ngã? Làm sao đi đến chỗ giải thoát, xuất ly các lậu hoặc? Cho nên phải tập nghĩ hiền thiện, hiền lành. Hiền hòa là khi nghĩ, khi nói gì cũng nói bằng tâm hòa hợp, hòa kính, hòa đồng chứ không nói gây bất hòa, một người không tu tâm hiền, không thực tập tâm hiền là nói ra sẽ gây chia rẽ, rạn nứt, gây ra những thọ; tưởng; hành đổ vỡ, từ cư sĩ cho đến xuất gia phải nhìn thấy những điều này, gặp nhau là nói người này người kia với cái tâm "đâm bị thóc, thọc bị gạo", trước khen sau chê, nói những cái xấu dở của người khác làm chia lìa, sanh khởi tâm sân giận, đó là do không tu tập nói lời hiền. Hiền lành, hiền hòa tức là luôn hướng tâm đến sự hòa hợp của đại chúng, hòa hợp trong gia đình, ví dụ bốn anh em trong gia đình nhưng có hai người bất hòa, mình gặp một trong hai người đó thì chắc chắc người này nói xấu người kia, hoặc người kia nói xấu người này cho mình nghe, nếu mình có tu tâm hiền thì phải nói để hòa giải, làm cho hai bên hóa giải bất đồng, hòa thuận với nhau mới là khẩu hiền, miệng hiền.
Từng chữ 'hiền" trong định nghĩa tâm bi có những khía cạnh khác nhau trong sự tu tập, khi nói hiền thiện là khác, hiền hòa là khác, hiền đức là khác, hiền phúc là khác và hiền lương cũng khác, không có cái nào giống cái nào. Đều là hiền nhưng ở nhiều khía cạnh, góc độ của hiền, giống như viên kim cương có nhiều góc cạnh, nhưng góc nào cũng óng ánh, cạnh nào cũng trong suốt, tâm hiền cũng giống vậy, có nhiều khía cạnh của thiện pháp cần tu tập cho nên phải thấy, phải biết lúc đó khía cạnh nào của tâm hiền đang được thể hiện, đó là sự nhận diện năm uẩn. Khi nói về hiền đức nghĩa là âm đức và dương đức, tức là tâm hiền thiện này thể hiện ra ngoài cho người ta thấy biết, cảm nhận được thì đó là dương đức, ai cũng biết người đó tốt nhưng cái tốt của người này là làm mà người khác không biết, không phải đợi đến có người thấy mới làm mà làm âm thầm, thậm chí hy sinh bản thân cho đại chúng, ví dụ thầy Pháp Nghĩa ngồi kiểm tra bài giảng đến 12h đêm hoặc 1h sáng, nếu thầy không nói thì đại chúng không biết thì đó là âm đức, thầy phải hoàn thành những bài pháp để đưa ra cho đại chúng tu học. Công đức, phước đức của mình có hai dạng, một là hiển lộ và một dạng ẩn kín hoặc gọi là âm đức rất lớn, đương nhiên cái hiển lộ cũng có phước nhưng có khi cái đó dễ bị danh lợi, nhiều khi có mặt người ta thì làm hăng hái, năng nổ, đến khi không có ai thì không làm. Ngoài đời có câu "có đức mặc sức mà ăn", có những người tính toán, mưu mô, xảo trá đủ chuyện nhưng nghèo vẫn nghèo, còn người hiền đức, hiền lành sẽ gặp được quý nhân giúp đỡ, trong chùa cũng như ngoài đời có những người hay tính toán, xảo trá, lật lọng, mưu sĩ thì dù có được nhưng cũng không bền, mau chóng tan biến thành mây khói nhưng thường sẽ không được và sẽ nghèo suốt đời, bệnh hoạn khổ sở, còn người chân chánh, chân thật, hiền lành, hy sinh cho mọi người thì người này chắc chắn thành tựu lớn, người này không trông mong danh lợi, thành tựu nhưng thù thắng tự động đến, đó gọi là "có đức mặc sức mà ăn" cho nên sống có đức không cần lo gì cả, chỉ sợ không có đức chứ đừng sợ không có tiền của.
"Người trồng cây Hạnh người chơi
Ta trồng cây Đức để đời về sau".
(Ca dao Việt Nam)
Những câu này tưởng đơn giản nhưng thật ra rất thâm thúy, đó là túi khôn của tổ tiên, là tinh hoa của nhân loại, cho nên cái hiền đức này phải được chăm sóc, tưới tẩm và bảo vệ tâm hiền đức của mình. Không những hiền mà còn phải có đức, tức là cái hiền đó không cần để người ta biết mình hiền, không cần phải thể hiện phô trương, Linh Quy làm những việc từ thiện giúp đỡ người nghèo, những người tật bệnh, không nơi nương tựa nhưng không ai biết, hoặc là phóng sanh cũng tùy duyên chứ không gọi điện đặt hàng để người ta bắt cho mình, thấy là thả tại chỗ, vì thế có những việc phải làm để khuyến thiện đối với mọi người, để mọi người học hỏi theo, bắt chước theo, nhưng có những việc không cần có người mới làm, ví dụ cố Hòa Thượng Thượng Thiện Hạ Hòa ngày xưa là giám đốc học viện ở chùa Ấn Quang, trong đó ngày xưa có Tăng sinh học rất đông nhưng ngày nào cũng thấy toilet sạch bóng nhưng không thấy người lau chùi, có những vị lúc tối đi vệ sinh nghe tiếng chà sàn nhà nhưng không thấy người, những ngày sau đó cũng nghe tiếng sột soạt chà sàn nhà nên để ý đi tìm thì thấy Hòa Thượng đang lau chùi toilet lúc 1-2h đêm vì ban ngày không ai cho ngài làm, đó là đức độ của các bậc cao Tăng, ngài là luật sư, những quyển giới đàn Tăng là do ngài biên soạn ra, ngài có đệ tử là Hòa Thượng Thượng Minh Hạ Thành cũng là luật sư, những vị tu giới luật thì tướng của các ngài rất quang minh tướng hảo, đó là công đức của giới, đó cũng là hiền đức, âm đức, là công đức sâu kín chứ không cần biểu hiện ra cho người khác biết, cố Hòa Thượng Thượng Thanh Hạ Đức sống 95 tuổi, Minh Thành khi đó mới xuất gia được 6 tháng ở quê nên lên chùa Bửu Liên của Hòa Thượng để học, khuya Minh Thành đi vệ sinh 2 giờ đêm thì thấy Hòa Thượng ngồi đọc kinh lễ Phật mà năm đó ngài đã ngoài 80 tuổi nhưng vẫn thức khuya dậy sớm để tu. Có những vị hy sinh thầm lặng, cũng như ngày xưa có một chú tập sự xuất gia ở chùa mình, bây giờ xuất gia thành sư, chú rất thương anh mình vì anh chú bị bệnh thận rất nặng, chú này cắt quả thận của mình để cứu người anh, họ làm những chuyện hiền đức, phước báo rất âm thầm. Vì thế mình phải hiểu có âm đức và dương đức cho nên hiền và đức phải đi chung với nhau, ví dụ đang nấu cơm nhưng tình cờ mình đi ngang chánh điện có người nói quét giùm thì mình lại nói bổn phận mình là nấu cơm chứ không phải quét nhà, có ai rơi vào tình huống này không? Đó là không phải là hiền phúc, hiền phúc là sẵn sàng làm dù không phải bổn phận của mình, vừa hiền vừa biết làm phước, mỗi cái đều vì mọi người. Mình làm trong bếp mà trong kho chứa đồ để gạo hư, nước tương quá hạn sử dụng sẽ làm tổn phước, không những mình tổn phước mà cả đại chúng cũng tổn phước, thầy trụ trì cũng có tội, khi làm trong bếp phải để ý, kiểm tra lương thực, thực phẩm xem hạn sử dụng cái nào dùng trước, cái nào dùng sau để báo lên cho thầy biết, nếu đồ nhiều mà cận date thì có thể cúng dường hoặc chia sẻ cho những nơi thiếu thốn, vùng sâu vùng xa, chỉ một hành động nhỏ là quan tâm như vậy thôi đã trở thành hiền đức, hiền phúc. Mình đi vào toilet phải mở nước đầy thùng, nhưng hình như không ai làm mà để thùng nước cạn kiệt, làm như vậy vừa phòng thủ cho mình cũng vừa giúp cho người khác, nước ở trên núi không phải lúc nào cũng có sẵn như ở thành phố, trong mùa nắng nước chảy yếu có khi không có nước dùng luôn, như vậy làm cái gì cũng phải nghĩ cho mình cho người thì đó là hiền phúc, hiền đức, hiền lương, nếu làm được như vậy thì công đức người này là vô lượng, khi nghe, thấy, tiếp xúc cái gì cũng nghĩ đến lợi ích cho mình cho người. Hôm qua các chú đem lên đồ ăn sáng mà cái dĩa đầy tương ớt thì con không hài lòng, vì nếu không có hiền trí, hiền phúc sẽ không biết làm, nếu có sẽ biết lấy tương ớt vừa đủ để ăn, ít quá thành keo kiệt, nhiều quá thì phung phí vì đây là của tam bảo, nhiều quá ăn không hết phải bỏ thành phung phí, đồ ăn mình đã ăn để người khác ăn cũng không tốt, vì thế trong từng chuyện nhỏ nhặt đó đều phải vận dụng tâm để nhìn vào đó, chứ không phải làm theo dục, theo ý muốn, ai nói thì giận, như vậy quá là phàm phu, người ta chỉ dạy để mình học hỏi, sửa đổi, để trở thành người hiền lành, hiền thiện, hiền phúc, hiền đức, để lợi lạc cho mình trong kiếp này và đời sau. Cứ hễ nói đến là sân lên, bản ngã lên thì làm sao tu được cái tâm hiền lành, hiền đức, hiền phúc? Khi rót chung nước cũng có hiền phúc trong này, trong ly nước này có biết bao tiền gas, củi lửa cho nên rót đầy ly người ta uống không hết đổ bỏ sẽ uổng phí, chỉ cần rót vừa chừng ly thôi. Mỗi việc nhỏ nhiệm đều phải để tâm vào đó, trong lúc người ta đang ngồi thiền hoặc nghe pháp tĩnh lặng mà mình đi kéo lê giày dép phát ra tiếng động, mở cửa ầm ầm thì đó không có hiền, thứ nhất là tự thân mình không có chánh niệm tỉnh giác, thứ hai làm người ngồi thiền bị động niệm, đó là giờ tu học mà mình làm động niệm người khác là mình bị tổn phước, tổn đức.
Tâm đại bi là từ những việc nhỏ từng chút một rồi tích tụ lại mới trở thành tâm xót thương, bao la rộng lớn vạn loại hữu tình, mình để thức ăn mà kiến bu vào thì đem thức ăn ra ngoài nhưng cứ để nguyên như vậy cho nó ăn, đó là hiền thiện, hiền hòa, hiền lành, mình không đói khát, nó lỡ ăn rồi thì hãy để nó ăn, lâu lắm nó mới được bữa tiệc như vậy. Vì thế cần thực tập tâm hiền lành, hiền đức trong từng cái nhỏ nhiệm vi tế như vậy, nấu nướng vừa phải nhưng vẫn đảm bảo sức khỏe cho đại chúng, vừa miệng mọi người, dưỡng sinh an lành là cả một tâm hiền lành, hiền hòa trong đó, mình phụ trách trên thiền đường, sắp xếp bồ đoàn, tọa cụ sạch sẽ, ngay ngắn, đó cũng là tâm hiền phúc, hiền đức. Khi diễn ra những buổi giảng pháp như vầy thì âm thanh, hình ảnh phải tốt đẹp, rõ ràng để đem lên cho mọi người tu học, mình phải nghĩ đến những cái rộng lớn chứ không phải chỉ làm cho xong, không cần biết tốt xấu, lợi lạc ra sao, đó là cái tâm nhỏ hẹp, trong mỗi việc làm đều phải nghĩ đến lợi mình lợi người, lợi hữu tình chúng sanh, lợi toàn thể thế giới thì gọi là đại trí, đại tuệ. Trồng một cây kiểng chỉ nghĩ đẹp cho mình thưởng thức thôi là khác nhưng trồng cây đó để tất cả mọi người về đây đều thấy màu xanh nhẹ nhành, thanh thoát, dễ phát tâm tu học thì việc chăm sóc cây đó sẽ khác, tâm lượng và phước báo cũng khác nhau, dù công việc như nhau nhưng cái tâm chỉ nghĩ cho bản thân sẽ rất khác với tâm nghĩ cho hữu tình chúng sanh, mượn cảnh đẹp để đưa người ta vào Thánh pháp. Tất cả những ý nghĩ đó là hiền thiện, hiền hòa, hiền lành, hiền phúc, trong gia đình nấu cơm chay cho chồng con hoặc làm buổi tiệc chay thì mình cố nấu để mọi người khen nấu ngon, cái đó cũng có lợi ích nhưng nhỏ, còn làm vì tình thương muốn người thân của mình giữ giới sát sanh, phát triển tâm từ, cảm thấy thích thú trong việc ăn chay thì cái nấu nướng đó khác, tâm lượng khác thì phước báo khác, cho nên sự dụng tâm rất quan trọng nhưng phải nhận diện ngũ uẩn mới khéo léo dụng tâm, nếu không chỉ làm trong dục tham, bản ngã, làm để tô điểm cho tôi và của tôi, vì thế cần tu tập tâm bi rộng khắp hữu tình, muôn loài, vạn loại chúng sanh.
Một khi có tâm bi rộng lớn thì cây cỏ, trời mây, sương gió, núi đồi cũng cảm nhận được phước lành của chánh pháp, vì thế người có tâm từ bi, hiền thiện thì đi đến đâu là chỗ đó mát mẻ, an lành, ngọt ngào, dễ chịu đến đó. Có khi vì bản ngã nên mình không nhận tâm từ bi của người ta, người ta muốn mình tốt nhưng mình lại sân, khó chịu cho nên bốn chữ "chấp nhận học pháp" là cực kì quan trọng, chỉ cần chấp nhận học pháp là sẽ từ Hướng Dự Lưu cho đến Nhập Lưu, phải từ bỏ sân si, bản ngã, tâm nhỏ hẹp và thay vào đó là tâm khiêm cung, nhúng nhường, khiêm tốn, khiêm hạ, tâm cảm thông, xót thương, bao dung, lắng nghe, chia sẻ sẽ rất tuyệt vời, trong chúng sẽ không bao giờ có chuyện bất hòa, xung đột. Thật sự xót thương cho mình và cho chúng sanh cho nên đem hết tâm huyết, thời gian, công sức vào pháp học và pháp hành, mình làm cảnh đẹp để mọi người đến thấy thích thú, vui thích nhưng cái đó không phải hạnh phúc chân thật, đem Thánh pháp cho mọi người mới là chân phúc, đó mới là Thánh pháp tối thượng cho nên Thánh pháp không phải là cái thường tình mà là pháp siêu thế, cái đại bi của pháp rất khác biệt, thấy giống như không có gì nhưng thật ra là có, thấy giống như có rất nhiều nhưng không có gì cả. Hạnh phúc thật sự chỉ có khi mình thấy được dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã trong tâm mình, hạnh phúc chỉ có khi mình nhiếp phục được những thứ đó, hạnh phúc thật sự chỉ có được khi mình diệt tận những thứ đó, không phải hạnh phúc là có ngôi chùa to lớn, danh tiếng, địa vị. Đó là con đường của thái tử Tất-đạt-đa đã đi, đó là sự tìm cầu của bậc Thánh và ngày hôm nay chúng ta đang nối bước theo Đức Thế Tôn, mình chấp nhận mình chỉ là hạt cát, là con số không trên đời này để mình được Thánh pháp chấm dứt khổ đau, mình chấp là miếng giẻ rách, chẳng gì là trên cuộc đời này nhưng mình có được con đường, có được đạo lộ diệt tận khổ đau, đó là hạnh phúc tối thượng, là công đức tối thượng, là sự lợi lạc tối thượng, đó là câu trả lời cho câu hỏi tại sao ở đây chỉ có lụp xụp vài cốc nhỏ. Hãy nhớ lại hình bóng Thế Tôn và các chư vị Thánh Tăng trong rừng trúc ngày xưa, dưới gốc cây, khi con đến Ấn Độ ghé thăm hang động của ngài Maha kassapa, ngài Ca-diếp và ngài Anan thì con vô cùng xúc động, đó là một cái hang trên núi Linh Thứu, các ngài sống đời sống thiểu dục tri túc, thực hành hạnh đầu đà. Chúng ta phải thấy hạnh phúc khi chúng ta đang tiếp bước, nối gót theo chân các bậc Thánh đệ tử. Linh Quy Pháp Ấn không có gì hết ngoài Thánh pháp, bao nhiêu đó đủ rồi và mọi người phải thấy hạnh phúc vì điều này, hãy an trú pháp, cúng dường pháp bằng sự chân chánh tu học, và chứng ngộ Thánh pháp, đó là sự cúng dường tối thượng, đó cũng là tâm đại bi rộng lớn của chư Phật và các bậc Thánh chúng.
Tâm vẫn thường nghĩ đến
Những điều thiện, điều hiền
Tâm vẫn thường yêu thích
Làm những việc hiền lương.
Tâm vẫn thường mong muốn
Hạnh phúc đến muôn loài
Tâm vẫn thường tha thiết
Mong mọi loài bình yên.
Lang thang trong sanh tử,
Lành dữ chẳng tỏ tường,
Mượn nghiệp hiền, nghiệp thiện
Làm chỗ để náo nương.
Lang thang trong dòng sống chết này, lành hay dữ chẳng tỏ tường, không biết đâu là thiện, đâu là bất thiện thật sự vì vô minh. Bây giờ gặp được chánh pháp nên mượn nghiệp hiền, nghiệp thiện làm chỗ để trú ẩn, chúng ta phải siêng năng học pháp, siêng năng ngồi thiền quán chiếu, siêng năng làm công quả cho tam bảo, siêng năng làm việc cứu khổ giúp ích mọi người bằng Thánh pháp tối thượng này. Ở đây chỉ có pháp thôi, ngoài ra không có gì nữa cả.
Tử thần thường đón bắt,
Nghiệp lại rất thẳng tay,
Thiện tâm là con đường,
Tái sanh chỗ hiền lương.
Hàng ngàn trẻ em Ấn Độ phải mồ côi vì mất cha mẹ trong dịch bệnh, hàng triệu người trên thế giới chết đi mà không có đất chôn, không có tiền mua củi thiêu xác, chết mà không đủ hòm để chôn. Nghiệp rất thẳng tay, không chừa bất kì ai, không thương người này ghét người kia cho nên phải cẩn thận đối với nghiệp quả, phải tu tâm hiền thiện, bi mẫn để thương mình, thương người và chặn đứng các nghiệp, nếu không ác nghiệp, quả báo không chừa một ai. Ác nghiệp rất tàn nhẫn, nhân quả rất khủng khiếp, quả báo rất đáng sợ, chỉ có thiện tâm là con đường để tái sanh vào chỗ hiền lương. Mình thương mình là phải tu tâm hiền, tu miệng hiền, phải tu những hành vi phước lành, hiền đức, hiền hậu, chính cái đó. mới được tái sanh vào chỗ tốt lành.
"Kẻ thù hại kẻ thù,
Oan gia hại oan gia,
Không bằng tâm hướng tà,
Gây ác cho tự thân".
(Kinh Pháp cú 03 – phẩm Tâm, kệ 42)
Oan gia thật sự, kẻ thù thật sự chính là tâm ác độc, tâm sân hận, tâm nghĩ xấu về người khác, cái đó mới là oan gia thật sự, mới là kẻ thù thật sự. Tâm hiền hòa, hiền hậu, hiền đức, hiền lương này chính là con đường dẫn đi tái sanh đời sau trong cảnh thiện lành, phước báo, an lạc, tâm hung ác, tâm ác ý, hãm hại người là oan gia, là kẻ thù, là kẻ giết hại chúng ta. Những suy nghĩ, cảm xúc, ý tưởng ác, hại, sân hận, thù hằn là kẻ thù của chúng ta, hãy làm cho nó tan biến hoàn toàn trong những cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư của chúng ta, dập tắt, diệt tận nó và làm cho nó hoàn toàn không còn sanh khởi trở lại trong tương lai để mình đi đến chí thiện, thuần thiện, cực thiện, cực hiền, hiền trí, hiền đức, hiền lương.
Để hẹp đường đau khổ,
Để rộng đường bình an,
Ta trải tâm hiền này
Tràn đầy cả thế giới.
Để con đường đau khổ nhỏ lại và chấm dứt, để con đường bình an hạnh phúc được rộng mở nên ta tu tập trải tâm hiền từ, hiền lành tràn đầy khắp hư không giới, vô biên khắp mười phương.
Mong tất cả tâm an,
Mong tất cả thân lạc,
Tâm an và thân lạc,
Tâm chân thành cầu mong.
Đọc câu này lên phải tha thiết, da diết và hướng vào cảm thọ trong lồng ngực để đọc lên như than thở, tâm mong mỏi, mong cầu, trông mong tất cả tâm chúng sanh đều được an yên, an bình, mong tất cả thân thể hình hài đều được vui khỏe, cầu mong chấm dứt hết tất cả dịch bệnh và sự đau khổ trên toàn thế giới. Phải có lòng cầu mong, ước nguyện bằng tất cả trái tim, bằng tất cả tấm lòng và trải cảm thọ, cảm xúc đó ra rộng khắp hư không, địa cầu, đó là trải bi tâm, nghĩa là làm cho cảm thọ, cảm xúc lan tỏa cùng khắp thế giới.
Mong tất cả thấu hiểu
Vạn vật là vô thường,
Từ bỏ con đường ác,
Quay về với hiền lương.
./.
GIẢNG GIẢI BÀI THIỀN QUÁN
BI VÔ LƯỢNG TÂM 2
–Thích Minh Thành–
Với sự hân hoan, hỷ lạc thấm đượm toàn thân chúng ta và trải rộng vùng trời đất này, không gian bao la này, niềm hỷ lạc của tình thương với một nội tâm buông xả, rộng rãi, bình an, thanh tịnh, tịnh lạc, hân hoan, hoan hỉ trong giây phút hiện tại này. Cảm nhận sâu sắc mỗi hơi thở, cảm nhận sâu sắc toàn bộ cơ thể, cảm nhận sâu sắc sự an lạc, hỷ lạc nhuần thấm khắp châu thân. Tâm an tịnh, lắng dịu và dễ chịu, an tịnh… lắng dịu… dễ chịu và ngọt ngào, tiếp tục trú trong cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu và ngọt ngào này. Chúng ta có một cái tâm xót thương, "tâm bi là tâm bi mẫn, mong sự an lạc, bình an và hạnh phúc đến với chúng sanh. Tâm bi vô lượng này cần phải tu tập để khai mở các cảm giác cảm thọ hiền hòa, hiền thiện, khai mở lòng bi mẫn, tâm hiền lành, diệt trừ những tâm ác, tâm bất thiện, những tâm làm hại mình, làm hại người, hoặc làm hại cả mình lẫn người.
Trước khi bước vào bài tập, hít vào và thở ra nhẹ nhàng 4 lần, đồng thời thầm đọc các câu sau đây nhằm để khơi gợi cho tâm và cảm thọ sanh khởi theo chiều hướng hiền thiện, hiền hòa".
Nhẹ nhàng ơi! (hít vào)
Nhẹ nhàng ơi! (thở ra)
An lạc ơi! (hít vào)
An lạc ơi! (thở ra)
Hiền tâm ơi! (hít vào)
Hiền tâm ơi! (thở ra)
Thiện tâm ơi! (hít vào)
Thiện tâm ơi! (thở ra)
Ta khơi dậy trong ta
Tình thương và hiền tâm
Ta khơi dậy trong ta
Hiền tâm và tình thương.
Tình thương sống trong ta,
Hiền tâm sống trong ta.
Tình thương có trong ta,
Hiền tâm có trong ta.
Ta rộng mở tình thương,
Đến các loài hữu tình,
Ta rộng mở hiền tâm
Đến các loài hữu tình.
Bằng tình thương hữu tình,
Bằng hiền tâm chân thật,
Bằng tấm lòng thương tưởng
Đến tất cả hữu tình
Và thương cả chính mình
Hiện đang còn lặn hụp
Trong sanh tử khổ đau
Trong những tâm ác ý
Muốn làm hại lẫn nhau.
Vì sự đau khổ này
Của ta và hữu tình
Ta thành tâm, tha thiết
Tu tập trải Bi tâm.
Tâm bi là tâm thiện,
Tâm hiền thiện, hiền hòa
Tâm hiền lành, hiền đức,
Tâm hiền phúc, hiền lương.
Tâm vẫn thường nghĩ đến
Những điều thiện, điều hiền
Tâm vẫn thường yêu thích
Làm những việc hiền lương.
Tâm vẫn thường mong muốn
Hạnh phúc đến muôn loài
Tâm vẫn thường tha thiết
Mong mọi loài bình yên.
Kính thưa quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng, nãy giờ chúng ta thực tập thiền quán bi vô lượng tâm để khơi gợi cho tâm và cảm thọ sanh khởi theo chiều hướng hiền thiện, hiền hòa cũng như ôn lại bài thực tập chúng ta đã chia sẻ, hôm nay chúng ta tiếp tục giải thích về bài thực tập bi vô lượng tâm.
"Tâm bi là tâm thiện, tâm hiền thiện, hiền hòa, tâm hiền lành, hiền đức, tâm hiền phúc, hiền lương, tâm vẫn thường nghĩ đến những điều thiện, điều hiền, tâm vẫn thường yêu thích làm những việc hiền lương, tâm vẫn thường mong muốn hạnh phúc đến muôn loài, tâm vẫn thường tha thiết mong mọi loài bình yên", đây là định nghĩa về tâm bi. Tâm bi là tâm thiện, tâm hiền thiện, hiền hòa, hiền lành, hiền đức, hiền phúc, hiền lương, những từ này không phải đơn giản mà dễ hiểu, cũng là hiền nhưng ở nhiều khía cạnh khác nhau. Tâm thiện là tâm lành, tâm thiện lành là tâm luôn hướng đến điều lành, nghĩ gì về người khác cũng theo chiều thiện chứ không theo chiều hướng bất thiện, ví dụ khi đi trên đường thấy có lưỡi lam hoặc miểng chai nếu người có tâm thiện thì tự động người này lượm bỏ qua góc kẹt nào đó để tự thân mình không bị tổn thương hoặc để những người khác đi qua cũng không bị tổn thương, tức là mọi cái thấy, nghe, cảm xúc của người này đều theo chiều thiện lành, khi nghĩ về thầy, về cha mẹ lúc nào cũng nhớ ơn, cảm ơn, nhớ những điều cha mẹ, cô bác, thầy, huynh đệ.. đã làm cho mình chứ người này không nghĩ về điều xấu của cha mẹ, thầy hoặc theo chiều bất thiện của những người thân thương, vì thế trong suy nghĩ đó là suy nghĩ hiền, chữ "hiền trí" trong kinh Nikāya vi tế đến như vậy, tức là khi suy nghĩ về bất kì ai cũng nghĩ về điều tốt của người đó, đó gọi là nghĩ hiền, cái này phải có sự nhận diện ngũ uẩn minh bạch mới tu được tâm hiền. Ngược lại, cha mẹ, ông bà, thầy cô la rầy, quở trách muốn mình tốt lên nhưng mình lại suy nghĩ xấu về cha mẹ, thầy cô khó, cái gì cũng la, không muốn lại gần, những người đó la bằng tình thương, bằng từ tâm muốn giúp mình nên người, muốn mình thành tựu pháp nhưng do tâm không hiền, không thiện nên mình nghĩ theo tiêu cực, chính cái nghĩ đó làm mình rơi vào tâm bất thiện, đó là do mình không tu tâm hiền trong suy nghĩ, chính vì suy nghĩ tiêu cực nên làm mất đi thiện pháp, bất thiện pháp sanh khởi, sau đó tiếp tục suy nghĩ như vậy nữa thì bất thiện càng tăng dần lên thì lúc đó mình không tu nữa, thậm chí có người quay lại phỉ báng thầy hoặc ghét cha mẹ mình, đó là tâm hung dữ nên có những nghiệp quả, quả báo như vậy. Đương nhiên khi suy nghĩ sẽ có những hình ảnh đi chung với nhau, đa số thường nhớ những hình ảnh của người cau có, ghét mình chứ không nhớ những gương mặt từ ái, không nhớ những sự quan tâm trong từng miếng ăn giấc ngủ của cha mẹ mà lại nhớ những sự la mắng, chia tài sản không đều, người nhiều người ít. Như vậy làm cho nghĩ tưởng của mình không hiền thiện nên đi theo tâm hung dữ, bất thiện, từ đó làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình, gây bất hòa trong huynh đệ, không còn tình nghĩa thầy trò, trong thân tộc đi đến chia ly, chia lìa cũng từ tâm không hiền thiện, cho nên tâm hiền này bao trùm hết thế gian và xuất thế gian, từ phàm phu cho đến các bậc hiền Thánh, đây là lý do chúng ta thường nói phải tu tâm hiền. Tâm hiền còn làm không được thì làm sao quán đến vô thường, khổ, vô ngã? Làm sao đi đến chỗ giải thoát, xuất ly các lậu hoặc? Cho nên phải tập nghĩ hiền thiện, hiền lành. Hiền hòa là khi nghĩ, khi nói gì cũng nói bằng tâm hòa hợp, hòa kính, hòa đồng chứ không nói gây bất hòa, một người không tu tâm hiền, không thực tập tâm hiền là nói ra sẽ gây chia rẽ, rạn nứt, gây ra những thọ; tưởng; hành đổ vỡ, từ cư sĩ cho đến xuất gia phải nhìn thấy những điều này, gặp nhau là nói người này người kia với cái tâm "đâm bị thóc, thọc bị gạo", trước khen sau chê, nói những cái xấu dở của người khác làm chia lìa, sanh khởi tâm sân giận, đó là do không tu tập nói lời hiền. Hiền lành, hiền hòa tức là luôn hướng tâm đến sự hòa hợp của đại chúng, hòa hợp trong gia đình, ví dụ bốn anh em trong gia đình nhưng có hai người bất hòa, mình gặp một trong hai người đó thì chắc chắc người này nói xấu người kia, hoặc người kia nói xấu người này cho mình nghe, nếu mình có tu tâm hiền thì phải nói để hòa giải, làm cho hai bên hóa giải bất đồng, hòa thuận với nhau mới là khẩu hiền, miệng hiền.
Từng chữ 'hiền" trong định nghĩa tâm bi có những khía cạnh khác nhau trong sự tu tập, khi nói hiền thiện là khác, hiền hòa là khác, hiền đức là khác, hiền phúc là khác và hiền lương cũng khác, không có cái nào giống cái nào. Đều là hiền nhưng ở nhiều khía cạnh, góc độ của hiền, giống như viên kim cương có nhiều góc cạnh, nhưng góc nào cũng óng ánh, cạnh nào cũng trong suốt, tâm hiền cũng giống vậy, có nhiều khía cạnh của thiện pháp cần tu tập cho nên phải thấy, phải biết lúc đó khía cạnh nào của tâm hiền đang được thể hiện, đó là sự nhận diện năm uẩn. Khi nói về hiền đức nghĩa là âm đức và dương đức, tức là tâm hiền thiện này thể hiện ra ngoài cho người ta thấy biết, cảm nhận được thì đó là dương đức, ai cũng biết người đó tốt nhưng cái tốt của người này là làm mà người khác không biết, không phải đợi đến có người thấy mới làm mà làm âm thầm, thậm chí hy sinh bản thân cho đại chúng, ví dụ thầy Pháp Nghĩa ngồi kiểm tra bài giảng đến 12h đêm hoặc 1h sáng, nếu thầy không nói thì đại chúng không biết thì đó là âm đức, thầy phải hoàn thành những bài pháp để đưa ra cho đại chúng tu học. Công đức, phước đức của mình có hai dạng, một là hiển lộ và một dạng ẩn kín hoặc gọi là âm đức rất lớn, đương nhiên cái hiển lộ cũng có phước nhưng có khi cái đó dễ bị danh lợi, nhiều khi có mặt người ta thì làm hăng hái, năng nổ, đến khi không có ai thì không làm. Ngoài đời có câu "có đức mặc sức mà ăn", có những người tính toán, mưu mô, xảo trá đủ chuyện nhưng nghèo vẫn nghèo, còn người hiền đức, hiền lành sẽ gặp được quý nhân giúp đỡ, trong chùa cũng như ngoài đời có những người hay tính toán, xảo trá, lật lọng, mưu sĩ thì dù có được nhưng cũng không bền, mau chóng tan biến thành mây khói nhưng thường sẽ không được và sẽ nghèo suốt đời, bệnh hoạn khổ sở, còn người chân chánh, chân thật, hiền lành, hy sinh cho mọi người thì người này chắc chắn thành tựu lớn, người này không trông mong danh lợi, thành tựu nhưng thù thắng tự động đến, đó gọi là "có đức mặc sức mà ăn" cho nên sống có đức không cần lo gì cả, chỉ sợ không có đức chứ đừng sợ không có tiền của.
"Người trồng cây Hạnh người chơi
Ta trồng cây Đức để đời về sau".
(Ca dao Việt Nam)
Những câu này tưởng đơn giản nhưng thật ra rất thâm thúy, đó là túi khôn của tổ tiên, là tinh hoa của nhân loại, cho nên cái hiền đức này phải được chăm sóc, tưới tẩm và bảo vệ tâm hiền đức của mình. Không những hiền mà còn phải có đức, tức là cái hiền đó không cần để người ta biết mình hiền, không cần phải thể hiện phô trương, Linh Quy làm những việc từ thiện giúp đỡ người nghèo, những người tật bệnh, không nơi nương tựa nhưng không ai biết, hoặc là phóng sanh cũng tùy duyên chứ không gọi điện đặt hàng để người ta bắt cho mình, thấy là thả tại chỗ, vì thế có những việc phải làm để khuyến thiện đối với mọi người, để mọi người học hỏi theo, bắt chước theo, nhưng có những việc không cần có người mới làm, ví dụ cố Hòa Thượng Thượng Thiện Hạ Hòa ngày xưa là giám đốc học viện ở chùa Ấn Quang, trong đó ngày xưa có Tăng sinh học rất đông nhưng ngày nào cũng thấy toilet sạch bóng nhưng không thấy người lau chùi, có những vị lúc tối đi vệ sinh nghe tiếng chà sàn nhà nhưng không thấy người, những ngày sau đó cũng nghe tiếng sột soạt chà sàn nhà nên để ý đi tìm thì thấy Hòa Thượng đang lau chùi toilet lúc 1-2h đêm vì ban ngày không ai cho ngài làm, đó là đức độ của các bậc cao Tăng, ngài là luật sư, những quyển giới đàn Tăng là do ngài biên soạn ra, ngài có đệ tử là Hòa Thượng Thượng Minh Hạ Thành cũng là luật sư, những vị tu giới luật thì tướng của các ngài rất quang minh tướng hảo, đó là công đức của giới, đó cũng là hiền đức, âm đức, là công đức sâu kín chứ không cần biểu hiện ra cho người khác biết, cố Hòa Thượng Thượng Thanh Hạ Đức sống 95 tuổi, Minh Thành khi đó mới xuất gia được 6 tháng ở quê nên lên chùa Bửu Liên của Hòa Thượng để học, khuya Minh Thành đi vệ sinh 2 giờ đêm thì thấy Hòa Thượng ngồi đọc kinh lễ Phật mà năm đó ngài đã ngoài 80 tuổi nhưng vẫn thức khuya dậy sớm để tu. Có những vị hy sinh thầm lặng, cũng như ngày xưa có một chú tập sự xuất gia ở chùa mình, bây giờ xuất gia thành sư, chú rất thương anh mình vì anh chú bị bệnh thận rất nặng, chú này cắt quả thận của mình để cứu người anh, họ làm những chuyện hiền đức, phước báo rất âm thầm. Vì thế mình phải hiểu có âm đức và dương đức cho nên hiền và đức phải đi chung với nhau, ví dụ đang nấu cơm nhưng tình cờ mình đi ngang chánh điện có người nói quét giùm thì mình lại nói bổn phận mình là nấu cơm chứ không phải quét nhà, có ai rơi vào tình huống này không? Đó là không phải là hiền phúc, hiền phúc là sẵn sàng làm dù không phải bổn phận của mình, vừa hiền vừa biết làm phước, mỗi cái đều vì mọi người. Mình làm trong bếp mà trong kho chứa đồ để gạo hư, nước tương quá hạn sử dụng sẽ làm tổn phước, không những mình tổn phước mà cả đại chúng cũng tổn phước, thầy trụ trì cũng có tội, khi làm trong bếp phải để ý, kiểm tra lương thực, thực phẩm xem hạn sử dụng cái nào dùng trước, cái nào dùng sau để báo lên cho thầy biết, nếu đồ nhiều mà cận date thì có thể cúng dường hoặc chia sẻ cho những nơi thiếu thốn, vùng sâu vùng xa, chỉ một hành động nhỏ là quan tâm như vậy thôi đã trở thành hiền đức, hiền phúc. Mình đi vào toilet phải mở nước đầy thùng, nhưng hình như không ai làm mà để thùng nước cạn kiệt, làm như vậy vừa phòng thủ cho mình cũng vừa giúp cho người khác, nước ở trên núi không phải lúc nào cũng có sẵn như ở thành phố, trong mùa nắng nước chảy yếu có khi không có nước dùng luôn, như vậy làm cái gì cũng phải nghĩ cho mình cho người thì đó là hiền phúc, hiền đức, hiền lương, nếu làm được như vậy thì công đức người này là vô lượng, khi nghe, thấy, tiếp xúc cái gì cũng nghĩ đến lợi ích cho mình cho người. Hôm qua các chú đem lên đồ ăn sáng mà cái dĩa đầy tương ớt thì con không hài lòng, vì nếu không có hiền trí, hiền phúc sẽ không biết làm, nếu có sẽ biết lấy tương ớt vừa đủ để ăn, ít quá thành keo kiệt, nhiều quá thì phung phí vì đây là của tam bảo, nhiều quá ăn không hết phải bỏ thành phung phí, đồ ăn mình đã ăn để người khác ăn cũng không tốt, vì thế trong từng chuyện nhỏ nhặt đó đều phải vận dụng tâm để nhìn vào đó, chứ không phải làm theo dục, theo ý muốn, ai nói thì giận, như vậy quá là phàm phu, người ta chỉ dạy để mình học hỏi, sửa đổi, để trở thành người hiền lành, hiền thiện, hiền phúc, hiền đức, để lợi lạc cho mình trong kiếp này và đời sau. Cứ hễ nói đến là sân lên, bản ngã lên thì làm sao tu được cái tâm hiền lành, hiền đức, hiền phúc? Khi rót chung nước cũng có hiền phúc trong này, trong ly nước này có biết bao tiền gas, củi lửa cho nên rót đầy ly người ta uống không hết đổ bỏ sẽ uổng phí, chỉ cần rót vừa chừng ly thôi. Mỗi việc nhỏ nhiệm đều phải để tâm vào đó, trong lúc người ta đang ngồi thiền hoặc nghe pháp tĩnh lặng mà mình đi kéo lê giày dép phát ra tiếng động, mở cửa ầm ầm thì đó không có hiền, thứ nhất là tự thân mình không có chánh niệm tỉnh giác, thứ hai làm người ngồi thiền bị động niệm, đó là giờ tu học mà mình làm động niệm người khác là mình bị tổn phước, tổn đức.
Tâm đại bi là từ những việc nhỏ từng chút một rồi tích tụ lại mới trở thành tâm xót thương, bao la rộng lớn vạn loại hữu tình, mình để thức ăn mà kiến bu vào thì đem thức ăn ra ngoài nhưng cứ để nguyên như vậy cho nó ăn, đó là hiền thiện, hiền hòa, hiền lành, mình không đói khát, nó lỡ ăn rồi thì hãy để nó ăn, lâu lắm nó mới được bữa tiệc như vậy. Vì thế cần thực tập tâm hiền lành, hiền đức trong từng cái nhỏ nhiệm vi tế như vậy, nấu nướng vừa phải nhưng vẫn đảm bảo sức khỏe cho đại chúng, vừa miệng mọi người, dưỡng sinh an lành là cả một tâm hiền lành, hiền hòa trong đó, mình phụ trách trên thiền đường, sắp xếp bồ đoàn, tọa cụ sạch sẽ, ngay ngắn, đó cũng là tâm hiền phúc, hiền đức. Khi diễn ra những buổi giảng pháp như vầy thì âm thanh, hình ảnh phải tốt đẹp, rõ ràng để đem lên cho mọi người tu học, mình phải nghĩ đến những cái rộng lớn chứ không phải chỉ làm cho xong, không cần biết tốt xấu, lợi lạc ra sao, đó là cái tâm nhỏ hẹp, trong mỗi việc làm đều phải nghĩ đến lợi mình lợi người, lợi hữu tình chúng sanh, lợi toàn thể thế giới thì gọi là đại trí, đại tuệ. Trồng một cây kiểng chỉ nghĩ đẹp cho mình thưởng thức thôi là khác nhưng trồng cây đó để tất cả mọi người về đây đều thấy màu xanh nhẹ nhành, thanh thoát, dễ phát tâm tu học thì việc chăm sóc cây đó sẽ khác, tâm lượng và phước báo cũng khác nhau, dù công việc như nhau nhưng cái tâm chỉ nghĩ cho bản thân sẽ rất khác với tâm nghĩ cho hữu tình chúng sanh, mượn cảnh đẹp để đưa người ta vào Thánh pháp. Tất cả những ý nghĩ đó là hiền thiện, hiền hòa, hiền lành, hiền phúc, trong gia đình nấu cơm chay cho chồng con hoặc làm buổi tiệc chay thì mình cố nấu để mọi người khen nấu ngon, cái đó cũng có lợi ích nhưng nhỏ, còn làm vì tình thương muốn người thân của mình giữ giới sát sanh, phát triển tâm từ, cảm thấy thích thú trong việc ăn chay thì cái nấu nướng đó khác, tâm lượng khác thì phước báo khác, cho nên sự dụng tâm rất quan trọng nhưng phải nhận diện ngũ uẩn mới khéo léo dụng tâm, nếu không chỉ làm trong dục tham, bản ngã, làm để tô điểm cho tôi và của tôi, vì thế cần tu tập tâm bi rộng khắp hữu tình, muôn loài, vạn loại chúng sanh.
Một khi có tâm bi rộng lớn thì cây cỏ, trời mây, sương gió, núi đồi cũng cảm nhận được phước lành của chánh pháp, vì thế người có tâm từ bi, hiền thiện thì đi đến đâu là chỗ đó mát mẻ, an lành, ngọt ngào, dễ chịu đến đó. Có khi vì bản ngã nên mình không nhận tâm từ bi của người ta, người ta muốn mình tốt nhưng mình lại sân, khó chịu cho nên bốn chữ "chấp nhận học pháp" là cực kì quan trọng, chỉ cần chấp nhận học pháp là sẽ từ Hướng Dự Lưu cho đến Nhập Lưu, phải từ bỏ sân si, bản ngã, tâm nhỏ hẹp và thay vào đó là tâm khiêm cung, nhúng nhường, khiêm tốn, khiêm hạ, tâm cảm thông, xót thương, bao dung, lắng nghe, chia sẻ sẽ rất tuyệt vời, trong chúng sẽ không bao giờ có chuyện bất hòa, xung đột. Thật sự xót thương cho mình và cho chúng sanh cho nên đem hết tâm huyết, thời gian, công sức vào pháp học và pháp hành, mình làm cảnh đẹp để mọi người đến thấy thích thú, vui thích nhưng cái đó không phải hạnh phúc chân thật, đem Thánh pháp cho mọi người mới là chân phúc, đó mới là Thánh pháp tối thượng cho nên Thánh pháp không phải là cái thường tình mà là pháp siêu thế, cái đại bi của pháp rất khác biệt, thấy giống như không có gì nhưng thật ra là có, thấy giống như có rất nhiều nhưng không có gì cả. Hạnh phúc thật sự chỉ có khi mình thấy được dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã trong tâm mình, hạnh phúc chỉ có khi mình nhiếp phục được những thứ đó, hạnh phúc thật sự chỉ có được khi mình diệt tận những thứ đó, không phải hạnh phúc là có ngôi chùa to lớn, danh tiếng, địa vị. Đó là con đường của thái tử Tất-đạt-đa đã đi, đó là sự tìm cầu của bậc Thánh và ngày hôm nay chúng ta đang nối bước theo Đức Thế Tôn, mình chấp nhận mình chỉ là hạt cát, là con số không trên đời này để mình được Thánh pháp chấm dứt khổ đau, mình chấp là miếng giẻ rách, chẳng gì là trên cuộc đời này nhưng mình có được con đường, có được đạo lộ diệt tận khổ đau, đó là hạnh phúc tối thượng, là công đức tối thượng, là sự lợi lạc tối thượng, đó là câu trả lời cho câu hỏi tại sao ở đây chỉ có lụp xụp vài cốc nhỏ. Hãy nhớ lại hình bóng Thế Tôn và các chư vị Thánh Tăng trong rừng trúc ngày xưa, dưới gốc cây, khi con đến Ấn Độ ghé thăm hang động của ngài Maha kassapa, ngài Ca-diếp và ngài Anan thì con vô cùng xúc động, đó là một cái hang trên núi Linh Thứu, các ngài sống đời sống thiểu dục tri túc, thực hành hạnh đầu đà. Chúng ta phải thấy hạnh phúc khi chúng ta đang tiếp bước, nối gót theo chân các bậc Thánh đệ tử. Linh Quy Pháp Ấn không có gì hết ngoài Thánh pháp, bao nhiêu đó đủ rồi và mọi người phải thấy hạnh phúc vì điều này, hãy an trú pháp, cúng dường pháp bằng sự chân chánh tu học, và chứng ngộ Thánh pháp, đó là sự cúng dường tối thượng, đó cũng là tâm đại bi rộng lớn của chư Phật và các bậc Thánh chúng.
Tâm vẫn thường nghĩ đến
Những điều thiện, điều hiền
Tâm vẫn thường yêu thích
Làm những việc hiền lương.
Tâm vẫn thường mong muốn
Hạnh phúc đến muôn loài
Tâm vẫn thường tha thiết
Mong mọi loài bình yên.
Lang thang trong sanh tử,
Lành dữ chẳng tỏ tường,
Mượn nghiệp hiền, nghiệp thiện
Làm chỗ để náo nương.
Lang thang trong dòng sống chết này, lành hay dữ chẳng tỏ tường, không biết đâu là thiện, đâu là bất thiện thật sự vì vô minh. Bây giờ gặp được chánh pháp nên mượn nghiệp hiền, nghiệp thiện làm chỗ để trú ẩn, chúng ta phải siêng năng học pháp, siêng năng ngồi thiền quán chiếu, siêng năng làm công quả cho tam bảo, siêng năng làm việc cứu khổ giúp ích mọi người bằng Thánh pháp tối thượng này. Ở đây chỉ có pháp thôi, ngoài ra không có gì nữa cả.
Tử thần thường đón bắt,
Nghiệp lại rất thẳng tay,
Thiện tâm là con đường,
Tái sanh chỗ hiền lương.
Hàng ngàn trẻ em Ấn Độ phải mồ côi vì mất cha mẹ trong dịch bệnh, hàng triệu người trên thế giới chết đi mà không có đất chôn, không có tiền mua củi thiêu xác, chết mà không đủ hòm để chôn. Nghiệp rất thẳng tay, không chừa bất kì ai, không thương người này ghét người kia cho nên phải cẩn thận đối với nghiệp quả, phải tu tâm hiền thiện, bi mẫn để thương mình, thương người và chặn đứng các nghiệp, nếu không ác nghiệp, quả báo không chừa một ai. Ác nghiệp rất tàn nhẫn, nhân quả rất khủng khiếp, quả báo rất đáng sợ, chỉ có thiện tâm là con đường để tái sanh vào chỗ hiền lương. Mình thương mình là phải tu tâm hiền, tu miệng hiền, phải tu những hành vi phước lành, hiền đức, hiền hậu, chính cái đó. mới được tái sanh vào chỗ tốt lành.
"Kẻ thù hại kẻ thù,
Oan gia hại oan gia,
Không bằng tâm hướng tà,
Gây ác cho tự thân".
(Kinh Pháp cú 03 – phẩm Tâm, kệ 42)
Oan gia thật sự, kẻ thù thật sự chính là tâm ác độc, tâm sân hận, tâm nghĩ xấu về người khác, cái đó mới là oan gia thật sự, mới là kẻ thù thật sự. Tâm hiền hòa, hiền hậu, hiền đức, hiền lương này chính là con đường dẫn đi tái sanh đời sau trong cảnh thiện lành, phước báo, an lạc, tâm hung ác, tâm ác ý, hãm hại người là oan gia, là kẻ thù, là kẻ giết hại chúng ta. Những suy nghĩ, cảm xúc, ý tưởng ác, hại, sân hận, thù hằn là kẻ thù của chúng ta, hãy làm cho nó tan biến hoàn toàn trong những cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư của chúng ta, dập tắt, diệt tận nó và làm cho nó hoàn toàn không còn sanh khởi trở lại trong tương lai để mình đi đến chí thiện, thuần thiện, cực thiện, cực hiền, hiền trí, hiền đức, hiền lương.
Để hẹp đường đau khổ,
Để rộng đường bình an,
Ta trải tâm hiền này
Tràn đầy cả thế giới.
Để con đường đau khổ nhỏ lại và chấm dứt, để con đường bình an hạnh phúc được rộng mở nên ta tu tập trải tâm hiền từ, hiền lành tràn đầy khắp hư không giới, vô biên khắp mười phương.
Mong tất cả tâm an,
Mong tất cả thân lạc,
Tâm an và thân lạc,
Tâm chân thành cầu mong.
Đọc câu này lên phải tha thiết, da diết và hướng vào cảm thọ trong lồng ngực để đọc lên như than thở, tâm mong mỏi, mong cầu, trông mong tất cả tâm chúng sanh đều được an yên, an bình, mong tất cả thân thể hình hài đều được vui khỏe, cầu mong chấm dứt hết tất cả dịch bệnh và sự đau khổ trên toàn thế giới. Phải có lòng cầu mong, ước nguyện bằng tất cả trái tim, bằng tất cả tấm lòng và trải cảm thọ, cảm xúc đó ra rộng khắp hư không, địa cầu, đó là trải bi tâm, nghĩa là làm cho cảm thọ, cảm xúc lan tỏa cùng khắp thế giới.
Mong tất cả thấu hiểu
Vạn vật là vô thường,
Từ bỏ con đường ác,
Quay về với hiền lương.
./.