Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Khổ Thánh Trí 2 - Sự Vận Hành Của Khổ

2026-03-03 00:55:01
Kinh Nikāya Giảng Giải

Khổ Thánh Trí 2

Sự Vận Hành Của Khổ

Thích Minh Thành

Ngày 20 tháng 10 năm 2021

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Mục đích tu hành PAGEREF _Toc87862284 \h 1

II. Khổ Đế PAGEREF _Toc87862285 \h 7

I. Mục đích tu hành

Kính ân đức Thế Tôn,

Kính ân đức Chánh Pháp,

Kính lễ ân đức chúng tăng

Kính thưa các bậc hiền trí, tăng ni và quý Phật tử, hôm nay là ngày rằm, bốn vị vua trời đi tuần hành trong thế giới của chúng ta. Ngày này mình cố gắng tu học nhiều hơn ngày thường, sáng Minh Thành nghe hôm nay là lễ Quốc Tế Phụ Nữ nên tăng thêm giờ tu học. Bên ngoài có lễ được tổ chức này kia còn mình lễ thì tu càng nhiều.

Hôm qua chúng ta đã tu về Khổ Thánh Trí, khổ của Minh Thành chưa tan hết, bất thình lình mở phần phân loại thì đọc được hàng chục bài về khổ, giống như trúng được kho báu, khi đọc sơ qua vài bài thì cảm thọ trào dâng. Nhưng cảm thọ quý báu như vậy trong dòng luân hồi rất hiếm có nên mình phải giữ lại, tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển, ghi lại, chia sẻ.

Nếu nói gieo duyên cho mọi người trong dòng pháp này thì chỉ cần nghe kinh này, một câu, một bài, chỉ cần phát lòng tin, sanh khởi thọ, hiền thiện với những sự thật này rúng động cảm xúc tin vận, là được phước báo vô lượng vô biên. Chúng ta khoan hãy nói về dự lưu, chỉ cần được nghe, được tiếp xúc, được có lòng tin, có được sự tiếp nhận, cảm nhận, cảm xúc, cảm thọ, cảm động, chấn động là công đức như hư không nên mình không bỏ qua những cảm thọ quý báu này. Dù làm được bao nhiêu thì làm nhưng tùy theo sức mỗi người nhưng chỉ cần nghe, tin và cố gắng thực tập theo thì đó gọi là hiếm có, châu báu trên đời.

Sáng nay có vài Phật tử hỏi thăm về pháp, Minh Thành có chia sẻ câu: “Mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ!” thì cảm xúc trào dâng. Mọi sự có mặt trên đời, mọi sự diễn biến, vận hành đều nằm trong đau khổ. Đố quý thầy cô và đại chúng biết: Mục đích của đời tu chúng ta là gì?

06:00-14:00: Phật tử trình pháp.

Thầy Pháp Tâm và mọi người đều nói đúng, đây là nói về khổ nên Đức Phật sẽ nói về khổ: Bài kinh Với mục đích gì trong Tương Ưng Bộ Kinh tập năm:

“1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2) Rồi rất nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, có những du sĩ ngoại đạo hỏi chúng con: "Do mục đích gì, này các Hiền giả, các người sống Phạm hạnh dưới Sa-môn Gotama?"”

Ý những người tu sĩ ngoại đạo muốn hỏi: “Tại sao các thầy bỏ nhà đi tu? Đi theo tôn giả Gotama? Các thầy bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ tài sản, sự nghiệp, tuổi trẻ, bỏ những thú vui ở đời để đi theo tôn giả Gotama với mục đích gì?”

“Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, chúng con trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy: "Vì mục đích liễu tri đau khổ, này chư Hiền, chúng tôi sống Phạm hạnh dưới Samôn Gotama".”

Ý câu trên là: với mục đích thấu suốt sự đau khổ. Chúng tôi bỏ cha mẹ, anh em, tuổi trẻ, sắc đẹp, tài sản, tình thương, bỏ sự nghiệp, những thú vui của cuộc đời để đi theo tôn giả Gotama với mục đích thấu suốt sự đau khổ của cuộc đời này. Liễu tri đau khổ là thấu suốt hoàn toàn về sự đau khổ, đó là mục đích bỏ nhà đi tu của chúng tôi.

“Ðược hỏi như vậy và trả lời như vậy, bạch Thế Tôn, có phải chúng con trả lời đúng với lời nói Thế Tôn, chúng con không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, chúng con trả lời đúng pháp và thuận pháp, và những ai là vị đồng pháp, nói lời đúng pháp và thuận pháp, không có cơ hội để chỉ trích?

4) -- Này các Tỷ-kheo, các Ông được hỏi như vậy và trả lời như vậy là các Ông trả lời đúng với lời của Ta, các Ông không xuyên tạc Ta với điều không thật, các Ông trả lời đúng pháp và thuận pháp, và những ai là vị đồng pháp, nói lời đúng pháp và thuận pháp, không có cơ hội để chỉ trích. Này các Tỷ-kheo, do mục đích liễu tri đau khổ mà Phạm hạnh được sống dưới Ta.”

Ý nói: Do mục đích thấu suốt tận cùng khổ đau mà các ông bỏ một cuộc đời niên thiếu, tuổi trẻ, gia đình, tình thân, tình yêu, sự nghiệp để các ông đi theo ta là vì mục đích thấu suốt sự đau khổ của thân tâm và đời sống này.

“Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các Ông: "Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến liễu tri đau khổ này?" Ðược hỏi vậy, thời các Ông hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: "Này chư Hiền, có con đường, có đạo lộ đưa đến liễu tri đau khổ này".

5) Này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường, thế nào là đạo lộ đưa đến liễu tri đau khổ? Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến liễu tri sự đau khổ này.

6) Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy.”

(Bài kinh Với mục đích gì, III. Phẩm Vô Minh, Chương I. Tương Ưng Đạo – Tập V. Thiên Đại Phẩm - Tương Ưng Bộ Kinh)

Bài kinh tương tự tiếp theo – Bài kinh Tỷ kheo, Tương Ưng Bộ Kinh tập bốn:

“1) ...

2) Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn...

3) Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, có những du sĩ ngoại đạo hỏi chúng con: " Do mục đích gì, này các Hiền giả, các người sống Phạm hạnh dưới Sa-môn Gotama? "Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, chúng con trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy: "Vì mục đích liễu tri đau khổ, này chư Hiền, chúng tôi sống Phạm hạnh dưới Samôn Gotama". Ðược hỏi vậy và được trả lời vậy, bạch Thế Tôn, có phải chúng con đã nói lên quan điểm của Thế Tôn? Và có phải chúng con không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thực? Có phải chúng con trả lời thuận pháp và đúng pháp? Và ai là người đồng pháp nói đúng pháp không tìm được lý do để chỉ trích?

4) -- Thật vậy, này các Tỷ-kheo, được hỏi vậy và được trả lời vậy, các Ông đã nói lên quan điểm của Ta. Và các Ông không xuyên tạc Ta với điều không thực. Các Ông trả lời thuận pháp và đúng pháp. Và không có người đồng pháp nói đúng pháp nào tìm được lý do để chỉ trích. Với mục đích liễu tri đau khổ, này các Tỷ-kheo, Phạm hạnh được sống dưới Ta.”

Câu “các ông đã nói lên quan điểm của ta” được hiểu là: sự chứng ngộ của Đức Phật, thực thấy, thực giác, thực chứng, thực biến về đời sống này.

5) Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo có thể hỏi các Ông như sau: "Này Hiền giả, thế nào là vì mục đích liễu tri đau khổ ấy, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama? " Ðược hỏi vậy, này các Tỷ- kheo, các Ông có thể trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau:

6-11) "Mắt, này chư Hiền, là khổ. Vì liễu tri như vậy, Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. Các sắc... Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vì liễu tri cảm thọ ấy là khổ, nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn... Ý là khổ, vì liễu tri như vậy, Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn... Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vì liễu tri cảm thọ ấy là khổ, nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. Ðây, này chư Hiền, là khổ ấy. Vì liễu tri khổ ấy, Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn".

12) Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông có thể trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy.”

(Bài kinh Tỷ-kheo, III. Phẩm bệnh – Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ - Tập IV. Thiên Sáu Xứ - Tương Ưng Bộ Kinh)

Ý nói: các sắc là khổ, tất cả mọi vật chất, hình thể, hình thái, hình thù, hình trạng, hình tướng là khổ. Vì thấy và biết như vậy nên bỏ nhà đi theo Thế Tôn để tu. Nhãn xúc và do duyên nhãn xúc khởi lên các cảm thọ đều là khổ, dù là khổ hay không vui không khổ, vì sự liễu tri – sự thấu suốt - mọi cảm xúc là khổ nên tôi bỏ nhà đi theo Sa môn Gotama để tu.

Này chư hiền, ý là khổ, vì thấu suốt như vậy nên tôi sống đời trong sạch với sự chỉ dạy của Sa môn Gotama. Do những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong tiếp xúc của ý xúc khởi lên những cảm giác gì, vui, khổ hay không vui không khổ nên khi thấu suốt mọi cảm giác đó nằm trong đau khổ nên tôi sống đời trong sạch với lời chỉ dạy của Thế Tôn.

Này chư hiền, đây là khổ, vì đã thấu suốt hoàn toàn, triệt để tất cả mọi phương diện, góc độ, khía cạnh, bản chất của đau khổ ấy nên tôi bỏ nhà xuất gia theo Thế Tôn tu học.

Những lời này nếu cả tỷ kiếp sau chúng ta sanh ra không biết có được nghe nếu mình không nhập lưu, hướng dự lưu thì dù có sống được tỷ kiếp cũng không nghe được lời này lần thứ hai. Chỉ cần đọc và nghe thôi cũng đã phước báu vô lượng. Ngoài bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì không ai có thể nói được một điểm nhỏ bên trong.

Bốn từ hôm nay chúng ta cần tìm hiểu là: liễu tri đau khổ.

Chúng ta thấy được chữ khổ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác nói đến không giống với chữ khổ của vô văn phàm phu. Ngay cả chúng ta đã xuất gia, đã học được Tứ Thánh Đế nhưng nếu chưa học qua được kinh Nikāya này thì mình vẫn hiểu chữ khổ này chỉ là bên ngoài. Nếu chỉ hiểu bên ngoài, qua loa, sơ sơ, phớt phớt như người phàm phu bình thường thì làm sao mình nhàm chán, ly tham được. Làm sao có thể đưa đến sự nhàm chán, lìa tham, hướng đến từ bỏ, đoạn diệt. xuất ly, giải thoát được?

Vậy nên khi nãy chúng ta nói là không sai, mỗi người nhìn ở một góc độ, giờ mình tu với mục đích là đoạn tham, sân, si, phá chấp ngã, nhận ra không gì là tôi và của tôi nhưng nếu không thấy khổ thì làm những điều kia không triệt để, không đến.

Khi thấy vui mình có tham? Thấy bản ngã mình có sân? Và thấy còn có cái ta trong đó thì mình có si? Cho đến khi nào cái khổ này thấm thía tận cùng, tất cả trí huệ về khổ này thành tựu, nói cho cả người xuất gia và các vị cư sĩ đều nghe.

Vì chữ khổ mà Thế Tôn dùng là Thánh Trí, không phải là chữ khổ bình thường mà phàm phu thường nói. Thật sự đối với chúng ta nói đến tám tháng, ba năm, mười năm cũng chưa hết về trí huệ về khổ này, thậm chí đến chết cũng chưa nói hết. Vì tất cả mọi gian khổ đều là khổ, nói đến khi nào cho hết. Hiện tại chúng ta đang đứng đây thì thấy là thầy khỏe, thầy an ổn và nói nhưng mình biết được cái gì đang bên trong? Người trong cuộc mới biết được. Nhiều khi nó đang bị tê, mỏi, nhức.

Giống như lúc sáng có thầy trình pháp là “Cổ của con đang bị đau nhức!” Đó là khổ bên trong, bản chất của tứ đại, của hình thể, nên mục đích của sự tu là thấu suốt được cái khổ này.

Nên chúng ta nhớ đến Ngài Achancha khi gặp các thầy thì Ngài hỏi là “Hôm nay có thấy khổ không?” “Dạ có!” Thì Ngài ấy khen là “Tốt lắm, thấy khổ là tốt lắm!” Nên đừng gặp nhau thì hỏi “Khỏe không?” Người kia nói khỏe thì đó là nói dối, là không có trí tuệ. Đây là chúng ta đang nói thâm sâu. Hỏi như vậy là bình thường. Còn khi được hỏi “Có thấy khổ không?” là một tiếng đại hồng chung, một tiếng chuông thỉnh lên, nhắc mình nhớ đến Khổ Thánh Trí.

Nên các huynh đệ, các thầy cô, bạn đạo gặp nhau thì hỏi “Dạo này có thấy khổ không?” Và đừng hỏi “Khỏe không?”

Mục đích của sự tu này là liễu tri đau khổ. Từ liễu tri là thấu suốt triệt để, hoàn toàn, trọn vẹn, tận tường tất cả các khái cạnh, góc độ của khổ đau, biết thấu đáo, triệt để, toàn diện tất cả mọi khía cạnh, phương diện của khổ.

Qua hàng chục bài kinh như vậy, khi chạm đến việc nào thì Đức Phật nói đầy đủ, mặc tình chúng ta vào đó đọc và nghiền ngẫm, tác ý. Vậy nên bài kinh sanh hôm qua chúng ta đã đọc đến nay cảm thọ cũng chưa hết và muốn đọc lại, trong Tương Ưng Sáu Xứ, để chúng ta chiêm nghiệm lời dạy của Đức Phật.

Thế Tôn nói sự hiện hữu của con mắt này là sự xuất sanh, xuất hiện, có mặt, con mắt này là khổ đau. Bài đó chúng ta cần thiền quán nhiều lần thì mới nhìn thấy được thật sự, tất cả đều chìm đắm trong khổ, không đi ra khỏi khổ. Nhiều bài kinh như thế.

II. Khổ Đế

Tại sao mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ? Trong một bài kinh khác, Đức Phật đã định nghĩa khổ, chúng ta sẽ thấy Đức Phật rất đa diện, phương tiện, rất tuyệt vời.

Bài kinh Samiddhi, định nghĩa thế nào là khổ và danh nghĩa của khổ, trong Tương Ưng Bộ tập bốn. Nên bộ kinh Tương Ưng này là vô biên, thậm thâm, pháp nghĩa, những nghĩa thâm sâu nhất đều chứa đựng trong bộ kinh này, rất khúc chiết, thâm sâu, cô đọng, hàm súc và còn bị lượt bớt vì nó khô, nhưng cực kì thâm sâu vì những bí quyết, khẩu quyết, định lý, định luật của thân tâm vũ trụ, của sự vận hành tâm mê và sự vận hành để diệt tận tâm mê trong tạng kinh Nikāya hay là trong Tương Ưng Bộ. Nói về tâm mê, sự sanh khởi của tâm mê, sự chấm dứt của tâm mê và đạo lộ đưa đến sự chấm dứt tâm mê.

“-- "Khổ, khổ", bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là khổ, hay là danh nghĩa của khổ?”

(Bài kinh Samiddhi - II. Phẩm Migajàla – Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ

- tập IV. Thiên Sáu Xứ - Tương Ưng Bộ Kinh)

Chúng ta thấy các thầy Tỳ-kheo tuyệt vời không? Các thầy không biết khổ hay sao mà hỏi Đức Thế Tôn? Vì các thầy ấy thấy khổ mới đi tu, vô được Thế Tôn giảng khổ bao nhiêu lần thì các thầy lại hỏi Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, nói khổ như vậy, thì nghĩa của nó thật sự là như thế nào? Danh nghĩa của nó thật sự là như thế nào?”

Đối với chúng ta chỉ học có chút thì đã nói “Cái này học rồi sao lại nói lại?” Vậy nên mình không đạt đến trí tuệ tận cùng liễu tri được. Còn các Ngài ấy hỏi “Bạch Thế Tôn, thế nào là danh nghĩa của khổ?”

“Này Samiddhi, chỗ nào có mắt, có các sắc, có nhãn thức, có các pháp do mắt nhận thức, tại chỗ ấy có khổ, có danh nghĩa của khổ.

Chỗ nào có tai, có tiếng, có sự rõ biết các tiếng, có sự giao thoa, tiếp xúc của tai, tiếng và sự rõ biết thì tại chỗ ấy có khổ, có danh nghĩa của khổ.

Chỗ nào có mũi, có mùi, có sự rõ biết mùi, có sự giao thoa, tiếp xúc, sanh khởi các cảm thọ, tại chỗ đó có khổ.

Chỗ nào có lưỡi, có vị, có sự rõ biết vị, có sự giao thoa, tiếp xúc sự sanh khởi các cảm thọ, cảm giác, tại chỗ đó có khổ và có danh nghĩa của khổ.

Chỗ nào có thân thể, có đối tượng, có sự đụng chạm, tiếp xúc của thân thể, có thân xúc, thân thức, từ đó sanh khởi ra những cảm giác, tại chỗ đó có khổ và có danh nghĩa của khổ.

Chỗ nào có ý, có những cảm giác, nghĩ tưởng, có sự rõ biết nhận thức, có các pháp có ý nhận thức, chỗ ấy có khổ hay danh nghĩa của khổ.”

Những điều trên rất sâu sắc, chúng ta nên tập nghe, vô lượng vô biên kiếp vừa qua chưa được nghe, đừng sợ.

“Và tại chỗ nào, này Samiddhi, không có mắt, không có các sắc, không có nhãn thức, không có các pháp do mắt nhận thức, tại chỗ ấy không có thế giới, hay không có danh nghĩa thế giới... không có ý... tại chỗ ấy, không có thế giới hay không có danh nghĩa thế giới.”

Đó là các căn, trần, thức. Chỗ nào không có tai, âm thanh, không có sự rõ biết âm thanh, không có các pháp do tai nhận thức, tại chỗ ấy không có khổ, không có danh nghĩa của khổ. Mũi, lưỡi, thân, ý cũng giống vậy. Chỗ nào không có ý, không có các pháp, không có ý thức, không có các pháp do ý thức nhận thức, tại chỗ ấy không có khổ, không có danh nghĩa của khổ.

Vậy chúng ta xem trí tuệ về khổ của Đức Thế Tôn ra sao? Nếu chúng ta không học Thánh trí thì làm sao tưởng tượng được mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sắc? Đối tượng của nó là tiếng, mùi, vị, ý. Các điều đó xúc và sanh ra đau khổ. Vậy nên chúng ta đi đâu để hết khổ? Làm sao chạy đi để hết khổ?

Con mắt này là cận thị, loạn thị, viễn thị, đục thủy tinh thể, mắt này là lé, chột, mù, bao nhiêu bệnh về mắt và bản chất của nó là như vậy, là tứ đại, là kết hợp, là bệnh hoạn, là vô thường, biến đổi, tan rã nên quy về con mắt bị khổ đau.

Ví dụ như tai này có bao nhiêu thức bệnh? Như bệnh điếc, lãng tai, viêm tai, mất tai, lủng màng nhĩ… Nên lỗ tai là khổ. Đến mũi thì bị viêm xoang, sổ mũi, nghẹt mũi, mất mùi, mất khứu giác. Lưỡi thì bị “đẹn” lưỡi, mất vị giác, nóng lưỡi… Thân này có bao nhiêu loại bệnh.

Như vậy thì mình kêu là không khổ thì ra sao? Đó chỉ mới là một khía cạnh. Đó là chưa kể con mắt này nhìn là có chuyện, nó nhìn bằng nửa con mắt, trừng trợn hay nhìn một cách trìu mến, yêu thương, lưu luyến, ưu ái, không muốn rời cũng là không tốt. Nhìn đơ đơ gà mờ cũng không tốt.

Hay như tai này nghe thì có chuyện không? Tham, sân, si có sanh khởi hay mũi, lưỡi này nói ra bao nhiêu thứ? Nào là nói dối, nói hai lời, nói đôi chiều, đâm thọc, nói lời hung ác, nói không nói có, nói phải quấy, hơn thua đủ thứ… Sát sanh, trộm cắp, tà dâm. Với ý cũng có bao nhiêu thứ như tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác, nếu nói hay hành động theo tâm tư nhiễm ô thì tội khổ sẽ theo ta như xe theo vật kéo, như bóng với hình.

Như vậy thì làm sao chúng ta thoát ra khỏi cái khổ? Không chỉ vậy, sắc đẹp cũng bị ảnh hưởng đến mắt, khi mắt nhìn sắc đẹp và sắc xấu thì có ưa và ghét, hoặc không đẹp không xấu. Có tai nghe tiếng thì có tiếng dễ thương hoặc tiếng ghét, mùi có mùi thơm, mùi hôi, vị thì cũng có sân si, tham đắm bên trong, đụng chạm cũng ảnh hưởng như vậy, nào là nam nữ, tình ái.

Đó chỉ là phía ngoài ngũ trần, chưa kể bên trong là ý, pháp, xúc sanh ra bao nhiêu cảm thọ. Chúng ta nghĩ yêu thương là sung sướng như thật sự là đau khổ, vì sự chấp thủ nên có ra sự hiện hữu. Như vậy thì mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ, đây là tổng cương lĩnh. Thọ là khi chúng ta ngồi thiền và tĩnh lặng, chúng ta nhận thức được các pháp nhận diện thì mới thấy được, trong tâm mình tự nhiên khởi lên hình bóng, nhìn sâu vào thì có một cảm thọ bên dưới dâng lên, thúc đẩy thì hình bóng đó mới hiện ra. Ví dụ như cảm thọ sân thì hình bóng của đối tượng giận hiện ra, nếu là cảm thọ tham dục thì hình bóng của đối tượng đó sẽ hiện ra, có một cảm thọ bên dưới dâng lên thì hình, tưởng hiện ra và hành đi theo. Vậy nên chúng ta cần nhận diện sâu sắc. Tức là hình bóng và lời nói lầm thầm là tưởng, hành khởi lên là từ cảm thọ dâng lên, nung, gợi, gợn lên. Khi đó thì hình bóng gợi lên tưởng, suy nghĩ sanh khởi.

Vậy nên sự tác ý của chúng ta đánh sâu vào bên trong, tác ý là dựa trên hành nhưng chỉ nhẹ và ngoài da thì không chạm đến được cảm thọ, nên tác ý mãnh liệt mới chạm tới cảm thọ, nhiếp phục và làm cho cảm thọ này giảm xuống, hạ nhiệt, làm cho cảm thọ này bốc hơi, giải phá, giải tỏa, giải phóng, giải thoát cảm thọ này, cảm thọ về tham, sân, si, bản ngã này.

Chúng ta thấy bao trùm tất cả là khổ, liễu tri khổ, thấu triệt khổ là vậy, hình hài, suy tư này, những hình bóng, sắc thân này, nhận thức, căn, trần, thức đều là khổ. Vậy nên không ai chỉ nổi mình? Vì đó là Thánh trí về khổ. Còn đối với vô văn phàm phu cứ cho là “Tại cô kia làm cho tôi khổ, ông kia làm tôi khổ. Con làm khổ, chồng làm khổ, vợ làm khổ.” Cứ vì người này người kia mà mình không biết rằng các pháp này. Nên Đức Thế Tôn đã chỉ nguyên về nguồn cội, gốc gác, căn cứ địa, sào huyệt, hang ổ, gốc rễ, nguồn cơn, nguồn cội, nguyên nhân thật sự của sự khổ đau. Nếu không thì chỉ là ngoài da, lớt phớt, cạn cợt, thiển cận, nhỏ bé, nhìn sai đó gọi là tà kiến.

Nếu không nhìn thấy được tất cả những cái này là khổ: mắt, tai, mũi, thân là khổ và đã mang chúng vào rồi thì sẽ bị dính mắc, chấp thủ, ràng buộc, trói chăng, nào là tôi, của tôi, tự ngã của tôi. Khi thấy tất cả cái này là tôi, của tôi, sự vận hành, con mắt này đương nhiên là của tôi. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý là tôi, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là tôi và bao nhiêu cảm thọ vui, khổ, trơ trơ là tôi, yêu thích hay sân hận cũng là tôi. Tất cả các pháp hiện hữu và mình nắm chặt vào trong đó và nói là tôi thì làm sao chúng ta đi ra khỏi được cái khổ?

Vậy nên chúng ta thấy khổ sanh, khổ diệt và thấy được con đường thoát khỏi khổ, đó mới gọi là Thánh trí về khổ. Không phải thấy khổ là mình rên, than mà là nhàm chán để thoát được cái khổ. Vì vậy, các bài kinh này là vô giá bảo, “Người khổ của thân người!” là câu của tôn giả Xá-lợi-phất dạy chúng ta trong bài kinh Lạc và khổ trong Tăng Chi Bộ Kinh tập 4.

“1. Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở giữa dân chúng Magadha, tại làng Nàlàka. Rồi du sĩ Sàmandakàni đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Sàmandakàni nói với Tôn giả Sàriputta:

- Thưa Hiền giả Sàriputta, thế nào là lạc, thế nào là khổ?

2. - Này Hiền giả, tái sanh là khổ, không tái sanh là lạc.”

Đây là cách bậc Đại Thánh trả lời câu hỏi, các Ngài nói gì là tận cùng triệt để, cứu cánh cùng cực. Nếu chúng ta hỏi vui khổ thì chúng ta sẽ trả lời ra sao? Được đi chơi là vui, có tiền, ăn ngon là vui. Đối với các Ngài thì: không tái sanh mới là vui, tái sanh là khổ.

Và có sự sanh khởi ra thân gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý này, gan, ruột, phèo, phổi này là khổ, là lo lắng, ốm đau, bệnh hoạn, là sầu bi, u não nên có tái sanh là khổ, không tái sanh mới là vui.

“Khi có tái sanh, này Hiền giả, chờ đợi là khổ này:

1. Lạnh.

2. Nóng.

3. Đói.

4. Khát.

5. Đại tiện.

6. Tiểu tiện.

7. Xúc chạm với lửa.

8. Xúc chạm với trượng.

9. Xúc chạm với kiếm.

10. Cho đến bà con và bạn bè, khi gặp nhau, hội ngộ với nhau cũng não hại.

Này Hiền giả, tái sanh là khổ, khi có tái sanh, chờ đợi là khổ này.”

Xúc chạm với lửa là gặp phải hỏa hoạn, xúc chạm với trượng là bị đánh bằng gậy, xúc chạm với kiếm là bị đánh bằng dao, bằng kiếm. Và bà con, bạn bè khi gặp nhau cũng làm hại nhau.

“3. Khi không có tái sanh, này Hiền giả, chờ đợi là lạc này:

1. Không lạnh.

2. Không nóng.

3. Không đói.

4. Không khát.

5. Không đại tiện.

6. Không tiểu tiện.

7. Không có xúc chạm với lửa.

8. Không có xúc chạm với trượng.

9. Không có xúc chạm với kiếm.

10. Cho đến bà con bạn bè, khi gặp nhau, khi hội ngộ với nhau không có não hại.

Này Hiền giả, khi không có tái sanh, chờ đợi là lạc này.”

(Bài kinh Lạc và khổ - VII. Phẩm Song Đôi – 10. Chương Mười Pháp

– Tăng Chi Bộ Kinh Tập 4)

Ý nói: khi không có tái sanh là không có các điều trên, giờ chúng ta ở xứ lạnh thì chỉ một chút là bị cảm, không đủ độ ấm là khó chịu, bị bệnh, ở xứ nóng là khổ theo xứ nóng, ở xứ lạnh là khổ theo xứ lạnh, có khi ngay ở xứ lạnh cũng bị khổ về cái nóng, không phải nói lạnh là mát hết. Phải lấy các việc này làm đề tài quán chiếu. Ngoài ra còn có đói, khát, đại tiện, tiểu tiện…

Ví dụ như lũ lụt ở miền trung làm chết người, hàng ngàn những ngôi nhà và bao nhiêu người phải sơ tán đi, hết bão này đến bão khác chồng tới, thảm họa kép, bao nhiêu là thiên tai, dịch bệnh, đói nghèo, khổ sở. Bao nhiêu là sự bất an, lo lắng. Anh em ruột, mẹ con, cha con cũng sân si, sân hận, lợi dụng, ích kỷ, lọc lừa, mưu sĩ, thậm chí là hại nhau, giết nhau. Đó là các nỗi khổ của sự tái sanh.

Đây là những tư liệu để mình quán chiếu, nghiền ngẫm, mình ngồi đây để tác ý, mỗi lần nghe để ngấm thêm một ít, đến mức độ ngấm và không tan được thì đó là Nhập Lưu. Sự thấy biết về khổ này ở trong người mình và khi mình nhìn thấy là không còn quên hay mất nữa. Không còn để cho những cảm thọ vô minh, si ám kia che lấp nữa, lúc đó là nhập lưu, vào dòng trí tuệ. Vậy nên tại sao chúng ta phải nghe, phải tác ý, nghiền ngẫm, suy tư thật nhiều, hoài, trí huệ mới tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh. Còn nếu chúng ta buông ra rồi là xong, nên phải tác ý, an trú pháp, sống theo pháp, không phải buông ra rồi mà pháp mất đi, mình và pháp không còn dính dáng nữa. Phải thường thấy, thường biết, thường chiêm nghiệm, suy tư, thường gặm nhấm, thẩm thấu đến lúc nào ở trong mãi, không mất nữa thì gọi là chứng, lạc, là ngộ pháp, thành tựu pháp, thể nhập pháp. Như vậy mới là nhàm chán, không tham muốn, hướng tới sự từ bỏ, thoát ra khỏi khổ, chấm dứt dòng tái sanh, tái tạo, tái tục, tái diễn, thoát ra khỏi để thành tựu sự giải thoát.

Các bài kinh chúng ta đọc không thể phớt qua được, phải đọc tới đọc lui, tụng tới lui, đem nó ra thiền, nghiêm ngẫm, suy nghĩ, tác ý mình viết ra thêm. Những cái đó là một đống đại khổ uẩn, tổ hợp đau khổ to lớn như vậy thì mình chạy đi đâu để hết khổ, chỉ làm cho nó phá vỡ vô minh, diệt tận tham ái, hướng đến sự viễn ly, thoát ly khỏi đống hỗn độn này, khốn đốn, hoạn nạn, bất an, lo lắng, sợ hãi, sầu bi này, chỉ có như vậy thì mình mới an ổn, còn hiện tại thì mình chưa an.

Bài kinh nói về khổ trong Tương Ưng Bộ Kinh tập ba:

“1-3) Nhân duyên ở Sàvatthi. Rồi một Tỷ-kheo... bạch Thế Tôn:

- Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con... con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4) Cái gì khổ, này các Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.”

Ý nói: Ở đấy, ông phải chấp dứt tâm tham muốn đối với nó. Chỉ một câu thôi mà vị Tỷ-kheo chứng được quả A-la-hán còn chúng ta nghe xong thì trả lại Phật, trả lại kinh. Này Tỳ-kheo, cái gì là đau khổ thì ở đó ông phải chấm dứt lòng tham muốn đối với nó. Nãy giờ chúng ta nói là một đống khổ, chúng ta thấy được Khổ Thánh Trí bao trùm không? Nó bao trùm cả thế giới, nhân sinh, đời sống, bao trùm hết mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, xúc, thọ, ái, thủ, hữu bao trùm hết những cảm giác của mình.

“- Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.

5) Lời Ta nói một cách vắn tắt, này Tỷ-kheo, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như thế nào?

6) Sắc là khổ, bạch Thế Tôn. Ở đây, con phải đoạn trừ lòng dục. Thọ... Tưởng... Các hành... Thức là khổ, ở đây, con phải đoạn trừ lòng dục. Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.”

Ý nói: sắc là khổ đau, hình hài, hình thể, thân tướng này là khổ đau, những vật chất này là khổ đau, phải đoạn trừ lòng tham muốn đối với sắc, thân này. Cảm giác là khổ đau, dù cho cảm giác vui, không vui, cảm giác trơ trơ, thường thường thì đều cảm giác chúng là đau khổ. Dù là sắc, quá khứ, hiện tại, vị lai, trong ngoài thô tế, thắng liệt xa gần, tất cả các sắc đều là đau khổ, tan biến, bại hoại, diệt vong, tan rã, sụp đổ. Cần phải đoạn trừ tham muốn đối với tất cả cảm xúc, cảm giác này. Tất cả những hình bóng trong tâm, tư tưởng, suy nghĩ, hình bóng dù là quá khứ, hiện tại, vị lai… đều là khổ đau. Con cần phải đoạn trừ tham muốn đối với những hình bóng, suy nghĩ đó, thật là tuyệt diệu, tối thượng.

Nhận thức này dù là sự rõ biết sắc, âm thanh, mùi vị, đụng chạm, những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong thì sáu sự rõ biết, nhận thức này là đau khổ. Dù cho nhận thức này ở quá khứ, hiện tại hay tương lai, trong ngoài, thô tế, thắng liệt hay xa gần, cả nhận thức này là đau khổ. Con cần phải đoạn trừ lòng tham muốn, yêu thích đối với những nhận thức này.

“Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.”

7) Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Lời Ta nói một cách vắn tắt, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi. Sắc là khổ, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục... Thọ... Tưởng... Các hành... Thức là khổ, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

8-9) Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy... Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.”

(Bài kinh Vô Thường – II. Phẩm A-la-hán – Phần Năm Mươi Kinh Ở Giữa

– Tập III. Thiên Uẩn – Tương Ưng Bộ Kinh)

Đó là Thánh trí về khổ, bao trùm cả mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Bao trùm hết những cảm thọ khổ, không vui không khổ, bao trùm hết ngũ uẩn, tứ đại, đó là Thánh trí về khổ. Từ đó mới có đủ sức mạnh để cho mình nhàm chán, hướng đến sự từ bỏ, chấm dứt, thoát ra. Đó là Thánh trí về khổ, Khổ Thánh Trí, sự đau khổ mà các bậc Thánh chứng ngộ, là Chánh Đẳng Giác, Chánh Biến Tri.

Chúng ta cần phải chiêm nghiệm, suy tư, tác ý, thể nhập vào Khổ Thánh Trí này. Như vậy mới nhiếp phục được tham, sân, si, vô minh, bản ngã, từ bỏ được những hơn thua, tranh giành, vô ích, vô nghĩa, trống không, trống rỗng trên cuộc đời này. Vậy nên thoát ra khỏi cuộc đời này một cách ngoạn mục. Như “Về núi yên tu thật tuyệt vời. Một nhảy là ra khỏi cõi trần ai.” Không uổng công làm sơn tăng, sơn ni, không uổng công là thầy núi, không uổng công bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ làng xóm. Mục đích của đời tu này chính là liễu tri đau khổ.

Thấy khổ thì tự động tham, sân, si, vô minh, bản ngã sụp đổ, tan biến, thấy vui thì các loại khác tồn tại, thấy được cái này rồi thì tất cả những nền móng đều bị sụp đổ. Vì thấy là khổ thì không còn yêu thích nữa, thấy khổ tức là minh, khi minh sanh rồi thì tham ái sẽ giảm thiểu và đi đến diệt tận. Vậy nên Thế Tôn định nghĩa vô minh là không thấy khổ, không thấy nguyên nhân của khổ, không thấy con đường diệt khổ, thấy khổ là minh, minh sanh thì sẽ diệt tận được khát ái, chấp thủ.

Chiều nay chúng ta đã tác ý Thánh trí về khổ, nghe theo lời kinh của Đức Phật, trú vào trong đó và sanh ra những cảm thọ thấy biết trong đó, đặt tâm mình chỉ mỗi phút giây trong một – hai tiếng là phước báu vô lượng, vô biên trong vòng luân hồi này, không dễ thấy biết cảm xúc, cảm thọ này để thấy được điều đó và cũng đừng đặt mục đích quá cao để làm hỏng mọi thứ, chỉ cần chậm và chắc, vững trong sự tu học này.

Mọi người có thấy khổ không? Khi chúng ta càng thấy khổ là càng an bình, càng thấy khổ thì càng có khả năng thoát khổ. Nếu mình không thấy, không biết gì nó thì mình bị nó vùi dập, che lấp, chôn sâu mình. Nhưng khi mình đã thấy, thành tựu trí huệ về nó, thì mình có khả năng khống chế nó, nhiếp phục và thoát ra khỏi nó.

Thế Tôn có câu nói: “Này các Tỳ-kheo, ta nói cho người thấy, ta nói cho người biết, để đoạn tận tất cả các lậu hoặc, chứ ta không nói cho người không thấy, không biết. Năm thủ uẩn là khổ đau.”

Liễu tri, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là khổ. Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là khổ. Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc là khổ. Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ, bất lạc thọ là khổ. Sắc ái là khổ, vô sắc ái cũng là khổ, sự chấp thủ cũng là khổ, mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ. Người thấy được như vậy thì người đó mới có khả năng, sức mạnh để người này nỗ lực vươn lên, vượt ra khỏi đống khổ to lớn, vĩ đại, đại khổ uẩn của năm tổ hợp sầu đau này thì mới có khả năng đoạn diệt, chấp dứt, thoát ra.

Hãy tác ý, tác động tâm ý để nhìn thấy, nghe, cảm xúc cái gì, đó là khổ. Khi chúng ta thấy có cặp nam nữ vui vẻ chụp hình trên cổng trời khi đi ngang qua nhưng phải hiểu đó cũng là khổ. Hay đối với hai người đang đánh nhau, giành giựt nhau là khổ, tất cả nhìn thấy sâu sắc đều là một đống khổ, không có gì đáng ham, đáng thích, đáng ưa, đáng muốn, đáng thèm khát, đáng ràng buộc, nắm giữ trong đó hết, hãy thoát ra khỏi tâm mê này. Mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ, đó là trí tuệ của bậc Thánh, Chánh Đẳng Chánh Giác về khổ, Chánh Biến Tri về khổ, liễu tri về khổ, thắng tri, tuệ tri về khổ.

Hôm nay là ngày Quốc tế phụ nữ, Minh Thành xin cúng dường cho tất cả các vị phụ nữ, trên toàn thế giới một Thánh trí tuệ tối thượng này. Mọi người hãy đọc Trưởng Lão Ni Kệ để thấy được các vị ni thời Đức Phật tu như thế nào. Không chỉ ở Việt Nam mà cho cả thế giới.

Tâm thương này trải rộng

Cùng khắp thế giới này.

Tâm thương này trải rộng

Khắp trời đất bao la.