Kinh Chánh Tri Kiến - Tứ Thánh Đế - Tại Sao Có Già Chết
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
TỨ THÁNH ĐẾ TẠI SAO CÓ GIÀ CHẾT
KINH CHÁNH TRI KIẾN
Thích Minh Thành
"-- Này Hiền giả, có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này?
-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri Khổ, tuệ tri Tập khởi của khổ, tuệ tri Đoạn diệt của khổ, tuệ tri Con Đường đưa đến đoạn diệt của khổ, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là Khổ, thế nào là Tập khởi của khổ, thế nào là Đoạn diệt của khổ, thế nào là Con Đường đưa đến đoạn diệt của khổ? Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi khổ ưu não là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ. Chư Hiền, như vậy gọi là Khổ". (Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)
Bát khổ: Sanh là già, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, yêu mà xa lìa là khổ, ghét mà gặp gỡ là khổ, mong muốn mà không được là khổ và cuối cùng sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là khổ. Tóm lại năm thủ uẩn là khổ, đây là câu quan trọng nhất, là câu làm nên lịch sử cho kinh tạng Nikāya. Sanh là khổ, già là khổ bệnh là khổ, chết là khổ, yêu mà xa lìa là khổ, ghét mà gặp gỡ là khổ, mong muốn mà không được đều nằm ở sắc uẩn, như vậy nếu mình chỉ học bảy cái khổ phía trước thì nó đều nằm trong sắc uẩn, không tóm thâu được hết tất cả cơ sở, căn cứ địa của khổ nhưng câu nói Tóm lại năm thủ uẩn là khổ mới làm rực sáng Khổ Thánh Trí, Khổ Thánh Đế của Đức Phật. Yêu thương mà không gặp sẽ có cảm giác khổ, oán ghét mà gặp cũng sẽ có cảm giác khổ, ngoài ra còn có tưởng; hành; thức cho nên hình bóng trong tâm cũng làm mình khổ, suy nghĩ cũng làm mình khổ, nhận thức rõ biết cũng làm mình khổ, nghe cuộc điện thoại là nổi cơn tam bành, từ sự rõ biết âm thanh sanh ra sân hận, như vậy mới lột tả được hết những thứ này là khổ còn nếu chỉ nói bảy cái phía trước sẽ không đầy đủ.
Chính sự nhìn thấy được toàn thể ngũ uẩn qua sự nhận diện ngũ uẩn, thấy được tính chất khổ thì cái khổ này mới triệt để, mới thẩm thấu, mới bao trùm toàn bộ đời sống này, vì ngũ uẩn là nhân sinh và vũ trụ, không có gì nằm ngoài ngũ uẩn, cả quả địa cầu này là sắc uẩn, tất cả tâm tưởng, tâm thức chúng sanh đều là thọ; tưởng; hành; thức, nhưng quan trọng là các pháp này biến hoại, sanh diệt, vô thường. Đây là chỗ sâu sắc để chúng ta thực tập thiền quán, tư duy, bây giờ nóng nực một chút là khổ, đói là khổ, ăn vào no mà không bài tiết được cũng khổ và tất cả những cái khổ đó đặt nền tảng trong thân thể này và trong những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức. Nhưng vấn đề quan trọng là chữ "thủ", chính là sự nắm chặt vào sắc, cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức rõ biết trong tâm, cái nào mình cũng cho là tôi thì đó là thủ, suy nghĩ đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi mà không ngờ đây là những thứ bị tan hoại, biến đổi, hoại diệt cho nên khi thấy nó tươi tắn thì mình vui còn khi nó rã nát thì mình sầu, bi, khổ, ưu, não, vì thế Khổ Thánh Đế trong kinh Nikāya phải thấy rõ cái khổ đó bao trùm cả năm uẩn chứ không phải thấy người đó nghèo khổ không có ăn, người kia bị tai nạn giao thông khổ quá, người nọ bị con cháu bỏ rơi phải đi ăn xin… những cái này chỉ là một phần của sắc uẩn, mình phải nhìn sâu vào trong cảm thọ, suy nghĩ lại quá khứ con cháu bỏ mình như vậy, dằn vặt trong đó, hình bóng ngày xưa mình từng làm chủ gia đình vậy mà bây giờ phải lang thang đầu đường xó chợ rồi thấy ray rứt trong đó, nhìn thấy gia đình người ta êm ấm, con cái họ hiếu thảo thì thấy đau khổ. Thông thường vô văn phàm phu nhìn thấy cái khổ trên một phần sắc uẩn, đại đa số người thấy khổ trên cuộc đời này, ngay cả người tu chưa học năm uẩn, chưa học Khổ Thánh Đế trong tạng kinh Nikāya chỉ thấy khổ trên một phần sắc uẩn, còn lại thọ; tưởng; hành; thức không thấy được nó, chỉ Thánh trí của Đức Phật phân tích, trình bày, minh đạt, hiển lộ thì mình mới thấy được. Hiện tại bên Ấn Độ một ngày trên bốn trăm ngàn ca nhiễm dịch bệnh, hơn ba ngàn người chết, qua đây chúng ta thấy được thây chết chất dài ngay lò hỏa táng không thiêu kịp, thây chết quấn trong tấm vải và chất hàng dài, người hỏa thiêu không có thời gian ngủ, tất cả lò hỏa táng ngay vùng dịch đều bị quá tải, thậm chí bác sĩ vì không chịu nổi áp lực, thấy căng thẳng, thấy người chết trước mặt, thấy đau đớn nên tự tử và người ta nói đó là địa ngục trần gian, chưa bao giờ thấy cảnh như vậy diễn ra. Còn riêng Mỹ, Brazil một tháng có hơn tám trăm ngàn ca nhiễm, như vậy là gần cả triệu người nhiễm, tiếp theo là Cambodia, Thái Lan, Lào… xác người chồng chất, những giọt nước mắt, những sự quằn quại, những sự đau đớn, những sự sanh ly tử biệt chưa bao giờ nhiều đến thế, chưa bao giờ trên thế giới này đường ranh của sự sống chết lại ngắn ngủi đến như thế, chưa bao giờ đường ranh của sanh tử, của sự sống chết lại nhanh chóng đến vậy, đó là sự đau khổ của chỉ riêng một bệnh thôi, chỉ mới một chữ "bệnh" thôi mà đã làm rung chuyển toàn cầu, cho nên trong kinh đã nói "bần khổ đa oán, hoành kết ác duyên" nghĩa là "nghèo khổ hay oán hờn, thường kết ngang duyên ác", đưa người thân vào bệnh viện mà không có gường vì bệnh viện quá tải không nhận bệnh nhân, chưa tìm được chỗ thì người thân đã chết nên người nhà nổi nóng đánh bác sĩ, đánh điều dưỡng, thật sự là đã quá khổ rồi. Chúng ta thấy hình ảnh một bác sĩ Ấn Độ cởi bỏ đồ bảo hộ y tế ra thì toàn thân ướt đẫm mồ hôi, dùng thọ; tưởng; hành quán chiếu nếu mình rơi vào hoàn cảnh đó sẽ như thế nào? Chúng ta đã thấy cảnh tượng đó bên Ấn Độ nhưng chúng ta vẫn trơ trơ, cứ nghĩ đó là chuyện bên đó chứ chưa tới mình rồi sống trong buông lung phóng dật, vẫn vui cười, vẫn ăn chơi mà không thấy cái khổ đang ở gần bên mình, cái vô minh, tham ái của chúng sanh rất khủng khiếp, cho đến khi vô thường xảy ra trên chính bản thân mình vẫn chưa tỉnh ngộ chứ đừng nói gì việc nó xảy ra ở người khác, ở nơi khác. Trong kinh Đức Phật ví dụ về bốn hạng ngựa cho bốn hạng người.
"Có bốn loài ngựa hiền thiện thuần thục này, này các Tỳ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa liền bị dao động, kích thích nghĩ rằng: 'Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì, và ta đáp ứng thế nào?' Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là loại ngựa hiền thiện thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là loại ngựa hiền thiện thuần thục thứ nhất, có mặt, hiện hữu ở đời.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích. Nhưng khi bị gậy thúc ngựa đâm vào lông, nó liền bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: 'Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì, và ta đáp ứng thế nào?' Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục thứ hai, có mặt, hiện hữu ở đời.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích. Khi bị gậy thúc ngựa đâm vào lông, nó không bị dao động, kích thích. Nhưng khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, liền bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: 'Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì và ta đáp ứng thế nào?' Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục thứ ba, có mặt, hiện hữu ở đời.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào lông, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào xương, bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: 'Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì và ta đáp ứng thế nào?' Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục thứ tư, có mặt, hiện hữu ở đời.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, có bốn hạng người hiền thiện, thuần thục này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người hiền thiện, thuần thục nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay bị mạng chung; người ấy do vậy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân, vị ấy chứng ngộ được tối thắng sự thật; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỳ-kheo, con ngựa hiền thiện, thuần thục ấy, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, bị dao động kích thích, Ta nói rằng, này các Tỳ-kheo, con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy.
Ở đây có hạng người hiền thiện, thuần thục không có nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị đau khổ hay bị mệnh chung, nhưng khi tự mình thấy người đàn bà hay người đàn ông khổ đau hay mệnh chung, người ấy do vậy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân, vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỳ-kheo, con ngựa hiền thiện thuần thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào da, bị dao động, kích thích, Ta nói rằng, này các Tỳ-kheo, con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện, thuần thục không có nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay bị mệnh chung, không có tự mình thấy người đàn bà hay người đàn ông khổ đau hay mệnh chung. Nhưng, khi có một người bà con hay người đồng một huyết thống khổ đau hay bị mệnh chung, người ấy do vậy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỳ-kheo, con ngựa hiền thiện thuần thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, bị dao động, kích thích, Ta nói rằng, này các Tỳ-kheo, con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện thuần thục không có nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay mệnh chung, không có tự mình thấy người đàn bà hay người đàn ông khổ đau hay bị mệnh chung, không có người bà con hay người đồng một huyết thống khổ đau hay bị mệnh chung. Nhưng khi tự mình cảm xúc những cảm thọ về thân khổ đau, nhói đau, chói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không phải khả hỷ, không khả ý, đoạt mạng sống, vị ấy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân, vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỳ-kheo, con ngựa hiền thiện thuần thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào xương mới bị dao động, kích thích, Ta nói rằng, này các Tỳ-kheo, con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy". (Tăng Chi Bộ, chương IV - Bốn Pháp, XII. Phẩm Kesi, (III) Gậy Thúc Ngựa)
Đức Phật nói có bốn hạng ngựa:
Hạng ngựa thứ nhất chỉ cần thấy bóng roi là đã chạy, như người vừa nghe nhắc rằng có ai đó mệnh chung liền tỉnh ngộ tu tập và đạt kết quả tốt.
Hạng ngựa không sợ bóng roi, chỉ sợ gậy (có đóng đinh nhọn) thúc vào mông, giống như người vừa thấy ai đó mệnh chung, liền tỉnh ngộ, tinh cần tu tập và đạt kết quả tốt.
Hạng ngựa đợi gậy đâm vào thịt mới sợ, như hạng người khi tận mắt thấy thân nhân mình mệnh chung, liền tỉnh ngộ, tinh cần tu tập và đạt kết quả tốt.
Hạng ngựa đợi đến lúc gậy thúc thấu xương mới sợ, như hạng người khi tự thân bị bệnh khổ mới tỉnh ngộ, tinh cần tu tập và đạt kết quả tốt.
Vì thế trong sự tu không đơn giản cạo đầu đắp y là xong mà tâm thức chúng ta rất khủng khiếp, khi học nhận diện năm uẩn từ từ rồi chúng ta sẽ thấy bản ngã bên trong rất ghê gớm, tham ái sâu dày vô cùng nên dù có học kinh, nghe giảng nhưng xong rồi thì thôi, đó là chuyện người khác không phải chuyện của mình, vì thế sự tu đòi hỏi rất nhiều nỗ lực, cố gắng.
"Chư Hiền, thế nào là Tập khởi của khổ? Chính là ái đưa đến tái sanh, cùng khởi hỷ dục và tham hướng đến tái sanh, cùng khởi hỷ dục và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Chư Hiền, như vậy gọi là Tập khởi của khổ". (Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)
Tức là nguyên nhân của khổ chính là ái đưa đến tái sanh. Như thế nào là ái đưa đến tái sanh? Khi nhìn vào gương thấy hình ảnh mình hiện ra có con mắt thì mình nghĩ nó là tôi, là của tôi, mình yêu quý con mắt này, đó chính là ái. Khi chúng ta nhìn thấy lỗ tai cũng cho rằng nó là tôi, là của tôi, khi thấy lỗ mũi thì cho rằng nó là tôi, là của tôi, khi thấy bàn tay thì cho rằng bàn tay này là tôi, là của tôi, nhìn xuống bàn chân thì bàn chân này là tôi, là của tôi, khi ngắm hình bóng mình trong gương hoặc tấm hình mình chụp đều thấy thích thú, yêu thích, hài lòng, đó chính là ái đối với sắc uẩn này và chính cái ái, yêu thích gương mặt, hình hài, vóc dáng này, yêu thích cơ thể, thể xác, sắc thân, sắc tướng này là ái đưa mình đi đến tái sanh, cho nên đời sau phải có ra một cái thân nhưng không biết đó là thân gì vì còn tùy thuộc vào nghiệp thiện hoặc ác, có thể là thân rắn rết, muỗi mòng, trâu, bò, gà, heo… có thể là thân cô hồn, ngạ quỷ, quỷ đói, có thể là tấm thân bần hèn, đui, điếc, cùi, hủi, bị bệnh Down, chất độc màu da cam, có thể là tấm thân của con người lành lặn bình thường hoặc cũng có thể là tấm thân phước báo của chư Thiên. Cái ái đó đưa đến tái sanh cùng với hỷ tham, tức là vui mừng, hân hoan, đi tìm chỗ này chỗ kia và chính cái ái đó dẫn vào tái sanh, đây là chỗ sâu sắc để chúng ta biết được sự giải thoát thật sự của đạo Phật là gì. Mình nhìn vào chiếc xe của mình rồi thấy nó là của mình, vào ở tạm căn phòng một thời gian nhưng vẫn thấy căn phòng đó là của mình cho nên tâm này là tâm mê, chạm vào cái gì là dính mắc cái đó, tiếp xúc cái gì là chấp thủ, buộc chặt cái đó. Mình thích đi chơi chỗ này chỗ kia là đang đi tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, đó là cảm giác thúc giục muốn đi, muốn được tiếp xúc người này người kia, rồi suy nghĩ nhớ nhung, đó là ái đưa đến tái sanh. Những hình bóng ám ảnh trong tâm, người thích xe thì hình ảnh chiếc xe mình thích ám ảnh trong tâm, người thích chùa, thích nhà thì hình bóng ngôi nhà, ngôi chùa đó ám ảnh trong tâm, đi đâu cũng lo, bỏ nhà lâu không được, phải về trông chùa, mình thích món đồ nào đó thì món đồ đó ám ảnh trong tâm, mình thích người nào đó thì hình bóng người đó ám ảnh trong tâm, nó sẽ thường xuyên ẩn hiện, xâm chiếm, áp đảo, chế ngự toàn bộ thân tâm, đó là ái. Một khi đã yêu thích sẽ tìm kiếm, thích xe thì sưu tầm xe nếu có tiền, còn không có thì lên mạng xem, treo poster ngắm đỡ nghiền, thích người thì chạy theo người, thích cảnh thì làm dân phượt đi hết chỗ này đến chỗ khác, đó là dục, một sự thúc giục, đòi hỏi, khao khát, thèm muốn, ước mơ. Nhưng muốn được rồi vẫn không dừng lại mà muốn thêm nữa, đó là tham. Chính dục, tham, ái làm mình khổ triền miên, chạy đi tìm hết cái này đến cái nọ, tâm bị bất an, dao động, không yên định được, ngồi lại là những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác quậy phá, độc cư thiền định một mình không được, chạy tìm món ăn là đoàn thực, chạy tìm sự tiếp xúc người này người kia, cảnh nọ cảnh nọ là xúc thực, ngồi lại là suy nghĩ cái này cái kia là tư niệm thực, tâm bị dao động vì những cảm giác yêu thích, tham muốn, đó là Khổ - Tập Thánh Đế. Cho nên toàn bộ giáo pháp của Phật là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham, đó là Đạo Đế, đó là con đường đi đến chấm dứt khổ đau là Khổ - Diệt Đạo Thánh Đế. Bát Chánh Đạo là sự thấy đúng về thân tâm ngũ uẩn này, thấy đúng về sắc; thọ; tưởng; hành; thức do tứ đại tạo thành, không phải là tôi, không phải của tôi vì một khi không thấy đúng, cho sắc, cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, rõ biết là tôi thì đó là tà kiến, thân kiến, khi đã thấy sai thì suy nghĩ sai, làm sai, nói sai, sống sai, có siêng năng làm gì đi nữa cũng là tà tinh tấn, quán sai, suy xét sai, dù cho có định tâm cái gì đi nữa, tứ thiền bát định đi nữa cũng là tà định vì những cái đó đều phát huy cho bản ngã, sự chấp thủ trong năm uẩn. Nếu nhìn thấy sắc thân này là tôi, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức này là tôi thì tu bất cứ cái gì cũng không phải là Thánh đạo, cho đến khi nào vị Đa văn Thánh đệ tử nhìn thấy sắc này không phải là tôi, tổ hợp ba cảm thọ không phải là tôi, những hình bóng trong tâm không phải là tôi, nó là pháp duyên sanh, những suy nghĩ không phải là tôi, những nhận thức, rõ biết của sáu thức này không phải là tôi, nó là pháp duyên sanh, pháp hữu vi, do làm ra nên vô thường, khổ, vô ngã thì lúc đó mới thành tựu sự thấy đúng của chánh kiến. Từ sự thấy đúng này mới bắt đầu tu tập, còn không thấy đúng thì dù cho có ngồi thiền cũng không phải là thiền định của Phật giáo vì khi ngồi mà khởi lên bất kì suy nghĩ gì cũng cho suy nghĩ đó là tôi, xả thiền ra là làm theo suy nghĩ đó, dự tính đó thì mình đang đi theo hành uẩn, hoặc ngồi thiền mà tưởng tượng đủ thứ rồi đi theo nó là tưởng uẩn, ngồi mà có cảm giác an lạc, thanh thoát là mình chấp vào cảm thọ đó cho rằng mình đã chứng được cái gì rồi nên mới có cảm giác nhẹ nhàng này, vậy là dính mắc toàn bộ trong năm thủ uẩn cho nên đây là tổng cương lĩnh thâm sâu gốc rễ của Thánh pháp. Mình nhìn lại hằng ngày đều bị dính hết vào năm thủ uẩn này, mình bị dục, tham, ái chinh phục, điên đảo trong đó vì mình không có sự nhận diện năm uẩn thường xuyên, ví dụ mình đang ngồi mà có suy nghĩ "tôi đang ngồi", vậy là thất bại rồi, đó là tà kiến, không đi đúng theo Bát Chánh Đạo, phải nghĩ rằng tứ đại đang ngồi, sắc pháp đang ngồi, đống bao tử, phèo phổi, gan, lá lách… đang ngồi chứ không có cái tôi nào đang ngồi ở đây thì đó mới là thấy đúng. Phải tu từ trong suy nghĩ, chỉ cần suy nghĩ sai thì hoàn toàn những gì mình tu đều không đúng, mà suy nghĩ đúng này xuất phát từ thấy đúng vì không thấy đúng thì không suy nghĩ đúng, cái thấy đúng này từ nghe chánh pháp.
Có hai nhân duyên để sanh khởi lên chánh kiến là nghe pháp người đã thấy đúng, bậc thành tựu chánh kiến và thứ hai là Như lý tác ý, sau khi nghe phải về quán chiếu, suy tư, nghiền ngẫm theo lời nói đó sẽ sanh khởi ra chánh kiến. Nếu mình gặp người hướng dẫn ưa thích sắc, khuyến khích mình chạy theo sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì tu vĩnh viễn cũng không thể giải thoát vì cứ lòng vòng trong năm thủ uẩn. Năm thủ uẩn là khổ, tu là để thấy được nó là khổ, từ đó mới thoát ra khỏi nó, nhưng bây giờ tu lại phát huy sắc uẩn, chạy theo sắc tướng, chạy theo vẻ đẹp bề ngoài thì làm sao mình hết khổ? Phật tử gặp mình khen "Thầy tu tướng hảo quang minh, sáng ngời" vậy là mình thích, đó là ái, là sự yêu thích sắc thân này, cảm giác lúc đó là khoan khoái, hình bóng hiện ra trong tâm là thích, suy nghĩ "mình cũng không đến nỗi nào" là hành uẩn, mình nghe tiếng khen là rõ biết, vậy là mình bị sập bẫy của tự ngã, chấp ngã, chỉ với một câu khen ngợi là mình đã rơi vào bẫy, không phải chuyện đơn giản cho nên tu theo đúng chánh pháp của Phật thì xin thưa mọi người không phải chuyện đơn giản mà phải cực kì để tâm, tha thiết, chân thành, chánh niệm tỉnh giác liên tục và thường xuyên trong mọi hành động, suy nghĩ, lời nói. Khi nghĩ về mình thì tác ý "chỉ là tứ đại, không có 'mình' nào trong đây, tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tùy phế thận, hoành cách mô… là địa đại, mủ máu, đàm giải là thủy đại, ba mươi hai thứ dơ bẩn này, một lớp xương da, phân và nước tiểu thì có gì là tôi, có gì là của tôi". Mỗi lần mình tác ý, suy nghĩ, nhắc nhở bản thân, quán chiếu, tư duy thì từ từ bên trong suy nghĩ sai từ trước đến giờ sẽ được giảm xuống, chánh kiến được tăng lên, khi nghĩ như vậy sẽ thấy chán chê, ê chề, ngao ngán, "mới hôm qua cự cãi, đánh nhau vậy mà hôm nay là đống tro tàn", mỗi lần tác ý như vậy thì suy nghĩ, cảm giác, hình bóng của mình được chánh kiến dẫn đường làm chánh kiến tăng trưởng, phát triển lớn mạnh để đánh đuổi tà kiến, đó là Thánh đạo, là con đường chấm dứt khổ đau, vì vậy Minh Thành luôn nhắc nhở đại chúng phải thường xuyên nhận diện ngũ uẩn, nhìn lại thân thể lúc này đang như thế nào, đang có cảm giác gì, suy nghĩ, hình bóng gì, suy nghĩ đó có dục, tham ái, sân không, nếu có phải thấy, khi thấy phải tác ý đánh đuổi, diệt trừ nó, đó là sự tu, đó là siêng năng tinh cần, tinh tấn trong Bát Chánh Đạo. Một khi cái nhìn thấy không đúng về thân tâm thì tất cả suy nghĩ, nói, làm, đời sống dù cho đạt được tứ thiền bát định thì cái định đó cũng ở trong bản ngã của phàm phu, không phải Thánh chánh định của đạo Phật. Chúng ta cần để ý Thánh tri kiến, chánh tri kiến, Thánh chánh định là từ chỗ nhìn thấy năm uẩn không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi thì cái đó mới dẫn đường cho tất cả sự tu hành phía sau, vì không thấy đúng thì tất cả những gì mình làm đều rơi vào phàm phu trong vô minh, tham ái, bản ngã, dục, sân.
"Cùng khởi hỷ dục và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia", tìm cầu vui sướng chỗ này chỗ kia "tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái", đây chính là tam giới, yêu thích dục nên sanh trong thế giới của dục (dục giới). Chúng sanh trong thế giới này, yêu thích hành động dục thì gọi là dục ái, chữ "dục" này không phải chỉ là tình dục mà còn là năm dục trưởng dưỡng, đó là dục ăn, dục chơi, dục nói, dục danh lợi… rất nhiều thứ. Có một số người chưa hiểu thấu cứ nghĩ mình rày đây mai đó là thoải mái, đi chỗ này chỗ nọ để hiểu biết nhưng thật chất dục đang dẫn dắt mình, dục lang thang không làm tâm mình yên trụ để tu. Vì thế tâm thức chúng sanh rất ghê gớm, nếu không nhận diện năm uẩn, không được hướng dẫn chân chánh, sâu sắc thì tu không có ngày giải thoát, thật sự không biết đường ra vì cứ đi lòng vòng trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tâm mê cứ lẩn quẩn trong đó thì làm sao thoát ra được? Chỉ riêng một chữ "sắc" thôi đã giết chết mình cả cuộc đời, hết nhà cửa, tiền bạc, chùa chiền đến đất đai, xe cộ, danh lợi lại đến tình cảm, tình thân, mình đồng hóa mình với những cảm giác, suy nghĩ vì suy nghĩ nào khởi lên cũng cho là "tôi nghĩ", một cảm giác vui sanh khởi lên thì "tôi đang vui", "tôi đang sướng" hoặc có cảm giác khó chịu thì "tôi đang bực", cái gì khởi lên cũng cho là tôi, tao, mình. Đó là tà tri kiến, đó là thân kiến, là chấp ngã, làm phát sanh ra dục, tham, ái, sân hận và khổ đau. Minh Thành chia sẻ hết lòng cho quý huynh đệ có thể nắm được giáo pháp để mình học, mình tu theo đúng con đường của Đức Phật.
"Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri Khổ như vậy, tuệ tri Tập khởi của khổ như vậy, tuệ tri Đoạn diệt của khổ như vậy, tuệ tri con Đường đưa đến đoạn diệt của khổ như vậy, khi ấy vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên... (như trên)... và thành tựu diệu pháp này". (Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)
Nếu tu tập được đúng như vậy thì đoạn trừ được tham, sân, si, đoạn trừ được sự chấp ngã, vô minh và làm cho minh sanh khởi, nhổ tận gốc rễ sự kiêu mạn.
(Già và chết)
"Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này Thánh đệ tử... (như trên)... thành tựu diệu pháp này?
-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri già chết, tuệ tri tập khởi của già chết, tuệ tri đoạn diệt của già chết, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của già chết, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến,... (như trên)... và thành tựu diệu pháp này". (Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)
Tuệ tri chính là biết bằng trí tuệ, còn cái biết trên suy nghĩ, nói ngoài miệng, biết trên tưởng tượng là khác. Biết bằng trí tuệ là đi vào cảm thọ, cảm giác sâu sắc không bao giờ quên, không bao giờ mất, biết một cách xác quyết không thay đổi. Lúc nào cũng thấy là khổ và mãi mãi thấy khổ, không thay đổi cái thấy biết đó thì gọi là tuệ tri chứ không phải lúc thấy khổ, lúc lại thấy vui. Lúc nào cũng thấy sắc pháp là đống khổ đau không hơn không kém, dù cho sắc đó đẹp cỡ nào đi nữa cũng chỉ là sanh, già, bệnh, chết, tham, sân, si, vô minh và chấp ngã. Biết bằng trí tuệ già chết, biết bằng trí tuệ nguyên nhân già chết, biết bằng trí tuệ sự chấm dứt của già chết và biết bằng tri tuệ con đường đưa đến sự chấm dứt già chết.
"Chư Hiền, thế nào là già chết, thế nào là tập khởi của già chết, thế nào là đoạn diệt của già chết, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của già chết? Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào, trong từng mỗi loại hữu tình, sự già cả, suy lão, rụng răng, tóc bạc da nhăn, tuổi thọ ngày một hao mòn, bại hoại các căn; chư Hiền, như vậy gọi là già". (Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)
Cơ thể rệu rã, ngồi dậy phải có người đỡ, nằm trên chính đống phân và nước tiểu của mình, nằm như đời sống thực vật, ăn không được mà phải xay thức ăn ra đổ vào ống đưa vào tận thực quản, đưa ống thông nước tiểu, những khối u, ung hạch, ung nhọt hiện rõ ra, da vàng bụng chướng, ung thư gan, ung thư máu, ung thư não… cơ thể tàn tạ, hoại diệt. Các bậc Thánh nói vắn tắt nhưng khi đọc mình phải quán chiếu, suy ngẫm mới hiểu được, các vị ngày nào cũng thiền quán hiểu rõ nên nói tắt còn mình đọc phớt qua sẽ không có cảm thọ. Các căn bại hoại là mắt mờ, tai điếc, lưng còng gối mỏi, nằm một chỗ nhức nhối, có một bà mẹ gặp hỏa hoạn phỏng toàn thân, nằm bất động trên gường bệnh trong khi đứa con gái mới mười hai tuổi đã phải chứng kiến mẹ mình đau đớn vì hoại tử, giòi tuôn ra. Vô số nỗi khổ trên đời này, vô số chứng bệnh con người phải chịu đựng, phải tư duy nghiền ngẫm mới thấy cái đau khổ thật sự của bệnh tật, đừng để đến khi bệnh mới tu sẽ không kịp nữa.
"Chư Hiền thế nào là chết? Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào trong từng mỗi loại hữu tình, sự mệnh một, từ trần, hủy hoại, hoại diệt, tử biệt, mệnh chung, hủy hoại các uẩn, vất bỏ hình hài; chư Hiền, như vậy gọi là chết". (Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)
Thân này không bao lâu sẽ vùi sâu đáy mộ, như cây khô khúc gỗ, bị vứt bỏ vì vô tri.
"Không bao lâu thân này,
Sẽ nằm dài trên đất,
Bị vất bỏ, vô thức,
Như khúc cây vô dụng".
(Kinh Pháp cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 41)
"Thành này làm bằng xương,
Quét tô bằng thịt máu,
Ở đây già và chết,
Mạn, lừa đảo chất chứa".
(Kinh Pháp cú 11 – Phẩm Già, kệ 150)
"Già như vậy và chết như vậy, chư Hiền, như vậy gọi là già chết. Từ sự tập khởi của sanh, có sự tập khởi của già chết, từ sự đoạn diệt của sanh, có sự đoạn diệt của già chết". (Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)
Tại sao có già chết? Tại vì có sanh, nguyên nhân của già chết vì có sanh. Tại sao có sanh? Do có ái nên có sanh, ái con mắt, ái lỗ mũi, ái bờ vai, đôi môi, ái ruột gan, phèo phổi, xương da, ái đống phân và nước tiểu, xương da này… đó là nguyên nhân sanh khởi ra đời sống này, thân xác này, chính từ việc có sanh nên có tử, như vậy muốn cho không già chết thì đừng sanh nữa, muốn không sanh nữa thì nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham, đó là con đường vô sanh bất tử. Nhiếp phục cảm thọ dục, tham, ái đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc của cuộc đời này; nhiếp phục dục, tham, ái đối với đất đai, tiền bạc, chùa chiền, danh lợi; nhiếp phục dục, tham, ái đối với thân xác này, đối với những cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm, thấy có tham ái là nhiếp phục, diệt trừ, đoạn tận, từ bỏ thì đó là con đường bất tử, là Thánh pháp vô sanh của Niết-bàn. Chúng ta cần nắm vững đạo lộ này, nắm vững những phương pháp này, giáo pháp này để chúng ta đi đúng đường của Đức Phật, nếu không chúng ta không biết gì cả, Phật đi lối này mà chúng ta lại đi nẻo khác, cần phải nắm vững con đường nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham.
"Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của già chết, tức là: Chánh Tri kiến... (như trên)... Chánh Ðịnh". (Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)
Thấy đúng về sự già chết và đau khổ, thấy đúng về nguyên nhân có ra già chết là sự sanh, thấy đúng về nguyên nhân sự sanh là do có dục, tham, ái. Tinh tấn nỗ lực siêng năng trong sự quán chiếu những cái làm sanh khởi ra dục, tham, ái, vô minh, chấp ngã cần nhiếp phục và diệt tận nó, những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng nào chứa đựng dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã phải đập tan, tẩy sạch, đó là mở cánh cửa bất tử, là con đường vô sanh, đó là đạo lộ mà tất cả các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thuở xưa đã đi qua và bậc Thích-ca Mâu-ni cũng đã đi qua, tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác trong thời tương lai cũng sẽ đi qua con đường Bát Chánh Đạo này.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con đường cũ, đạo lộ cũ ấy do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua? Ðây chính là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến... chánh định. Con đường ấy, này các Tỳ-kheo, là con đường cũ, đạo lộ cũ do các bậc Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua. Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ già chết; Ta thấy rõ già, chết tập khởi; Ta thấy rõ già chết đoạn diệt; Ta thấy rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt.
Ta đã đi theo con đường ấy. Đi theo con đường ấy; Ta thấy rõ sanh... Ta thấy rõ hữu... Ta thấy rõ thủ... Ta thấy rõ ái... Ta thấy rõ thọ... Ta thấy rõ xúc... Ta thấy rõ sáu xứ... Ta thấy rõ danh sắc... Ta thấy rõ thức...
Ta đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ các hành; Ta thấy rõ các hành tập khởi; Ta thấy rõ các hành đoạn diệt, Ta thấy rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt.
Cái được Ta biết rõ, Ta đã tuyên bố cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ được biết. Này các Tỳ-kheo, tức là Phạm hạnh này, phồn vinh, thịnh vượng, quảng đại, chúng đa, người nhiều và được chư Thiên, loài Người khéo léo trình bày". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, V. Thành Ấp)
Nhận diện năm uẩn và thực hành ba pháp là hai phần tuyệt đối quan trọng của người tu, nắm vững được hai phần này thì đi vào pháp học, pháp hành sẽ dễ dàng và rõ ràng hơn, còn không nắm được thì khi vào học hoặc khi thực hành chúng ta sẽ không biết gì cả, không có nền tảng, đầu mối để học và hành.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.
TỨ THÁNH ĐẾ TẠI SAO CÓ GIÀ CHẾT
KINH CHÁNH TRI KIẾN
Thích Minh Thành
"-- Này Hiền giả, có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này?
-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri Khổ, tuệ tri Tập khởi của khổ, tuệ tri Đoạn diệt của khổ, tuệ tri Con Đường đưa đến đoạn diệt của khổ, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là Khổ, thế nào là Tập khởi của khổ, thế nào là Đoạn diệt của khổ, thế nào là Con Đường đưa đến đoạn diệt của khổ? Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi khổ ưu não là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ. Chư Hiền, như vậy gọi là Khổ". (Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)
Bát khổ: Sanh là già, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, yêu mà xa lìa là khổ, ghét mà gặp gỡ là khổ, mong muốn mà không được là khổ và cuối cùng sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là khổ. Tóm lại năm thủ uẩn là khổ, đây là câu quan trọng nhất, là câu làm nên lịch sử cho kinh tạng Nikāya. Sanh là khổ, già là khổ bệnh là khổ, chết là khổ, yêu mà xa lìa là khổ, ghét mà gặp gỡ là khổ, mong muốn mà không được đều nằm ở sắc uẩn, như vậy nếu mình chỉ học bảy cái khổ phía trước thì nó đều nằm trong sắc uẩn, không tóm thâu được hết tất cả cơ sở, căn cứ địa của khổ nhưng câu nói Tóm lại năm thủ uẩn là khổ mới làm rực sáng Khổ Thánh Trí, Khổ Thánh Đế của Đức Phật. Yêu thương mà không gặp sẽ có cảm giác khổ, oán ghét mà gặp cũng sẽ có cảm giác khổ, ngoài ra còn có tưởng; hành; thức cho nên hình bóng trong tâm cũng làm mình khổ, suy nghĩ cũng làm mình khổ, nhận thức rõ biết cũng làm mình khổ, nghe cuộc điện thoại là nổi cơn tam bành, từ sự rõ biết âm thanh sanh ra sân hận, như vậy mới lột tả được hết những thứ này là khổ còn nếu chỉ nói bảy cái phía trước sẽ không đầy đủ.
Chính sự nhìn thấy được toàn thể ngũ uẩn qua sự nhận diện ngũ uẩn, thấy được tính chất khổ thì cái khổ này mới triệt để, mới thẩm thấu, mới bao trùm toàn bộ đời sống này, vì ngũ uẩn là nhân sinh và vũ trụ, không có gì nằm ngoài ngũ uẩn, cả quả địa cầu này là sắc uẩn, tất cả tâm tưởng, tâm thức chúng sanh đều là thọ; tưởng; hành; thức, nhưng quan trọng là các pháp này biến hoại, sanh diệt, vô thường. Đây là chỗ sâu sắc để chúng ta thực tập thiền quán, tư duy, bây giờ nóng nực một chút là khổ, đói là khổ, ăn vào no mà không bài tiết được cũng khổ và tất cả những cái khổ đó đặt nền tảng trong thân thể này và trong những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức. Nhưng vấn đề quan trọng là chữ "thủ", chính là sự nắm chặt vào sắc, cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức rõ biết trong tâm, cái nào mình cũng cho là tôi thì đó là thủ, suy nghĩ đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi mà không ngờ đây là những thứ bị tan hoại, biến đổi, hoại diệt cho nên khi thấy nó tươi tắn thì mình vui còn khi nó rã nát thì mình sầu, bi, khổ, ưu, não, vì thế Khổ Thánh Đế trong kinh Nikāya phải thấy rõ cái khổ đó bao trùm cả năm uẩn chứ không phải thấy người đó nghèo khổ không có ăn, người kia bị tai nạn giao thông khổ quá, người nọ bị con cháu bỏ rơi phải đi ăn xin… những cái này chỉ là một phần của sắc uẩn, mình phải nhìn sâu vào trong cảm thọ, suy nghĩ lại quá khứ con cháu bỏ mình như vậy, dằn vặt trong đó, hình bóng ngày xưa mình từng làm chủ gia đình vậy mà bây giờ phải lang thang đầu đường xó chợ rồi thấy ray rứt trong đó, nhìn thấy gia đình người ta êm ấm, con cái họ hiếu thảo thì thấy đau khổ. Thông thường vô văn phàm phu nhìn thấy cái khổ trên một phần sắc uẩn, đại đa số người thấy khổ trên cuộc đời này, ngay cả người tu chưa học năm uẩn, chưa học Khổ Thánh Đế trong tạng kinh Nikāya chỉ thấy khổ trên một phần sắc uẩn, còn lại thọ; tưởng; hành; thức không thấy được nó, chỉ Thánh trí của Đức Phật phân tích, trình bày, minh đạt, hiển lộ thì mình mới thấy được. Hiện tại bên Ấn Độ một ngày trên bốn trăm ngàn ca nhiễm dịch bệnh, hơn ba ngàn người chết, qua đây chúng ta thấy được thây chết chất dài ngay lò hỏa táng không thiêu kịp, thây chết quấn trong tấm vải và chất hàng dài, người hỏa thiêu không có thời gian ngủ, tất cả lò hỏa táng ngay vùng dịch đều bị quá tải, thậm chí bác sĩ vì không chịu nổi áp lực, thấy căng thẳng, thấy người chết trước mặt, thấy đau đớn nên tự tử và người ta nói đó là địa ngục trần gian, chưa bao giờ thấy cảnh như vậy diễn ra. Còn riêng Mỹ, Brazil một tháng có hơn tám trăm ngàn ca nhiễm, như vậy là gần cả triệu người nhiễm, tiếp theo là Cambodia, Thái Lan, Lào… xác người chồng chất, những giọt nước mắt, những sự quằn quại, những sự đau đớn, những sự sanh ly tử biệt chưa bao giờ nhiều đến thế, chưa bao giờ trên thế giới này đường ranh của sự sống chết lại ngắn ngủi đến như thế, chưa bao giờ đường ranh của sanh tử, của sự sống chết lại nhanh chóng đến vậy, đó là sự đau khổ của chỉ riêng một bệnh thôi, chỉ mới một chữ "bệnh" thôi mà đã làm rung chuyển toàn cầu, cho nên trong kinh đã nói "bần khổ đa oán, hoành kết ác duyên" nghĩa là "nghèo khổ hay oán hờn, thường kết ngang duyên ác", đưa người thân vào bệnh viện mà không có gường vì bệnh viện quá tải không nhận bệnh nhân, chưa tìm được chỗ thì người thân đã chết nên người nhà nổi nóng đánh bác sĩ, đánh điều dưỡng, thật sự là đã quá khổ rồi. Chúng ta thấy hình ảnh một bác sĩ Ấn Độ cởi bỏ đồ bảo hộ y tế ra thì toàn thân ướt đẫm mồ hôi, dùng thọ; tưởng; hành quán chiếu nếu mình rơi vào hoàn cảnh đó sẽ như thế nào? Chúng ta đã thấy cảnh tượng đó bên Ấn Độ nhưng chúng ta vẫn trơ trơ, cứ nghĩ đó là chuyện bên đó chứ chưa tới mình rồi sống trong buông lung phóng dật, vẫn vui cười, vẫn ăn chơi mà không thấy cái khổ đang ở gần bên mình, cái vô minh, tham ái của chúng sanh rất khủng khiếp, cho đến khi vô thường xảy ra trên chính bản thân mình vẫn chưa tỉnh ngộ chứ đừng nói gì việc nó xảy ra ở người khác, ở nơi khác. Trong kinh Đức Phật ví dụ về bốn hạng ngựa cho bốn hạng người.
"Có bốn loài ngựa hiền thiện thuần thục này, này các Tỳ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa liền bị dao động, kích thích nghĩ rằng: 'Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì, và ta đáp ứng thế nào?' Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là loại ngựa hiền thiện thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là loại ngựa hiền thiện thuần thục thứ nhất, có mặt, hiện hữu ở đời.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích. Nhưng khi bị gậy thúc ngựa đâm vào lông, nó liền bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: 'Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì, và ta đáp ứng thế nào?' Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục thứ hai, có mặt, hiện hữu ở đời.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích. Khi bị gậy thúc ngựa đâm vào lông, nó không bị dao động, kích thích. Nhưng khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, liền bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: 'Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì và ta đáp ứng thế nào?' Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục thứ ba, có mặt, hiện hữu ở đời.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào lông, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào xương, bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: 'Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì và ta đáp ứng thế nào?' Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục thứ tư, có mặt, hiện hữu ở đời.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, có bốn hạng người hiền thiện, thuần thục này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người hiền thiện, thuần thục nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay bị mạng chung; người ấy do vậy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân, vị ấy chứng ngộ được tối thắng sự thật; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỳ-kheo, con ngựa hiền thiện, thuần thục ấy, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, bị dao động kích thích, Ta nói rằng, này các Tỳ-kheo, con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy.
Ở đây có hạng người hiền thiện, thuần thục không có nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị đau khổ hay bị mệnh chung, nhưng khi tự mình thấy người đàn bà hay người đàn ông khổ đau hay mệnh chung, người ấy do vậy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân, vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỳ-kheo, con ngựa hiền thiện thuần thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào da, bị dao động, kích thích, Ta nói rằng, này các Tỳ-kheo, con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện, thuần thục không có nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay bị mệnh chung, không có tự mình thấy người đàn bà hay người đàn ông khổ đau hay mệnh chung. Nhưng, khi có một người bà con hay người đồng một huyết thống khổ đau hay bị mệnh chung, người ấy do vậy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỳ-kheo, con ngựa hiền thiện thuần thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, bị dao động, kích thích, Ta nói rằng, này các Tỳ-kheo, con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện thuần thục không có nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay mệnh chung, không có tự mình thấy người đàn bà hay người đàn ông khổ đau hay bị mệnh chung, không có người bà con hay người đồng một huyết thống khổ đau hay bị mệnh chung. Nhưng khi tự mình cảm xúc những cảm thọ về thân khổ đau, nhói đau, chói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không phải khả hỷ, không khả ý, đoạt mạng sống, vị ấy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân, vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỳ-kheo, con ngựa hiền thiện thuần thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào xương mới bị dao động, kích thích, Ta nói rằng, này các Tỳ-kheo, con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy". (Tăng Chi Bộ, chương IV - Bốn Pháp, XII. Phẩm Kesi, (III) Gậy Thúc Ngựa)
Đức Phật nói có bốn hạng ngựa:
Hạng ngựa thứ nhất chỉ cần thấy bóng roi là đã chạy, như người vừa nghe nhắc rằng có ai đó mệnh chung liền tỉnh ngộ tu tập và đạt kết quả tốt.
Hạng ngựa không sợ bóng roi, chỉ sợ gậy (có đóng đinh nhọn) thúc vào mông, giống như người vừa thấy ai đó mệnh chung, liền tỉnh ngộ, tinh cần tu tập và đạt kết quả tốt.
Hạng ngựa đợi gậy đâm vào thịt mới sợ, như hạng người khi tận mắt thấy thân nhân mình mệnh chung, liền tỉnh ngộ, tinh cần tu tập và đạt kết quả tốt.
Hạng ngựa đợi đến lúc gậy thúc thấu xương mới sợ, như hạng người khi tự thân bị bệnh khổ mới tỉnh ngộ, tinh cần tu tập và đạt kết quả tốt.
Vì thế trong sự tu không đơn giản cạo đầu đắp y là xong mà tâm thức chúng ta rất khủng khiếp, khi học nhận diện năm uẩn từ từ rồi chúng ta sẽ thấy bản ngã bên trong rất ghê gớm, tham ái sâu dày vô cùng nên dù có học kinh, nghe giảng nhưng xong rồi thì thôi, đó là chuyện người khác không phải chuyện của mình, vì thế sự tu đòi hỏi rất nhiều nỗ lực, cố gắng.
"Chư Hiền, thế nào là Tập khởi của khổ? Chính là ái đưa đến tái sanh, cùng khởi hỷ dục và tham hướng đến tái sanh, cùng khởi hỷ dục và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Chư Hiền, như vậy gọi là Tập khởi của khổ". (Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)
Tức là nguyên nhân của khổ chính là ái đưa đến tái sanh. Như thế nào là ái đưa đến tái sanh? Khi nhìn vào gương thấy hình ảnh mình hiện ra có con mắt thì mình nghĩ nó là tôi, là của tôi, mình yêu quý con mắt này, đó chính là ái. Khi chúng ta nhìn thấy lỗ tai cũng cho rằng nó là tôi, là của tôi, khi thấy lỗ mũi thì cho rằng nó là tôi, là của tôi, khi thấy bàn tay thì cho rằng bàn tay này là tôi, là của tôi, nhìn xuống bàn chân thì bàn chân này là tôi, là của tôi, khi ngắm hình bóng mình trong gương hoặc tấm hình mình chụp đều thấy thích thú, yêu thích, hài lòng, đó chính là ái đối với sắc uẩn này và chính cái ái, yêu thích gương mặt, hình hài, vóc dáng này, yêu thích cơ thể, thể xác, sắc thân, sắc tướng này là ái đưa mình đi đến tái sanh, cho nên đời sau phải có ra một cái thân nhưng không biết đó là thân gì vì còn tùy thuộc vào nghiệp thiện hoặc ác, có thể là thân rắn rết, muỗi mòng, trâu, bò, gà, heo… có thể là thân cô hồn, ngạ quỷ, quỷ đói, có thể là tấm thân bần hèn, đui, điếc, cùi, hủi, bị bệnh Down, chất độc màu da cam, có thể là tấm thân của con người lành lặn bình thường hoặc cũng có thể là tấm thân phước báo của chư Thiên. Cái ái đó đưa đến tái sanh cùng với hỷ tham, tức là vui mừng, hân hoan, đi tìm chỗ này chỗ kia và chính cái ái đó dẫn vào tái sanh, đây là chỗ sâu sắc để chúng ta biết được sự giải thoát thật sự của đạo Phật là gì. Mình nhìn vào chiếc xe của mình rồi thấy nó là của mình, vào ở tạm căn phòng một thời gian nhưng vẫn thấy căn phòng đó là của mình cho nên tâm này là tâm mê, chạm vào cái gì là dính mắc cái đó, tiếp xúc cái gì là chấp thủ, buộc chặt cái đó. Mình thích đi chơi chỗ này chỗ kia là đang đi tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, đó là cảm giác thúc giục muốn đi, muốn được tiếp xúc người này người kia, rồi suy nghĩ nhớ nhung, đó là ái đưa đến tái sanh. Những hình bóng ám ảnh trong tâm, người thích xe thì hình ảnh chiếc xe mình thích ám ảnh trong tâm, người thích chùa, thích nhà thì hình bóng ngôi nhà, ngôi chùa đó ám ảnh trong tâm, đi đâu cũng lo, bỏ nhà lâu không được, phải về trông chùa, mình thích món đồ nào đó thì món đồ đó ám ảnh trong tâm, mình thích người nào đó thì hình bóng người đó ám ảnh trong tâm, nó sẽ thường xuyên ẩn hiện, xâm chiếm, áp đảo, chế ngự toàn bộ thân tâm, đó là ái. Một khi đã yêu thích sẽ tìm kiếm, thích xe thì sưu tầm xe nếu có tiền, còn không có thì lên mạng xem, treo poster ngắm đỡ nghiền, thích người thì chạy theo người, thích cảnh thì làm dân phượt đi hết chỗ này đến chỗ khác, đó là dục, một sự thúc giục, đòi hỏi, khao khát, thèm muốn, ước mơ. Nhưng muốn được rồi vẫn không dừng lại mà muốn thêm nữa, đó là tham. Chính dục, tham, ái làm mình khổ triền miên, chạy đi tìm hết cái này đến cái nọ, tâm bị bất an, dao động, không yên định được, ngồi lại là những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác quậy phá, độc cư thiền định một mình không được, chạy tìm món ăn là đoàn thực, chạy tìm sự tiếp xúc người này người kia, cảnh nọ cảnh nọ là xúc thực, ngồi lại là suy nghĩ cái này cái kia là tư niệm thực, tâm bị dao động vì những cảm giác yêu thích, tham muốn, đó là Khổ - Tập Thánh Đế. Cho nên toàn bộ giáo pháp của Phật là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham, đó là Đạo Đế, đó là con đường đi đến chấm dứt khổ đau là Khổ - Diệt Đạo Thánh Đế. Bát Chánh Đạo là sự thấy đúng về thân tâm ngũ uẩn này, thấy đúng về sắc; thọ; tưởng; hành; thức do tứ đại tạo thành, không phải là tôi, không phải của tôi vì một khi không thấy đúng, cho sắc, cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, rõ biết là tôi thì đó là tà kiến, thân kiến, khi đã thấy sai thì suy nghĩ sai, làm sai, nói sai, sống sai, có siêng năng làm gì đi nữa cũng là tà tinh tấn, quán sai, suy xét sai, dù cho có định tâm cái gì đi nữa, tứ thiền bát định đi nữa cũng là tà định vì những cái đó đều phát huy cho bản ngã, sự chấp thủ trong năm uẩn. Nếu nhìn thấy sắc thân này là tôi, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức này là tôi thì tu bất cứ cái gì cũng không phải là Thánh đạo, cho đến khi nào vị Đa văn Thánh đệ tử nhìn thấy sắc này không phải là tôi, tổ hợp ba cảm thọ không phải là tôi, những hình bóng trong tâm không phải là tôi, nó là pháp duyên sanh, những suy nghĩ không phải là tôi, những nhận thức, rõ biết của sáu thức này không phải là tôi, nó là pháp duyên sanh, pháp hữu vi, do làm ra nên vô thường, khổ, vô ngã thì lúc đó mới thành tựu sự thấy đúng của chánh kiến. Từ sự thấy đúng này mới bắt đầu tu tập, còn không thấy đúng thì dù cho có ngồi thiền cũng không phải là thiền định của Phật giáo vì khi ngồi mà khởi lên bất kì suy nghĩ gì cũng cho suy nghĩ đó là tôi, xả thiền ra là làm theo suy nghĩ đó, dự tính đó thì mình đang đi theo hành uẩn, hoặc ngồi thiền mà tưởng tượng đủ thứ rồi đi theo nó là tưởng uẩn, ngồi mà có cảm giác an lạc, thanh thoát là mình chấp vào cảm thọ đó cho rằng mình đã chứng được cái gì rồi nên mới có cảm giác nhẹ nhàng này, vậy là dính mắc toàn bộ trong năm thủ uẩn cho nên đây là tổng cương lĩnh thâm sâu gốc rễ của Thánh pháp. Mình nhìn lại hằng ngày đều bị dính hết vào năm thủ uẩn này, mình bị dục, tham, ái chinh phục, điên đảo trong đó vì mình không có sự nhận diện năm uẩn thường xuyên, ví dụ mình đang ngồi mà có suy nghĩ "tôi đang ngồi", vậy là thất bại rồi, đó là tà kiến, không đi đúng theo Bát Chánh Đạo, phải nghĩ rằng tứ đại đang ngồi, sắc pháp đang ngồi, đống bao tử, phèo phổi, gan, lá lách… đang ngồi chứ không có cái tôi nào đang ngồi ở đây thì đó mới là thấy đúng. Phải tu từ trong suy nghĩ, chỉ cần suy nghĩ sai thì hoàn toàn những gì mình tu đều không đúng, mà suy nghĩ đúng này xuất phát từ thấy đúng vì không thấy đúng thì không suy nghĩ đúng, cái thấy đúng này từ nghe chánh pháp.
Có hai nhân duyên để sanh khởi lên chánh kiến là nghe pháp người đã thấy đúng, bậc thành tựu chánh kiến và thứ hai là Như lý tác ý, sau khi nghe phải về quán chiếu, suy tư, nghiền ngẫm theo lời nói đó sẽ sanh khởi ra chánh kiến. Nếu mình gặp người hướng dẫn ưa thích sắc, khuyến khích mình chạy theo sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì tu vĩnh viễn cũng không thể giải thoát vì cứ lòng vòng trong năm thủ uẩn. Năm thủ uẩn là khổ, tu là để thấy được nó là khổ, từ đó mới thoát ra khỏi nó, nhưng bây giờ tu lại phát huy sắc uẩn, chạy theo sắc tướng, chạy theo vẻ đẹp bề ngoài thì làm sao mình hết khổ? Phật tử gặp mình khen "Thầy tu tướng hảo quang minh, sáng ngời" vậy là mình thích, đó là ái, là sự yêu thích sắc thân này, cảm giác lúc đó là khoan khoái, hình bóng hiện ra trong tâm là thích, suy nghĩ "mình cũng không đến nỗi nào" là hành uẩn, mình nghe tiếng khen là rõ biết, vậy là mình bị sập bẫy của tự ngã, chấp ngã, chỉ với một câu khen ngợi là mình đã rơi vào bẫy, không phải chuyện đơn giản cho nên tu theo đúng chánh pháp của Phật thì xin thưa mọi người không phải chuyện đơn giản mà phải cực kì để tâm, tha thiết, chân thành, chánh niệm tỉnh giác liên tục và thường xuyên trong mọi hành động, suy nghĩ, lời nói. Khi nghĩ về mình thì tác ý "chỉ là tứ đại, không có 'mình' nào trong đây, tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tùy phế thận, hoành cách mô… là địa đại, mủ máu, đàm giải là thủy đại, ba mươi hai thứ dơ bẩn này, một lớp xương da, phân và nước tiểu thì có gì là tôi, có gì là của tôi". Mỗi lần mình tác ý, suy nghĩ, nhắc nhở bản thân, quán chiếu, tư duy thì từ từ bên trong suy nghĩ sai từ trước đến giờ sẽ được giảm xuống, chánh kiến được tăng lên, khi nghĩ như vậy sẽ thấy chán chê, ê chề, ngao ngán, "mới hôm qua cự cãi, đánh nhau vậy mà hôm nay là đống tro tàn", mỗi lần tác ý như vậy thì suy nghĩ, cảm giác, hình bóng của mình được chánh kiến dẫn đường làm chánh kiến tăng trưởng, phát triển lớn mạnh để đánh đuổi tà kiến, đó là Thánh đạo, là con đường chấm dứt khổ đau, vì vậy Minh Thành luôn nhắc nhở đại chúng phải thường xuyên nhận diện ngũ uẩn, nhìn lại thân thể lúc này đang như thế nào, đang có cảm giác gì, suy nghĩ, hình bóng gì, suy nghĩ đó có dục, tham ái, sân không, nếu có phải thấy, khi thấy phải tác ý đánh đuổi, diệt trừ nó, đó là sự tu, đó là siêng năng tinh cần, tinh tấn trong Bát Chánh Đạo. Một khi cái nhìn thấy không đúng về thân tâm thì tất cả suy nghĩ, nói, làm, đời sống dù cho đạt được tứ thiền bát định thì cái định đó cũng ở trong bản ngã của phàm phu, không phải Thánh chánh định của đạo Phật. Chúng ta cần để ý Thánh tri kiến, chánh tri kiến, Thánh chánh định là từ chỗ nhìn thấy năm uẩn không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi thì cái đó mới dẫn đường cho tất cả sự tu hành phía sau, vì không thấy đúng thì tất cả những gì mình làm đều rơi vào phàm phu trong vô minh, tham ái, bản ngã, dục, sân.
"Cùng khởi hỷ dục và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia", tìm cầu vui sướng chỗ này chỗ kia "tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái", đây chính là tam giới, yêu thích dục nên sanh trong thế giới của dục (dục giới). Chúng sanh trong thế giới này, yêu thích hành động dục thì gọi là dục ái, chữ "dục" này không phải chỉ là tình dục mà còn là năm dục trưởng dưỡng, đó là dục ăn, dục chơi, dục nói, dục danh lợi… rất nhiều thứ. Có một số người chưa hiểu thấu cứ nghĩ mình rày đây mai đó là thoải mái, đi chỗ này chỗ nọ để hiểu biết nhưng thật chất dục đang dẫn dắt mình, dục lang thang không làm tâm mình yên trụ để tu. Vì thế tâm thức chúng sanh rất ghê gớm, nếu không nhận diện năm uẩn, không được hướng dẫn chân chánh, sâu sắc thì tu không có ngày giải thoát, thật sự không biết đường ra vì cứ đi lòng vòng trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tâm mê cứ lẩn quẩn trong đó thì làm sao thoát ra được? Chỉ riêng một chữ "sắc" thôi đã giết chết mình cả cuộc đời, hết nhà cửa, tiền bạc, chùa chiền đến đất đai, xe cộ, danh lợi lại đến tình cảm, tình thân, mình đồng hóa mình với những cảm giác, suy nghĩ vì suy nghĩ nào khởi lên cũng cho là "tôi nghĩ", một cảm giác vui sanh khởi lên thì "tôi đang vui", "tôi đang sướng" hoặc có cảm giác khó chịu thì "tôi đang bực", cái gì khởi lên cũng cho là tôi, tao, mình. Đó là tà tri kiến, đó là thân kiến, là chấp ngã, làm phát sanh ra dục, tham, ái, sân hận và khổ đau. Minh Thành chia sẻ hết lòng cho quý huynh đệ có thể nắm được giáo pháp để mình học, mình tu theo đúng con đường của Đức Phật.
"Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri Khổ như vậy, tuệ tri Tập khởi của khổ như vậy, tuệ tri Đoạn diệt của khổ như vậy, tuệ tri con Đường đưa đến đoạn diệt của khổ như vậy, khi ấy vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên... (như trên)... và thành tựu diệu pháp này". (Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)
Nếu tu tập được đúng như vậy thì đoạn trừ được tham, sân, si, đoạn trừ được sự chấp ngã, vô minh và làm cho minh sanh khởi, nhổ tận gốc rễ sự kiêu mạn.
(Già và chết)
"Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này Thánh đệ tử... (như trên)... thành tựu diệu pháp này?
-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri già chết, tuệ tri tập khởi của già chết, tuệ tri đoạn diệt của già chết, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của già chết, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến,... (như trên)... và thành tựu diệu pháp này". (Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)
Tuệ tri chính là biết bằng trí tuệ, còn cái biết trên suy nghĩ, nói ngoài miệng, biết trên tưởng tượng là khác. Biết bằng trí tuệ là đi vào cảm thọ, cảm giác sâu sắc không bao giờ quên, không bao giờ mất, biết một cách xác quyết không thay đổi. Lúc nào cũng thấy là khổ và mãi mãi thấy khổ, không thay đổi cái thấy biết đó thì gọi là tuệ tri chứ không phải lúc thấy khổ, lúc lại thấy vui. Lúc nào cũng thấy sắc pháp là đống khổ đau không hơn không kém, dù cho sắc đó đẹp cỡ nào đi nữa cũng chỉ là sanh, già, bệnh, chết, tham, sân, si, vô minh và chấp ngã. Biết bằng trí tuệ già chết, biết bằng trí tuệ nguyên nhân già chết, biết bằng trí tuệ sự chấm dứt của già chết và biết bằng tri tuệ con đường đưa đến sự chấm dứt già chết.
"Chư Hiền, thế nào là già chết, thế nào là tập khởi của già chết, thế nào là đoạn diệt của già chết, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của già chết? Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào, trong từng mỗi loại hữu tình, sự già cả, suy lão, rụng răng, tóc bạc da nhăn, tuổi thọ ngày một hao mòn, bại hoại các căn; chư Hiền, như vậy gọi là già". (Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)
Cơ thể rệu rã, ngồi dậy phải có người đỡ, nằm trên chính đống phân và nước tiểu của mình, nằm như đời sống thực vật, ăn không được mà phải xay thức ăn ra đổ vào ống đưa vào tận thực quản, đưa ống thông nước tiểu, những khối u, ung hạch, ung nhọt hiện rõ ra, da vàng bụng chướng, ung thư gan, ung thư máu, ung thư não… cơ thể tàn tạ, hoại diệt. Các bậc Thánh nói vắn tắt nhưng khi đọc mình phải quán chiếu, suy ngẫm mới hiểu được, các vị ngày nào cũng thiền quán hiểu rõ nên nói tắt còn mình đọc phớt qua sẽ không có cảm thọ. Các căn bại hoại là mắt mờ, tai điếc, lưng còng gối mỏi, nằm một chỗ nhức nhối, có một bà mẹ gặp hỏa hoạn phỏng toàn thân, nằm bất động trên gường bệnh trong khi đứa con gái mới mười hai tuổi đã phải chứng kiến mẹ mình đau đớn vì hoại tử, giòi tuôn ra. Vô số nỗi khổ trên đời này, vô số chứng bệnh con người phải chịu đựng, phải tư duy nghiền ngẫm mới thấy cái đau khổ thật sự của bệnh tật, đừng để đến khi bệnh mới tu sẽ không kịp nữa.
"Chư Hiền thế nào là chết? Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào trong từng mỗi loại hữu tình, sự mệnh một, từ trần, hủy hoại, hoại diệt, tử biệt, mệnh chung, hủy hoại các uẩn, vất bỏ hình hài; chư Hiền, như vậy gọi là chết". (Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)
Thân này không bao lâu sẽ vùi sâu đáy mộ, như cây khô khúc gỗ, bị vứt bỏ vì vô tri.
"Không bao lâu thân này,
Sẽ nằm dài trên đất,
Bị vất bỏ, vô thức,
Như khúc cây vô dụng".
(Kinh Pháp cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 41)
"Thành này làm bằng xương,
Quét tô bằng thịt máu,
Ở đây già và chết,
Mạn, lừa đảo chất chứa".
(Kinh Pháp cú 11 – Phẩm Già, kệ 150)
"Già như vậy và chết như vậy, chư Hiền, như vậy gọi là già chết. Từ sự tập khởi của sanh, có sự tập khởi của già chết, từ sự đoạn diệt của sanh, có sự đoạn diệt của già chết". (Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)
Tại sao có già chết? Tại vì có sanh, nguyên nhân của già chết vì có sanh. Tại sao có sanh? Do có ái nên có sanh, ái con mắt, ái lỗ mũi, ái bờ vai, đôi môi, ái ruột gan, phèo phổi, xương da, ái đống phân và nước tiểu, xương da này… đó là nguyên nhân sanh khởi ra đời sống này, thân xác này, chính từ việc có sanh nên có tử, như vậy muốn cho không già chết thì đừng sanh nữa, muốn không sanh nữa thì nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham, đó là con đường vô sanh bất tử. Nhiếp phục cảm thọ dục, tham, ái đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc của cuộc đời này; nhiếp phục dục, tham, ái đối với đất đai, tiền bạc, chùa chiền, danh lợi; nhiếp phục dục, tham, ái đối với thân xác này, đối với những cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm, thấy có tham ái là nhiếp phục, diệt trừ, đoạn tận, từ bỏ thì đó là con đường bất tử, là Thánh pháp vô sanh của Niết-bàn. Chúng ta cần nắm vững đạo lộ này, nắm vững những phương pháp này, giáo pháp này để chúng ta đi đúng đường của Đức Phật, nếu không chúng ta không biết gì cả, Phật đi lối này mà chúng ta lại đi nẻo khác, cần phải nắm vững con đường nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham.
"Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của già chết, tức là: Chánh Tri kiến... (như trên)... Chánh Ðịnh". (Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)
Thấy đúng về sự già chết và đau khổ, thấy đúng về nguyên nhân có ra già chết là sự sanh, thấy đúng về nguyên nhân sự sanh là do có dục, tham, ái. Tinh tấn nỗ lực siêng năng trong sự quán chiếu những cái làm sanh khởi ra dục, tham, ái, vô minh, chấp ngã cần nhiếp phục và diệt tận nó, những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng nào chứa đựng dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã phải đập tan, tẩy sạch, đó là mở cánh cửa bất tử, là con đường vô sanh, đó là đạo lộ mà tất cả các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thuở xưa đã đi qua và bậc Thích-ca Mâu-ni cũng đã đi qua, tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác trong thời tương lai cũng sẽ đi qua con đường Bát Chánh Đạo này.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con đường cũ, đạo lộ cũ ấy do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua? Ðây chính là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến... chánh định. Con đường ấy, này các Tỳ-kheo, là con đường cũ, đạo lộ cũ do các bậc Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua. Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ già chết; Ta thấy rõ già, chết tập khởi; Ta thấy rõ già chết đoạn diệt; Ta thấy rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt.
Ta đã đi theo con đường ấy. Đi theo con đường ấy; Ta thấy rõ sanh... Ta thấy rõ hữu... Ta thấy rõ thủ... Ta thấy rõ ái... Ta thấy rõ thọ... Ta thấy rõ xúc... Ta thấy rõ sáu xứ... Ta thấy rõ danh sắc... Ta thấy rõ thức...
Ta đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ các hành; Ta thấy rõ các hành tập khởi; Ta thấy rõ các hành đoạn diệt, Ta thấy rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt.
Cái được Ta biết rõ, Ta đã tuyên bố cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ được biết. Này các Tỳ-kheo, tức là Phạm hạnh này, phồn vinh, thịnh vượng, quảng đại, chúng đa, người nhiều và được chư Thiên, loài Người khéo léo trình bày". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, V. Thành Ấp)
Nhận diện năm uẩn và thực hành ba pháp là hai phần tuyệt đối quan trọng của người tu, nắm vững được hai phần này thì đi vào pháp học, pháp hành sẽ dễ dàng và rõ ràng hơn, còn không nắm được thì khi vào học hoặc khi thực hành chúng ta sẽ không biết gì cả, không có nền tảng, đầu mối để học và hành.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.