Nhận Diện Thân Tâm 5- Căn Bản Trí
TINH HOA NIKĀYA
NHẬN DIỆN THÂN TÂM 5
CĂN BẢN TRÍ
– Thích Minh Thành–
Kính thưa quý thầy, như vậy chúng ta đã tìm hiểu về định nghĩa năm uẩn qua ba phần từ cạn cho đến sâu. Chúng ta đã tìm hiểu về bài kinh "Đáng được ăn", hôm nay chúng ta bước qua bài kinh "Thủ chuyển", chúng ta tiếp tục tìm hiểu sự thấy biết về những phương diện, khía cạnh của ngũ uẩn, chúng ta sẽ đào sâu hơn về năm uẩn qua bài kinh "Thủ chuyển" nằm trong Tương Ưng Bộ, tập III.
"Nhân duyên ở Sàvatthi...
-- Này các Tỳ-kheo, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
Này các Tỳ-kheo, khi nào Ta chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, thì cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Nhưng này các Tỳ-kheo, khi nào Ta đã như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Và thế nào là bốn chuyển? Ta đã thắng tri sắc, Ta đã thắng tri sắc tập khởi, Ta đã thắng tri sắc đoạn diệt, Ta đã thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Ta đã thắng tri thọ... tưởng... hành... Ta đã thắng tri thức, Ta đã thắng tri thức tập khởi, Ta đã thắng tri thức đoạn diệt, Ta đã thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỳ-kheo, đấy được gọi là sắc. Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Và con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Trên đây là những định nghĩa cực kì quan trọng của ngũ uẩn nên cần cố gắng học thuộc lòng. Ở đây Minh Thành chỉ nói trong kinh Nikāya, khi học chúng ta thấy chỗ này định nghĩa vầy, chỗ kia định nghĩa khác thì mình phải biết rằng mỗi lần như vậy là Đức Phật đưa ra một khía cạnh khác của pháp đó chứ không phải hôm nay nói vầy, mai lại nói khác, trong một cơ duyên nào đó thì ngài sẽ đưa ra một góc độ trí tuệ về pháp đó, lần khác ngài sẽ đưa ra một góc độ khác, lần khác nữa thì ngài lại đưa ra góc độ khía cạnh, trí tuệ về pháp đó ở phương diện khác. Trên mạng Minh Thành đã đưa lên bộ phân loại Nikāya của sư cô Chơn Tín Toàn, phần sắc trong đó thì cô sẽ đem hết tất cả những bài kinh nào mà Đức Phật nói về sắc uẩn vô chung với nhau, đọc trong đó mình sẽ thấy hết tất cả những phương diện, khía cạnh, góc độ, trí tuệ mà Đức Phật khai triển về sắc uẩn. Vì thế mình cần phải nhớ điều này, nếu không mình sẽ thắc mắc sao bài kia nói khác, bài này nói khác, thật ra không phải là khác mà là một góc độ, một phương diện, khía cạnh nữa của Thánh trí tuệ của Đức Phật.
Học kinh Nikāya là phải thuộc lòng, nếu không thuộc thì phải lấy nguyên bài kinh ra được, không được tự ý suy diễn, đây là điều tuyệt đối quan trọng khi học kinh Nikāya, chỉ cần sai một chỗ thôi là toàn bộ đều sai, cũng như ngày xưa học những định lý, định luật mà sai một chỗ là sai hết cho nên những câu chữ trong kinh là định lý chứng ngộ của Đức Phật, không được sai một chữ nên phải cố gắng học thuộc. Như vậy trong bài kinh này có thêm một định nghĩa về sắc "thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành", nghĩa là sắc là đất, nước, gió, lửa và những thứ do đất, nước, gió, lửa tạo thành, đồng hồ là đất, nước, gió, lửa tạo thành, cái chuông cũng vậy, con người cũng vậy, tất cả là do đất, nước, gió, lửa tạo thành, như vậy cả trái đất này đều là sắc, cả địa cầu này Đức Phật chỉ nói một chữ "sắc" thêm chữ "uẩn" nghĩa là tổ hợp của sắc chất, tổ hợp của sắc tướng, tổ hợp vật chất do tứ đại tạo thành. Trí huệ của Đức Phật vô cùng khủng khiếp, một chữ "sắc" thôi là thâu tóm cả trái đất, vũ trụ.
Tập nghĩa là tập hợp, tụ tập, nhóm họp rồi sanh khởi ra, trong kinh Nikāya dùng từ nào thì từ đó rất kinh khủng, không phải là chữ bình thường của phàm phu mà là từ của bậc tối tôn tối thượng cho nên chữ nào trong đó cũng là cả một bầu trời trí tuệ, vì thế khi học kinh Nikāya phải nghiền ngẫm từng chữ trong đó. Đức Phật nói tất cả pháp tụ tập, tập hợp lại rồi sanh khởi lên, ví dụ trồng cây hoa hướng dương thì có biết bao thứ tập hợp trong đó chứ đâu phải tự nhiên nó có hoa, phải có đất, nước, gió, hạt giống, phân,… đó là sự tập hợp. Sở dĩ nó phát triển là do có thức ăn, thức ăn của nó là phân bón, là nước, là ánh nắng mặt trời, như vậy sự sanh khởi là có điều kiện, có những cái phải nương vào, tựa vào thì mới tồn tại được. Cũng vậy với tấm thân này, nếu một tuần lễ, nửa tháng ăn không được, đồ ăn phải xay nhuyễn ra đổ vào ống đi thẳng vào bao tử thì thật khổ sở cho nên thức ăn đoạn diệt là sắc đoạn diệt. Sự hiện hữu, sanh khởi của thân này là nhờ tụ tập, tập hợp của thức ăn nhưng thức ăn không phải là đồ ăn trên quả đường mà bây giờ chúng ta vẫn đang ăn, ăn không khí, ngưng lại thì chết.
"Đem vào là nhờ gió,
Tống ra cũng gió đưa.
Sự hô hấp tuần hoàn,
Tất cả đều do gió.
Một phen gió nghiệp dừng,
Thân này như khúc gỗ".
(Gió Nghiệp - Thiền viện Chân Không, tháng 8/1982)
Đó là sự quán chiếu của ngài nhưng mình có khi quên mất, tu thì tu chứ không nhớ, cứ nghĩ hôm nay cũng vậy, ngày mai cũng vậy nhưng có khi nằm xuống do F0, khi đi thì xe lại đưa đi nhưng khi về thì trả lại gia đình một hủ cốt cho nên còn thở là còn sống, còn ăn là còn sống. Có những người nằm bán thân bất toại 10 năm, 20 năm nhưng vẫn phải đổ nước vào miệng, đổ thức ăn vào, còn không có thức ăn thì chết, đó là sự chứng ngộ của Đức Phật. Chúng ta cứ mượn hơi thở vào rồi trả ra, uống nước vào rồi thải ra, thức ăn đưa vào miệng thì thơm ngon, bổ béo, đủ mùi vị nhưng trả ra phải vào chỗ không có ai, vừa ra là phải dội nước xóa vết tích ngay lập tức cho nên tôn giả Xá-lợi-phất nói thân này là thân lủng lỗ, rỉ chảy những thứ bất tịnh, nhàm chán, nhơ nhớp, hôi tanh nhưng do vô minh, tham ái nên không thấy, dù cho thấy cũng cho qua, cũng mê muội. Nói đơn giản là còn ăn thì còn sống, hết ăn thì chết, còn thở được thì sống, hết thở được thì chết, còn uống được thì sống, hết uống được thì chết, đó là trí tuệ về sắc uẩn này, sắc pháp này.
Chúng ta phải học bảy trí về sắc, bảy trí về thọ, bảy trí về tưởng, bảy trí về hành, bảy trí về thức, tổng cộng là 35 loại trí tuệ. Mỗi một uẩn như vậy Đức Phật chỉ cho mình bảy loại trí tuệ để quán chiếu.
BẢY TRÍ VỀ SẮC:
• Sắc: “Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành” – Kinh Thủ Chuyển. “Bị thay đổi, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi gì? Bị thay đổi bởi lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn” – Kinh Đáng Được Ăn.
• Sắc sanh: Do các Thức ăn tập khởi nên Sắc tập khởi.
• Sắc diệt: Do các Thức ăn đoạn diệt nên Sắc đoạn diệt.
• Sắc diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến Sắc đoạn diệt là Phương pháp Tám đúng.
Vị ngọt của sắc: Do duyên Sắc khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của Sắc.
• Sự nguy hại của sắc: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Sắc, đó là nguy hại của Sắc.
• Sự xuất ly của sắc: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Sắc. Đây là sự xuất ly của Sắc.
Trên đây là bảy trí về sắc được trích trong rất nhiều bài kinh Nikāya. Sự hỷ lạc là vui thích, hoan hỉ, vui mừng, vui sướng, thích thú, hân hoan, do duyên với sắc mà mình sanh khởi lên cảm giác khoan khoái, thích thú, hoan hỉ trong đó thì đó là vị ngọt. Vị ngọt này làm chết người, mật ngọt chết ruồi, tất cả chúng sanh không đi ra nổi vị ngọt này, nó giết chết tất cả tam giới. Ví dụ phòng học chúng ta rất trang nghiêm, sạch sẽ, mát mẻ nhưng hôm nay đổi ý cho đại chúng ra ngồi dưới đất, không có bàn ghế gì cả thì cảm thọ mình ra sao? Đương nhiên là khổ thọ, khó chịu, không hoan hỉ nhưng tại sao lại khó chịu? Là do vị ngọt này. Hôm nào cúp điện, hết dầu không chạy máy phát điện được nên vào ngồi học cảm thọ không bình thường, thấy khó chịu vì nóng, đó là do vị ngọt của máy lạnh. Chúng ta bị vị ngọt này ám ảnh, xâm chiếm, nhận chìm mình mà mình không biết, mình phải biết cái gì là vị ngọt, cái gì là vị đắng chính là sự nguy hiểm và tác hại của nó thì sau đó mình mới thoát ra khỏi nó. Mình làm việc cả buổi sáng mệt mỏi, ai cũng có ly ca cao sữa đá nhưng đến lượt mình thì hết, cho ly nước lạnh thôi trong khi mình là người làm nhiều nhất, làm hết mình mà chỉ được uống nước lọc thôi, cảm thọ mình thấy khó chịu vì vị ngọt của ly ca cao sữa đá đó làm mình sân.
Mình muốn cái đó, mình khoái cái đó mà mình không được thì mình sân lên, hằng ngày mình chết trong vị ngọt đó, ví dụ 11h đêm mới ngủ mà mới 2h sáng bị gọi dậy đi làm công chuyện nên bực mình, đó là mình bị vị ngọt của giấc ngủ trói cột. Mình trồng hoa hướng dương 1,5-2 tháng mới có hoa, mình đem hết tâm tư vào để trồng vậy mà có người chê, không thấy đẹp thì mình sân lên, khó chịu cho nên những sự phiền não bủa văng mình khắp mọi nơi, cái tâm mình phải đề phòng, cẩn trọng, kỹ lưỡng từng chút một, phải phòng hộ, bảo vệ, canh chừng từng chút một, nếu không thì mình không biết được, mặt mày đỏ bừng lên hết nhưng vẫn nói "tôi giận hồi nào mà giận". Mình đang tu hành an lạc, thanh tịnh thì bất ngờ có Phật tử nữ đến cúng dường cho, tự nhiên về ngồi thiền bị ám ảnh, hình bóng người đó cứ chập chờn trong tâm, mình bị vị ngọt của sắc tưởng, những cảm thọ đó khi tiếp xúc, khi nói chuyện, khi nghe lời nói dịu dàng rồi trở về thì hình bóng đó ám ảnh, cảm giác đó lưu giữ lại, cứ tiếp tục suy nghĩ, đó là vị ngọt.
Đang ngồi thiền tĩnh lặng, nhẹ nhàng thì bất ngờ có người bảo "ra làm công chuyện, ngồi gì mà ngồi hoài vậy", đang tu nhưng có sân không? Có khó chịu, bực bội không? Đó là vị ngọt của thiền, mình muốn ở trong cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu đó, bây giờ kêu mình đi ra khỏi cảm thọ đó, làm mất vị ngọt đó nên bực bội, khó chịu, càng ngày càng vi tế nhưng mình không biết đây là vị ngọt mà mình chỉ biết "đang ngồi thiền cũng kêu nữa, giờ tu cũng không cho tu nữa", mình không biết bị dính mắc trong vị ngọt của sắc. Có Phật tử cúng cho chiếc xe đời mới rất đẹp, êm ái, ngồi lên chạy mà không có chánh niệm là xảy ra tai nạn vì thế phải quán sự nguy hiểm và tác hại của nó thường xuyên thì mới xuất ly, thoát ra khỏi nó, còn nếu chỉ nhìn thấy vị ngọt thì không thể thoát ra, cứ nghĩ đẹp lắm, ngọt lắm, hạnh phúc lắm, vui lắm rồi cứ nhào vô.
Nhìn thấy hai vợ chồng ăn mặc sang trọng, đẹp đẽ, nổi tiếng, báo chí đăng tin ầm ầm thì mình cứ tưởng là sung sướng lắm, tuyệt vời lắm nhưng mình không biết họ chuẩn bị ly dị vì họ giấu giếm không cho ai biết, cũng như hai vợ chồng cự cãi đập nhau ầm ầm, đập đồ vỡ hết nhưng có khách đến là dọn dẹp rồi tươi cười, khách hỏi dạo này hai vợ chồng thế nào thì bảo hạnh phúc lắm. Đó là lý do mình phải quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của sắc vì chỉ có quán cái này mới đưa tâm mình xuất ly, thoát ra, đây cũng là một sự như lý tác ý vì nếu không tác ý thì không thể quán được. Minh Thành thường giải thích chữ vô thường là tứ đột: đột ngột, đột biến, đột tử, đột quỵ vì nếu chỉ nói vô thường không thì không có cảm thọ gì cả. Vô thường là bất thình lình, đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử, bất thình lình bị F0, bất thình lình bị tại biến, bất thình lình bị tai nạn giao thông, bất thình lình bị chém chết, đang hát karaoke tự nhiên có người nhào vô chém, đưa vào bệnh viện không kịp, đó là khổ đau, là chịu sự biến hoại. Sắc này phải chịu sự biến hoại khốc liệt, sắc này bản chất của nó là đau khổ, là thống khổ, là khổ lụy, bản chất của nó là biến đổi và tan hoại, không sớm cũng muộn, không trước cũng sau rồi cũng phải đi đến nghĩa trang, nghĩa địa, đi đến lò thiêu, nhất định nó phải như vậy không thể khác hơn nữa, đó là quán về tính nguy hại của sắc.
Chúng ta phải tác ý, quán chiếu như vậy liên tục để nhìn cái gì cũng không còn tham, "cái đồ biến đổi, tan hoại này có gì để hơn thua, giành giật?", chỉ vì vài tấc đất mà anh em ruột giết hại nhau, chết 4 mạng người, con đường đi qua đi lại chỉ có một mét mà giết mấy mạng người, điều này thể hiện bản chất của sắc là khổ. Có cái gì thì khổ cái đó, có ít khổ ít, có vừa khổ vừa, có nhiều khổ nhiều, không có thì không khổ, không có của bậc Thánh nhân chứ không phải miệng nói không mà tâm nói có thì không được, không có của bậc chứng được Thánh trí tuệ về ngũ uẩn thì mới gọi là không có của bậc Thánh cho nên phải thường xuyên quán chiếu và tác ý sự nguy hiểm và tác hại của sắc.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là vị ngọt các sắc pháp? Này các Tỳ-kheo, như các thiếu nữ Sát-đế-lị, thiếu nữ Bà-la-môn hay thiếu nữ Gia chủ, tuổi khoảng độ mười lăm hay mười sáu tuổi, không quá lớn, không quá thấp, không quá ốm, không quá mập, không quá đen, không quá trắng, này các Tỳ-kheo, có phải trong thời ấy, họ đạt đến mỹ diệu tối thượng, sắc đẹp tối thượng?
-- Bạch Thế Tôn, phải.
-- Này các Tỳ-kheo, y cứ sắc đẹp mỹ diệu ấy khởi lên lạc thọ và hỷ thọ, như vậy là vị ngọt các sắc pháp.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sự nguy hiểm các sắc pháp? Này các Tỳ-kheo, ở đây người ta có thể thấy bà chị ấy trong một thời khác, khoảng tám mươi tuổi, chín mươi tuổi hay một trăm tuổi, già yếu, cong như nóc nhà, lưng còm, phải dựa gậy để chống đỡ, vừa đi vừa run rẩy, đau ốm, tuổi trẻ đã tận, râu rụng, tóc bạc, hư rụng, sói đầu, da nhăn, tay chân bị khô đét tái xám. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của người đó nay đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa này các Tỳ-kheo, người ta có thể thấy bà chị ấy bị bệnh hoạn đau khổ, trầm bệnh, nằm đắm mình trong phân tiểu của mình, phải có người nâng dậy, phải có người đỡ nằm. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của người đó nay đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng vào nghĩa địa, một ngày hay hai ngày hay ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu sắc đẹp xưa kia của cô gái đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng vào nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của cô gái nay đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột bộ xương, không còn thịt, không có máu, còn được gân cột lại, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia, ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của cô gái nay đã biến mất, và sự nguy hiểm đã hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng vào nghĩa địa, chỉ có toàn xương trắng màu vỏ ốc... chỉ còn một đống xương lâu hơn một năm... chỉ còn các xương thối trở thành bột. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của cô gái nay đã biến mất, và sự nguy hiểm hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp" (Trung Bộ Kinh, 13. Ðại kinh Khổ uẩn)
Trên đây là tính nguy hại của sắc, các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật quán chiếu như vậy mỗi ngày mỗi giờ để diệt dục, nhiếp phục dục, đoạn tận dục, hoàn toàn ly dục để vào sơ thiền, tức là khi nhìn thấy sắc hay nghĩ về sắc là tâm các ngài không còn tham muốn nữa, chỉ toàn là một sự nhàm chán, yểm ly, ngao ngán, thấy sợ, không ưa thích, không khoan khoái nữa thì các ngài mới thể nhập được vào các tầng thiền để phá vỡ các dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Còn mình tu 10 năm có khi không biết quán bất tịnh hoặc ngồi quán mà chỉ toàn thấy tịnh chứ không thấy bất tịnh, chúng ta không đi đúng đạo lộ của Đức Phật cho nên những gì Đức Phật và các bậc Thánh chúng thành tựu còn mình không thành tựu. Mình thích cái gì cao siêu, cao thâm, mới tu 3 tháng mà vào nói trên trời dưới đất nhưng quay lại thì tham, sân, si quá nhiều, đó là tâm không chân thật, tâm không hiền thiện, tâm không chân chánh nên tu hành không thể thành tựu được chánh pháp. Bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật có bốn tâm mà những vị này phải thành tựu.
"Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời" (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)
Trên đây là bốn đức hạnh của các bậc hiền Thánh phải thành tựu, khi Đức Phật gọi lên hỏi có phạm lỗi này không thì các vị nếu có thì trả lời có, còn mình được gọi lên hỏi thì "dạ con đâu có đâu", thành ra tâm mình không chánh trực, không ngay thẳng, không hiền thiện nên không thành tựu chánh pháp. Tâm tà thì làm sao thành tựu chánh pháp? Cho nên nhận diện ngũ uẩn là nhằm nhìn nhận thân tâm mình một cách trân xác, chính xác, trực diện, trực tiếp, có sao thì nhìn thấy đúng như vậy, đó là bước đầu để thành tựu đức hạnh của bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật, chính là tâm chánh trực, ngay thẳng, có tham thì thấy có tham, có sân thì nói có sân, thấy xấu hổ và xin sám hối, "con xin sám hối với quý thầy, chư huynh đệ, con thấy trong nửa tháng nay con có tâm sân với sư huynh nên giờ con xin ra quỳ giữa đại chúng xin sám hối tâm sân này. Con thấy tâm sân này là thứ thấp hèn, xấu hổ, con muốn đào thải cảm giác sân hận bực bội ra khỏi thân tâm không muốn chất chứa nó nữa", vừa lạy sám hối vừa khóc vì xúc động, có vậy tu mới tiến bộ, còn đằng này được chỉ lỗi thì chối tội, đổ thừa người này người kia, đó là cái tâm quanh co không chánh trực, không ngay thẳng, không thành thật, không có tàm quý tức là không thấy xấu hổ và sợ hãi thì không thể thành tựu được Thánh pháp vi diệu, tối thượng này.
Trở lại vấn đề tâm xuất ly sau khi mình quán chiếu thật nhiều về sự nguy hiểm và tác hại của nó thì mình mới nhàm chán. Tại sao mình không ở ngoài đời mà mình đi tu? Vì mình thấy ngoài đời nhiều phiền não, nhiều khổ đau, nhiều lo lắng, bất an, phiền phức, hệ lụy, mình thấy được sự nguy hiểm và tác hại của nó nên mình đi xuất gia, mình ra khỏi cuộc đời này. Tới khi nào mình chán chê, ê chề, không còn muốn sắc nữa thì mình xuất ly khỏi sắc, còn ngày nào mình chưa chán chê, chưa ê chề, chưa nhàm chán, chưa muốn từ bỏ thì ngày đó còn khổ tiếp tục, ai thích sắc thì người đó thích khổ, ai thích khổ thì không thể thoát khỏi khổ.
"Ai ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ" (Tương Ưng Bộ, Chương IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Song Đôi, VIII. Ưa Thích (2))
Khi đi vào dòng pháp này chúng ta sẽ thấy trí tuệ Đức Phật rất vi diệu, tối thượng ngoài sức tưởng tượng của mình, nó rất rõ ràng, cho đến lúc nào nhìn vào đống phân, nhìn vào đống giòi đó, nhìn vào đống bầy nhầy gan ruột đó mà sợ hãi, khiếp đảm, nhàm chán, không còn ham muốn nữa thì lúc đó xuất ly khỏi sắc. Khi đã xuất ly khỏi sắc thì không còn trở lại sắc thân giống vầy nữa, còn sở dĩ mình có sắc thân này là do còn yêu thích, khoan khoái, ham muốn, nắm giữ vào đó, cho rằng nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Các bậc Thánh Tăng ngày xưa khi quán bất tịnh đã chứng ngộ rất nhiều, có vị nói bệnh rồi khó tu nhưng nếu mình thiện xảo trong pháp quán thì bệnh dễ chứng ngộ hơn lúc bình thường vì khi bệnh sẽ bày hiện ra tính nguy hại, đau chỗ này, nhức chỗ kia, thốn chỗ nọ, khó chịu toàn thân nên mình thấy nhàm chán sắc thân này. Con đi tìm cầu tha thiết suốt 30 năm để tìm ra đâu là lời dạy chân xác của Đức Phật để đoạn tận tham, sân, si, vô minh, bản ngã, thành ra con không bị tư tưởng của các tông phái ảnh hưởng dù cho con học tất cả các tông phái, con đi vào dạy trong giới luật viện của Luật Tông, dạy ở chùa Hoằng Pháp là của Tịnh Độ Tông, dạy ở trường Phật học là của Giáo Tông và có chia sẻ trên Thiền Viện Trúc Lâm là Thiền Tông.
Khi đã có nền tảng rồi mình mới đào sâu vào lời Phật dạy nguyên chất thì không ngờ tâm mình còn đầy rẫy những tham, sân, si, bản ngã, cấu nhiễm thì bắt đầu mình mới thấy hạnh phúc trong giáo pháp. Vì vậy tinh thần tu học phải dùng tâm khách quan thì chúng ta sẽ học được trí tuệ thần diệu, tối thượng của Như Lai, đừng có suy nghĩ học được một chút thì cho đây là số 1 thì cái này thất bại. Hòa Thượng viện chủ ở đây tâm ngài rất rộng lớn, ngài lập ra cái trường cho chúng ta là cả một tấm lòng bao la, tuyệt vời. Ngày xưa ngài đã học tất cả các trường Phật học, ngài đi qua tất cả các tông phái cho nên cái nhìn của ngài rất bao quát, rộng lớn, sâu sắc vì thế chúng ta cần bám sát vào lời dạy của Đức Phật rồi thực tập sẽ thấy kì tích xuất hiện, phép màu, những điều lạ xảy ra, nhất là môi trường ở đây là tuyệt diệu, tối thượng, không phải dễ để được vào đây học cho nên được ngồi đây học là phước báo vô cùng, bây giờ chỉ còn pháp hành nữa là thành cho nên con mong các thầy chịu khó học thuộc lòng những định nghĩa căn bản của ngũ uẩn và thực tập nhận diện trong khi ngồi thiền, trong khi sinh hoạt, trong khi nóng giận, ham muốn, nếu bình thường không thực tập thì khi ham muốn, nóng giận sanh khởi mình sẽ nhìn không ra nó.
Tại sao không đợi đến khi ra trận mới luyện binh mà phải luyện trước 3 năm, 5 năm, 10 năm? Mình đợi đến lúc giận lên mới tu tâm từ thì lúc đó làm sao trải nổi? Bình thường phải thực tập nhận diện thì khi tham khởi lên, bản ngã khởi lên, hơn thua sanh khởi thì mình mới nhìn ra được bộ mặt của nó, mình mới có khả năng hạ gục nó, đánh ngã nó, đánh vỡ nó. Bây giờ tham, sân, si ở đâu? Trong thọ lạc có trú ẩn tham, trong thọ khổ có trú ẩn sân, trong bất khổ bất lạc thọ có si trú ẩn. Đây là nói tổng quát nhưng thật ra trong suy nghĩ, ý hành của mình có tham, sân, si nhưng tổng hành dinh của nó là nằm trong cảm thọ, khi tham, sân, si thì đầy đủ ngũ uẩn nhưng mình chỉ nói gốc rễ của nó.
Bây giờ tham, sân, si biểu hiện trên thân là chỗ nào? Khi mình giận lên thì chỗ lồng ngực nóng lên, mắt đỏ, mặt đổi màu, lỗ tai lùng bùng cho nên chỗ lồng ngực là chỗ tập trung các cảm thọ. Khi mình si thì thể hiện nhiều nhất ở con mắt cho nên nhìn người nào mà thấy họ tinh minh, sáng tỏ thì người đó thông minh, còn nhìn vào thấy con mắt lờ đờ thì người đó si, hoặc là lúc ngồi thiền mà mình tỉnh táo, chánh niệm, tinh anh thì hai con mắt tỏ tường, minh bạch, còn ngồi mà bị hôn trầm, lờ đờ thì hai con mắt cứ nhướng lên rồi sụp xuống cho nên si biểu hiện nhiều nhất ở con mắt. Dục tham thì biểu hiện ở bộ phận sinh dục, khi có dục khởi lên thì chỗ đó chuyển động. Đó là nơi cư trú của tham, sân, si, nó cư trú ở cảm thọ là phần tâm, còn phần thân vẫn có chỗ biểu hiện ra của tham, sân, si, khi có sân sanh khởi lên là lồng ngực nóng lên, khi cái si biểu hiện ra thì con mắt lờ đờ, sụp xuống. Mình phải nhận diện ngũ uẩn từ từ thì mình mới biết được, khi phát động những cảm thọ đó thì mình phải hướng tâm vào ngay chỗ đó để tác ý, thấy nóng lồng ngực thì tác ý "ngươi đừng thiêu đốt nữa, ham giận lắm hả, thích đốt cháy nhau lắm hả. Mày làm ơn an tịnh, lắng dịu cho tao tu đi, đừng quậy nữa, hiền từ đi, thiêu đốt nhau để làm cái gì", mình tác ý một hồi là cảm giác sân đó lắng xuống và tan rã, mình trị tham, sân, si ngay trong thân tâm của mình. Tác ý tâm từ một hồi là lồng ngực mát dịu, lắng dịu, ngọt ngào ngay và mình thấy rõ cảm thọ này chuyển biến như vậy, nó rất rõ ràng.
"Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu" (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương IX. Tương Ưng Dự Lưu (a). I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)
Đến để thấy tham, sân, si vận hành trong tâm mình, thấy nguyên nhân đau khổ sanh khởi và có phương pháp nhiếp phục, diệt tận đau khổ ngay trong tự thân mình. Khi dục khởi lên thì mình phải hướng tâm vào đó để tác ý "chính vì cái này mà mình cứ khổ mãi, mình không tu hành được, suốt ngày cứ khao khát, thèm muốn, đòi hỏi, trong vô lượng vô biên kiếp đã dục ái rồi mà vẫn chưa hài lòng hay sao, tới giờ vẫn còn thèm muốn những thứ thấp hèn như vậy? Thích giòi lắm phải không? Thích phân và nước tiểu lắm phải không? Hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi", khi tác ý như vậy thì cảm thọ sẽ lắng dịu và chỗ đó sẽ nhẹ nhàng, thấy rõ được hiệu quả tức thời nhưng phải chịu khó rà soát thường xuyên và liên tục trong thân của mình, bất cứ chỗ nào cũng phải an trú cảm giác toàn thân tức là khi đi, đứng, làm việc, lúc nào cũng để ý cảm giác toàn bộ cơ thể, khi biến động thì mình thấy liền lập tức, khi nóng lên là mình biết ngay "lắng dịu đi để tao tu".
Trước khi ngủ phải tác ý diệt dục, khi mới thức dậy phải tác ý diệt dục, trong khi ngồi thiền cũng tác ý diệt dục liên tục, la mắng, quở trách tâm thường xuyên thì từ từ nó sẽ ngấm vào cảm thọ của mình, tâm ương ngạnh, cứng đầu, ngông nghênh, hoang vu sẽ bị nhiếp phục và chế ngự, phải có tuệ lực, hùng lực, phải có những phương pháp thật mạnh để đánh đuổi nó tan thành mây, thành khói, thành hư không, để không tái sanh trở lại trong tương lai nữa, chặt nó như chặt cây Tala. Đối với cái si cũng vậy, hai con mắt mở lớn lên, tác ý cảm thọ thật mạnh ở con mắt, tác ý la mắng cơn hôn trầm đó, đuổi cảm thọ đó ra khỏi hai con mắt thì mình sẽ thấy hai con mắt tinh anh lên.
Nguyện đem công đức này hướng về đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.
NHẬN DIỆN THÂN TÂM 5
CĂN BẢN TRÍ
– Thích Minh Thành–
Kính thưa quý thầy, như vậy chúng ta đã tìm hiểu về định nghĩa năm uẩn qua ba phần từ cạn cho đến sâu. Chúng ta đã tìm hiểu về bài kinh "Đáng được ăn", hôm nay chúng ta bước qua bài kinh "Thủ chuyển", chúng ta tiếp tục tìm hiểu sự thấy biết về những phương diện, khía cạnh của ngũ uẩn, chúng ta sẽ đào sâu hơn về năm uẩn qua bài kinh "Thủ chuyển" nằm trong Tương Ưng Bộ, tập III.
"Nhân duyên ở Sàvatthi...
-- Này các Tỳ-kheo, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
Này các Tỳ-kheo, khi nào Ta chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, thì cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Nhưng này các Tỳ-kheo, khi nào Ta đã như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Và thế nào là bốn chuyển? Ta đã thắng tri sắc, Ta đã thắng tri sắc tập khởi, Ta đã thắng tri sắc đoạn diệt, Ta đã thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Ta đã thắng tri thọ... tưởng... hành... Ta đã thắng tri thức, Ta đã thắng tri thức tập khởi, Ta đã thắng tri thức đoạn diệt, Ta đã thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỳ-kheo, đấy được gọi là sắc. Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Và con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Trên đây là những định nghĩa cực kì quan trọng của ngũ uẩn nên cần cố gắng học thuộc lòng. Ở đây Minh Thành chỉ nói trong kinh Nikāya, khi học chúng ta thấy chỗ này định nghĩa vầy, chỗ kia định nghĩa khác thì mình phải biết rằng mỗi lần như vậy là Đức Phật đưa ra một khía cạnh khác của pháp đó chứ không phải hôm nay nói vầy, mai lại nói khác, trong một cơ duyên nào đó thì ngài sẽ đưa ra một góc độ trí tuệ về pháp đó, lần khác ngài sẽ đưa ra một góc độ khác, lần khác nữa thì ngài lại đưa ra góc độ khía cạnh, trí tuệ về pháp đó ở phương diện khác. Trên mạng Minh Thành đã đưa lên bộ phân loại Nikāya của sư cô Chơn Tín Toàn, phần sắc trong đó thì cô sẽ đem hết tất cả những bài kinh nào mà Đức Phật nói về sắc uẩn vô chung với nhau, đọc trong đó mình sẽ thấy hết tất cả những phương diện, khía cạnh, góc độ, trí tuệ mà Đức Phật khai triển về sắc uẩn. Vì thế mình cần phải nhớ điều này, nếu không mình sẽ thắc mắc sao bài kia nói khác, bài này nói khác, thật ra không phải là khác mà là một góc độ, một phương diện, khía cạnh nữa của Thánh trí tuệ của Đức Phật.
Học kinh Nikāya là phải thuộc lòng, nếu không thuộc thì phải lấy nguyên bài kinh ra được, không được tự ý suy diễn, đây là điều tuyệt đối quan trọng khi học kinh Nikāya, chỉ cần sai một chỗ thôi là toàn bộ đều sai, cũng như ngày xưa học những định lý, định luật mà sai một chỗ là sai hết cho nên những câu chữ trong kinh là định lý chứng ngộ của Đức Phật, không được sai một chữ nên phải cố gắng học thuộc. Như vậy trong bài kinh này có thêm một định nghĩa về sắc "thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành", nghĩa là sắc là đất, nước, gió, lửa và những thứ do đất, nước, gió, lửa tạo thành, đồng hồ là đất, nước, gió, lửa tạo thành, cái chuông cũng vậy, con người cũng vậy, tất cả là do đất, nước, gió, lửa tạo thành, như vậy cả trái đất này đều là sắc, cả địa cầu này Đức Phật chỉ nói một chữ "sắc" thêm chữ "uẩn" nghĩa là tổ hợp của sắc chất, tổ hợp của sắc tướng, tổ hợp vật chất do tứ đại tạo thành. Trí huệ của Đức Phật vô cùng khủng khiếp, một chữ "sắc" thôi là thâu tóm cả trái đất, vũ trụ.
Tập nghĩa là tập hợp, tụ tập, nhóm họp rồi sanh khởi ra, trong kinh Nikāya dùng từ nào thì từ đó rất kinh khủng, không phải là chữ bình thường của phàm phu mà là từ của bậc tối tôn tối thượng cho nên chữ nào trong đó cũng là cả một bầu trời trí tuệ, vì thế khi học kinh Nikāya phải nghiền ngẫm từng chữ trong đó. Đức Phật nói tất cả pháp tụ tập, tập hợp lại rồi sanh khởi lên, ví dụ trồng cây hoa hướng dương thì có biết bao thứ tập hợp trong đó chứ đâu phải tự nhiên nó có hoa, phải có đất, nước, gió, hạt giống, phân,… đó là sự tập hợp. Sở dĩ nó phát triển là do có thức ăn, thức ăn của nó là phân bón, là nước, là ánh nắng mặt trời, như vậy sự sanh khởi là có điều kiện, có những cái phải nương vào, tựa vào thì mới tồn tại được. Cũng vậy với tấm thân này, nếu một tuần lễ, nửa tháng ăn không được, đồ ăn phải xay nhuyễn ra đổ vào ống đi thẳng vào bao tử thì thật khổ sở cho nên thức ăn đoạn diệt là sắc đoạn diệt. Sự hiện hữu, sanh khởi của thân này là nhờ tụ tập, tập hợp của thức ăn nhưng thức ăn không phải là đồ ăn trên quả đường mà bây giờ chúng ta vẫn đang ăn, ăn không khí, ngưng lại thì chết.
"Đem vào là nhờ gió,
Tống ra cũng gió đưa.
Sự hô hấp tuần hoàn,
Tất cả đều do gió.
Một phen gió nghiệp dừng,
Thân này như khúc gỗ".
(Gió Nghiệp - Thiền viện Chân Không, tháng 8/1982)
Đó là sự quán chiếu của ngài nhưng mình có khi quên mất, tu thì tu chứ không nhớ, cứ nghĩ hôm nay cũng vậy, ngày mai cũng vậy nhưng có khi nằm xuống do F0, khi đi thì xe lại đưa đi nhưng khi về thì trả lại gia đình một hủ cốt cho nên còn thở là còn sống, còn ăn là còn sống. Có những người nằm bán thân bất toại 10 năm, 20 năm nhưng vẫn phải đổ nước vào miệng, đổ thức ăn vào, còn không có thức ăn thì chết, đó là sự chứng ngộ của Đức Phật. Chúng ta cứ mượn hơi thở vào rồi trả ra, uống nước vào rồi thải ra, thức ăn đưa vào miệng thì thơm ngon, bổ béo, đủ mùi vị nhưng trả ra phải vào chỗ không có ai, vừa ra là phải dội nước xóa vết tích ngay lập tức cho nên tôn giả Xá-lợi-phất nói thân này là thân lủng lỗ, rỉ chảy những thứ bất tịnh, nhàm chán, nhơ nhớp, hôi tanh nhưng do vô minh, tham ái nên không thấy, dù cho thấy cũng cho qua, cũng mê muội. Nói đơn giản là còn ăn thì còn sống, hết ăn thì chết, còn thở được thì sống, hết thở được thì chết, còn uống được thì sống, hết uống được thì chết, đó là trí tuệ về sắc uẩn này, sắc pháp này.
Chúng ta phải học bảy trí về sắc, bảy trí về thọ, bảy trí về tưởng, bảy trí về hành, bảy trí về thức, tổng cộng là 35 loại trí tuệ. Mỗi một uẩn như vậy Đức Phật chỉ cho mình bảy loại trí tuệ để quán chiếu.
BẢY TRÍ VỀ SẮC:
• Sắc: “Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành” – Kinh Thủ Chuyển. “Bị thay đổi, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi gì? Bị thay đổi bởi lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn” – Kinh Đáng Được Ăn.
• Sắc sanh: Do các Thức ăn tập khởi nên Sắc tập khởi.
• Sắc diệt: Do các Thức ăn đoạn diệt nên Sắc đoạn diệt.
• Sắc diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến Sắc đoạn diệt là Phương pháp Tám đúng.
Vị ngọt của sắc: Do duyên Sắc khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của Sắc.
• Sự nguy hại của sắc: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Sắc, đó là nguy hại của Sắc.
• Sự xuất ly của sắc: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Sắc. Đây là sự xuất ly của Sắc.
Trên đây là bảy trí về sắc được trích trong rất nhiều bài kinh Nikāya. Sự hỷ lạc là vui thích, hoan hỉ, vui mừng, vui sướng, thích thú, hân hoan, do duyên với sắc mà mình sanh khởi lên cảm giác khoan khoái, thích thú, hoan hỉ trong đó thì đó là vị ngọt. Vị ngọt này làm chết người, mật ngọt chết ruồi, tất cả chúng sanh không đi ra nổi vị ngọt này, nó giết chết tất cả tam giới. Ví dụ phòng học chúng ta rất trang nghiêm, sạch sẽ, mát mẻ nhưng hôm nay đổi ý cho đại chúng ra ngồi dưới đất, không có bàn ghế gì cả thì cảm thọ mình ra sao? Đương nhiên là khổ thọ, khó chịu, không hoan hỉ nhưng tại sao lại khó chịu? Là do vị ngọt này. Hôm nào cúp điện, hết dầu không chạy máy phát điện được nên vào ngồi học cảm thọ không bình thường, thấy khó chịu vì nóng, đó là do vị ngọt của máy lạnh. Chúng ta bị vị ngọt này ám ảnh, xâm chiếm, nhận chìm mình mà mình không biết, mình phải biết cái gì là vị ngọt, cái gì là vị đắng chính là sự nguy hiểm và tác hại của nó thì sau đó mình mới thoát ra khỏi nó. Mình làm việc cả buổi sáng mệt mỏi, ai cũng có ly ca cao sữa đá nhưng đến lượt mình thì hết, cho ly nước lạnh thôi trong khi mình là người làm nhiều nhất, làm hết mình mà chỉ được uống nước lọc thôi, cảm thọ mình thấy khó chịu vì vị ngọt của ly ca cao sữa đá đó làm mình sân.
Mình muốn cái đó, mình khoái cái đó mà mình không được thì mình sân lên, hằng ngày mình chết trong vị ngọt đó, ví dụ 11h đêm mới ngủ mà mới 2h sáng bị gọi dậy đi làm công chuyện nên bực mình, đó là mình bị vị ngọt của giấc ngủ trói cột. Mình trồng hoa hướng dương 1,5-2 tháng mới có hoa, mình đem hết tâm tư vào để trồng vậy mà có người chê, không thấy đẹp thì mình sân lên, khó chịu cho nên những sự phiền não bủa văng mình khắp mọi nơi, cái tâm mình phải đề phòng, cẩn trọng, kỹ lưỡng từng chút một, phải phòng hộ, bảo vệ, canh chừng từng chút một, nếu không thì mình không biết được, mặt mày đỏ bừng lên hết nhưng vẫn nói "tôi giận hồi nào mà giận". Mình đang tu hành an lạc, thanh tịnh thì bất ngờ có Phật tử nữ đến cúng dường cho, tự nhiên về ngồi thiền bị ám ảnh, hình bóng người đó cứ chập chờn trong tâm, mình bị vị ngọt của sắc tưởng, những cảm thọ đó khi tiếp xúc, khi nói chuyện, khi nghe lời nói dịu dàng rồi trở về thì hình bóng đó ám ảnh, cảm giác đó lưu giữ lại, cứ tiếp tục suy nghĩ, đó là vị ngọt.
Đang ngồi thiền tĩnh lặng, nhẹ nhàng thì bất ngờ có người bảo "ra làm công chuyện, ngồi gì mà ngồi hoài vậy", đang tu nhưng có sân không? Có khó chịu, bực bội không? Đó là vị ngọt của thiền, mình muốn ở trong cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu đó, bây giờ kêu mình đi ra khỏi cảm thọ đó, làm mất vị ngọt đó nên bực bội, khó chịu, càng ngày càng vi tế nhưng mình không biết đây là vị ngọt mà mình chỉ biết "đang ngồi thiền cũng kêu nữa, giờ tu cũng không cho tu nữa", mình không biết bị dính mắc trong vị ngọt của sắc. Có Phật tử cúng cho chiếc xe đời mới rất đẹp, êm ái, ngồi lên chạy mà không có chánh niệm là xảy ra tai nạn vì thế phải quán sự nguy hiểm và tác hại của nó thường xuyên thì mới xuất ly, thoát ra khỏi nó, còn nếu chỉ nhìn thấy vị ngọt thì không thể thoát ra, cứ nghĩ đẹp lắm, ngọt lắm, hạnh phúc lắm, vui lắm rồi cứ nhào vô.
Nhìn thấy hai vợ chồng ăn mặc sang trọng, đẹp đẽ, nổi tiếng, báo chí đăng tin ầm ầm thì mình cứ tưởng là sung sướng lắm, tuyệt vời lắm nhưng mình không biết họ chuẩn bị ly dị vì họ giấu giếm không cho ai biết, cũng như hai vợ chồng cự cãi đập nhau ầm ầm, đập đồ vỡ hết nhưng có khách đến là dọn dẹp rồi tươi cười, khách hỏi dạo này hai vợ chồng thế nào thì bảo hạnh phúc lắm. Đó là lý do mình phải quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của sắc vì chỉ có quán cái này mới đưa tâm mình xuất ly, thoát ra, đây cũng là một sự như lý tác ý vì nếu không tác ý thì không thể quán được. Minh Thành thường giải thích chữ vô thường là tứ đột: đột ngột, đột biến, đột tử, đột quỵ vì nếu chỉ nói vô thường không thì không có cảm thọ gì cả. Vô thường là bất thình lình, đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử, bất thình lình bị F0, bất thình lình bị tại biến, bất thình lình bị tai nạn giao thông, bất thình lình bị chém chết, đang hát karaoke tự nhiên có người nhào vô chém, đưa vào bệnh viện không kịp, đó là khổ đau, là chịu sự biến hoại. Sắc này phải chịu sự biến hoại khốc liệt, sắc này bản chất của nó là đau khổ, là thống khổ, là khổ lụy, bản chất của nó là biến đổi và tan hoại, không sớm cũng muộn, không trước cũng sau rồi cũng phải đi đến nghĩa trang, nghĩa địa, đi đến lò thiêu, nhất định nó phải như vậy không thể khác hơn nữa, đó là quán về tính nguy hại của sắc.
Chúng ta phải tác ý, quán chiếu như vậy liên tục để nhìn cái gì cũng không còn tham, "cái đồ biến đổi, tan hoại này có gì để hơn thua, giành giật?", chỉ vì vài tấc đất mà anh em ruột giết hại nhau, chết 4 mạng người, con đường đi qua đi lại chỉ có một mét mà giết mấy mạng người, điều này thể hiện bản chất của sắc là khổ. Có cái gì thì khổ cái đó, có ít khổ ít, có vừa khổ vừa, có nhiều khổ nhiều, không có thì không khổ, không có của bậc Thánh nhân chứ không phải miệng nói không mà tâm nói có thì không được, không có của bậc chứng được Thánh trí tuệ về ngũ uẩn thì mới gọi là không có của bậc Thánh cho nên phải thường xuyên quán chiếu và tác ý sự nguy hiểm và tác hại của sắc.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là vị ngọt các sắc pháp? Này các Tỳ-kheo, như các thiếu nữ Sát-đế-lị, thiếu nữ Bà-la-môn hay thiếu nữ Gia chủ, tuổi khoảng độ mười lăm hay mười sáu tuổi, không quá lớn, không quá thấp, không quá ốm, không quá mập, không quá đen, không quá trắng, này các Tỳ-kheo, có phải trong thời ấy, họ đạt đến mỹ diệu tối thượng, sắc đẹp tối thượng?
-- Bạch Thế Tôn, phải.
-- Này các Tỳ-kheo, y cứ sắc đẹp mỹ diệu ấy khởi lên lạc thọ và hỷ thọ, như vậy là vị ngọt các sắc pháp.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sự nguy hiểm các sắc pháp? Này các Tỳ-kheo, ở đây người ta có thể thấy bà chị ấy trong một thời khác, khoảng tám mươi tuổi, chín mươi tuổi hay một trăm tuổi, già yếu, cong như nóc nhà, lưng còm, phải dựa gậy để chống đỡ, vừa đi vừa run rẩy, đau ốm, tuổi trẻ đã tận, râu rụng, tóc bạc, hư rụng, sói đầu, da nhăn, tay chân bị khô đét tái xám. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của người đó nay đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa này các Tỳ-kheo, người ta có thể thấy bà chị ấy bị bệnh hoạn đau khổ, trầm bệnh, nằm đắm mình trong phân tiểu của mình, phải có người nâng dậy, phải có người đỡ nằm. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của người đó nay đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng vào nghĩa địa, một ngày hay hai ngày hay ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu sắc đẹp xưa kia của cô gái đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng vào nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của cô gái nay đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột bộ xương, không còn thịt, không có máu, còn được gân cột lại, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia, ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của cô gái nay đã biến mất, và sự nguy hiểm đã hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng vào nghĩa địa, chỉ có toàn xương trắng màu vỏ ốc... chỉ còn một đống xương lâu hơn một năm... chỉ còn các xương thối trở thành bột. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của cô gái nay đã biến mất, và sự nguy hiểm hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp" (Trung Bộ Kinh, 13. Ðại kinh Khổ uẩn)
Trên đây là tính nguy hại của sắc, các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật quán chiếu như vậy mỗi ngày mỗi giờ để diệt dục, nhiếp phục dục, đoạn tận dục, hoàn toàn ly dục để vào sơ thiền, tức là khi nhìn thấy sắc hay nghĩ về sắc là tâm các ngài không còn tham muốn nữa, chỉ toàn là một sự nhàm chán, yểm ly, ngao ngán, thấy sợ, không ưa thích, không khoan khoái nữa thì các ngài mới thể nhập được vào các tầng thiền để phá vỡ các dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Còn mình tu 10 năm có khi không biết quán bất tịnh hoặc ngồi quán mà chỉ toàn thấy tịnh chứ không thấy bất tịnh, chúng ta không đi đúng đạo lộ của Đức Phật cho nên những gì Đức Phật và các bậc Thánh chúng thành tựu còn mình không thành tựu. Mình thích cái gì cao siêu, cao thâm, mới tu 3 tháng mà vào nói trên trời dưới đất nhưng quay lại thì tham, sân, si quá nhiều, đó là tâm không chân thật, tâm không hiền thiện, tâm không chân chánh nên tu hành không thể thành tựu được chánh pháp. Bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật có bốn tâm mà những vị này phải thành tựu.
"Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời" (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)
Trên đây là bốn đức hạnh của các bậc hiền Thánh phải thành tựu, khi Đức Phật gọi lên hỏi có phạm lỗi này không thì các vị nếu có thì trả lời có, còn mình được gọi lên hỏi thì "dạ con đâu có đâu", thành ra tâm mình không chánh trực, không ngay thẳng, không hiền thiện nên không thành tựu chánh pháp. Tâm tà thì làm sao thành tựu chánh pháp? Cho nên nhận diện ngũ uẩn là nhằm nhìn nhận thân tâm mình một cách trân xác, chính xác, trực diện, trực tiếp, có sao thì nhìn thấy đúng như vậy, đó là bước đầu để thành tựu đức hạnh của bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật, chính là tâm chánh trực, ngay thẳng, có tham thì thấy có tham, có sân thì nói có sân, thấy xấu hổ và xin sám hối, "con xin sám hối với quý thầy, chư huynh đệ, con thấy trong nửa tháng nay con có tâm sân với sư huynh nên giờ con xin ra quỳ giữa đại chúng xin sám hối tâm sân này. Con thấy tâm sân này là thứ thấp hèn, xấu hổ, con muốn đào thải cảm giác sân hận bực bội ra khỏi thân tâm không muốn chất chứa nó nữa", vừa lạy sám hối vừa khóc vì xúc động, có vậy tu mới tiến bộ, còn đằng này được chỉ lỗi thì chối tội, đổ thừa người này người kia, đó là cái tâm quanh co không chánh trực, không ngay thẳng, không thành thật, không có tàm quý tức là không thấy xấu hổ và sợ hãi thì không thể thành tựu được Thánh pháp vi diệu, tối thượng này.
Trở lại vấn đề tâm xuất ly sau khi mình quán chiếu thật nhiều về sự nguy hiểm và tác hại của nó thì mình mới nhàm chán. Tại sao mình không ở ngoài đời mà mình đi tu? Vì mình thấy ngoài đời nhiều phiền não, nhiều khổ đau, nhiều lo lắng, bất an, phiền phức, hệ lụy, mình thấy được sự nguy hiểm và tác hại của nó nên mình đi xuất gia, mình ra khỏi cuộc đời này. Tới khi nào mình chán chê, ê chề, không còn muốn sắc nữa thì mình xuất ly khỏi sắc, còn ngày nào mình chưa chán chê, chưa ê chề, chưa nhàm chán, chưa muốn từ bỏ thì ngày đó còn khổ tiếp tục, ai thích sắc thì người đó thích khổ, ai thích khổ thì không thể thoát khỏi khổ.
"Ai ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ" (Tương Ưng Bộ, Chương IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Song Đôi, VIII. Ưa Thích (2))
Khi đi vào dòng pháp này chúng ta sẽ thấy trí tuệ Đức Phật rất vi diệu, tối thượng ngoài sức tưởng tượng của mình, nó rất rõ ràng, cho đến lúc nào nhìn vào đống phân, nhìn vào đống giòi đó, nhìn vào đống bầy nhầy gan ruột đó mà sợ hãi, khiếp đảm, nhàm chán, không còn ham muốn nữa thì lúc đó xuất ly khỏi sắc. Khi đã xuất ly khỏi sắc thì không còn trở lại sắc thân giống vầy nữa, còn sở dĩ mình có sắc thân này là do còn yêu thích, khoan khoái, ham muốn, nắm giữ vào đó, cho rằng nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Các bậc Thánh Tăng ngày xưa khi quán bất tịnh đã chứng ngộ rất nhiều, có vị nói bệnh rồi khó tu nhưng nếu mình thiện xảo trong pháp quán thì bệnh dễ chứng ngộ hơn lúc bình thường vì khi bệnh sẽ bày hiện ra tính nguy hại, đau chỗ này, nhức chỗ kia, thốn chỗ nọ, khó chịu toàn thân nên mình thấy nhàm chán sắc thân này. Con đi tìm cầu tha thiết suốt 30 năm để tìm ra đâu là lời dạy chân xác của Đức Phật để đoạn tận tham, sân, si, vô minh, bản ngã, thành ra con không bị tư tưởng của các tông phái ảnh hưởng dù cho con học tất cả các tông phái, con đi vào dạy trong giới luật viện của Luật Tông, dạy ở chùa Hoằng Pháp là của Tịnh Độ Tông, dạy ở trường Phật học là của Giáo Tông và có chia sẻ trên Thiền Viện Trúc Lâm là Thiền Tông.
Khi đã có nền tảng rồi mình mới đào sâu vào lời Phật dạy nguyên chất thì không ngờ tâm mình còn đầy rẫy những tham, sân, si, bản ngã, cấu nhiễm thì bắt đầu mình mới thấy hạnh phúc trong giáo pháp. Vì vậy tinh thần tu học phải dùng tâm khách quan thì chúng ta sẽ học được trí tuệ thần diệu, tối thượng của Như Lai, đừng có suy nghĩ học được một chút thì cho đây là số 1 thì cái này thất bại. Hòa Thượng viện chủ ở đây tâm ngài rất rộng lớn, ngài lập ra cái trường cho chúng ta là cả một tấm lòng bao la, tuyệt vời. Ngày xưa ngài đã học tất cả các trường Phật học, ngài đi qua tất cả các tông phái cho nên cái nhìn của ngài rất bao quát, rộng lớn, sâu sắc vì thế chúng ta cần bám sát vào lời dạy của Đức Phật rồi thực tập sẽ thấy kì tích xuất hiện, phép màu, những điều lạ xảy ra, nhất là môi trường ở đây là tuyệt diệu, tối thượng, không phải dễ để được vào đây học cho nên được ngồi đây học là phước báo vô cùng, bây giờ chỉ còn pháp hành nữa là thành cho nên con mong các thầy chịu khó học thuộc lòng những định nghĩa căn bản của ngũ uẩn và thực tập nhận diện trong khi ngồi thiền, trong khi sinh hoạt, trong khi nóng giận, ham muốn, nếu bình thường không thực tập thì khi ham muốn, nóng giận sanh khởi mình sẽ nhìn không ra nó.
Tại sao không đợi đến khi ra trận mới luyện binh mà phải luyện trước 3 năm, 5 năm, 10 năm? Mình đợi đến lúc giận lên mới tu tâm từ thì lúc đó làm sao trải nổi? Bình thường phải thực tập nhận diện thì khi tham khởi lên, bản ngã khởi lên, hơn thua sanh khởi thì mình mới nhìn ra được bộ mặt của nó, mình mới có khả năng hạ gục nó, đánh ngã nó, đánh vỡ nó. Bây giờ tham, sân, si ở đâu? Trong thọ lạc có trú ẩn tham, trong thọ khổ có trú ẩn sân, trong bất khổ bất lạc thọ có si trú ẩn. Đây là nói tổng quát nhưng thật ra trong suy nghĩ, ý hành của mình có tham, sân, si nhưng tổng hành dinh của nó là nằm trong cảm thọ, khi tham, sân, si thì đầy đủ ngũ uẩn nhưng mình chỉ nói gốc rễ của nó.
Bây giờ tham, sân, si biểu hiện trên thân là chỗ nào? Khi mình giận lên thì chỗ lồng ngực nóng lên, mắt đỏ, mặt đổi màu, lỗ tai lùng bùng cho nên chỗ lồng ngực là chỗ tập trung các cảm thọ. Khi mình si thì thể hiện nhiều nhất ở con mắt cho nên nhìn người nào mà thấy họ tinh minh, sáng tỏ thì người đó thông minh, còn nhìn vào thấy con mắt lờ đờ thì người đó si, hoặc là lúc ngồi thiền mà mình tỉnh táo, chánh niệm, tinh anh thì hai con mắt tỏ tường, minh bạch, còn ngồi mà bị hôn trầm, lờ đờ thì hai con mắt cứ nhướng lên rồi sụp xuống cho nên si biểu hiện nhiều nhất ở con mắt. Dục tham thì biểu hiện ở bộ phận sinh dục, khi có dục khởi lên thì chỗ đó chuyển động. Đó là nơi cư trú của tham, sân, si, nó cư trú ở cảm thọ là phần tâm, còn phần thân vẫn có chỗ biểu hiện ra của tham, sân, si, khi có sân sanh khởi lên là lồng ngực nóng lên, khi cái si biểu hiện ra thì con mắt lờ đờ, sụp xuống. Mình phải nhận diện ngũ uẩn từ từ thì mình mới biết được, khi phát động những cảm thọ đó thì mình phải hướng tâm vào ngay chỗ đó để tác ý, thấy nóng lồng ngực thì tác ý "ngươi đừng thiêu đốt nữa, ham giận lắm hả, thích đốt cháy nhau lắm hả. Mày làm ơn an tịnh, lắng dịu cho tao tu đi, đừng quậy nữa, hiền từ đi, thiêu đốt nhau để làm cái gì", mình tác ý một hồi là cảm giác sân đó lắng xuống và tan rã, mình trị tham, sân, si ngay trong thân tâm của mình. Tác ý tâm từ một hồi là lồng ngực mát dịu, lắng dịu, ngọt ngào ngay và mình thấy rõ cảm thọ này chuyển biến như vậy, nó rất rõ ràng.
"Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu" (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương IX. Tương Ưng Dự Lưu (a). I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)
Đến để thấy tham, sân, si vận hành trong tâm mình, thấy nguyên nhân đau khổ sanh khởi và có phương pháp nhiếp phục, diệt tận đau khổ ngay trong tự thân mình. Khi dục khởi lên thì mình phải hướng tâm vào đó để tác ý "chính vì cái này mà mình cứ khổ mãi, mình không tu hành được, suốt ngày cứ khao khát, thèm muốn, đòi hỏi, trong vô lượng vô biên kiếp đã dục ái rồi mà vẫn chưa hài lòng hay sao, tới giờ vẫn còn thèm muốn những thứ thấp hèn như vậy? Thích giòi lắm phải không? Thích phân và nước tiểu lắm phải không? Hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi", khi tác ý như vậy thì cảm thọ sẽ lắng dịu và chỗ đó sẽ nhẹ nhàng, thấy rõ được hiệu quả tức thời nhưng phải chịu khó rà soát thường xuyên và liên tục trong thân của mình, bất cứ chỗ nào cũng phải an trú cảm giác toàn thân tức là khi đi, đứng, làm việc, lúc nào cũng để ý cảm giác toàn bộ cơ thể, khi biến động thì mình thấy liền lập tức, khi nóng lên là mình biết ngay "lắng dịu đi để tao tu".
Trước khi ngủ phải tác ý diệt dục, khi mới thức dậy phải tác ý diệt dục, trong khi ngồi thiền cũng tác ý diệt dục liên tục, la mắng, quở trách tâm thường xuyên thì từ từ nó sẽ ngấm vào cảm thọ của mình, tâm ương ngạnh, cứng đầu, ngông nghênh, hoang vu sẽ bị nhiếp phục và chế ngự, phải có tuệ lực, hùng lực, phải có những phương pháp thật mạnh để đánh đuổi nó tan thành mây, thành khói, thành hư không, để không tái sanh trở lại trong tương lai nữa, chặt nó như chặt cây Tala. Đối với cái si cũng vậy, hai con mắt mở lớn lên, tác ý cảm thọ thật mạnh ở con mắt, tác ý la mắng cơn hôn trầm đó, đuổi cảm thọ đó ra khỏi hai con mắt thì mình sẽ thấy hai con mắt tinh anh lên.
Nguyện đem công đức này hướng về đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.