MẬT MÃ THẾ GIỚI 6 - TÂM DẪN DẮT THẾ GIỚI
Tinh Hoa Nikāya
MẬT MÃ THẾ GIỚI 6
TÂM DẪN DẮT THẾ GIỚI
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tâm dẫn dắt thế giới PAGEREF _Toc87385937 \h 1
II.Trí tuệ về cảm thọ PAGEREF _Toc87385938 \h 3
1.Bài kinh “Một Pháp Môn Quyết Trạch” PAGEREF _Toc87385939 \h 4
2.Trú xứ của sáu cảm thọ PAGEREF _Toc87385940 \h 6
3.Sự trói buộc PAGEREF _Toc87385941 \h 9
4.Ái – nguyên nhân của khổ đau PAGEREF _Toc87385942 \h 10
5.Cảm thọ của thiện pháp PAGEREF _Toc87385943 \h 11
Tâm dẫn dắt thế giới
Bài kinh “Con Đường Sai Lạc”, Tăng Chi Bộ Kinh II sẽ trả lời cho câu hỏi “cái gì hướng dẫn thế giới, cái gì dẫn dắt thế giới”.
Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, thế giới do cái gì hướng dẫn, thế giới do cái gì được diễn tiến, đi đến sự thuần phục của cái gì được khởi lên?
- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Hiền thiện là con đường Thầy đặt vấn đề, hiền thiện là sự biện tài, hiền thiện là câu hỏi! Này Tỷ-kheo, có phải Thầy hỏi như sau: "Bạch Thế Tôn, thế giới do cái gì hướng dẫn, thế giới do cái gì được diễn tiến, đi đến sự thuần phục của cái gì được khởi lên?".
Đức Thế Tôn khen ngợi câu hỏi của thầy Tỳ-kheo rất tuyệt vời, rất tốt lành, rất hiền thiện, rất lợi ích cho chính thầy ấy và cho hữu tình chúng sanh. Cách thầy Tỳ-kheo đặt câu hỏi cũng hết sức tốt lành, khéo léo. Câu hỏi của thầy Tỳ-kheo gồm ba vấn đề:
Thế giới này do cái gì hướng dẫn, do cái gì dẫn dắt, do cái gì điều khiển?
Thế giới này do cái gì mà được diễn tiến, được tiếp diễn, được đi tới, được vận hành, được tiếp nối, được tiếp tục?
Đi đến sự thuần phục của cái gì mà thế giới này được khởi lên?
Có rất nhiều người hỏi Phật nhưng không phải câu hỏi nào Đức Phật cũng khen ngợi. Những câu hỏi của vị Tỳ-kheo này không phải dễ hiểu, cho nên Đức Phật ngợi khen rất nhiều. Đức Phật khen ngợi tốt lành là cách đặt vấn đề, khéo léo là sự biện tài, tốt lành là câu hỏi của thầy Tỳ-kheo.
Chúng ta phải chiêm nghiệm từng lời kinh vì nó rất sâu xa, thâm thúy và trí tuệ. Đừng chỉ đọc hay nghe phớt qua, mà hãy lấy đó làm đề mục để chiêm nghiệm, suy tư, nhìn ngó vào trong lẫn ngoài. Cũng như trong kinh Tứ Niệm Xứ, phải quán thân trên thân, quán thân trên nội thân, quán thân trên ngoại thân, quán thân trên nội thân ngoại thân, quán sự sanh diệt trên thân… tức là phải quán bên trong, bên ngoài, quán tất cả mọi khía cạnh. Cũng vậy, mỗi một vấn đề trong pháp, chúng ta phải nhìn cho thật sâu sắc và chiêm nghiệm thì sẽ thấy được nhiều điều tuyệt vời mà trước giờ mình chưa từng thấy, chưa từng nghe.
Sau khi khen ngợi xong, Đức Phật lặp lại những câu hỏi đó và hỏi thầy Tỳ-kheo có phải hỏi như vậy không. Qua đó, chúng ta thấy những câu hỏi trên rất quan trọng. Thầy Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Này Tỷ-kheo, thế giới do tâm hướng dẫn. Thế giới do tâm được diễn tiến, đi đến sự thuần phục của tâm được khởi lên.
Thế giới này do tâm hướng dẫn, thế này này do tâm được diễn tiến và thế giới này do đi đến đến sự thuần phục của tâm mà được khởi lên. Như vậy, Đức Phật dùng một từ “tâm” để trả lời câu hỏi trên.
- Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. (Tăng Chi Bộ Kinh II, 4. Chương Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ, bài kinh Con Đường Sai Lạc)
Từ thân xác chúng ta đang nơi đây, đến cảnh vật núi đồi xung quanh bên ngoài, rộng ra là các thành phố, tỉnh thành, ba miền đất nước trên bản đồ hình chữ S và khắp các châu lục: châu Á, châu Âu, châu Úc, châu Mỹ, châu Phi, cho đến giáp vòng cả quả địa cầu, hành tinh này… tất cả đều do tâm hướng dẫn; đều do tâm được diễn tiến; đều do tâm đi đến sự thuần phục mà khởi lên. Chẳng những trái đất này, mà các tầng trời của dục giới, sắc giới, các tầng trời vô sắc, không có hình sắc… đều do tâm dẫn dắt; đều do tâm mà được tiếp tục, tiếp diễn, vận hành; đều do tâm đi đến sự thuần phục mà khởi lên. Chỉ một câu này mà là cả một đề tài thiền quán cho chúng ta.
Thu gần lại để dễ thấy, đầu tiên, thân xác này có phải do tâm sai khiến, dẫn dắt, sai bảo không? Nó kêu mình đi thì mình đi, nó sai mình nằm thì mình nằm. Mà tâm chính là thọ, tưởng, hành, thức. Trước đây, khi chưa có sự nhận diện năm uẩn, nói đến tâm thì chúng ta không biết nó là gì, nghĩ mù mờ rằng tâm đại khái là suy nghĩ, nhận thức, chứ không thấy được bốn lĩnh vực, bốn nhóm, bốn tổ hợp của tinh thần. Nói vắn tắt lại, thân này do những cảm xúc, nghĩ, tưởng dẫn dắt, hướng dẫn và điều khiển. Đào sâu vào bên trong thì chính là thọ, tưởng, hành điều khiển thế giới này, chứ không còn gì khác. Khi học trí ngũ uẩn rồi thì chúng ta nắm được cả thế giới, cả vũ trụ này trong lòng bàn tay của mình.
Chúng ta đầu tròn, đắp y, ngồi nghe pháp trên núi như bây giờ là do tâm dẫn dắt, nghe theo những cảm giác, nhận thức, nghĩ, tưởng của mình. Những người trong tù cũng bị tâm sai khiến, bị những cảm giác, nghĩ, tưởng, nhận thức điều khiển. Những người hy sinh, lo cho cả nhân loại, thậm chí hy sinh cả tính mạng cũng do tâm hướng dẫn. Những cảnh sắc chúng ta đang thấy, thiền đường này, cách bày trí này, tên ngọn núi này… tất cả cũng do tâm đặt ra, thiết kế, bày trí. Nơi chúng ta đang ở: thôn Tà Ngào, xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng, cũng là do tâm đặt tên. Như vậy, tất cả các pháp đều do tâm hướng dẫn; thọ, tưởng, hành, thức tiếp diễn. Cái tâm này ngoài tạo dựng ra thì nó cũng hủy diệt, khi nó nổi loạn lên, phun ra lửa thì tất cả thành đống tro tàn. Như vậy, sanh do tâm, tạo dựng do tâm và hủy diệt cũng do tâm, đó chính là tâm điều khiển.
Trí tuệ về cảm thọ
Chúng ta cần để tâm rất nhiều vào cái tâm này. Tâm gồm thọ, tưởng, hành, thức nhưng chỗ thâm sâu nhất là kho tàng của cảm thọ, tức là những dòng cảm xúc. Vì vậy, chúng ta sẽ đi vào trí tuệ về cảm thọ trong bài kinh “Một Pháp Môn Quyết Trạch”, Tăng Chi Bộ III.
Bài kinh “Một Pháp Môn Quyết Trạch”
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết cảm thọ, cần phải biết các cảm thọ duyên khởi, cần phải biết các cảm thọ sai biệt, cần phải biết các cảm thọ dị thục, cần phải biết cấc cảm thọ đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến các cảm thọ đoạn diệt.
Những cảm thọ, cảm xúc, cảm giác bốc lên, nung lên và từ đó những hình bóng, suy nghĩ vận hành… thọ, tưởng, hành đó chính là tâm. Chúng ta sẽ tìm hiểu xem tâm dẫn dắt, điều khiển như thế nào trong sáu căn, sáu trần, sáu thức này.
Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này: lạc thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các cảm thọ sanh khởi?
Xúc, này các Tỷ-kheo, là các cảm thọ sanh khởi.
Khi tiếp xúc thì các cảm giác, cảm thọ sẽ sanh khởi.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các cảm thọ sai biệt?
Này các Tỷ-kheo, có các lạc thọ liên hệ đến vật chất, có các lạc thọ không liên hệ đến vật chất; có các khổ thọ liên hệ đến vật chất, có các khổ thọ không liên hệ đến vật chất; có các cảm thọ không khổ không lạc liên hệ đến vật chất, có các cảm thọ không khổ không lạc không liên hệ đến vật chất. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các cảm thọ sai biệt.
Tức là gồm có ba cảm thọ nhưng thuộc về hai lĩnh vực: liên hệ vật chất và không liên hệ đến vật chất, cho nên, tổng cộng gồm có sáu loại cảm thọ khác nhau.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các cảm thọ dị thục?
Này các Tỷ-kheo, khi nào cảm thọ cái gì, sanh khởi một tự ngã khởi lên từ vật ấy, từ vật ấy, để dự phần phước đức, hay để dự phần không phước đức. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các cảm thọ dị thục.
Chúng ta thấy điều này rất rõ, khi ăn một món ăn ngon thì sẽ nói “tôi thấy ngon quá”, hoặc ăn một món ăn dở sẽ nói “tôi thấy dở quá”. Như vậy, khi cảm thọ, cảm xúc một điều gì đó thì sẽ khởi lên một tự ngã, cho rằng “tôi” cảm thọ, cảm xúc, cảm nhận cái đó. Và cảm nhận đó là tham, sân, si hoặc là từ, bi, hỷ, xả; là thiện pháp hoặc là bất thiện pháp. Nếu là bất thiện pháp thì dự phần không phước đức – tội; nếu là thiện pháp thì dự phần phước đức – phước.
Cho nên, khi cảm thọ bất cứ điều gì thì chúng ta cũng khởi lên tự ngã, ví dụ đang giận thì mình đồng hóa với nó “tôi đang giận lắm”. Cảm thọ nào sanh khởi thì chúng ta cũng chụp lấy nó, cho nó là của tôi, đó gọi là “khi nào cảm thọ cái gì, sanh khởi một tự ngã khởi lên từ vật ấy”, chữ “vật” này bao gồm cả vật chất lẫn tinh thần. Ví dụ, nhìn thấy tượng Phật đẹp, xuýt xoa “tượng này đẹp quá, tôi thích”, hoặc nhìn ngồi chùa đẹp thì thấy rằng “chùa của tôi đẹp quá”, đó là khởi tự ngã lên vào những thứ vật chất. Còn về phần trong tâm, khi giận lên thì nói là “tôi giận”, cảm thọ một cái gì cũng gắn tự ngã vào đó hoặc sanh khởi lên tự ngã.
Thành ra, chúng ta phải nhận diện thật sâu sắc về các cảm thọ. Mỗi một cảm thọ sanh khởi lên đều gắn tự ngã, gắn cái tôi vào, từ đó mới trở thành thân kiến, bản ngã, chấp ngã, trở thành thọ thủ uẩn. Bất cứ cái nào sanh khởi lên trong ngũ uẩn cũng đều dán nhãn, đóng mộc, để logo “tôi” vào đó. Bất cứ suy nghĩ, hình bóng nào sanh khởi lên cũng gắn tôi vào đó, “tôi suy nghĩ”, “suy nghĩ của tôi”, “hình bóng của tôi”. Đó gọi là “khi nào cảm thọ cái gì, sanh khởi một tự ngã khởi lên từ vật ấy, từ vật ấy, để dự phần phước đức, hay để dự phần không phước đức. Đây gọi là các cảm thọ dị thục”.
Vậy, tại sao cảm thọ dị thục, biến đổi, chín muồi? Điều này căn cứ vào cảm thọ thiện hay bất thiện, nghĩa là, tuy vẫn khởi bản ngã lên nhưng quan trọng là đi theo chiều lên hay xuống. Nếu đi chiều hướng lên thì dự phần phước đức, còn đi theo chiều xuống thì dự phần tội lỗi, còn đi theo chiều thường thường ngang ngang thì không tội cũng không phước.
Bất cứ một sắc nào được sanh khởi, có mặt ở trong nhà thì mình cũng đều gắn nhãn, để logo tự ngã, “của tôi” lên đó. Bất cứ hình bóng, suy nghĩ, nhận thức nào cũng gắn cái tôi vào đó, đó chính là thân kiến, là chấp ngã, là bản ngã. Vậy mà khi được chỉ ra bản ngã thì có người nói rằng không có gì là bản ngã, tất cả đều là trống không, vô ngã. Đó chính là bản ngã tráo trở, lật lọng, che đậy, vô minh, ngụy biện, quanh co, giấu lỗi lầm, từ đó tạo thành đau khổ đối với năm thủ uẩn. Bởi vì cảm thọ luôn biến đổi, “tự tánh đổi khác” – đây là những câu từ quan trọng trong kinh, cần phải ghi nhớ, dành dụm, khắc ghi để quán chiếu. Tự tánh đổi khác là biến hoại, vô thường, không có tự ngã, không có tự thể, là trống rỗng. Nguyên nhân có chữ “thủ” ở trong năm uẩn là vậy, bởi vì gắn tôi vào ngũ uẩn nên có sự nắm giữ ở trong đó.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các cảm thọ đoạn diệt?
Xúc đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, là các cảm thọ đoạn diệt.
Khi chấm dứt xúc thì sẽ không còn sanh khởi ra cảm thọ, tức là cảm thọ sẽ chấm dứt. Con đường Thánh đạo tám ngành đưa đến các cảm thọ đoạn diệt. Tức là thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng và định đúng. Cái đúng này là cái đúng của bậc Thánh chứ không phải cái đúng của phàm phu, cái đúng này là cái đúng của chân lý tuyệt đối từ Đức Thế Tôn – bậc tri giả, bậc kiến giả, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Và khi nào, này các Tỷ kheo, vị Thánh đệ tử rõ biết các cảm thọ như vậy (trí thứ 1), rõ biết các cảm thọ sanh khởi như vậy (trí thứ 2), rõ biết các cảm thọ sai biệt như vậy (trí thứ 3), rõ biết các cảm thọ dị thục như vậy (trí thứ 4), rõ biết các cảm thọ đoạn diệt như vậy (trí thứ 5), khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là các cảm thọ đoạn diệt. (Tăng Chi Bộ Kinh III, Chương Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Trú xứ của sáu cảm thọ
Chúng ta từ từ nhận diện sâu vào các cảm thọ thì sẽ thấy nó rất khủng khiếp. Trước nay chúng ta chỉ học về đặc tính của ba cảm thọ mà ít tìm hiểu về trú xứ, căn cứ của sáu cảm thọ, tức là: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh.
Khi con mắt (căn) tiếp xúc với sắc (trần) sẽ sanh ra sự rõ biết (thức). Căn, trần, thức này giao thoa với nhau là xúc. Do duyên có xúc nên sanh khởi cảm thọ. Điểm quan trọng chúng ta cần phải để tâm là mỗi khi sanh khởi lạc thọ thì con mắt lúc đó như thế nào. Cụ thể, khi mắt nhìn thấy một món đồ đẹp, một cảnh tượng đẹp, một con người đẹp thì ba pháp: con mắt, đối tượng đẹp, sự rõ biết hội họp lại với nhau và sanh khởi ra cảm thọ “đã con mắt”. Ở đây, con mắt chính là chỗ căn cứ để cảm thọ biểu hiện ra. Ví dụ, khi nhìn người yêu thương thì ánh mắt sẽ thể hiện sự trìu mến; khi nhìn một người mình ghét hoặc thù hận thì ánh mắt sẽ thể hiện ra điều đó; còn khi nhìn người không thương không ghét thì ánh mắt sẽ bình thường. Như vậy, cảm thọ sẽ biểu hiện ở chỗ con mắt, đây là thọ do nhãn xúc sanh. Lúc đó, chúng ta phải nhận diện cảm thọ sanh khởi ngay chỗ con mắt, như vậy mới gọi là thọ do nhãn xúc sanh. Còn nếu chỉ nhìn chung chung thì không hoàn toàn chính xác, vì vậy, phải nhìn ngay chỗ phát khởi ra cảm thọ.
Người ta thường nói “sướng tai, gai mắt”, “đã con mắt, sướng lỗ tai”, ví dụ khi nghe một bài nhạc hay thì cảm thọ thích sướng sẽ có ngay chỗ lỗ tai. Khi có mùi thơm thì mình muốn ngửi, mũi hít hít, hỉnh hình lên, đó là thọ do tỷ xúc sanh. Tất cả những điều đó là sự biến động của các cảm thọ, chạy theo sự thích thích, khoái khoái, muốn muốn, bên trong là sự thúc giục. Khi ăn một món ngon thì lưỡi tê tê, đó là lạc thọ do thiệt xúc sanh.
Khi gặp một đóa hoa thơm, người ta ngắt hoa xong để lên mũi để ngửi, đó cũng là chạy theo thọ, hít vào để xúc, từ xúc có được thọ, từ đó mà “đã con mắt, sướng lỗ tai, khoái lỗ mũi, tê cái lưỡi”. Thân này cũng vậy, lúc đau khổ cũng giật run lên, hoặc lúc sung sướng cũng run lên. Chẳng hạn, một người bị đạn bắn, dao chém vào người sẽ co giật, đau đớn, khổ sở; còn người vui sướng cả người cũng run lên, đó là thọ do thân xúc sanh.
Khi nhận diện cảm thọ thì phải nhìn cho thật sâu sắc, ví dụ, khi lưỡi tiếp xúc với món ăn rồi sanh ra cảm giác khoái, thích thì lúc đó có sự kết hợp với dục, tham và ái. Cụ thể, bên trong là sự thúc giục muốn nuốt nhanh, ăn vào thì thích thích, khoái khoái nên cứ muốn thêm, muốn thêm. Thân này cũng vậy, khi tiếp xúc với cái gì êm ái, mềm mại thì sẽ yêu thích, bên trong có cảm giác thúc giục và cứ muốn xúc thêm. Như vậy, chúng ta phải nhận diện được chỗ cư trú của sáu cảm thọ.
Người đời có câu “thấy tiền thì mắt sáng lên”, đó chính là thọ do nhãn xúc sanh, do xúc với những thứ thích, khoái, muốn nên sáng mắt ra. Ví dụ, thấy tiền thì mắt sáng ra, thấy người đẹp thì đi theo hoài. Thế nên, chúng ta phải để ý sự vận hành ngay chỗ đôi mắt mỗi khi sanh khởi lạc thọ do nhìn thấy một thứ gì đó; khi nghe được cái gì thích thú thì phải xem lại cảm thọ ngay chỗ lỗ tai; mũi ngửi được mùi thơm thì phải xem lại biểu hiện của nó, ví dụ ngắt hoa, đưa vào lỗ mũi hít sâu dài để tận hưởng mùi thơm; lưỡi và thân cũng vậy. Như vậy, khi tiếp xúc và sanh khởi những cảm giác mình phải để ý những biểu hiện đó.
Lúc sanh khởi khổ thọ chúng ta cũng phải nhận diện rõ ràng. Khi đó, con mắt sẽ biểu hiện ra những trạng thái khó chịu: liếc, háy, trừng, trợn… đó cũng là biểu hiện của cảm thọ. Nếu không nhận thức, không nhận diện những biểu hiệu này một cách sâu sắc thì có khi mình liếc người ta mà cũng không biết là mình liếc. Đó là vì chúng ta không có sự chánh niệm tỉnh giác, không nhận diện được những sự máy động, động chuyển, hoạt động, bạo động, nổi loạn của con mắt. Cho nên, khi gặp một cái gì gai mắt thì lập tức phải kiểm tra con mắt, xem mắt dữ hay mắt hiền, mắt thiền hay mắt liếc. Nhờ có sự kiểm tra mà chúng ta có sự hộ trì căn ở bên ngoài, có sự tỉnh giác chánh niệm ở bên trong và có sự quán thọ trong các cảm thọ. Từ đó, chúng ta mới nhìn ra được chuỗi vận hành của các dòng cảm thọ. Bằng không, thân này muốn đi nhanh thì bên trong có sự thúc giục, khi leo lên chiếc xe phân khối lớn, vừa đề máy lên thì phóng nhanh ngay lập tức, cũng vì vậy mà nhiều tai nạn đau lòng xảy ra.
Vì vậy, nhận diện ngay khi cảm thọ sanh khởi nên mới gọi là quán thọ trên thọ, quán thọ trong, thọ ngoài, thọ trên, thọ dưới, thọ chặng giữa, quán tất cả sự sanh diệt của các cảm thọ. Nếu không nhận diện như vậy, mỗi khi một cảm thọ sung sướng của con mắt sanh khởi thì con mắt này trở thành mờ tối, mù lòa; khi nghe tiếng chửi thì lỗ tai cũng trở nên mờ tối, mù lòa; khi bị ai đụng chạm đến bản ngã, tự ái thì tất cả các căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng trở thành mù lòa. Cho nên, bài kinh “Mù Lòa” cần phải học thật kỹ, không phải chỉ đọc phớt qua, dâng trào một chút cảm thọ rồi thôi. Nếu không có sự thực hành thường xuyên thì mỗi khi cảm thọ tham ái hoặc sân hận sanh khởi lên là mình không còn nhận diện được gì nữa.
Sự trói buộc
Tiếp theo, chúng ta quán chiếu về sự trói buộc khi tiếp xúc. Lúc con mắt tiếp xúc với người đẹp, cảnh đẹp, món đồ đẹp thì lúc đó con mắt bị trói; sắc bị trói; sự rõ biết bị trói; cảm giác ham, khoái, mê, thích bị trói; dục, tham, ái bị trói. Có người nhìn theo một người đẹp, dù người ta đi ngang qua rồi nhưng cứ đứng tần ngần nhìn theo hoài. Lúc đó, mắt người này bị trói cột vào sắc, sự rõ biết cũng bị trói cột, xúc cũng bị trói cột và thọ cũng bị trói cột vào trong những sự thúc giục, tham muốn, ưa thích. Thọ là sự tiếp nhận, thọ nhận, tức là nhận vào, nhận lấy nên những hình sắc đó đi vào trong tâm mình, những suy tư, ưa thích cũng đi vào, từ đó sanh khởi sắc tưởng, sắc tư và chúng ta bị trói trong hình bóng, suy nghĩ về sắc đó. Như vậy, chúng ta ở trong cả một chuỗi dài bị trói cột: căn bị trói, trần bị trói, thức bị trói, xúc bị trói, thọ bị trói, ái bị trói… Và sau ái chính là thủ – sự nắm giữ, như vậy đến đây là sự trói cột đó đại thành công, đại hoàn thành. Vì vậy, Đức Thế Tôn có dạy rằng, “kẻ vô văn phàm phu khi có một cảm thọ vui sướng sanh khởi thì người này giống như đang bị trói cột”. Chỉ một câu nói của Đức Thế Tôn nhưng chúng ta cần phải chiêm nghiệm sâu sắc như vậy.
Chúng ta có đang bị trói không? Ví dụ nghe được một bản nhạc yêu thích thì rất đã lỗ tai, nếu có ai bấm tắt thì cụt hứng, tuột cảm xúc, bực bội nổi lên. Lúc đó các pháp vận hành như vậy nhưng chúng ta không thấy mà để sanh khởi tự ngã. Đối với con mắt (căn) cũng sanh khởi tự ngã, cái tôi; đối với sắc (trần) cũng sanh khởi tự ngã; đối với sự rõ biết (thức) cũng sanh khởi tự ngã; khi tiếp xúc (xúc) cũng sanh khởi tự ngã, trong cảm thọ (thọ) cũng sanh khởi tự ngã và trong sự yêu thích (ái), nắm giữ (thủ) cũng sanh khởi tự ngã. Khi nắm giữ như vậy sẽ sanh ra thủ, từ thủ sanh ra hữu, tức là có sự hiện hữu.
Ái – nguyên nhân của khổ đau
Tiếp theo, nhìn ở khía cạnh thứ hai, chúng ta yêu thích con mắt (căn), yêu thích cái mà con mắt thấy (trần), yêu thích sự rõ biết (thức), yêu thích sự tiếp xúc của con mắt (xúc), yêu thích cảm giác sanh khởi khi mắt tiếp xúc (thọ), chúng ta ái sự yêu thích đó, yêu thích sự nắm giữ (thủ) và yêu thích sự hiện hữu, đó chính là hữu ái. Một món đồ nào đó được đặt ở trên bàn học của mình cũng là do có sự thích, muốn. Trong túi xách có món đồ đó cũng là do ái. Mình ở trong căn nhà hoặc ngôi chùa đó nhưng không bỏ đi được cũng là vì ái. Chúng ta đắm đuối, yêu thích, ràng buộc, trói cột, đau khổ, lo lắng, bất an, sầu khổ, sợ hãi vì thân xác, hình hài này cũng do ái mà ra. “Do ái sanh ưu, do ái sanh bố – Nhược ly ưu ái, hà ly hà bố”, tức là vì yêu thích mà sanh lo lắng, vì yêu thích mà sanh sợ hãi. Cho nên, từ nơi ái mà sanh ra những lo lắng, sợ hãi, bất an, khổ sầu, phiền não. Sanh, lão, bệnh, từ cũng từ nơi ái. Tứ thực tập khởi cũng là do yêu thích và không chỉ riêng bốn loại thức ăn, mà tất cả những thứ khác đều sanh khởi từ nơi ái.
Vì thế, ái chính là kẻ thù số một của chúng ta, nó là nguyên nhân của đau khổ, là Khổ Tập Thánh Đế. Khổ – Tập – Diệt – Đạo chính là sự quăng bỏ, từ bỏ, trừ khử, vứt bỏ hoàn toàn khát ái này, đó là tất cả pháp hành của Phật giáo. Bởi vì do yêu thích mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; yêu thích sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; yêu thích nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức; yêu thích nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc; yêu thích thọ do nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc sanh… nên có sự nắm giữ những thứ đó và có ra sự hiện hữu. Chính vì vậy, sự tu này là dùng mọi phương pháp để gỡ bỏ ái từ từ. Khi ái càng nhẹ, càng mỏng thì chúng ta càng bớt khổ, ngược lại, ái càng nặng nề, càng xâm chiếm, càng chế ngự, càng áp đảo nhiều chừng nào thì mình càng lo lắng, bất an, sợ hãi, khổ sầu nhiều chừng đó. Cho nên, chúng ta phải xem lại những thọ, tưởng, hành, cảm giác, nghĩ, tưởng đối với từng sắc, thanh, hương, vị xúc để gỡ ái ra, nếu không sẽ rất đau khổ.
Điển hình như câu chuyện của một người mẹ có đứa con gái đã mất hơn sáu năm nhưng không có ngày nào người mẹ không khóc vì con, thậm chí còn có ý định tự tử theo con. Bởi vì chỉ có một đứa con gái duy nhất, vừa thông minh, vừa xinh đẹp, bây giờ người con đó mất đi nên người mẹ không sống nổi, luôn luôn bất an, khổ sầu, nhớ nhung, thương yêu. Khi đó, những hình bóng, cảm giác cứ hiện lên, những suy nghĩ cứ lòng vòng không ra được, tâm dẫn dắt chìm trong ái với người thân nên người này cứ đau khổ hoài, không muốn sống nữa, chỉ muốn chết. Hoặc cảnh vợ chồng phân ly trong mùa dịch, cách nhau nửa vòng trái đất, cứ nhớ nhung, day dứt, dày xéo, đau khổ, quằn quại trong lòng.
Cảm thọ của thiện pháp
Như vậy, cảm thọ chi phối, dẫn dắt tất cả các pháp. Bên cạnh những cảm thọ của pháp bất thiện là những cảm thọ của thiện pháp. Cảm thọ hân hoan, hỷ lạc trong học pháp và hành pháp là những cảm thọ không liên hệ đến vật chất. Đối lập với những cảm thọ vật chất của bất thiện pháp là những cảm thọ phi vật chất của thiện pháp.
Qua bài pháp hôm nay, chúng ta để ý rằng, lúc mới tu thì không thể đoạn được cảm thọ, mà điều quan trọng là tập nhận diện ra các cảm thọ. Lúc đầu chỉ nhận diện chung chung là vui, khổ, không vui không khổ, nhưng sau đó, chúng ta tập nhận diện chi tiết ở sáu chỗ: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sự tu của chúng ta là nhiếp phục những cảm thọ ác bất thiện pháp, tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã. Song song đó là chuyển hướng cảm thọ, phát huy cảm thọ qua sự tinh cần, tinh tấn, từ, bi, hỷ, xả, siêng năng, nỗ lực, hướng thượng, tiến lên đối với thiện pháp.
Chúng ta dùng cảm thọ để tu chứ chưa diệt cảm thọ được. Hãy cố gắng nhiếp phục những cảm thọ xấu ác, bất thiện pháp, tham, sân, si, bản ngã và phát huy những cảm thọ tinh cần, tinh tấn, từ, bi, hỷ, xả. Chúng ta cần xem cảm thọ nào trong người còn nặng nhất để tập trung thời gian, công phu, để tâm vào tiêu diệt nó, ví dụ như cảm thọ về dục, sân, vô minh, si mê, bản ngã. Phải nhớ ba điều căn bản, quan trọng, cốt lõi nhất trong sự tu học là diệt dục, diệt bản ngã và diệt tâm hướng ngoại. Song song đó, chúng ta cần phát huy những cảm thọ hiền thiện, hiền trí, hiền đức, hiền lành, những cảm thọ của tâm thương, tâm hiểu, tâm buông xả. Phải để ý, nhận diện thật sâu sắc các cảm thọ, đừng để tâm mờ tối, không thấy, không biết rồi để cho những cảm thọ qua mặt và dẫn dắt mình, bằng không, sau này mình sẽ hối hận.
Như vậy, chúng ta đã tìm hiểu chủ đề tâm hướng dẫn thế giới, tâm dẫn dắt thế giới, cảm thọ dẫn dắt ngũ uẩn. Qua đó, chúng ta phải thấy việc chúng ta cần tu tập là khéo léo dẫn dắt cảm thọ theo chiều hướng hiền thiện, trí tuệ, đừng để cảm thọ dẫn dắt mình theo chiều hướng tham, sân, si và bản ngã.
./.
MẬT MÃ THẾ GIỚI 6
TÂM DẪN DẮT THẾ GIỚI
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tâm dẫn dắt thế giới PAGEREF _Toc87385937 \h 1
II.Trí tuệ về cảm thọ PAGEREF _Toc87385938 \h 3
1.Bài kinh “Một Pháp Môn Quyết Trạch” PAGEREF _Toc87385939 \h 4
2.Trú xứ của sáu cảm thọ PAGEREF _Toc87385940 \h 6
3.Sự trói buộc PAGEREF _Toc87385941 \h 9
4.Ái – nguyên nhân của khổ đau PAGEREF _Toc87385942 \h 10
5.Cảm thọ của thiện pháp PAGEREF _Toc87385943 \h 11
Tâm dẫn dắt thế giới
Bài kinh “Con Đường Sai Lạc”, Tăng Chi Bộ Kinh II sẽ trả lời cho câu hỏi “cái gì hướng dẫn thế giới, cái gì dẫn dắt thế giới”.
Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, thế giới do cái gì hướng dẫn, thế giới do cái gì được diễn tiến, đi đến sự thuần phục của cái gì được khởi lên?
- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Hiền thiện là con đường Thầy đặt vấn đề, hiền thiện là sự biện tài, hiền thiện là câu hỏi! Này Tỷ-kheo, có phải Thầy hỏi như sau: "Bạch Thế Tôn, thế giới do cái gì hướng dẫn, thế giới do cái gì được diễn tiến, đi đến sự thuần phục của cái gì được khởi lên?".
Đức Thế Tôn khen ngợi câu hỏi của thầy Tỳ-kheo rất tuyệt vời, rất tốt lành, rất hiền thiện, rất lợi ích cho chính thầy ấy và cho hữu tình chúng sanh. Cách thầy Tỳ-kheo đặt câu hỏi cũng hết sức tốt lành, khéo léo. Câu hỏi của thầy Tỳ-kheo gồm ba vấn đề:
Thế giới này do cái gì hướng dẫn, do cái gì dẫn dắt, do cái gì điều khiển?
Thế giới này do cái gì mà được diễn tiến, được tiếp diễn, được đi tới, được vận hành, được tiếp nối, được tiếp tục?
Đi đến sự thuần phục của cái gì mà thế giới này được khởi lên?
Có rất nhiều người hỏi Phật nhưng không phải câu hỏi nào Đức Phật cũng khen ngợi. Những câu hỏi của vị Tỳ-kheo này không phải dễ hiểu, cho nên Đức Phật ngợi khen rất nhiều. Đức Phật khen ngợi tốt lành là cách đặt vấn đề, khéo léo là sự biện tài, tốt lành là câu hỏi của thầy Tỳ-kheo.
Chúng ta phải chiêm nghiệm từng lời kinh vì nó rất sâu xa, thâm thúy và trí tuệ. Đừng chỉ đọc hay nghe phớt qua, mà hãy lấy đó làm đề mục để chiêm nghiệm, suy tư, nhìn ngó vào trong lẫn ngoài. Cũng như trong kinh Tứ Niệm Xứ, phải quán thân trên thân, quán thân trên nội thân, quán thân trên ngoại thân, quán thân trên nội thân ngoại thân, quán sự sanh diệt trên thân… tức là phải quán bên trong, bên ngoài, quán tất cả mọi khía cạnh. Cũng vậy, mỗi một vấn đề trong pháp, chúng ta phải nhìn cho thật sâu sắc và chiêm nghiệm thì sẽ thấy được nhiều điều tuyệt vời mà trước giờ mình chưa từng thấy, chưa từng nghe.
Sau khi khen ngợi xong, Đức Phật lặp lại những câu hỏi đó và hỏi thầy Tỳ-kheo có phải hỏi như vậy không. Qua đó, chúng ta thấy những câu hỏi trên rất quan trọng. Thầy Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Này Tỷ-kheo, thế giới do tâm hướng dẫn. Thế giới do tâm được diễn tiến, đi đến sự thuần phục của tâm được khởi lên.
Thế giới này do tâm hướng dẫn, thế này này do tâm được diễn tiến và thế giới này do đi đến đến sự thuần phục của tâm mà được khởi lên. Như vậy, Đức Phật dùng một từ “tâm” để trả lời câu hỏi trên.
- Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. (Tăng Chi Bộ Kinh II, 4. Chương Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ, bài kinh Con Đường Sai Lạc)
Từ thân xác chúng ta đang nơi đây, đến cảnh vật núi đồi xung quanh bên ngoài, rộng ra là các thành phố, tỉnh thành, ba miền đất nước trên bản đồ hình chữ S và khắp các châu lục: châu Á, châu Âu, châu Úc, châu Mỹ, châu Phi, cho đến giáp vòng cả quả địa cầu, hành tinh này… tất cả đều do tâm hướng dẫn; đều do tâm được diễn tiến; đều do tâm đi đến sự thuần phục mà khởi lên. Chẳng những trái đất này, mà các tầng trời của dục giới, sắc giới, các tầng trời vô sắc, không có hình sắc… đều do tâm dẫn dắt; đều do tâm mà được tiếp tục, tiếp diễn, vận hành; đều do tâm đi đến sự thuần phục mà khởi lên. Chỉ một câu này mà là cả một đề tài thiền quán cho chúng ta.
Thu gần lại để dễ thấy, đầu tiên, thân xác này có phải do tâm sai khiến, dẫn dắt, sai bảo không? Nó kêu mình đi thì mình đi, nó sai mình nằm thì mình nằm. Mà tâm chính là thọ, tưởng, hành, thức. Trước đây, khi chưa có sự nhận diện năm uẩn, nói đến tâm thì chúng ta không biết nó là gì, nghĩ mù mờ rằng tâm đại khái là suy nghĩ, nhận thức, chứ không thấy được bốn lĩnh vực, bốn nhóm, bốn tổ hợp của tinh thần. Nói vắn tắt lại, thân này do những cảm xúc, nghĩ, tưởng dẫn dắt, hướng dẫn và điều khiển. Đào sâu vào bên trong thì chính là thọ, tưởng, hành điều khiển thế giới này, chứ không còn gì khác. Khi học trí ngũ uẩn rồi thì chúng ta nắm được cả thế giới, cả vũ trụ này trong lòng bàn tay của mình.
Chúng ta đầu tròn, đắp y, ngồi nghe pháp trên núi như bây giờ là do tâm dẫn dắt, nghe theo những cảm giác, nhận thức, nghĩ, tưởng của mình. Những người trong tù cũng bị tâm sai khiến, bị những cảm giác, nghĩ, tưởng, nhận thức điều khiển. Những người hy sinh, lo cho cả nhân loại, thậm chí hy sinh cả tính mạng cũng do tâm hướng dẫn. Những cảnh sắc chúng ta đang thấy, thiền đường này, cách bày trí này, tên ngọn núi này… tất cả cũng do tâm đặt ra, thiết kế, bày trí. Nơi chúng ta đang ở: thôn Tà Ngào, xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng, cũng là do tâm đặt tên. Như vậy, tất cả các pháp đều do tâm hướng dẫn; thọ, tưởng, hành, thức tiếp diễn. Cái tâm này ngoài tạo dựng ra thì nó cũng hủy diệt, khi nó nổi loạn lên, phun ra lửa thì tất cả thành đống tro tàn. Như vậy, sanh do tâm, tạo dựng do tâm và hủy diệt cũng do tâm, đó chính là tâm điều khiển.
Trí tuệ về cảm thọ
Chúng ta cần để tâm rất nhiều vào cái tâm này. Tâm gồm thọ, tưởng, hành, thức nhưng chỗ thâm sâu nhất là kho tàng của cảm thọ, tức là những dòng cảm xúc. Vì vậy, chúng ta sẽ đi vào trí tuệ về cảm thọ trong bài kinh “Một Pháp Môn Quyết Trạch”, Tăng Chi Bộ III.
Bài kinh “Một Pháp Môn Quyết Trạch”
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết cảm thọ, cần phải biết các cảm thọ duyên khởi, cần phải biết các cảm thọ sai biệt, cần phải biết các cảm thọ dị thục, cần phải biết cấc cảm thọ đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến các cảm thọ đoạn diệt.
Những cảm thọ, cảm xúc, cảm giác bốc lên, nung lên và từ đó những hình bóng, suy nghĩ vận hành… thọ, tưởng, hành đó chính là tâm. Chúng ta sẽ tìm hiểu xem tâm dẫn dắt, điều khiển như thế nào trong sáu căn, sáu trần, sáu thức này.
Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này: lạc thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các cảm thọ sanh khởi?
Xúc, này các Tỷ-kheo, là các cảm thọ sanh khởi.
Khi tiếp xúc thì các cảm giác, cảm thọ sẽ sanh khởi.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các cảm thọ sai biệt?
Này các Tỷ-kheo, có các lạc thọ liên hệ đến vật chất, có các lạc thọ không liên hệ đến vật chất; có các khổ thọ liên hệ đến vật chất, có các khổ thọ không liên hệ đến vật chất; có các cảm thọ không khổ không lạc liên hệ đến vật chất, có các cảm thọ không khổ không lạc không liên hệ đến vật chất. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các cảm thọ sai biệt.
Tức là gồm có ba cảm thọ nhưng thuộc về hai lĩnh vực: liên hệ vật chất và không liên hệ đến vật chất, cho nên, tổng cộng gồm có sáu loại cảm thọ khác nhau.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các cảm thọ dị thục?
Này các Tỷ-kheo, khi nào cảm thọ cái gì, sanh khởi một tự ngã khởi lên từ vật ấy, từ vật ấy, để dự phần phước đức, hay để dự phần không phước đức. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các cảm thọ dị thục.
Chúng ta thấy điều này rất rõ, khi ăn một món ăn ngon thì sẽ nói “tôi thấy ngon quá”, hoặc ăn một món ăn dở sẽ nói “tôi thấy dở quá”. Như vậy, khi cảm thọ, cảm xúc một điều gì đó thì sẽ khởi lên một tự ngã, cho rằng “tôi” cảm thọ, cảm xúc, cảm nhận cái đó. Và cảm nhận đó là tham, sân, si hoặc là từ, bi, hỷ, xả; là thiện pháp hoặc là bất thiện pháp. Nếu là bất thiện pháp thì dự phần không phước đức – tội; nếu là thiện pháp thì dự phần phước đức – phước.
Cho nên, khi cảm thọ bất cứ điều gì thì chúng ta cũng khởi lên tự ngã, ví dụ đang giận thì mình đồng hóa với nó “tôi đang giận lắm”. Cảm thọ nào sanh khởi thì chúng ta cũng chụp lấy nó, cho nó là của tôi, đó gọi là “khi nào cảm thọ cái gì, sanh khởi một tự ngã khởi lên từ vật ấy”, chữ “vật” này bao gồm cả vật chất lẫn tinh thần. Ví dụ, nhìn thấy tượng Phật đẹp, xuýt xoa “tượng này đẹp quá, tôi thích”, hoặc nhìn ngồi chùa đẹp thì thấy rằng “chùa của tôi đẹp quá”, đó là khởi tự ngã lên vào những thứ vật chất. Còn về phần trong tâm, khi giận lên thì nói là “tôi giận”, cảm thọ một cái gì cũng gắn tự ngã vào đó hoặc sanh khởi lên tự ngã.
Thành ra, chúng ta phải nhận diện thật sâu sắc về các cảm thọ. Mỗi một cảm thọ sanh khởi lên đều gắn tự ngã, gắn cái tôi vào, từ đó mới trở thành thân kiến, bản ngã, chấp ngã, trở thành thọ thủ uẩn. Bất cứ cái nào sanh khởi lên trong ngũ uẩn cũng đều dán nhãn, đóng mộc, để logo “tôi” vào đó. Bất cứ suy nghĩ, hình bóng nào sanh khởi lên cũng gắn tôi vào đó, “tôi suy nghĩ”, “suy nghĩ của tôi”, “hình bóng của tôi”. Đó gọi là “khi nào cảm thọ cái gì, sanh khởi một tự ngã khởi lên từ vật ấy, từ vật ấy, để dự phần phước đức, hay để dự phần không phước đức. Đây gọi là các cảm thọ dị thục”.
Vậy, tại sao cảm thọ dị thục, biến đổi, chín muồi? Điều này căn cứ vào cảm thọ thiện hay bất thiện, nghĩa là, tuy vẫn khởi bản ngã lên nhưng quan trọng là đi theo chiều lên hay xuống. Nếu đi chiều hướng lên thì dự phần phước đức, còn đi theo chiều xuống thì dự phần tội lỗi, còn đi theo chiều thường thường ngang ngang thì không tội cũng không phước.
Bất cứ một sắc nào được sanh khởi, có mặt ở trong nhà thì mình cũng đều gắn nhãn, để logo tự ngã, “của tôi” lên đó. Bất cứ hình bóng, suy nghĩ, nhận thức nào cũng gắn cái tôi vào đó, đó chính là thân kiến, là chấp ngã, là bản ngã. Vậy mà khi được chỉ ra bản ngã thì có người nói rằng không có gì là bản ngã, tất cả đều là trống không, vô ngã. Đó chính là bản ngã tráo trở, lật lọng, che đậy, vô minh, ngụy biện, quanh co, giấu lỗi lầm, từ đó tạo thành đau khổ đối với năm thủ uẩn. Bởi vì cảm thọ luôn biến đổi, “tự tánh đổi khác” – đây là những câu từ quan trọng trong kinh, cần phải ghi nhớ, dành dụm, khắc ghi để quán chiếu. Tự tánh đổi khác là biến hoại, vô thường, không có tự ngã, không có tự thể, là trống rỗng. Nguyên nhân có chữ “thủ” ở trong năm uẩn là vậy, bởi vì gắn tôi vào ngũ uẩn nên có sự nắm giữ ở trong đó.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các cảm thọ đoạn diệt?
Xúc đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, là các cảm thọ đoạn diệt.
Khi chấm dứt xúc thì sẽ không còn sanh khởi ra cảm thọ, tức là cảm thọ sẽ chấm dứt. Con đường Thánh đạo tám ngành đưa đến các cảm thọ đoạn diệt. Tức là thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng và định đúng. Cái đúng này là cái đúng của bậc Thánh chứ không phải cái đúng của phàm phu, cái đúng này là cái đúng của chân lý tuyệt đối từ Đức Thế Tôn – bậc tri giả, bậc kiến giả, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Và khi nào, này các Tỷ kheo, vị Thánh đệ tử rõ biết các cảm thọ như vậy (trí thứ 1), rõ biết các cảm thọ sanh khởi như vậy (trí thứ 2), rõ biết các cảm thọ sai biệt như vậy (trí thứ 3), rõ biết các cảm thọ dị thục như vậy (trí thứ 4), rõ biết các cảm thọ đoạn diệt như vậy (trí thứ 5), khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là các cảm thọ đoạn diệt. (Tăng Chi Bộ Kinh III, Chương Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Trú xứ của sáu cảm thọ
Chúng ta từ từ nhận diện sâu vào các cảm thọ thì sẽ thấy nó rất khủng khiếp. Trước nay chúng ta chỉ học về đặc tính của ba cảm thọ mà ít tìm hiểu về trú xứ, căn cứ của sáu cảm thọ, tức là: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh.
Khi con mắt (căn) tiếp xúc với sắc (trần) sẽ sanh ra sự rõ biết (thức). Căn, trần, thức này giao thoa với nhau là xúc. Do duyên có xúc nên sanh khởi cảm thọ. Điểm quan trọng chúng ta cần phải để tâm là mỗi khi sanh khởi lạc thọ thì con mắt lúc đó như thế nào. Cụ thể, khi mắt nhìn thấy một món đồ đẹp, một cảnh tượng đẹp, một con người đẹp thì ba pháp: con mắt, đối tượng đẹp, sự rõ biết hội họp lại với nhau và sanh khởi ra cảm thọ “đã con mắt”. Ở đây, con mắt chính là chỗ căn cứ để cảm thọ biểu hiện ra. Ví dụ, khi nhìn người yêu thương thì ánh mắt sẽ thể hiện sự trìu mến; khi nhìn một người mình ghét hoặc thù hận thì ánh mắt sẽ thể hiện ra điều đó; còn khi nhìn người không thương không ghét thì ánh mắt sẽ bình thường. Như vậy, cảm thọ sẽ biểu hiện ở chỗ con mắt, đây là thọ do nhãn xúc sanh. Lúc đó, chúng ta phải nhận diện cảm thọ sanh khởi ngay chỗ con mắt, như vậy mới gọi là thọ do nhãn xúc sanh. Còn nếu chỉ nhìn chung chung thì không hoàn toàn chính xác, vì vậy, phải nhìn ngay chỗ phát khởi ra cảm thọ.
Người ta thường nói “sướng tai, gai mắt”, “đã con mắt, sướng lỗ tai”, ví dụ khi nghe một bài nhạc hay thì cảm thọ thích sướng sẽ có ngay chỗ lỗ tai. Khi có mùi thơm thì mình muốn ngửi, mũi hít hít, hỉnh hình lên, đó là thọ do tỷ xúc sanh. Tất cả những điều đó là sự biến động của các cảm thọ, chạy theo sự thích thích, khoái khoái, muốn muốn, bên trong là sự thúc giục. Khi ăn một món ngon thì lưỡi tê tê, đó là lạc thọ do thiệt xúc sanh.
Khi gặp một đóa hoa thơm, người ta ngắt hoa xong để lên mũi để ngửi, đó cũng là chạy theo thọ, hít vào để xúc, từ xúc có được thọ, từ đó mà “đã con mắt, sướng lỗ tai, khoái lỗ mũi, tê cái lưỡi”. Thân này cũng vậy, lúc đau khổ cũng giật run lên, hoặc lúc sung sướng cũng run lên. Chẳng hạn, một người bị đạn bắn, dao chém vào người sẽ co giật, đau đớn, khổ sở; còn người vui sướng cả người cũng run lên, đó là thọ do thân xúc sanh.
Khi nhận diện cảm thọ thì phải nhìn cho thật sâu sắc, ví dụ, khi lưỡi tiếp xúc với món ăn rồi sanh ra cảm giác khoái, thích thì lúc đó có sự kết hợp với dục, tham và ái. Cụ thể, bên trong là sự thúc giục muốn nuốt nhanh, ăn vào thì thích thích, khoái khoái nên cứ muốn thêm, muốn thêm. Thân này cũng vậy, khi tiếp xúc với cái gì êm ái, mềm mại thì sẽ yêu thích, bên trong có cảm giác thúc giục và cứ muốn xúc thêm. Như vậy, chúng ta phải nhận diện được chỗ cư trú của sáu cảm thọ.
Người đời có câu “thấy tiền thì mắt sáng lên”, đó chính là thọ do nhãn xúc sanh, do xúc với những thứ thích, khoái, muốn nên sáng mắt ra. Ví dụ, thấy tiền thì mắt sáng ra, thấy người đẹp thì đi theo hoài. Thế nên, chúng ta phải để ý sự vận hành ngay chỗ đôi mắt mỗi khi sanh khởi lạc thọ do nhìn thấy một thứ gì đó; khi nghe được cái gì thích thú thì phải xem lại cảm thọ ngay chỗ lỗ tai; mũi ngửi được mùi thơm thì phải xem lại biểu hiện của nó, ví dụ ngắt hoa, đưa vào lỗ mũi hít sâu dài để tận hưởng mùi thơm; lưỡi và thân cũng vậy. Như vậy, khi tiếp xúc và sanh khởi những cảm giác mình phải để ý những biểu hiện đó.
Lúc sanh khởi khổ thọ chúng ta cũng phải nhận diện rõ ràng. Khi đó, con mắt sẽ biểu hiện ra những trạng thái khó chịu: liếc, háy, trừng, trợn… đó cũng là biểu hiện của cảm thọ. Nếu không nhận thức, không nhận diện những biểu hiệu này một cách sâu sắc thì có khi mình liếc người ta mà cũng không biết là mình liếc. Đó là vì chúng ta không có sự chánh niệm tỉnh giác, không nhận diện được những sự máy động, động chuyển, hoạt động, bạo động, nổi loạn của con mắt. Cho nên, khi gặp một cái gì gai mắt thì lập tức phải kiểm tra con mắt, xem mắt dữ hay mắt hiền, mắt thiền hay mắt liếc. Nhờ có sự kiểm tra mà chúng ta có sự hộ trì căn ở bên ngoài, có sự tỉnh giác chánh niệm ở bên trong và có sự quán thọ trong các cảm thọ. Từ đó, chúng ta mới nhìn ra được chuỗi vận hành của các dòng cảm thọ. Bằng không, thân này muốn đi nhanh thì bên trong có sự thúc giục, khi leo lên chiếc xe phân khối lớn, vừa đề máy lên thì phóng nhanh ngay lập tức, cũng vì vậy mà nhiều tai nạn đau lòng xảy ra.
Vì vậy, nhận diện ngay khi cảm thọ sanh khởi nên mới gọi là quán thọ trên thọ, quán thọ trong, thọ ngoài, thọ trên, thọ dưới, thọ chặng giữa, quán tất cả sự sanh diệt của các cảm thọ. Nếu không nhận diện như vậy, mỗi khi một cảm thọ sung sướng của con mắt sanh khởi thì con mắt này trở thành mờ tối, mù lòa; khi nghe tiếng chửi thì lỗ tai cũng trở nên mờ tối, mù lòa; khi bị ai đụng chạm đến bản ngã, tự ái thì tất cả các căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng trở thành mù lòa. Cho nên, bài kinh “Mù Lòa” cần phải học thật kỹ, không phải chỉ đọc phớt qua, dâng trào một chút cảm thọ rồi thôi. Nếu không có sự thực hành thường xuyên thì mỗi khi cảm thọ tham ái hoặc sân hận sanh khởi lên là mình không còn nhận diện được gì nữa.
Sự trói buộc
Tiếp theo, chúng ta quán chiếu về sự trói buộc khi tiếp xúc. Lúc con mắt tiếp xúc với người đẹp, cảnh đẹp, món đồ đẹp thì lúc đó con mắt bị trói; sắc bị trói; sự rõ biết bị trói; cảm giác ham, khoái, mê, thích bị trói; dục, tham, ái bị trói. Có người nhìn theo một người đẹp, dù người ta đi ngang qua rồi nhưng cứ đứng tần ngần nhìn theo hoài. Lúc đó, mắt người này bị trói cột vào sắc, sự rõ biết cũng bị trói cột, xúc cũng bị trói cột và thọ cũng bị trói cột vào trong những sự thúc giục, tham muốn, ưa thích. Thọ là sự tiếp nhận, thọ nhận, tức là nhận vào, nhận lấy nên những hình sắc đó đi vào trong tâm mình, những suy tư, ưa thích cũng đi vào, từ đó sanh khởi sắc tưởng, sắc tư và chúng ta bị trói trong hình bóng, suy nghĩ về sắc đó. Như vậy, chúng ta ở trong cả một chuỗi dài bị trói cột: căn bị trói, trần bị trói, thức bị trói, xúc bị trói, thọ bị trói, ái bị trói… Và sau ái chính là thủ – sự nắm giữ, như vậy đến đây là sự trói cột đó đại thành công, đại hoàn thành. Vì vậy, Đức Thế Tôn có dạy rằng, “kẻ vô văn phàm phu khi có một cảm thọ vui sướng sanh khởi thì người này giống như đang bị trói cột”. Chỉ một câu nói của Đức Thế Tôn nhưng chúng ta cần phải chiêm nghiệm sâu sắc như vậy.
Chúng ta có đang bị trói không? Ví dụ nghe được một bản nhạc yêu thích thì rất đã lỗ tai, nếu có ai bấm tắt thì cụt hứng, tuột cảm xúc, bực bội nổi lên. Lúc đó các pháp vận hành như vậy nhưng chúng ta không thấy mà để sanh khởi tự ngã. Đối với con mắt (căn) cũng sanh khởi tự ngã, cái tôi; đối với sắc (trần) cũng sanh khởi tự ngã; đối với sự rõ biết (thức) cũng sanh khởi tự ngã; khi tiếp xúc (xúc) cũng sanh khởi tự ngã, trong cảm thọ (thọ) cũng sanh khởi tự ngã và trong sự yêu thích (ái), nắm giữ (thủ) cũng sanh khởi tự ngã. Khi nắm giữ như vậy sẽ sanh ra thủ, từ thủ sanh ra hữu, tức là có sự hiện hữu.
Ái – nguyên nhân của khổ đau
Tiếp theo, nhìn ở khía cạnh thứ hai, chúng ta yêu thích con mắt (căn), yêu thích cái mà con mắt thấy (trần), yêu thích sự rõ biết (thức), yêu thích sự tiếp xúc của con mắt (xúc), yêu thích cảm giác sanh khởi khi mắt tiếp xúc (thọ), chúng ta ái sự yêu thích đó, yêu thích sự nắm giữ (thủ) và yêu thích sự hiện hữu, đó chính là hữu ái. Một món đồ nào đó được đặt ở trên bàn học của mình cũng là do có sự thích, muốn. Trong túi xách có món đồ đó cũng là do ái. Mình ở trong căn nhà hoặc ngôi chùa đó nhưng không bỏ đi được cũng là vì ái. Chúng ta đắm đuối, yêu thích, ràng buộc, trói cột, đau khổ, lo lắng, bất an, sầu khổ, sợ hãi vì thân xác, hình hài này cũng do ái mà ra. “Do ái sanh ưu, do ái sanh bố – Nhược ly ưu ái, hà ly hà bố”, tức là vì yêu thích mà sanh lo lắng, vì yêu thích mà sanh sợ hãi. Cho nên, từ nơi ái mà sanh ra những lo lắng, sợ hãi, bất an, khổ sầu, phiền não. Sanh, lão, bệnh, từ cũng từ nơi ái. Tứ thực tập khởi cũng là do yêu thích và không chỉ riêng bốn loại thức ăn, mà tất cả những thứ khác đều sanh khởi từ nơi ái.
Vì thế, ái chính là kẻ thù số một của chúng ta, nó là nguyên nhân của đau khổ, là Khổ Tập Thánh Đế. Khổ – Tập – Diệt – Đạo chính là sự quăng bỏ, từ bỏ, trừ khử, vứt bỏ hoàn toàn khát ái này, đó là tất cả pháp hành của Phật giáo. Bởi vì do yêu thích mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; yêu thích sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; yêu thích nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức; yêu thích nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc; yêu thích thọ do nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc sanh… nên có sự nắm giữ những thứ đó và có ra sự hiện hữu. Chính vì vậy, sự tu này là dùng mọi phương pháp để gỡ bỏ ái từ từ. Khi ái càng nhẹ, càng mỏng thì chúng ta càng bớt khổ, ngược lại, ái càng nặng nề, càng xâm chiếm, càng chế ngự, càng áp đảo nhiều chừng nào thì mình càng lo lắng, bất an, sợ hãi, khổ sầu nhiều chừng đó. Cho nên, chúng ta phải xem lại những thọ, tưởng, hành, cảm giác, nghĩ, tưởng đối với từng sắc, thanh, hương, vị xúc để gỡ ái ra, nếu không sẽ rất đau khổ.
Điển hình như câu chuyện của một người mẹ có đứa con gái đã mất hơn sáu năm nhưng không có ngày nào người mẹ không khóc vì con, thậm chí còn có ý định tự tử theo con. Bởi vì chỉ có một đứa con gái duy nhất, vừa thông minh, vừa xinh đẹp, bây giờ người con đó mất đi nên người mẹ không sống nổi, luôn luôn bất an, khổ sầu, nhớ nhung, thương yêu. Khi đó, những hình bóng, cảm giác cứ hiện lên, những suy nghĩ cứ lòng vòng không ra được, tâm dẫn dắt chìm trong ái với người thân nên người này cứ đau khổ hoài, không muốn sống nữa, chỉ muốn chết. Hoặc cảnh vợ chồng phân ly trong mùa dịch, cách nhau nửa vòng trái đất, cứ nhớ nhung, day dứt, dày xéo, đau khổ, quằn quại trong lòng.
Cảm thọ của thiện pháp
Như vậy, cảm thọ chi phối, dẫn dắt tất cả các pháp. Bên cạnh những cảm thọ của pháp bất thiện là những cảm thọ của thiện pháp. Cảm thọ hân hoan, hỷ lạc trong học pháp và hành pháp là những cảm thọ không liên hệ đến vật chất. Đối lập với những cảm thọ vật chất của bất thiện pháp là những cảm thọ phi vật chất của thiện pháp.
Qua bài pháp hôm nay, chúng ta để ý rằng, lúc mới tu thì không thể đoạn được cảm thọ, mà điều quan trọng là tập nhận diện ra các cảm thọ. Lúc đầu chỉ nhận diện chung chung là vui, khổ, không vui không khổ, nhưng sau đó, chúng ta tập nhận diện chi tiết ở sáu chỗ: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sự tu của chúng ta là nhiếp phục những cảm thọ ác bất thiện pháp, tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã. Song song đó là chuyển hướng cảm thọ, phát huy cảm thọ qua sự tinh cần, tinh tấn, từ, bi, hỷ, xả, siêng năng, nỗ lực, hướng thượng, tiến lên đối với thiện pháp.
Chúng ta dùng cảm thọ để tu chứ chưa diệt cảm thọ được. Hãy cố gắng nhiếp phục những cảm thọ xấu ác, bất thiện pháp, tham, sân, si, bản ngã và phát huy những cảm thọ tinh cần, tinh tấn, từ, bi, hỷ, xả. Chúng ta cần xem cảm thọ nào trong người còn nặng nhất để tập trung thời gian, công phu, để tâm vào tiêu diệt nó, ví dụ như cảm thọ về dục, sân, vô minh, si mê, bản ngã. Phải nhớ ba điều căn bản, quan trọng, cốt lõi nhất trong sự tu học là diệt dục, diệt bản ngã và diệt tâm hướng ngoại. Song song đó, chúng ta cần phát huy những cảm thọ hiền thiện, hiền trí, hiền đức, hiền lành, những cảm thọ của tâm thương, tâm hiểu, tâm buông xả. Phải để ý, nhận diện thật sâu sắc các cảm thọ, đừng để tâm mờ tối, không thấy, không biết rồi để cho những cảm thọ qua mặt và dẫn dắt mình, bằng không, sau này mình sẽ hối hận.
Như vậy, chúng ta đã tìm hiểu chủ đề tâm hướng dẫn thế giới, tâm dẫn dắt thế giới, cảm thọ dẫn dắt ngũ uẩn. Qua đó, chúng ta phải thấy việc chúng ta cần tu tập là khéo léo dẫn dắt cảm thọ theo chiều hướng hiền thiện, trí tuệ, đừng để cảm thọ dẫn dắt mình theo chiều hướng tham, sân, si và bản ngã.
./.