Tỳ Kheo Ni Thời Đức Phật 10 - Mẹ Dạy Con Thành Thánh Nhân
Tỳ Kheo Ni Thời Đức Phật 10
Mẹ Dạy Con Thành Thánh Nhân
Thích Minh Thành
Ngày 05 tháng 07 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Những tấm gương sáng PAGEREF _Toc148972595 \h 1
II. Trưởng Lão chứng Thánh PAGEREF _Toc148972596 \h 2
III. Tu trong bếp PAGEREF _Toc148972597 \h 6
IV. Phân biệt cúng dường PAGEREF _Toc148972598 \h 9
V. Hai mẹ con chứng A La Hán PAGEREF _Toc148972599 \h 15
VI. Trình pháp PAGEREF _Toc148972600 \h 22
I. Những tấm gương sáng
Kính bạch chư tôn hiền đức và chư vị hiền trí.
Hôm nay chúng ta tiếp tục nghe về chư Tỳ-kheo ni thời Đức Phật còn tại thế. Chúng ta sẽ thấy được sự dụng công của các Ngài rất thù thắng, có người còn đang là một người vợ trong gia đình, đang nấu nướng, chiên xào thì ngọn lửa bắt lên chảo đồ xào cháy, vị nữ cư sĩ triển khai thiền quán ngay lúc đó chứng quả Bất Lai. Có người đang đi bộ leo núi, mệt quá ngồi xuống nghỉ và ngay lúc đó triển khai thiền quán, đoạn tận các lậu hoặc.
Bên Tăng cũng không kém, sau này chúng ta sẽ nghe Trưởng Lão Tăng Kệ, đều là những bậc kiệt xuất, đại anh hùng, đại chiến thắng ở trong Tam giới, đều là những dũng sĩ, chiến sĩ, thượng sĩ, vô thượng sĩ. Nên chúng ta học những gương này, trước nay chúng ta học lý thuyết nhiều, giờ chúng ta học những đức hạnh, những pháp hành để chúng ta thấy được là người thật, việc thật, sự thật, pháp thật và trí tuệ chân thật của các bậc Thánh. Rất nhiều người, mình sẽ bàng hoàng, kinh ngạc, so với bây giờ mình học, mình tưởng đâu là khó khăn rất nhiều nhưng đối với các Ngài thì tất cả đều có thể được độ trong giáo pháp thần diệu, ly tham này, Thánh trí thù thắng này.
Đó là câu chuyện đầu tiên của chương một, chúng ta tuyển những câu chuyện thấm thía để mình khắc ghi sâu. Nhiều khi nếu chúng ta không học thì chúng ta đọc không có cảm thọ nhiều khi mình mở lên nghe người đọc. Nhưng khi chúng ta được học và có sự để tâm thiền quán thì chúng ta sẽ có nhiều cảm thọ, ấn tượng sâu sắc hơn.
Đây là vị trong Trưởng Lão Ni Kệ đầu tiên, vô danh, một vị trưởng lão ni không biết tên. Chúng ta thấy nhiều lúc các bậc Thánh cũng không có danh gì, các Ngài không cần danh lợi gì trong cuộc đời này, không cần ai biết. Vậy họ có là Thánh không hay người ta biết mới là Thánh? Có nhiều bậc Thánh đời này không biết, các Ngài chứng đắc rồi các Ngài ẩn dật trong núi rừng và tùy duyên quá độ.
Nhiều người không hiểu và trước nay chúng ta học, sau này họ nói các bậc A-la-hán chỉ độ mình mình, không độ ai khác nên điều này có lỗi rất lớn. Lúc xưa mình được học như vậy là không đúng, các bậc Thánh là các Ngài độ những người có duyên, ngay cả Đức Phật cũng vậy, những người vô duyên làm sao độ. Có duyên là người ta nghe mình, chịu nghe thì các Ngài mới nói. Ví dụ có người gặp mình không ưa thì làm sao nói? Vậy nên có duyên là có người chịu nghe mình nói, họ hoan hỷ, chấp nhận và làm theo.
Vậy nên các bậc Thánh A-la-hán không phải là không độ mà là các Ngài độ những người có duyên với các Ngài. Và các Ngài không quan trọng danh lợi gì trên cuộc đời này nữa, rất nhiều các bậc Thánh không ai biết trong thời Đức Phật. Trong kinh là chỉ ghi các vị được biết, còn các vị đã thành Thánh nhân thì không còn là “Tôi là A-la-hán, ghi lịch sử cho tôi!” Không có như vậy, vì các Ngài đối với thế gian này không có gì nữa.
Đây là vị trưởng lão đầu tiên trong Trưởng Lão Ni Kệ, là vị trưởng lão ni không biết tên, tức vô danh ni.
II. Trưởng Lão chứng Thánh
Khi Đức Phật ra đời thì nàng được sanh ra trong gia đình Tỳ-xá-ly, thân hình nàng đẫy đã nên gọi là Nàng Đẫy Đà. Đẫy đà là tròn trịa, mập.
Cô trở thành một người vợ trung thành của một quý tộc.
1. Hãy ngủ trong an lạc
Hỡi nàng thân đẫy đà,
Ðắp phủ trong tấm y,
Chính mình tự làm lấy,
Lòng tham, nàng lắng dịu,
Như ghè khô trong lò!
Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình ở Vesàli (Tỳ-xá-ly). Vì thân hình đẫy đà, nàng được gọi là nàng đẫy đà. Nàng trở thành người vợ trung thành của một người quý tộc. Khi bậc Ðạo Sư đến Vesàli, nàng tin tưởng giáo pháp của đức Phật và trở thành một nữ cư sĩ. Khi nàng nghe Trưởng lão Ni Mahàpajàpati thuyết pháp, nàng muốn xuất gia và thưa với chồng ý nguyện của nàng.
Người chồng không cho, nên nàng tiếp tục làm tròn bổn phận của nàng, suy tư đến những lời dạy dịu dàng của giáo pháp và chú tâm đến thiền quán.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm I – Tập Một Kệ - Bài kinh Bài Kệ Này Do Một Trưởng Lão Ni Không Biết Tên Nói Lên)
Tức, tuy là nàng ở trong gia đình, có chồng, có gia đình nhưng nàng thường suy tư. Đây là bí kíp của bậc Thánh đệ tử. Vì các vị này được nghe pháp nhiều nên các vị này sẽ dựa trên pháp được nghe và suy tư thì đó mới thành Thánh tư duy, Chánh tư duy, suy nghĩ đúng và xuất ly tư duy, ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy. Khi mình chưa đi vào dòng pháp Nikāya này thì mình nghĩ là mình đã tu được nhiều rồi, tu khá lắm rồi nhưng suy tư của mình trong dục, ái, tham thì mình không biết. Còn khi mình đi vào dòng pháp này thì mình biết là cái này là mình đang có sự ái luyến, mình đang có tâm của cái tôi, mình thấy rất rõ, cái nào ra cái nấy và mình hướng tâm mình đi ra khỏi ái đó, ra khỏi cái tôi đó, nhiếp phục cái tôi đó.
Hoặc là mình có nhiều suy nghĩ về xuất ly, thoát ra khỏi đời sống vô minh, phiền não, bất an này thì những suy nghĩ ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy, xuất ly tư duy đó là có được từ chỗ mình nghe pháp. Nếu mình không nghe pháp thì làm sao mình có được xuất ly tư duy? Có mình chán đời là vì mình không được nên mình mới chán, còn nếu mình được thì mình có chán không?
Vậy nên tại sao chúng ta rất quan trọng chữ Đa văn Thánh đệ tử, là vì chúng ta nghe thì chúng ta sẽ nắm được những cương lĩnh, giáo pháp, Thánh trí của Đức Phật. Những cái gọi là pháp ấn.
Như ở Linh Quy Pháp Ấn này là một con rùa khổng lồ, linh thiêng, ở trên lưng nó là tam pháp ấn. Đó là ý nghĩa của Minh Thành đặt tên chùa là Linh Quy Pháp Ấn. Ngọn núi này có hình dáng con rùa, rất linh thiêng, ngay cả các bậc hòa thượng lớn phải lên đây cầu nguyện. Đừng nói chi các Phật tử hay là những người ở ngoài đời.
Rất linh thiêng ở đây và ở trên con rùa này có con dấu của Chánh pháp: tam pháp ấn, chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, niết bàn tịch tịnh hoặc là vô thường, khổ, vô ngã. Ba pháp đó là những con dấu xác chứng, xác nhận, xác thực, như mình đi xin thị thực là người ta đóng dấu mộc đỏ thì tờ giấy đó mới có giá trị. Cũng vậy, bất cứ pháp nào mà không có vô thường, khổ, vô ngã trong đó thì không phải là lời dạy của Đức Phật.
Vô thường, khổ, vô ngã đó mới đưa mình đến sự ly tham, nhàm chán, đoạn tận, viễn ly, xuất ly. Nên nàng dâu này tuy người chồng không cho xuất gia nhưng đi nghe pháp và thường xuyên suy nghĩ, chiêm nghiệm. Đây là điều mấu chốt.
Rồi một ngày kia, trong khi đang ở trong bếp và nấu món ăn, một ngọn lửa mạnh bừng cháy và thiêu tất cả món ăn với những tiếng cháy xèo xèo, nàng lấy đó làm đề tài để thiền quán về tánh vô thường của sự vật, và chứng được quả Bất Lai.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm I – Tập Một Kệ - Bài kinh Bài Kệ Này Do Một Trưởng Lão Ni Không Biết Tên Nói Lên)
Lâu lâu chúng ta nấu ăn có gặp trường hợp như vậy không? Khi đổ dầu vào thì phựt lửa, cháy cả chảo đồ xào đó thì cô này triển khai thiền quán về tánh vô thường của sự vật. Khi nãy còn màu xanh màu đỏ, còn sắc, hương, vị, phân biệt được món này món kia. Nào là bắp cải, đậu que, cà… Những món ăn phựt lên, cháy thành màu đen, khét. Sắc, hương biến dạng và vị thay đổi. Cả một chảo khét, đen thui, bốc lên một cái mùi rất khó chịu, không còn thơm tho, đẹp đẽ, ngon lành gì nữa.
Tất cả sắc trong món đồ, đồ ăn đó đều bị biến sắc, bị cháy, bị thiêu. Ngay tại chỗ đó nàng lấy sự kiện đó làm đề mục thiền quán ngay trong bếp, ngay tại chỗ đó quán chiếu thâm sâu. Thân này rồi cũng vậy, mắt này rồi cũng vậy, cũng bị đốt cháy, lỗ tai, mũi, gương mặt này, thân xác này rồi cũng sẽ bị cháy rụi, không sớm thì muộn rồi cũng sẽ bị cháy với những ngọn lửa của đài hỏa táng, dàn hỏa thiêu. Rồi thân xác này cũng giống như những món đồ này, sẽ đen, cháy trơ xương ra, trở thành tro cốt.
Nàng ấy triển khai thiền quán thâm sâu ngay tại chỗ đó, chứng quả Bất lai. Không còn trở lại thế gian này nữa, sau khi chấm dứt thân này. Sạch hết tất cả dục tham, sân đoạn tận, phá tan thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ ngay tại chỗ đứng ở trong nhà bếp, triển khai thiền quán.
Chúng ta hiểu rằng vị nữ cư sĩ này lấy sự kiện bị cháy chảo đồ ăn làm đề mục thiền quán và tiếp tục lấy đó làm định tướng, đề mục quán chiếu.
Trong kinh chỉ nói vắn tắt, mình đọc vào sẽ nghĩ là ngay tại đó chứng ngộ ngay nhưng không phải vậy, là vị này lấy hình ảnh đó, sự kiện đó làm đề mục thiền quán. Thiền quán mắt, tai, mũi, lưỡi này rồi sẽ bị thiêu cháy, bị thiêu rụi, thân xác này rồi sẽ bị thiêu rụi, sắc này rồi sẽ bị tiêu tan. Những thọ, tưởng, hành, thức này thì vào thời Đức Phật, các vị này đều đã nhận diện được ngũ uẩn hết, đều có trí năm uẩn, vì được học với Đức Phật, với Ngài đại áo đạo nên lấy sự kiện đó làm đề tài và quán chiếu thâm sâu, phá hết thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục tham và sân, thành tựu bất lai Thánh quả. Tức là sau khi nhắm mắt ra đi thì không trở lại thế giới này nữa, ở Tịnh cư thiên, từ đó chỉ nhập Niết-bàn luôn, không bao giờ lùi trở xuống nữa, thoái chuyển.
Rồi nàng không đeo các đồ trang sức nữa.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm I – Tập Một Kệ - Bài kinh Bài Kệ Này Do Một Trưởng Lão Ni Không Biết Tên Nói Lên)
Tức dục tham đã hết, thân kiến đã phá, tự động các giới thành tựu, đây gọi là đạo cộng giới. Các vị khi thành tựu Thánh quả thì tự nhiên giới đã viên mãn. Tự động trong quả đó viên mãn giới. Vậy nên Ngài phá hết năm kiết sử đó rồi thì nàng không đeo trang sức nữa thì người chồng mới hỏi duyên cớ: Sao nàng không đeo đồ trang sức gì nữa? Ăn mặc đơn sơ vậy?” Lúc đó nàng mới trả lời: “Bây giờ Thiếp không thể sống trong gia đình được nữa.” Hết tất cả những dục ái, không còn sống trong gia đình nữa.
Người chồng hỏi duyên cớ, nàng trả lời nàng không thể sống trong gia đình được nữa. Người chồng đưa nàng đến Trưởng lão Ni Mahàpajàpàti Gotami, và bằng lòng để nàng xuất gia. Mahàpajàpàti làm lễ xuất gia cho nàng và đưa nàng đến yết kiến đức Phật. Bậc Ðạo Sư giải thích về đề tài thiền quán của nàng và nói lên bài kệ này.
Khi nàng chứng quả A-la-hán, nàng lập lại bài kệ này và bài kệ trở thành bài kệ của nàng.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm I – Tập Một Kệ - Bài kinh Bài Kệ Này Do Một Trưởng Lão Ni Không Biết Tên Nói Lên)
1. Hãy ngủ trong an lạc
Hỡi nàng thân đẫy đà,
Ðắp phủ trong tấm y,
Chính mình tự làm lấy,
Lòng tham, nàng lắng dịu,
Như ghè khô trong lò!
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm I – Tập Một Kệ - Bài kinh Bài Kệ Này Do Một Trưởng Lão Ni Không Biết Tên Nói Lên)
Tấm y đó tự nàng dệt lấy và lòng tham lắng dịu như ghè khô trong lò. Ghè là không có gì ở trong đó và còn để lên trên lò lửa, tức là mọi nước ái khô kiệt, tất cả mọi tham ái tiêu tan, hoàn toàn lắng dịu.
III. Tu trong bếp
Minh Thành cũng rất mong các vị trong nhà bếp, có vị nào vào Bất lai thì bếp là chỗ đại an ổn của đại chúng. Nhưng Minh Thành đi đến đâu cũng lo cái bếp hết. Mong sao trong bếp mình có những bậc Bất lai, trong nhà chùa của Linh Quy, làm sao phải an tịnh, lắng dịu và tu tập ở trong bếp đó bằng tình thương, bằng từ tâm với nhau, bằng sự dập tắt những ngọn lửa của hơn thua, của cao thấp, thị phi, sân hận ở trong bếp thì mình có được một tâm từ ở trong đó.
Chắc chắn là mình đã có rồi, nhưng bây giờ mình phải thêm nữa, phải tăng tưởng thêm nữa.
Đó là câu chuyện về vị nấu bếp nhưng chứng được quả Bất lai. Mỗi khi vào bếp mà thấy ai sân thì mình nhắc lại “Nhớ sư cô mập không?” hoặc gọi là Bếp chính Bất lai, Bếp trưởng Bất lai. Người nào vào đứng bếp là phải cố gắng, tự nhắc nhở mình và nhắc nhở trong các thành viên cùng nhau làm việc, phục vụ cho đại chúng. Chỗ này rất quan trọng, bếp này đúng ra phải dành nhiều thời gian cho bếp này. Bếp là chỗ tạo ra rất nhiều công đức, cũng là chỗ có thể có nhiều lỗi lầm. Người có trách nhiệm thì phải hết sức khéo léo, làm thế nào để không phung phí của Tam bảo và tiếc của đàn na tín thí.
Gần đây là một hình ảnh làm Minh Thành rất xúc động, hôm qua vừa chia sẻ pháp vào buổi sáng, Diệu Ân dẫn cô Phật tử đến và cô quỳ xuống cúng dường, con được nghe, xin cô hoan hỷ để Minh Thành nói bài học này cho đại chúng. Cô phải đi nhặt ve chai, phế liệu hằng ngày, ở trong chùa công quả hàng chục năm, những giờ rảnh thì đi ra ngoài nhặt phế liệu.
Số tiền của cô Minh Thành cầm lên thấy rất xót xa, một triệu đồng của cô là cả mồ hôi, máu và nước mắt. Cả một tấm lòng, niềm tin, cả một sự cung kính, đem mồ hôi, nước mắt và máu của mình đi cúng dường. Cũng như bà cụ mẹ của chú Chí Trương ngày xưa cũng gánh hai gánh phế liệu để nuôi con.
Những hình ảnh này Minh Thành nhắc lại để chúng ta thấy được đồ ăn mà chúng ta xài dưới bếp đó, chúng ta ăn đó là không được phung phí, vì trong đó là mồ hôi, nước mắt, máu. Có những người không dám cho con tiền, nhín tiền đó lại để đi cúng chùa, họ không dám ăn, nhịn bớt phần ăn của mình để cúng cho chư tăng ni tu học.
Vậy nên mình không được phép xài phung phí bất cứ phương diện nào, không chỉ là trong bếp. Nên khi Minh Thành thấy người nào xài phung phí thì rất xót xa và tội nghiệp, thương cho người đó vì chưa hiểu được mồ hôi, máu, nước mắt của những người cúng dường. Từ viên xà bông, kem đánh răng, bàn chải, từng chén cơm, món đồ như cái ghế, cái chõng, bồ đoàn, tọa cụ…
Hôm qua Minh Thành đi lên tháp trống ở trên để xem công trình trên đó thì thấy có một miếng ngồi bỏ ở ngoài đường. Nhiều khi những người khách đến không biết nhưng mình thì phải để ý, vì tất cả những đồ mình dùng là mồ hôi, nước mắt, là máu.
Quay lại trong bếp, mình không nên quá keo kiệt, bủn xỉn nhưng mình cũng không được phung phí, lãng phí, mình phải biết tiết kiệm. Thứ nhất là kiệm phước 34:50 cho mình, tích đức cho tự thân mình cũng như cho đại chúng, làm tăng trưởng phước lành của mình. Mình trân quý sự cúng dường của đàn na tín thí. Từng đôi dép, từng bộ đồ, mình đều phải để ý, không được lãng phí. Thứ hai là mình phải xem sức khỏe của đại chúng. Như có những loại đồ ăn cần phải ăn trước thì mình phải làm trước, đừng lấy đồ ăn mà mình thích món đó mình làm món đó trước trong khi đồ kia lại để cho hư.
Có những người Phật tử than phiền với Minh Thành thì trong khi đồ ăn của người ta làm, đem để trong tủ lạnh năm bảy ngày, mười ngày đem ra thì đã hư, phải đi mua đồ ăn mới. Đây là những kinh nghiệm cho mình. Nhiều khi mình chỉ nghĩ tới cái ngon mà mình không nghĩ đến mồ hôi, nước mắt và cả một tấm lòng chân thành của các vị cúng dường.
Chúng ta vào trong bếp cũng vậy, sử dụng cũng phải biết trân trọng, đừng như khi ăn chỉ một chút nước tương nhưng đổ ra thì cả nửa chén rồi để đó lại đem đi đổ. Ví như ly nước trà mình uống thì rót vừa uống là hết, không được rót dư rồi bỏ. Từng cái nhỏ như vậy là để tích phước cho mình, dưỡng cái đức cho mình. Làm sao để trong bếp là chỗ tích lũy phước báo và công đức nhiều nhất, chỗ từ ái nhất.
Vì như người đời nói ngày xưa là có thực mới vực được đạo, nên khi đến chùa thì bếp người ta hay đi vào, có khi chánh điện, thiền đường người ta không vô nhưng người ta vô bếp trước. Những người khách đến trong thời gian ngắn thì người ta thường không vô thiền đường thì làm sao mình ứng dụng được một tinh thần tu tập trong đó nhân bếp chính Bất lai trong đó, chúng ta thấy việc này rất cần thiết.
Vậy nên trong bếp này chúng ta tu rất nhiều, và chúng ta cũng có phước rất nhiều mà chúng ta cũng có thể có lỗi rất nhiều. Mỗi tuần mình phải vào trong kho kiểm tra, các thực phẩm nào mình cần dùng trước và các vị ở ngoài vườn rau cũng vậy, công vun phân, chăm sóc cực khổ, tưới nước thì rau nào dùng được thì mình phải hái đem vào, để cho già rồi bỏ thì cũng có tội, truy phiên là cũng có lỗi.
Vậy nên chúng ta thấy rằng, phải ứng dụng vào ba phương diện tu học và làm việc. Vì cuộc sống chúng ta cũng có sinh hoạt thì trong sinh hoạt đó cũng có cái phước và cái tội trong đó. Ví dụ mình trồng rau thì mình xem rau nào vừa tới lúc thu hoạch thì hái vào cúng dường đại chúng. Hái rau đó và đem vào dâng giống như đem đi cúng Phật.
Giống như việc bà Mahàpajàpàti đã đan hai cái y đem lại cúng Đức Thế Tôn thì Ngài nói là bà ấy hãy cúng cho tăng. Nhưng chúng ta nghĩ là Thế Tôn là bậc Tối tôn tối thượng, còn ai phước đức qua Ngài nữa. Nhưng Ngài đã nói với Di mẫu là hãy cúng dường cho chúng tăng.
IV. Phân biệt cúng dường
Trong bài kinh Phân biệt cúng dường trong Trung Bộ Kinh, tập 3:
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú giữa dòng họ Sakka (Thích-Ca), ở Kapilavatthu (Ca-ty-la-vệ), tại tinh xá Nigrodha (Ni-câu-luật Thọ Viên). Rồi Mahapajapati Gotami (Củ đàm Nữ Ma-ha-ba-ế xà-bà-đề), đem theo một cặp y mới, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Mahapajapati Gotami bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt đặc biệt cho Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy nhận lấy cho con.
(Trung Bộ Kinh – Kinh Phân Biệt Cúng Dường)
Trước khi Bồ Tát xuất gia là được Di mẫu nuôi dưỡng, chỉ bảy ngày ra đời thì hoàng hậu Ma-ya đã về trời, sau đó về sau là Ngài được Di mẫu nuôi dưỡng cho đến khi:
Bán dạ du thành
Thanh sơn đoạn phát
Phỏng đạo tầm sư.
Ý nói:
Nửa đêm vượt thành
Non xanh cắt tóc
Tìm thầy hỏi đạo.
Như vậy là có tình mẹ con, không có công sanh nhưng có công dưỡng. Bao nhiêu năm trời khôn lớn như vậy. Giữa tình đời và nghĩa đạo đều rất thâm sâu, mẫu tử tình thâm. Ngoài đời là Di mẫu, vào trong đạo là đại đệ tử bên ni chúng, lãnh đạo ni đoàn, khi chưa xuất gia là chánh cung hoàng hậu, mẫu nghi thiên hạ, giờ xuất gia thì trở thành bậc thống lãnh ni đoàn. Đức Thế Tôn lãnh đạo bên tăng đoàn. Giữa vai vế ở ngoài đời và trong đạo, mẫu tử tình thâm, thầy trò ân nghĩa như vậy, chính tay dệt, chính tay cắt, may một cặp y cho Thế Tôn.
– Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt đặc biệt cho Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy nhận lấy cho con.
(Trung Bộ Kinh – Kinh Phân Biệt Cúng Dường)
Bà Mahapajapati ngoài đời là mẹ, vào trong đạo là đệ tử, như ông Năm ở ngoài đời là cha của Minh Thành nhưng giờ lại kêu là sư phụ, đi vào trong đạo.
Khi được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Mahapajapati Gotami:
– Này Gotami, hãy cúng dường Tăng chúng. Bà cúng dường Tăng chúng, thời Ta sẽ được cung kính, và cả Tăng chúng cũng vậy.
(Trung Bộ Kinh – Kinh Phân Biệt Cúng Dường)
Khi Ngài ấy cúng dường cho Thế Tôn là có một ý nghĩa hơi tình riêng, mẫu tử tình thâm, nhưng khi cúng cho chúng tăng thì cả chúng tăng càng tôn kính Đức Phật hơn vì Ngài ấy ngoài đời là mẹ của Đức Phật.
Bà cúng dường Tăng chúng, thời Ta sẽ được cung kính, và cả Tăng chúng cũng vậy.
(Trung Bộ Kinh – Kinh Phân Biệt Cúng Dường)
Ý nói nếu đem y này cúng dường cho tăng chúng thì cả tăng chúng cung kính Như Lai. Là mẹ, di mẫu đích thân dệt, may, cắt và dâng lên cúng như vậy.
Lần thứ hai, Mahapajapati Gotami bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt.. hãy nhận lấy cho con.
Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Mahapajapati Gotami:
– Này Gotami, hãy cúng dường Tăng chúng.. và cả Tăng chúng cũng vậy.
Lần thứ ba, Mahapajapati Gotami bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt ... hãy nhận lấy cho con.
Lần thứ ba, Thế Tôn nói với Mahapajapati Gotami:
– Này Gotami, hãy cúng dường Tăng chúng... và cả tăng chúng cũng vậy.
Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
– Thế Tôn hãy nhận cặp y mới cho Mahapajapati Gotami! Bạch Thế Tôn, Mahapajapati Gotami đã giúp ích nhiều cho Thế Tôn, là thúc mẫu, là dưỡng mẫu, đã nuôi dưỡng Thế Tôn, đã cho Thế Tôn bú sữa, vì rằng sau khi sanh, thân mẫu của Thế Tôn mệnh chung, chính bà đã cho Thế Tôn bú sữa. Bạch Thế Tôn, và Thế Tôn cũng giúp ích nhiều cho Mahapajapati Gotami.
- Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahapajapati Gotami đã quy y Phật, quy Pháp, quy y Tăng.
- Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahapajapati từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say các loại rượu đem lại.
- Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahapajapati Gotami có đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với Pháp, đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, đầy đủ các giới luật làm bậc Thánh hoan hỷ.
- Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahapajapati Gotami không còn nghi ngờ đối với Khổ, không còn nghi ngờ đối với Khổ tập, không còn nghi ngờ đối với Khổ diệt, không còn nghi ngờ đối với con Đường đưa đến khổ diệt.
Bạch Thế Tôn, Thế Tôn cũng đã giúp ích nhiều cho Mahapajapati Gotami.
– Thật là như vậy, này Ananda! Thật là như vậy, này Ananda!
Này Ananda, nếu do nhờ một người, mà một người khác được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, thời này Ananda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia về đảnh lễ, đứng đậy, chấp tay, về làm những việc thích hợp và về dâng cúng các sự cúng dường như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
(Trung Bộ Kinh – Kinh Phân Biệt Cúng Dường)
Ý nói, nếu nhờ một người nào mà từ nơi người đó mà mình quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng thì người dẫn dắt mình quy y, người làm cho, giúp cho mình quy y đó, thì người đó mình không thể nào đem bất cứ cái gì đền ơn được người hướng dẫn cho mình quy y Tam Bảo. Dù cho mình có đem y, áo, thực phẩm, thuốc men, giường chõng cúng dường thì cũng không thể nào đền đáp ân đức xứng đáng được đối với người giúp cho mình được quy y Tam Bảo.
Nếu do nhờ một người mà một người khác từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say các loại rượu men, rượu nấu, thời này Ananda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia... dược phẩm trị bệnh.
Này Ananda, nếu do nhờ một người mà một người khác đầy đủ tịnh tín bất động đối với Phật... đối với Pháp… đầy đủ các giới luật, thời này Ananda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia... dược phẩm trị bệnh.
Này Ananda, nếu do nhờ một người mà một người khác không có nghi ngờ đối với Khổ, không có nghi ngờ đối với Khổ tập, không có nghi ngờ đối với Khổ diệt, không có khi ngờ đối với con Đường đưa đến khổ diệt, thời này Ananda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia... dược phẩm trị bệnh.
(Trung Bộ Kinh – Kinh Phân Biệt Cúng Dường)
Bậc đại ân nhân thứ nhất là hướng dẫn mình quy y Tam Bảo, bậc đại ân nhân thứ hai là giúp mình thọ trì năm giới, bậc đại ân nhân thứ ba là hướng dẫn cho mình thành tựu lòng tin bất động đối với Tam Bảo và bậc đại ân nhân cuối cùng giúp cho mìnht hấy được bốn sự thật về khổ đau của bậc Thánh đã chứng ngộ, tức là Tứ Thánh Đế. Đối với bốn người đó thì mình không thể làm cái gì để đền đáp được ân đức của họ.
Đó là lý do tại sao mỗi lần Minh Thành nhắc về bậc tôn giả là trái tim của Minh Thành ngập tràn xúc động. Đối với những bậc chúng ta không thể báo ơn được một cách trọn vẹn trừ khi mình nhập các Thánh quả đối với một người thật sự có chất liệu của chân nhân thì không bao giờ quay lưng, không bao giờ trở thành kẻ vong ân bội nghĩa đối với các bậc này.
Họ hướng dẫn mình quy y Tam Bảo, thọ trì năm giới, giúp cho mình thành tựu được tịnh tín bất động đối với Tam Bảo và bốn dự lưu phần, đặc biệt là khai mở mắt pháp cho mình, thấy được bốn sự thật về khổ.
Ý nói Ngài Anada tán thán Đức Phật và xin Đức Phật hãy nhận hai cái y. Những cái này là Đức Phật làm cho di mẫu. Không phải là cái y này.
Trở lại vấn đề là cúng dường cho tăng, các thầy trị sự, các thầy … 56:30, phải để ý cái này rất kĩ, mình có phước và cũng có tội rất nhiều nếu mình không để ý. Đồ người khác cúng dường thì phải phân đều ra hết, trừ khi người ta nói cái này là để cúng cho vị nào đó thì đó là đương nhiên, còn nếu người ta nói là gửi đến cúng chùa, cúng đại chúng thì phải chia đều ra, lợi hòa đồng quân. Đó là cúng cho tăng mà tăng là cả một đoàn thể, trong đó có bốn chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cận sự nam và cận sự nữ.
Di mẫu cúng y như vậy nhưng Thế Tôn lại nói là hãy cúng cho chúng tăng. Vậy nên lúc xưa cha hay mẹ Minh Thành lúc bệnh thì Minh Thành thường hay khuyên nên đi cúng trai tăng, cúng cho đại chúng.
Ngài Pháp An có nhắc lại là khi đó có các cô cho tiền, lúc đó bà Năm bệnh thì Minh Thành khuyến khích cho bà cúng dường lên tôn giả để in Tinh hoa Nikāya và bà nghe lời, Minh Thành rất hoan hỷ. Nên chúng ta đọc trong kinh Phân biệt cúng dường để xem cúng cho các bậc đó thì phước đức như thế nào, không thể tưởng tượng được. Khi Ngài Pháp An bệnh thì Minh Thành hay hỏi là còn tiền không, hãy cúng dường đi.
Vấn đề là ở trong chúng, cái chung cho đại chúng là rất quan trọng. Vậy nên nhiều khi mang cho Minh Thành mấy món ăn thì Minh Thành thường hỏi là món này trong chúng có không, đừng làm riêng cho một mình Minh Thành, đại chúng có những món này ăn không? Minh Thành thì giờ ăn không được bao nhiêu, một bữa ăn chỉ khoảng nửa chén cơm. Vậy nên các vị có trách nhiệm hãy để ý toàn thể đại chúng, đừng có tâm nghiêng lệch nhiều quá, nên để ý cái đó.
Phổ đồng cúng dường,
Lợi hòa đồng quân.
Minh Thành thường nhắc các thầy, các cô nhập thất đừng quên, khi đi hộ thất thì đừng quên các vị đó, những vị chân tu là đáng cung kính, đáng đảnh lễ, đáng cúng dường, ruộng phước ở đời, tu đúng Chánh pháp. Nếu chưa thì họ cũng là những người có tâm rất hiền thiện, có tâm tu, cúng dường cũng là tốt. Những điều này rất hay, cần để ý, để tâm.
Chúng ta có rất nhiều Thánh ni tuyệt diệu, sau này sẽ học đến các Thánh tăng tối thượng. Có thể là ba người em gái của Ngài Xá-lợi-phất cũng có trong kinh, đều đắc quả A-la-hán.
V. Hai mẹ con chứng A La Hán
Có một sự kiện rất đặc biệt về hai mẹ con, bà mẹ nhắc nhở cô con gái, la trách. Khi cô nghe rồi thì giật mình lại là không biết mẹ mình đã chứng được Thánh quả chưa, chắc là đã chứng được A-la-hán. Nhưng thật sự là người mẹ đã chứng được A-la-hán rồi nhưng cũng không biết. Đó là vào thời xưa có Đức Phật thì thấy rất nhiều nhưng giờ mình tìm đỏ con mắt, tìm hoài, ba mươi năm thì mới may mắn tìm gặp được.
Bài kinh Mẹ Của Vaddha:
Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở thành phố Bhàrukaccha, trong một gia đình thường dân. Sau khi lập gia đình, nàng sanh được một người con, đặt tên là Vaddha và nàng được biết là mẹ Vaddha. Nghe một Tỷ-kheo thuyết pháp, nàng trở thành một tín nữ, và giao lại con cho bà con. Nàng đi đến các Tỷ-kheo-ni và xuất gia. Vaddha đi thăm mẹ, đi một mình vào tinh xá Tỷ-kheo-ni và bị mẹ khiển trách như sau:
204. Vaddha, chớ bao giờ,
Rơi vào cõi tham dục,
Này con, chớ chia phần,
Trong đau khổ liên tục.
205. Hạnh phúc là ẩn sĩ,
Không tham, nghi đoạn tận,
Sống mát lạnh, chế ngự,
Không còn các lậu hoặc.
206. ẩn sĩ ấy hành trì,
Con đường đạt chánh kiến,
Chấm dứt sự khổ đau,
Vaddha! Hãy tiến tu.
Rồi Vaddha suy nghĩ: 'Mẹ ta chắc đã chứng quả A-la-hán', nên nói như sau:
207. Với tự tín mẹ nói,
Mục đích này cho con,
Mẹ thân! Con nghĩ rằng,
Mẹ không còn tham dục.
Rồi vị Trưởng lão Ni trả lời, nêu rõ trách nhiệm của mình đã làm xong:
208. Vaddha! Phàm hành gì,
Thấp, cao hay bậc trung,
Một tí nhỏ tham dục,
Không có ở nơi ta.
209. Ta đoạn mọi lậu hoặc,
Không phóng dật, thiền tu,
Ba minh đã đạt được,
Làm xong lời dạy.
Người con dùng lời khuyên của mẹ để tự sách tấn đi vào tinh xá, ngồi trên chỗ mình thường ngồi, triển khai thiền quán và chứng quả A-la-hán.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3 – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm IX. Tập Chín Kệ - Bài kinh Mẹ của Vaddha)
Như vậy, họ là hai mẹ con A-la-hán, nhị thánh. Thật tuyệt vời.
Suy tư trên hạnh phúc về quả chứng của mình, Vaddha đi đến mẹ và nói lên chánh trí của mình:
210. Vi diệu thay, mẹ ta,
Khích lệ, thúc đẩy ta,
Những kệ thuộc chân đế,
Với lòng từ thương tưởng.
211. Ta nghe lời mẹ dạy,
Lời giáo giới mẹ hiền,
Ta hành pháp cảm kích,
Ðạt an ổn khổ ách.
212. Ta tinh tấn tinh cần,
Ngày đêm không biếng nhác,
Ðược mẹ khéo khích lệ,
Ta chứng tịnh tối thượng.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3 – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm IX. Tập Chín Kệ - Bài kinh Mẹ của Vaddha)
Bây giờ chúng ta nghe lại văn xuôi, nãy giờ mình đọc văn vần nên có thể một số vị không hiểu.
72:46 Sư phụ đọc lại bài kinh Mẹ của Vaddha:
Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở thành phố Bhàrukaccha, trong một gia đình thường dân. Sau khi lập gia đình, nàng sanh được một người con, đặt tên là Vaddha và nàng được biết là mẹ Vaddha. Nghe một Tỷ-kheo thuyết pháp, nàng trở thành một tín nữ, và giao lại con cho bà con. Nàng đi đến các Tỷ-kheo-ni và xuất gia. Vaddha đi thăm mẹ, đi một mình vào tinh xá Tỷ-kheo-ni và bị mẹ khiển trách như sau:
204. Vaddha, chớ bao giờ,
Rơi vào cõi tham dục,
Này con, chớ chia phần,
Trong đau khổ liên tục.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3 – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm IX. Tập Chín Kệ - Bài kinh Mẹ của Vaddha)
Này con, con rơi vào cảnh giới tham dục thì kết quả con được chia chát, được phân chia, được chia cho là những khổ đau liên tục, không có kết quả nào khác trong thế giới tham dục này. Những thế giới gọi là trao tâm luyến ái, nhận vào sầu đau, càng yêu thương, càng luyến ái, càng dính mắc, càng ái luyến thì càng sầu đau, buồn khổ, càng nếm được mùi vị của sự phũ phàng, phản bội, quay lưng, trở mặt.
205. Hạnh phúc là ẩn sĩ,
Không tham, nghi đoạn tận,
Sống mát lạnh, chế ngự,
Không còn các lậu hoặc.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3 – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm IX. Tập Chín Kệ - Bài kinh Mẹ của Vaddha)
Hạnh phúc là những bậc ở những nơi thanh vắng, thanh tịnh, thanh cao, sống cuộc đời thanh thoát, là những vị không còn tham nữa, không còn nghi ngờ về Thánh trí năm uẩn nữa, sống chế ngự các căn và có một đời mát lạnh, không còn các tâm mê, các lậu hoặc nữa.
206. ẩn sĩ ấy hành trì,
Con đường đạt chánh kiến,
Chấm dứt sự khổ đau,
Vaddha! Hãy tiến tu.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3 – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm IX. Tập Chín Kệ - Bài kinh Mẹ của Vaddha)
Ẩn sĩ ấy hành trì con đường để có được thấy biết chính xác về thế gian này, về thân, về tâm này, về cảnh giới này, chấm dứt hoàn toàn mọi đau khổ. Vaddha ơi, con hãy cố gắng tiến tu đi con.
Tình thương của người mẹ, lòng mẹ, mẹ phàm phu còn thương con vô bến bờ, huống chi đây là mẹ Thánh nhân thì tình thương này thật thâm sâu vô lượng, thật là rộng lớn vô biên. Khi mẹ bằng cả một trái tim, một tấm lòng, con hãy tiến tu nha con, chỉ có con đường tu thì con mới thật sự được hạnh phúc.
Chỉ có con đường thoát ra thế giới tham, sân, si, dục ái này thì con mới có được sự bình an thật sự. Chỉ có con đường thấy đúng về năm thủ uẩn này, hành trì, mới đưa con đến sự chấm dứt toàn bộ khổ đau này.
Với những lời thương như vậy, cả một sự … 77:47, mẫu tử tình thâm như vậy, Thánh trí ngọt ngào như vậy, lòng yêu thương dạt dào như vậy thì người con này mới suy nghĩ.
Rồi Vaddha suy nghĩ: 'Mẹ ta chắc đã chứng quả A-la-hán', nên nói như sau:
207. Với tự tín mẹ nói,
Mục đích này cho con,
Mẹ thân! Con nghĩ rằng,
Mẹ không còn tham dục.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3 – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm IX. Tập Chín Kệ - Bài kinh Mẹ của Vaddha)
Với tự tín mẹ nói, mục đích này để cho con được hạnh phúc, an lạc, mẹ yêu, con nghĩ rằng mẹ không còn tham dục nữa. Mẹ yêu ơi, mẹ nói những lời này một cách hết sức tự tín, hết sức là mạnh mẽ, hết sức là hùng hồn. Mẹ đưa cho con mục đích đời sống cao thượng, tươi đẹp này, con nghĩ rằng mẹ đã không còn tham dục nữa.
Người xưa rất sắc bén, tế nhị, người ta không nói rõ ra mà chỉ cần nói không còn tham dục tức là ai. Nên mình cần hiểu ý của người xưa nói chuyện rất sâu sắc, tế nhị, không thô thiển như mình bây giờ.
Rồi vị Trưởng lão Ni trả lời, nêu rõ trách nhiệm của mình đã làm xong:
208. Vaddha! Phàm hành gì,
Thấp, cao hay bậc trung,
Một tí nhỏ tham dục,
Không có ở nơi ta.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3 – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm IX. Tập Chín Kệ - Bài kinh Mẹ của Vaddha)
Ý nói, Vaddha, tất cả các hành, thấp cao hay bậc trung, tức là sự vận hành trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này, dù cho đẹp, vừa hay xấu, thượng, trung, hạ ở nơi ta đã không còn một chút tham muốn nào hết trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này. Dù cho một chút xíu thôi, ham muốn, được hiện hữu trong năm uẩn đều không còn, ta đã hoàn toàn dập tắt hết tất cả mọi tham dục trong ngũ uẩn.
209. Ta đoạn mọi lậu hoặc,
Không phóng dật, thiền tu,
Ba minh đã đạt được,
Làm xong lời dạy.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3 – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm IX. Tập Chín Kệ - Bài kinh Mẹ của Vaddha)
Tất cả tâm mê, tất cả mọi sự lậu hoặc ta đã đoạn tận hết, sạch sẽ hoàn toàn hết, trong sạch hoàn toàn, không phóng dật thiền tu. Ta không buông lung phóng dật, ngày giờ ta để thiền tu nên vì vậy, ta đã thành tựu được ba loại trí tuệ, ta đã thấy biết được đời quá khứ của ta trong vô lượng kiếp, ta đã nhìn được tất cả được dòng sinh tử của chúng sanh trong tam giới. Và tất cả tâm mê của ta đã hoàn toàn bị phá sạch, ba minh ta đã đạt được những gì Đức Phật dạy ta đã hoàn tất.
Tốt nghiệp rồi con ơi! Mẹ đã hoàn tất rồi con cưng của mẹ ơi! Con hãy ráng lên nha con.
Chúng ta thấy được mẫu tử tình thâm, đây là Thánh tịnh, không phải phàm tịnh. Đó là mẹ hiền thánh nhân, thánh mẫu, bậc Thánh đức dạy con.
Suy tư trên hạnh phúc về quả chứng của mình, Vaddha đi đến mẹ và nói lên chánh trí của mình:
210. Vi diệu thay, mẹ ta,
Khích lệ, thúc đẩy ta,
Những kệ thuộc chân đế,
Với lòng từ thương tưởng.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3 – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm IX. Tập Chín Kệ - Bài kinh Mẹ của Vaddha)
Thật may mắn thay, người con này rất hiếu thảo và cảm nhận được tình thương của mẹ, tấm lòng của mẹ, cảm nhận được một tâm từ, sâu, rộng và vô lượng của mẹ hiền, mẹ ta thật là tuyệt vời trên cuộc đời này. Đã khích lệ và thúc đẩy ta những gì thuộc về sự thật của bậc Thánh, tức là chân đế.
Mẹ đã khích lệ ta, đã thúc đẩy ta, để ta có thể chạm đến sự thật mà bậc Thánh đã chứng ngộ vì lòng từ, thương tưởng của ta.
211. Ta nghe lời mẹ dạy,
Lời giáo giới mẹ hiền,
Ta hành pháp cảm kích,
Ðạt an ổn khổ ách.
212. Ta tinh tấn tinh cần,
Ngày đêm không biếng nhác,
Ðược mẹ khéo khích lệ,
Ta chứng tịnh tối thượng.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3 – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm IX. Tập Chín Kệ - Bài kinh Mẹ của Vaddha)
Mẹ ơi, con nghe lời mẹ dạy, lời giáo giới của mẹ hiền. Con thực hành pháp với một tâm cảm kích, xúc động. Tình thương của mẹ và Vaddha đã đạt đến chỗ an ổn hoàn toàn, chấm dứt tất cả khổ ách. Nhờ sự tinh cần tinh tấn, ngày đêm không biếng nhác, nhờ sự khích lệ khéo léo của mẹ hiền và con nay chứng đắc được sự thanh tịnh tối thượng nhờ tình thương của mẹ.
Hỡi những người con trên khắp hành tinh này có cảm nhận được tấm lòng của mẹ hiền thánh nhân này chăng?
Đây là những giây phút thiêng liêng nhất của tình mẫu tử. Tình mẫu tử này cao đẹp, tình mẫu tử này hiền thiện, thánh thiện. Con đã được cha mẹ sanh thành dưỡng dục những điều gì, những điều gì con thấy cần xin lỗi mẹ, cũng như những lời hứa phát nguyện đối với mẹ, để cho mẹ an lòng trên bước đường du học tha phương và tương lai của con.
VI. Trình pháp
Phật tử số 1 trình pháp:
Trong lúc này con nhìn thấy hình dáng nhỏ bé của mẹ con ngồi ở đây con thấy như một cuốn phim quay lại từ nhỏ đến lớn. Mẹ con đã trải qua bao nhiêu đắng cay, vất vả từ lúc sinh con ra đời cho đến con lớn như ngày hôm nay. Mẹ con xuất thân trong gia đình khó khăn, có tuổi thơ rất bất hạnh, không có cha. Từ lúc mẹ con mang bầu con thì mẹ con làm lụng rất nhiều. Sau khi mẹ con sanh con xong thì mẹ con không có thời gian để nghỉ ngơi mà mẹ con phải đi làm liền.
Là một người phụ nữ nhỏ bé như vầy nhưng mẹ con phải khiêng vác những thùng sơn rất lớn, đến nỗi máu sản hậu của mẹ con chảy ra thì mẹ con mới vừa sanh con không có thời gian để nghỉ ngơi.
Người khách đến mua hàng hỏi tại sao chị bị chảy máu nhiều như vậy thì mẹ con mới nói là mẹ vừa mới sanh em bé xong, là con so đầu lòng, vì quá nghèo khổ nên không có thời gian nghỉ ngơi, phải lao vào kiếm tiền để có tiền nuôi con.
Từ từ mẹ con tích được tài sản, có nhà, có cửa, trong quá trình tích lũy tài sản đó phải tạo biết bao nhiêu là nghiệp, nói dối, tham lam.
Do những ngày đầu chưa biết đạo nên mẹ con đã nói rằng vì có em bé nên tấm lòng người mẹ phải quơ quào, phải mắng mun để kiếm tiền để nuôi con mình bằng tất cả những mưu đồ để nuôi con lớn lên.
Vậy mà từ lúc nhỏ con không có dễ dạy, con khó dạy, khó ăn, làm gì cũng không ngoan, phải để cho mẹ lo lắng. Từ học hành, giấc ngủ tới miếng cơm manh áo, mẹ con đã phải vất vả, kiêng nhẫn. Mẹ con dùng nhiều phương tiện từ ngọt ngào, dỗ ngọt cho tới lời răn đe mạnh để mẹ dạy cho con, cho con đi học, cho con ăn uống, lo lắng tất cả các thứ.
Cho đến khi con lớn lên đến ngày hôm nay, mẹ con đã biết được Chánh pháp. Mẹ con dìu dẫn con đến Chánh pháp này, dạy con:
Con ơi hãy sống kham nhẫn, sống hiền lành, sống biết yêu thương, biết chia sẻ, sống khiêm cung, khiêm hạ. Những lời nói trái ý nghịch lòng con hãy nhẫn nại, con hãy biết nhân quả, con hãy cố gắng vượt qua. Ở xứ lạ quê người, lỡ như con có chuyện gì, có cãi nhau với bạn bè, lỡ mà con có gì thì cha mẹ ở bên đây chỉ biết khóc than, không đi qua bên đó được. Chỉ một thân nữ một thân một mình phải biết bảo trọng.
Mẹ dạy dỗ từng ly từng tí, cho con ăn học, đầu tư cho tới đi học ở Canada, học ở Mỹ nhưng được đi học như vậy, tri thức nhiều như vậy nhưng con sanh tâm kiêu mạng, ngã mạn, nghĩ là mình hiểu biết hơn cha mẹ. Có đôi khi cha mẹ dạy dỗ những không nghe lời, không biết lắng nghe, nhiều lần cãi lại lời mẹ dạy, không biết khiêm cung, bất hiếu.
Giờ đây mẹ thấy con học đã gần xong, vì tấm lòng rộng lớn của người mẹ, mẹ con học trong Chánh pháp cảm nhận được niềm an vui, an lạc pháp của Thế Tôn, hướng dẫn con, mong muốn con được đến Chánh pháp tối thượng này, dạy con những đạo đức làm người, mong con lớn lên thành nhân tri mỹ, mong con sống sao để làm con người thật tốt. Cho đến giờ này, con đã đầy đủ những sự trưởng thành, sự chính chắn, biết suy nghĩ, biết thương cha thương mẹ đã có nhiều tiến bộ, không còn ngỗ nghịch như ngày xưa. Mẹ thấy vậy nên hướng con đường cao thượng, ủng hộ con, nói con là:
Con ơi, hãy học hoàn thành hai bằng thạc sĩ này, dùng tài năng, tri thức, thực lực của con tiếp tục theo học Chánh pháp, hãy sống cuộc đời vạn hạnh, đi đến con đường xuất gia. Vì chỉ có thực tập theo pháp của Thế Tôn mới được an vui, hạnh phúc nhất. Đừng có đam mê những dục lạc ở bên ngoài, nó chỉ là những thứ vô thường, tạm bợ. Nó sẽ có đó rồi mất đó, khi tâm không tu tập thì sẽ rất đau khổ, khi mất nó sẽ ám ảnh những hình bóng khả hỷ, khả ái ngày xưa, mình sẽ đau khổ gấp mấy trăm lần. Còn một người biết Chánh pháp, có Chánh tri kiến thì khi đối mặt với những mất mát, những đau thương như vậy thì tâm người đó cũng bất động, giải thoát, vượt qua.
Vì mẹ có sự học pháp và thực tập pháp, cảm thấy niềm vui và an lạc, lợi ích như vậy nên cũng muốn con đi đến con đường xuất gia. Mẹ đã nói là mẹ không cần con phải báo hiếu hay phải mua những đồ hiệu, những trang sức mắc tiền hay những thức ăn gì hết. Mẹ chỉ mong con có thể đi theo con đường của bậc đạo sư, của Đức Thế Tôn, đi theo con đường của đạo sư Chân Tính Toàn để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.
Dùng tri thức ở ngoài đời và dùng sự thực tập pháp của chúng con để con được giác ngộ, làm lợi ích cho lợi mình, lợi người và lợi cả thế giới này. Tấm lòng người mẹ rộng lớn, không cần cầu mong báo đáp. Vì nghĩ tới lợi ích của con, nghĩ tới lợi ích của chúng sanh, lợi ích của thế giới, mong muốn con mình được sống đời phạm hạnh.
Mà con không học Phật, không có thực tập pháp, không nghe pháp, con rất si mê, không nghe lời mẹ dạy. Con không biết là sống ít hưởng thụ, sống ít muốn biết đủ, tiêu xài tiết kiệm, để dành phần tài sản hộ trì Tam bảo, hộ trì Chánh pháp. Nhưng con chưa học được hạnh, con chưa được xuất gia, nhưng con rất ngưỡng mộ hạnh của những người xuất gia. Bởi vậy con cảm thấy là những người xuất gia là những người dũng cảm nhất, dũng cảm không phải là cầm lên được mà là bỏ xuống được.
Tất cả những lòng ngưỡng mộ, ái mộ hạnh xuất gia đó nên con sẽ tiêu dùng ít lại để phụng sự Tam bảo, để quý chư tăng, chư ni được an tâm, có đầy đủ thức ăn, vật chất để tu hành.
Con sẽ hoan hỷ với tất cả những chuyện thiện lành mà mẹ đã làm, hộ trì Chánh pháp, giúp đỡ những người khó khăn. Con sẽ sống một cuộc đời của người hiền thiện, con sẽ chăm chỉ, tinh tấn, dành thời gian nghe pháp, để mưa dầm thấm lâu, từ từ rồi con sẽ được giảm bớt những thói hư tật xấu, có được những đạo đức tối thượng.
Con biết là, như sư phụ đã nói là người hướng dẫn mình quy y, đưa mình gặp được Chánh pháp thì dù có làm bao nhiêu cũng không đền đáp được, trừ khi chứng quả Thánh. Con biết con không đền đáp được ân đức lâu dài của mẹ, nhưng con sẽ làm trong những khả năng nhỏ nhoi của con từng chút, con sống cuộc đời hiền thiện, từ tâm, khiêm cung, khiêm hạ, chăm chỉ, tập tành nghe pháp, tập ngồi thiền.
Con hứa với mẹ là con sẽ phát triển, tiến bộ trong con đường tâm linh, trên con đường đạo đức. Con sẽ sống trọn vẹn, sống đạo đức của một con người và hướng đến con đường của Thánh nhân để đền đáp công ơn của cha mẹ.
Phật tử số 2 trình pháp:
Nãy giờ con nói, đó là lòng sự thật của mẹ. Mẹ mong muốn bắt đầu từ đây, con đã được duyên lành đến bậc đạo sư Linh Quy Pháp Ấn thừa ân đức của Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn truyền trao Chánh pháp, Chánh hạnh, đức hạnh, kinh Nikāya nguyên chất, ly tham, chân chánh, để tiến lên con đường Thánh trí, Thánh nhân, Thánh quả như lời của bậc đạo sư đã truyền dạy trong những ngày vừa qua.
Mẹ hy vọng rằng ít nhiều con cũng thấm được giáo pháp này và con sẽ làm được. Mẹ tin rằng lời hứa của con trước ba ngôi Tam bảo, trước bậc đạo sư và trước toàn thể đạo tràng kinh Nikāya ở tại Linh Quy Pháp Ấn linh thiêng nơi đây chứng minh cho lòng thành của con được thành tựu bổn nguyện. Là bước lên Thánh nhân, pháp học, pháp hành, pháp tu chứng ngộ, chứng đạo, đi đến con đường xuất gia để lưu truyền Chánh pháp, mạng mạch quan trọng này.
Chánh pháp ly tham tối thượng này trường tồn mãi mãi cho khắp tất cả pháp giới chúng sanh được hưởng được ân đức của Tam bảo, hưởng được ân đức của Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn. Cũng như lời truyền thừa của bậc đạo sư đã dày công huyết lệ, tâm huyết, để dạy cho mẹ và con cũng như tất cả chúng sanh hưởng được lợi lạc, hạnh phúc, thật sự, bình yên, vĩnh cửu. Không phải là hạnh phúc nhỏ nhoi như vật chất ở thế gian, tham dục càng nhiều, đạt được càng nhiều, khổ lụy càng nhiều và đọa lạc càng nhiều.
Như con đã nói, những vị hiền đức, tăng ni thật là dũng cảm, tối thượng. Tối thượng là không phải ôm vào, tham vào những tài sắc, danh thực thi đó mà là dũng cảm bỏ được, viễn ly được, cắt ái được.
Mẹ nghe mẹ rất mừng khi con hiểu được sự xuất ly, hướng thượng, tối thượng, dũng cảm của quý Ngài, phạm hạnh của quý Ngài, ly dục, ly bất thiện pháp, để đưa đến chứng ngộ, chứng đạo, chứng quả là hạnh phúc tối thượng.
Mẹ mong rằng con sẽ làm được điều này cho tự thân con. Rồi con sẽ chia sẻ những hạnh phúc tối thượng này cho khắp cả pháp giới chúng sanh cùng hưởng được hạnh phúc tối thượng này cũng như con không khác.
Mong rằng, nguyện rằng ân đức Tam bảo, đức hạnh, gương hạnh của bậc Thánh nhân, của bậc Thánh tăng, Thánh ni như nãy giờ sư phụ cũng đã dạy, những gương hạnh của hai mẹ con đó con cũng đã được học, con hãy cố gắng. Và mẹ cũng hứa với lòng, trước ba ngôi Tam bảo, sự hiện diện của bậc đạo sư và chư tôn hiền đức tăng ni, chư vị hiền trí chứng minh cho lòng thành của con và con của con, là Liên Ánh.
Mẹ con của con sẽ bước lên từng bậc thang chậm rãi, chắc chắn, để đi đến con đường mà Đức Thế Tôn, cũng như bậc đạo sư đã khổ công giáo dạy, truyền thừa cho chúng con. Và con hứa với lòng là con sẽ đi mãi trên con đường Thánh đạo, không bỏ cuộc, dù cho con đường có chông gai như thế nào. Con vẫn biết trên con đường rất là thử thánh, rất khó khăn, nhưng con dù có sụp hầm, chảy máu, con quyết không đứng lại, không bỏ cuộc. Con đi đến cùng, cho đến khi nào thành Thánh quả, dù sớm hay muộn để con báo đền ân đức Tam bảo cũng như không phụ tấm lòng từ ái của bậc đạo sư chư tôn hiền đức tăng ni và chư vị hiền trí thiện tri thức đã dày công giáo dạy chúng con.
Con xin thành tâm tri ân công đức Tam bảo, xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ trên ân đức Tam bảo, Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn, Đức Thánh hiền tăng và hiện tiền bậc đạo sư, chư tôn hiền đức tăng ni và chư vị hiền trí.
Phật tử số 3 trình pháp:
Kính bạch sư phụ, quý thầy, quý ni sư, quý sư cô và tất cả các bậc hiền trí.
Con xin tri ân trên sư phụ bài pháp vừa qua, con có rất nhiều cảm xúc, cảm xúc hạnh phúc rúng động khi nghe các vị Thánh ni đã chứng quả và thốt lên những lời nói: Ta đã làm hoàn thành những lời Phật dạy. Lúc đó trong cảm thọ con hân hoan, reo hò, con hạnh phúc dâng trào, con rất mong muốn được như các vị đó.
Con tri ân trên sư phụ rất nhiều, trong thời gian qua đã hết lòng từ bi, thương tưởng cho chúng con, đã dìu dắt cho chúng con tu học, nhắc nhở, khuyến tấn mọi lúc mọi nơi. Niềm tri ân sâu sắc của con đối với sư phụ đúng nhân duyên, lúc con đi chùa Hoằng Pháp về, cảm thọ tri ân đối với sư phụ rất to lớn. Khi trên xe từ chùa Hoằng Pháp về đây, con rất xúc động, con đã dâng trào những dòng nước mắt biết ơn và tưởng trong con là những hình ảnh sư phụ vất vả trên những đoạn đường khó khăn để đi hoằng pháp. Vì tình thương cao thượng mà không quản ngại thân xác của mình rất mệt mỏi. Con mới trải nghiệm có một lần thôi mà con thấy mệt mỏi rã rời mà sư phụ đi thường xuyên, liên tục như vậy. Cũng chỉ vì tình thương thiêng liêng giống như người mẹ thương con, thấy con mình đang khổ nạn không đành lòng, không quản ngại thân xác này.
Có thể sư phụ sẽ hy sinh trên những quãng đường đi. Thật sự con rất biết ơn sư phụ.
Đây là lần đầu tiên con cảm nhận được sâu như vậy, trước đây con chỉ biết tri ơn là con được sư phụ dẫn dắt vào Thánh pháp thôi. Nhưng nhân duyên con được trải nghiệm trên những đoạn đường vất vả, khó khăn như vậy thì con mới hiểu được vì tình thương giống như người mẹ. Khi thấy con mình đang khổ trong sống chết luân hồi thì không thể nào đứng nhìn được.
…124:00 gồng gánh cho các con. Từ bữa tới giờ, lúc nào con cũng xúc động, biết ơn đến sư phụ. Trước giờ con vô minh, con chưa cảm nhận được. Con tri ân rất nhiều những chuyến đi đó, cho con học hỏi được rất nhiều. Con xin tri ân trên sư phụ.
Phật tử số 4 trình pháp:
Con xin cảm ơn bậc đạo sư đã giảng bài pháp về nữ cư sĩ tại gia đã quán chiếu về điều Thế Tôn đã giảng dạy và đã chứng được quả A-la-hán. Đó cũng là điều bậc đạo sư muốn truyền đến cho tất cả đạo tràng Nikāya của chúng ta, hãy tinh tấn tu tập, không ngừng sách tấn tu tập thì thời gian chúng ta đạt được Thánh quả có thể dài hoặc ngắn nhưng đích đến của chúng ta sẽ đạt được.
Tâm thương này tỏa rộng,
Cùng khắp thế giới này,
Tâm thương này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.
Mẹ Dạy Con Thành Thánh Nhân
Thích Minh Thành
Ngày 05 tháng 07 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Những tấm gương sáng PAGEREF _Toc148972595 \h 1
II. Trưởng Lão chứng Thánh PAGEREF _Toc148972596 \h 2
III. Tu trong bếp PAGEREF _Toc148972597 \h 6
IV. Phân biệt cúng dường PAGEREF _Toc148972598 \h 9
V. Hai mẹ con chứng A La Hán PAGEREF _Toc148972599 \h 15
VI. Trình pháp PAGEREF _Toc148972600 \h 22
I. Những tấm gương sáng
Kính bạch chư tôn hiền đức và chư vị hiền trí.
Hôm nay chúng ta tiếp tục nghe về chư Tỳ-kheo ni thời Đức Phật còn tại thế. Chúng ta sẽ thấy được sự dụng công của các Ngài rất thù thắng, có người còn đang là một người vợ trong gia đình, đang nấu nướng, chiên xào thì ngọn lửa bắt lên chảo đồ xào cháy, vị nữ cư sĩ triển khai thiền quán ngay lúc đó chứng quả Bất Lai. Có người đang đi bộ leo núi, mệt quá ngồi xuống nghỉ và ngay lúc đó triển khai thiền quán, đoạn tận các lậu hoặc.
Bên Tăng cũng không kém, sau này chúng ta sẽ nghe Trưởng Lão Tăng Kệ, đều là những bậc kiệt xuất, đại anh hùng, đại chiến thắng ở trong Tam giới, đều là những dũng sĩ, chiến sĩ, thượng sĩ, vô thượng sĩ. Nên chúng ta học những gương này, trước nay chúng ta học lý thuyết nhiều, giờ chúng ta học những đức hạnh, những pháp hành để chúng ta thấy được là người thật, việc thật, sự thật, pháp thật và trí tuệ chân thật của các bậc Thánh. Rất nhiều người, mình sẽ bàng hoàng, kinh ngạc, so với bây giờ mình học, mình tưởng đâu là khó khăn rất nhiều nhưng đối với các Ngài thì tất cả đều có thể được độ trong giáo pháp thần diệu, ly tham này, Thánh trí thù thắng này.
Đó là câu chuyện đầu tiên của chương một, chúng ta tuyển những câu chuyện thấm thía để mình khắc ghi sâu. Nhiều khi nếu chúng ta không học thì chúng ta đọc không có cảm thọ nhiều khi mình mở lên nghe người đọc. Nhưng khi chúng ta được học và có sự để tâm thiền quán thì chúng ta sẽ có nhiều cảm thọ, ấn tượng sâu sắc hơn.
Đây là vị trong Trưởng Lão Ni Kệ đầu tiên, vô danh, một vị trưởng lão ni không biết tên. Chúng ta thấy nhiều lúc các bậc Thánh cũng không có danh gì, các Ngài không cần danh lợi gì trong cuộc đời này, không cần ai biết. Vậy họ có là Thánh không hay người ta biết mới là Thánh? Có nhiều bậc Thánh đời này không biết, các Ngài chứng đắc rồi các Ngài ẩn dật trong núi rừng và tùy duyên quá độ.
Nhiều người không hiểu và trước nay chúng ta học, sau này họ nói các bậc A-la-hán chỉ độ mình mình, không độ ai khác nên điều này có lỗi rất lớn. Lúc xưa mình được học như vậy là không đúng, các bậc Thánh là các Ngài độ những người có duyên, ngay cả Đức Phật cũng vậy, những người vô duyên làm sao độ. Có duyên là người ta nghe mình, chịu nghe thì các Ngài mới nói. Ví dụ có người gặp mình không ưa thì làm sao nói? Vậy nên có duyên là có người chịu nghe mình nói, họ hoan hỷ, chấp nhận và làm theo.
Vậy nên các bậc Thánh A-la-hán không phải là không độ mà là các Ngài độ những người có duyên với các Ngài. Và các Ngài không quan trọng danh lợi gì trên cuộc đời này nữa, rất nhiều các bậc Thánh không ai biết trong thời Đức Phật. Trong kinh là chỉ ghi các vị được biết, còn các vị đã thành Thánh nhân thì không còn là “Tôi là A-la-hán, ghi lịch sử cho tôi!” Không có như vậy, vì các Ngài đối với thế gian này không có gì nữa.
Đây là vị trưởng lão đầu tiên trong Trưởng Lão Ni Kệ, là vị trưởng lão ni không biết tên, tức vô danh ni.
II. Trưởng Lão chứng Thánh
Khi Đức Phật ra đời thì nàng được sanh ra trong gia đình Tỳ-xá-ly, thân hình nàng đẫy đã nên gọi là Nàng Đẫy Đà. Đẫy đà là tròn trịa, mập.
Cô trở thành một người vợ trung thành của một quý tộc.
1. Hãy ngủ trong an lạc
Hỡi nàng thân đẫy đà,
Ðắp phủ trong tấm y,
Chính mình tự làm lấy,
Lòng tham, nàng lắng dịu,
Như ghè khô trong lò!
Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình ở Vesàli (Tỳ-xá-ly). Vì thân hình đẫy đà, nàng được gọi là nàng đẫy đà. Nàng trở thành người vợ trung thành của một người quý tộc. Khi bậc Ðạo Sư đến Vesàli, nàng tin tưởng giáo pháp của đức Phật và trở thành một nữ cư sĩ. Khi nàng nghe Trưởng lão Ni Mahàpajàpati thuyết pháp, nàng muốn xuất gia và thưa với chồng ý nguyện của nàng.
Người chồng không cho, nên nàng tiếp tục làm tròn bổn phận của nàng, suy tư đến những lời dạy dịu dàng của giáo pháp và chú tâm đến thiền quán.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm I – Tập Một Kệ - Bài kinh Bài Kệ Này Do Một Trưởng Lão Ni Không Biết Tên Nói Lên)
Tức, tuy là nàng ở trong gia đình, có chồng, có gia đình nhưng nàng thường suy tư. Đây là bí kíp của bậc Thánh đệ tử. Vì các vị này được nghe pháp nhiều nên các vị này sẽ dựa trên pháp được nghe và suy tư thì đó mới thành Thánh tư duy, Chánh tư duy, suy nghĩ đúng và xuất ly tư duy, ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy. Khi mình chưa đi vào dòng pháp Nikāya này thì mình nghĩ là mình đã tu được nhiều rồi, tu khá lắm rồi nhưng suy tư của mình trong dục, ái, tham thì mình không biết. Còn khi mình đi vào dòng pháp này thì mình biết là cái này là mình đang có sự ái luyến, mình đang có tâm của cái tôi, mình thấy rất rõ, cái nào ra cái nấy và mình hướng tâm mình đi ra khỏi ái đó, ra khỏi cái tôi đó, nhiếp phục cái tôi đó.
Hoặc là mình có nhiều suy nghĩ về xuất ly, thoát ra khỏi đời sống vô minh, phiền não, bất an này thì những suy nghĩ ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy, xuất ly tư duy đó là có được từ chỗ mình nghe pháp. Nếu mình không nghe pháp thì làm sao mình có được xuất ly tư duy? Có mình chán đời là vì mình không được nên mình mới chán, còn nếu mình được thì mình có chán không?
Vậy nên tại sao chúng ta rất quan trọng chữ Đa văn Thánh đệ tử, là vì chúng ta nghe thì chúng ta sẽ nắm được những cương lĩnh, giáo pháp, Thánh trí của Đức Phật. Những cái gọi là pháp ấn.
Như ở Linh Quy Pháp Ấn này là một con rùa khổng lồ, linh thiêng, ở trên lưng nó là tam pháp ấn. Đó là ý nghĩa của Minh Thành đặt tên chùa là Linh Quy Pháp Ấn. Ngọn núi này có hình dáng con rùa, rất linh thiêng, ngay cả các bậc hòa thượng lớn phải lên đây cầu nguyện. Đừng nói chi các Phật tử hay là những người ở ngoài đời.
Rất linh thiêng ở đây và ở trên con rùa này có con dấu của Chánh pháp: tam pháp ấn, chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, niết bàn tịch tịnh hoặc là vô thường, khổ, vô ngã. Ba pháp đó là những con dấu xác chứng, xác nhận, xác thực, như mình đi xin thị thực là người ta đóng dấu mộc đỏ thì tờ giấy đó mới có giá trị. Cũng vậy, bất cứ pháp nào mà không có vô thường, khổ, vô ngã trong đó thì không phải là lời dạy của Đức Phật.
Vô thường, khổ, vô ngã đó mới đưa mình đến sự ly tham, nhàm chán, đoạn tận, viễn ly, xuất ly. Nên nàng dâu này tuy người chồng không cho xuất gia nhưng đi nghe pháp và thường xuyên suy nghĩ, chiêm nghiệm. Đây là điều mấu chốt.
Rồi một ngày kia, trong khi đang ở trong bếp và nấu món ăn, một ngọn lửa mạnh bừng cháy và thiêu tất cả món ăn với những tiếng cháy xèo xèo, nàng lấy đó làm đề tài để thiền quán về tánh vô thường của sự vật, và chứng được quả Bất Lai.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm I – Tập Một Kệ - Bài kinh Bài Kệ Này Do Một Trưởng Lão Ni Không Biết Tên Nói Lên)
Lâu lâu chúng ta nấu ăn có gặp trường hợp như vậy không? Khi đổ dầu vào thì phựt lửa, cháy cả chảo đồ xào đó thì cô này triển khai thiền quán về tánh vô thường của sự vật. Khi nãy còn màu xanh màu đỏ, còn sắc, hương, vị, phân biệt được món này món kia. Nào là bắp cải, đậu que, cà… Những món ăn phựt lên, cháy thành màu đen, khét. Sắc, hương biến dạng và vị thay đổi. Cả một chảo khét, đen thui, bốc lên một cái mùi rất khó chịu, không còn thơm tho, đẹp đẽ, ngon lành gì nữa.
Tất cả sắc trong món đồ, đồ ăn đó đều bị biến sắc, bị cháy, bị thiêu. Ngay tại chỗ đó nàng lấy sự kiện đó làm đề mục thiền quán ngay trong bếp, ngay tại chỗ đó quán chiếu thâm sâu. Thân này rồi cũng vậy, mắt này rồi cũng vậy, cũng bị đốt cháy, lỗ tai, mũi, gương mặt này, thân xác này rồi cũng sẽ bị cháy rụi, không sớm thì muộn rồi cũng sẽ bị cháy với những ngọn lửa của đài hỏa táng, dàn hỏa thiêu. Rồi thân xác này cũng giống như những món đồ này, sẽ đen, cháy trơ xương ra, trở thành tro cốt.
Nàng ấy triển khai thiền quán thâm sâu ngay tại chỗ đó, chứng quả Bất lai. Không còn trở lại thế gian này nữa, sau khi chấm dứt thân này. Sạch hết tất cả dục tham, sân đoạn tận, phá tan thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ ngay tại chỗ đứng ở trong nhà bếp, triển khai thiền quán.
Chúng ta hiểu rằng vị nữ cư sĩ này lấy sự kiện bị cháy chảo đồ ăn làm đề mục thiền quán và tiếp tục lấy đó làm định tướng, đề mục quán chiếu.
Trong kinh chỉ nói vắn tắt, mình đọc vào sẽ nghĩ là ngay tại đó chứng ngộ ngay nhưng không phải vậy, là vị này lấy hình ảnh đó, sự kiện đó làm đề mục thiền quán. Thiền quán mắt, tai, mũi, lưỡi này rồi sẽ bị thiêu cháy, bị thiêu rụi, thân xác này rồi sẽ bị thiêu rụi, sắc này rồi sẽ bị tiêu tan. Những thọ, tưởng, hành, thức này thì vào thời Đức Phật, các vị này đều đã nhận diện được ngũ uẩn hết, đều có trí năm uẩn, vì được học với Đức Phật, với Ngài đại áo đạo nên lấy sự kiện đó làm đề tài và quán chiếu thâm sâu, phá hết thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục tham và sân, thành tựu bất lai Thánh quả. Tức là sau khi nhắm mắt ra đi thì không trở lại thế giới này nữa, ở Tịnh cư thiên, từ đó chỉ nhập Niết-bàn luôn, không bao giờ lùi trở xuống nữa, thoái chuyển.
Rồi nàng không đeo các đồ trang sức nữa.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm I – Tập Một Kệ - Bài kinh Bài Kệ Này Do Một Trưởng Lão Ni Không Biết Tên Nói Lên)
Tức dục tham đã hết, thân kiến đã phá, tự động các giới thành tựu, đây gọi là đạo cộng giới. Các vị khi thành tựu Thánh quả thì tự nhiên giới đã viên mãn. Tự động trong quả đó viên mãn giới. Vậy nên Ngài phá hết năm kiết sử đó rồi thì nàng không đeo trang sức nữa thì người chồng mới hỏi duyên cớ: Sao nàng không đeo đồ trang sức gì nữa? Ăn mặc đơn sơ vậy?” Lúc đó nàng mới trả lời: “Bây giờ Thiếp không thể sống trong gia đình được nữa.” Hết tất cả những dục ái, không còn sống trong gia đình nữa.
Người chồng hỏi duyên cớ, nàng trả lời nàng không thể sống trong gia đình được nữa. Người chồng đưa nàng đến Trưởng lão Ni Mahàpajàpàti Gotami, và bằng lòng để nàng xuất gia. Mahàpajàpàti làm lễ xuất gia cho nàng và đưa nàng đến yết kiến đức Phật. Bậc Ðạo Sư giải thích về đề tài thiền quán của nàng và nói lên bài kệ này.
Khi nàng chứng quả A-la-hán, nàng lập lại bài kệ này và bài kệ trở thành bài kệ của nàng.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm I – Tập Một Kệ - Bài kinh Bài Kệ Này Do Một Trưởng Lão Ni Không Biết Tên Nói Lên)
1. Hãy ngủ trong an lạc
Hỡi nàng thân đẫy đà,
Ðắp phủ trong tấm y,
Chính mình tự làm lấy,
Lòng tham, nàng lắng dịu,
Như ghè khô trong lò!
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm I – Tập Một Kệ - Bài kinh Bài Kệ Này Do Một Trưởng Lão Ni Không Biết Tên Nói Lên)
Tấm y đó tự nàng dệt lấy và lòng tham lắng dịu như ghè khô trong lò. Ghè là không có gì ở trong đó và còn để lên trên lò lửa, tức là mọi nước ái khô kiệt, tất cả mọi tham ái tiêu tan, hoàn toàn lắng dịu.
III. Tu trong bếp
Minh Thành cũng rất mong các vị trong nhà bếp, có vị nào vào Bất lai thì bếp là chỗ đại an ổn của đại chúng. Nhưng Minh Thành đi đến đâu cũng lo cái bếp hết. Mong sao trong bếp mình có những bậc Bất lai, trong nhà chùa của Linh Quy, làm sao phải an tịnh, lắng dịu và tu tập ở trong bếp đó bằng tình thương, bằng từ tâm với nhau, bằng sự dập tắt những ngọn lửa của hơn thua, của cao thấp, thị phi, sân hận ở trong bếp thì mình có được một tâm từ ở trong đó.
Chắc chắn là mình đã có rồi, nhưng bây giờ mình phải thêm nữa, phải tăng tưởng thêm nữa.
Đó là câu chuyện về vị nấu bếp nhưng chứng được quả Bất lai. Mỗi khi vào bếp mà thấy ai sân thì mình nhắc lại “Nhớ sư cô mập không?” hoặc gọi là Bếp chính Bất lai, Bếp trưởng Bất lai. Người nào vào đứng bếp là phải cố gắng, tự nhắc nhở mình và nhắc nhở trong các thành viên cùng nhau làm việc, phục vụ cho đại chúng. Chỗ này rất quan trọng, bếp này đúng ra phải dành nhiều thời gian cho bếp này. Bếp là chỗ tạo ra rất nhiều công đức, cũng là chỗ có thể có nhiều lỗi lầm. Người có trách nhiệm thì phải hết sức khéo léo, làm thế nào để không phung phí của Tam bảo và tiếc của đàn na tín thí.
Gần đây là một hình ảnh làm Minh Thành rất xúc động, hôm qua vừa chia sẻ pháp vào buổi sáng, Diệu Ân dẫn cô Phật tử đến và cô quỳ xuống cúng dường, con được nghe, xin cô hoan hỷ để Minh Thành nói bài học này cho đại chúng. Cô phải đi nhặt ve chai, phế liệu hằng ngày, ở trong chùa công quả hàng chục năm, những giờ rảnh thì đi ra ngoài nhặt phế liệu.
Số tiền của cô Minh Thành cầm lên thấy rất xót xa, một triệu đồng của cô là cả mồ hôi, máu và nước mắt. Cả một tấm lòng, niềm tin, cả một sự cung kính, đem mồ hôi, nước mắt và máu của mình đi cúng dường. Cũng như bà cụ mẹ của chú Chí Trương ngày xưa cũng gánh hai gánh phế liệu để nuôi con.
Những hình ảnh này Minh Thành nhắc lại để chúng ta thấy được đồ ăn mà chúng ta xài dưới bếp đó, chúng ta ăn đó là không được phung phí, vì trong đó là mồ hôi, nước mắt, máu. Có những người không dám cho con tiền, nhín tiền đó lại để đi cúng chùa, họ không dám ăn, nhịn bớt phần ăn của mình để cúng cho chư tăng ni tu học.
Vậy nên mình không được phép xài phung phí bất cứ phương diện nào, không chỉ là trong bếp. Nên khi Minh Thành thấy người nào xài phung phí thì rất xót xa và tội nghiệp, thương cho người đó vì chưa hiểu được mồ hôi, máu, nước mắt của những người cúng dường. Từ viên xà bông, kem đánh răng, bàn chải, từng chén cơm, món đồ như cái ghế, cái chõng, bồ đoàn, tọa cụ…
Hôm qua Minh Thành đi lên tháp trống ở trên để xem công trình trên đó thì thấy có một miếng ngồi bỏ ở ngoài đường. Nhiều khi những người khách đến không biết nhưng mình thì phải để ý, vì tất cả những đồ mình dùng là mồ hôi, nước mắt, là máu.
Quay lại trong bếp, mình không nên quá keo kiệt, bủn xỉn nhưng mình cũng không được phung phí, lãng phí, mình phải biết tiết kiệm. Thứ nhất là kiệm phước 34:50 cho mình, tích đức cho tự thân mình cũng như cho đại chúng, làm tăng trưởng phước lành của mình. Mình trân quý sự cúng dường của đàn na tín thí. Từng đôi dép, từng bộ đồ, mình đều phải để ý, không được lãng phí. Thứ hai là mình phải xem sức khỏe của đại chúng. Như có những loại đồ ăn cần phải ăn trước thì mình phải làm trước, đừng lấy đồ ăn mà mình thích món đó mình làm món đó trước trong khi đồ kia lại để cho hư.
Có những người Phật tử than phiền với Minh Thành thì trong khi đồ ăn của người ta làm, đem để trong tủ lạnh năm bảy ngày, mười ngày đem ra thì đã hư, phải đi mua đồ ăn mới. Đây là những kinh nghiệm cho mình. Nhiều khi mình chỉ nghĩ tới cái ngon mà mình không nghĩ đến mồ hôi, nước mắt và cả một tấm lòng chân thành của các vị cúng dường.
Chúng ta vào trong bếp cũng vậy, sử dụng cũng phải biết trân trọng, đừng như khi ăn chỉ một chút nước tương nhưng đổ ra thì cả nửa chén rồi để đó lại đem đi đổ. Ví như ly nước trà mình uống thì rót vừa uống là hết, không được rót dư rồi bỏ. Từng cái nhỏ như vậy là để tích phước cho mình, dưỡng cái đức cho mình. Làm sao để trong bếp là chỗ tích lũy phước báo và công đức nhiều nhất, chỗ từ ái nhất.
Vì như người đời nói ngày xưa là có thực mới vực được đạo, nên khi đến chùa thì bếp người ta hay đi vào, có khi chánh điện, thiền đường người ta không vô nhưng người ta vô bếp trước. Những người khách đến trong thời gian ngắn thì người ta thường không vô thiền đường thì làm sao mình ứng dụng được một tinh thần tu tập trong đó nhân bếp chính Bất lai trong đó, chúng ta thấy việc này rất cần thiết.
Vậy nên trong bếp này chúng ta tu rất nhiều, và chúng ta cũng có phước rất nhiều mà chúng ta cũng có thể có lỗi rất nhiều. Mỗi tuần mình phải vào trong kho kiểm tra, các thực phẩm nào mình cần dùng trước và các vị ở ngoài vườn rau cũng vậy, công vun phân, chăm sóc cực khổ, tưới nước thì rau nào dùng được thì mình phải hái đem vào, để cho già rồi bỏ thì cũng có tội, truy phiên là cũng có lỗi.
Vậy nên chúng ta thấy rằng, phải ứng dụng vào ba phương diện tu học và làm việc. Vì cuộc sống chúng ta cũng có sinh hoạt thì trong sinh hoạt đó cũng có cái phước và cái tội trong đó. Ví dụ mình trồng rau thì mình xem rau nào vừa tới lúc thu hoạch thì hái vào cúng dường đại chúng. Hái rau đó và đem vào dâng giống như đem đi cúng Phật.
Giống như việc bà Mahàpajàpàti đã đan hai cái y đem lại cúng Đức Thế Tôn thì Ngài nói là bà ấy hãy cúng cho tăng. Nhưng chúng ta nghĩ là Thế Tôn là bậc Tối tôn tối thượng, còn ai phước đức qua Ngài nữa. Nhưng Ngài đã nói với Di mẫu là hãy cúng dường cho chúng tăng.
IV. Phân biệt cúng dường
Trong bài kinh Phân biệt cúng dường trong Trung Bộ Kinh, tập 3:
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú giữa dòng họ Sakka (Thích-Ca), ở Kapilavatthu (Ca-ty-la-vệ), tại tinh xá Nigrodha (Ni-câu-luật Thọ Viên). Rồi Mahapajapati Gotami (Củ đàm Nữ Ma-ha-ba-ế xà-bà-đề), đem theo một cặp y mới, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Mahapajapati Gotami bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt đặc biệt cho Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy nhận lấy cho con.
(Trung Bộ Kinh – Kinh Phân Biệt Cúng Dường)
Trước khi Bồ Tát xuất gia là được Di mẫu nuôi dưỡng, chỉ bảy ngày ra đời thì hoàng hậu Ma-ya đã về trời, sau đó về sau là Ngài được Di mẫu nuôi dưỡng cho đến khi:
Bán dạ du thành
Thanh sơn đoạn phát
Phỏng đạo tầm sư.
Ý nói:
Nửa đêm vượt thành
Non xanh cắt tóc
Tìm thầy hỏi đạo.
Như vậy là có tình mẹ con, không có công sanh nhưng có công dưỡng. Bao nhiêu năm trời khôn lớn như vậy. Giữa tình đời và nghĩa đạo đều rất thâm sâu, mẫu tử tình thâm. Ngoài đời là Di mẫu, vào trong đạo là đại đệ tử bên ni chúng, lãnh đạo ni đoàn, khi chưa xuất gia là chánh cung hoàng hậu, mẫu nghi thiên hạ, giờ xuất gia thì trở thành bậc thống lãnh ni đoàn. Đức Thế Tôn lãnh đạo bên tăng đoàn. Giữa vai vế ở ngoài đời và trong đạo, mẫu tử tình thâm, thầy trò ân nghĩa như vậy, chính tay dệt, chính tay cắt, may một cặp y cho Thế Tôn.
– Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt đặc biệt cho Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy nhận lấy cho con.
(Trung Bộ Kinh – Kinh Phân Biệt Cúng Dường)
Bà Mahapajapati ngoài đời là mẹ, vào trong đạo là đệ tử, như ông Năm ở ngoài đời là cha của Minh Thành nhưng giờ lại kêu là sư phụ, đi vào trong đạo.
Khi được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Mahapajapati Gotami:
– Này Gotami, hãy cúng dường Tăng chúng. Bà cúng dường Tăng chúng, thời Ta sẽ được cung kính, và cả Tăng chúng cũng vậy.
(Trung Bộ Kinh – Kinh Phân Biệt Cúng Dường)
Khi Ngài ấy cúng dường cho Thế Tôn là có một ý nghĩa hơi tình riêng, mẫu tử tình thâm, nhưng khi cúng cho chúng tăng thì cả chúng tăng càng tôn kính Đức Phật hơn vì Ngài ấy ngoài đời là mẹ của Đức Phật.
Bà cúng dường Tăng chúng, thời Ta sẽ được cung kính, và cả Tăng chúng cũng vậy.
(Trung Bộ Kinh – Kinh Phân Biệt Cúng Dường)
Ý nói nếu đem y này cúng dường cho tăng chúng thì cả tăng chúng cung kính Như Lai. Là mẹ, di mẫu đích thân dệt, may, cắt và dâng lên cúng như vậy.
Lần thứ hai, Mahapajapati Gotami bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt.. hãy nhận lấy cho con.
Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Mahapajapati Gotami:
– Này Gotami, hãy cúng dường Tăng chúng.. và cả Tăng chúng cũng vậy.
Lần thứ ba, Mahapajapati Gotami bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt ... hãy nhận lấy cho con.
Lần thứ ba, Thế Tôn nói với Mahapajapati Gotami:
– Này Gotami, hãy cúng dường Tăng chúng... và cả tăng chúng cũng vậy.
Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
– Thế Tôn hãy nhận cặp y mới cho Mahapajapati Gotami! Bạch Thế Tôn, Mahapajapati Gotami đã giúp ích nhiều cho Thế Tôn, là thúc mẫu, là dưỡng mẫu, đã nuôi dưỡng Thế Tôn, đã cho Thế Tôn bú sữa, vì rằng sau khi sanh, thân mẫu của Thế Tôn mệnh chung, chính bà đã cho Thế Tôn bú sữa. Bạch Thế Tôn, và Thế Tôn cũng giúp ích nhiều cho Mahapajapati Gotami.
- Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahapajapati Gotami đã quy y Phật, quy Pháp, quy y Tăng.
- Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahapajapati từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say các loại rượu đem lại.
- Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahapajapati Gotami có đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với Pháp, đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, đầy đủ các giới luật làm bậc Thánh hoan hỷ.
- Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahapajapati Gotami không còn nghi ngờ đối với Khổ, không còn nghi ngờ đối với Khổ tập, không còn nghi ngờ đối với Khổ diệt, không còn nghi ngờ đối với con Đường đưa đến khổ diệt.
Bạch Thế Tôn, Thế Tôn cũng đã giúp ích nhiều cho Mahapajapati Gotami.
– Thật là như vậy, này Ananda! Thật là như vậy, này Ananda!
Này Ananda, nếu do nhờ một người, mà một người khác được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, thời này Ananda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia về đảnh lễ, đứng đậy, chấp tay, về làm những việc thích hợp và về dâng cúng các sự cúng dường như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
(Trung Bộ Kinh – Kinh Phân Biệt Cúng Dường)
Ý nói, nếu nhờ một người nào mà từ nơi người đó mà mình quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng thì người dẫn dắt mình quy y, người làm cho, giúp cho mình quy y đó, thì người đó mình không thể nào đem bất cứ cái gì đền ơn được người hướng dẫn cho mình quy y Tam Bảo. Dù cho mình có đem y, áo, thực phẩm, thuốc men, giường chõng cúng dường thì cũng không thể nào đền đáp ân đức xứng đáng được đối với người giúp cho mình được quy y Tam Bảo.
Nếu do nhờ một người mà một người khác từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say các loại rượu men, rượu nấu, thời này Ananda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia... dược phẩm trị bệnh.
Này Ananda, nếu do nhờ một người mà một người khác đầy đủ tịnh tín bất động đối với Phật... đối với Pháp… đầy đủ các giới luật, thời này Ananda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia... dược phẩm trị bệnh.
Này Ananda, nếu do nhờ một người mà một người khác không có nghi ngờ đối với Khổ, không có nghi ngờ đối với Khổ tập, không có nghi ngờ đối với Khổ diệt, không có khi ngờ đối với con Đường đưa đến khổ diệt, thời này Ananda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia... dược phẩm trị bệnh.
(Trung Bộ Kinh – Kinh Phân Biệt Cúng Dường)
Bậc đại ân nhân thứ nhất là hướng dẫn mình quy y Tam Bảo, bậc đại ân nhân thứ hai là giúp mình thọ trì năm giới, bậc đại ân nhân thứ ba là hướng dẫn cho mình thành tựu lòng tin bất động đối với Tam Bảo và bậc đại ân nhân cuối cùng giúp cho mìnht hấy được bốn sự thật về khổ đau của bậc Thánh đã chứng ngộ, tức là Tứ Thánh Đế. Đối với bốn người đó thì mình không thể làm cái gì để đền đáp được ân đức của họ.
Đó là lý do tại sao mỗi lần Minh Thành nhắc về bậc tôn giả là trái tim của Minh Thành ngập tràn xúc động. Đối với những bậc chúng ta không thể báo ơn được một cách trọn vẹn trừ khi mình nhập các Thánh quả đối với một người thật sự có chất liệu của chân nhân thì không bao giờ quay lưng, không bao giờ trở thành kẻ vong ân bội nghĩa đối với các bậc này.
Họ hướng dẫn mình quy y Tam Bảo, thọ trì năm giới, giúp cho mình thành tựu được tịnh tín bất động đối với Tam Bảo và bốn dự lưu phần, đặc biệt là khai mở mắt pháp cho mình, thấy được bốn sự thật về khổ.
Ý nói Ngài Anada tán thán Đức Phật và xin Đức Phật hãy nhận hai cái y. Những cái này là Đức Phật làm cho di mẫu. Không phải là cái y này.
Trở lại vấn đề là cúng dường cho tăng, các thầy trị sự, các thầy … 56:30, phải để ý cái này rất kĩ, mình có phước và cũng có tội rất nhiều nếu mình không để ý. Đồ người khác cúng dường thì phải phân đều ra hết, trừ khi người ta nói cái này là để cúng cho vị nào đó thì đó là đương nhiên, còn nếu người ta nói là gửi đến cúng chùa, cúng đại chúng thì phải chia đều ra, lợi hòa đồng quân. Đó là cúng cho tăng mà tăng là cả một đoàn thể, trong đó có bốn chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cận sự nam và cận sự nữ.
Di mẫu cúng y như vậy nhưng Thế Tôn lại nói là hãy cúng cho chúng tăng. Vậy nên lúc xưa cha hay mẹ Minh Thành lúc bệnh thì Minh Thành thường hay khuyên nên đi cúng trai tăng, cúng cho đại chúng.
Ngài Pháp An có nhắc lại là khi đó có các cô cho tiền, lúc đó bà Năm bệnh thì Minh Thành khuyến khích cho bà cúng dường lên tôn giả để in Tinh hoa Nikāya và bà nghe lời, Minh Thành rất hoan hỷ. Nên chúng ta đọc trong kinh Phân biệt cúng dường để xem cúng cho các bậc đó thì phước đức như thế nào, không thể tưởng tượng được. Khi Ngài Pháp An bệnh thì Minh Thành hay hỏi là còn tiền không, hãy cúng dường đi.
Vấn đề là ở trong chúng, cái chung cho đại chúng là rất quan trọng. Vậy nên nhiều khi mang cho Minh Thành mấy món ăn thì Minh Thành thường hỏi là món này trong chúng có không, đừng làm riêng cho một mình Minh Thành, đại chúng có những món này ăn không? Minh Thành thì giờ ăn không được bao nhiêu, một bữa ăn chỉ khoảng nửa chén cơm. Vậy nên các vị có trách nhiệm hãy để ý toàn thể đại chúng, đừng có tâm nghiêng lệch nhiều quá, nên để ý cái đó.
Phổ đồng cúng dường,
Lợi hòa đồng quân.
Minh Thành thường nhắc các thầy, các cô nhập thất đừng quên, khi đi hộ thất thì đừng quên các vị đó, những vị chân tu là đáng cung kính, đáng đảnh lễ, đáng cúng dường, ruộng phước ở đời, tu đúng Chánh pháp. Nếu chưa thì họ cũng là những người có tâm rất hiền thiện, có tâm tu, cúng dường cũng là tốt. Những điều này rất hay, cần để ý, để tâm.
Chúng ta có rất nhiều Thánh ni tuyệt diệu, sau này sẽ học đến các Thánh tăng tối thượng. Có thể là ba người em gái của Ngài Xá-lợi-phất cũng có trong kinh, đều đắc quả A-la-hán.
V. Hai mẹ con chứng A La Hán
Có một sự kiện rất đặc biệt về hai mẹ con, bà mẹ nhắc nhở cô con gái, la trách. Khi cô nghe rồi thì giật mình lại là không biết mẹ mình đã chứng được Thánh quả chưa, chắc là đã chứng được A-la-hán. Nhưng thật sự là người mẹ đã chứng được A-la-hán rồi nhưng cũng không biết. Đó là vào thời xưa có Đức Phật thì thấy rất nhiều nhưng giờ mình tìm đỏ con mắt, tìm hoài, ba mươi năm thì mới may mắn tìm gặp được.
Bài kinh Mẹ Của Vaddha:
Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở thành phố Bhàrukaccha, trong một gia đình thường dân. Sau khi lập gia đình, nàng sanh được một người con, đặt tên là Vaddha và nàng được biết là mẹ Vaddha. Nghe một Tỷ-kheo thuyết pháp, nàng trở thành một tín nữ, và giao lại con cho bà con. Nàng đi đến các Tỷ-kheo-ni và xuất gia. Vaddha đi thăm mẹ, đi một mình vào tinh xá Tỷ-kheo-ni và bị mẹ khiển trách như sau:
204. Vaddha, chớ bao giờ,
Rơi vào cõi tham dục,
Này con, chớ chia phần,
Trong đau khổ liên tục.
205. Hạnh phúc là ẩn sĩ,
Không tham, nghi đoạn tận,
Sống mát lạnh, chế ngự,
Không còn các lậu hoặc.
206. ẩn sĩ ấy hành trì,
Con đường đạt chánh kiến,
Chấm dứt sự khổ đau,
Vaddha! Hãy tiến tu.
Rồi Vaddha suy nghĩ: 'Mẹ ta chắc đã chứng quả A-la-hán', nên nói như sau:
207. Với tự tín mẹ nói,
Mục đích này cho con,
Mẹ thân! Con nghĩ rằng,
Mẹ không còn tham dục.
Rồi vị Trưởng lão Ni trả lời, nêu rõ trách nhiệm của mình đã làm xong:
208. Vaddha! Phàm hành gì,
Thấp, cao hay bậc trung,
Một tí nhỏ tham dục,
Không có ở nơi ta.
209. Ta đoạn mọi lậu hoặc,
Không phóng dật, thiền tu,
Ba minh đã đạt được,
Làm xong lời dạy.
Người con dùng lời khuyên của mẹ để tự sách tấn đi vào tinh xá, ngồi trên chỗ mình thường ngồi, triển khai thiền quán và chứng quả A-la-hán.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3 – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm IX. Tập Chín Kệ - Bài kinh Mẹ của Vaddha)
Như vậy, họ là hai mẹ con A-la-hán, nhị thánh. Thật tuyệt vời.
Suy tư trên hạnh phúc về quả chứng của mình, Vaddha đi đến mẹ và nói lên chánh trí của mình:
210. Vi diệu thay, mẹ ta,
Khích lệ, thúc đẩy ta,
Những kệ thuộc chân đế,
Với lòng từ thương tưởng.
211. Ta nghe lời mẹ dạy,
Lời giáo giới mẹ hiền,
Ta hành pháp cảm kích,
Ðạt an ổn khổ ách.
212. Ta tinh tấn tinh cần,
Ngày đêm không biếng nhác,
Ðược mẹ khéo khích lệ,
Ta chứng tịnh tối thượng.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3 – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm IX. Tập Chín Kệ - Bài kinh Mẹ của Vaddha)
Bây giờ chúng ta nghe lại văn xuôi, nãy giờ mình đọc văn vần nên có thể một số vị không hiểu.
72:46 Sư phụ đọc lại bài kinh Mẹ của Vaddha:
Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở thành phố Bhàrukaccha, trong một gia đình thường dân. Sau khi lập gia đình, nàng sanh được một người con, đặt tên là Vaddha và nàng được biết là mẹ Vaddha. Nghe một Tỷ-kheo thuyết pháp, nàng trở thành một tín nữ, và giao lại con cho bà con. Nàng đi đến các Tỷ-kheo-ni và xuất gia. Vaddha đi thăm mẹ, đi một mình vào tinh xá Tỷ-kheo-ni và bị mẹ khiển trách như sau:
204. Vaddha, chớ bao giờ,
Rơi vào cõi tham dục,
Này con, chớ chia phần,
Trong đau khổ liên tục.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3 – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm IX. Tập Chín Kệ - Bài kinh Mẹ của Vaddha)
Này con, con rơi vào cảnh giới tham dục thì kết quả con được chia chát, được phân chia, được chia cho là những khổ đau liên tục, không có kết quả nào khác trong thế giới tham dục này. Những thế giới gọi là trao tâm luyến ái, nhận vào sầu đau, càng yêu thương, càng luyến ái, càng dính mắc, càng ái luyến thì càng sầu đau, buồn khổ, càng nếm được mùi vị của sự phũ phàng, phản bội, quay lưng, trở mặt.
205. Hạnh phúc là ẩn sĩ,
Không tham, nghi đoạn tận,
Sống mát lạnh, chế ngự,
Không còn các lậu hoặc.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3 – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm IX. Tập Chín Kệ - Bài kinh Mẹ của Vaddha)
Hạnh phúc là những bậc ở những nơi thanh vắng, thanh tịnh, thanh cao, sống cuộc đời thanh thoát, là những vị không còn tham nữa, không còn nghi ngờ về Thánh trí năm uẩn nữa, sống chế ngự các căn và có một đời mát lạnh, không còn các tâm mê, các lậu hoặc nữa.
206. ẩn sĩ ấy hành trì,
Con đường đạt chánh kiến,
Chấm dứt sự khổ đau,
Vaddha! Hãy tiến tu.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3 – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm IX. Tập Chín Kệ - Bài kinh Mẹ của Vaddha)
Ẩn sĩ ấy hành trì con đường để có được thấy biết chính xác về thế gian này, về thân, về tâm này, về cảnh giới này, chấm dứt hoàn toàn mọi đau khổ. Vaddha ơi, con hãy cố gắng tiến tu đi con.
Tình thương của người mẹ, lòng mẹ, mẹ phàm phu còn thương con vô bến bờ, huống chi đây là mẹ Thánh nhân thì tình thương này thật thâm sâu vô lượng, thật là rộng lớn vô biên. Khi mẹ bằng cả một trái tim, một tấm lòng, con hãy tiến tu nha con, chỉ có con đường tu thì con mới thật sự được hạnh phúc.
Chỉ có con đường thoát ra thế giới tham, sân, si, dục ái này thì con mới có được sự bình an thật sự. Chỉ có con đường thấy đúng về năm thủ uẩn này, hành trì, mới đưa con đến sự chấm dứt toàn bộ khổ đau này.
Với những lời thương như vậy, cả một sự … 77:47, mẫu tử tình thâm như vậy, Thánh trí ngọt ngào như vậy, lòng yêu thương dạt dào như vậy thì người con này mới suy nghĩ.
Rồi Vaddha suy nghĩ: 'Mẹ ta chắc đã chứng quả A-la-hán', nên nói như sau:
207. Với tự tín mẹ nói,
Mục đích này cho con,
Mẹ thân! Con nghĩ rằng,
Mẹ không còn tham dục.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3 – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm IX. Tập Chín Kệ - Bài kinh Mẹ của Vaddha)
Với tự tín mẹ nói, mục đích này để cho con được hạnh phúc, an lạc, mẹ yêu, con nghĩ rằng mẹ không còn tham dục nữa. Mẹ yêu ơi, mẹ nói những lời này một cách hết sức tự tín, hết sức là mạnh mẽ, hết sức là hùng hồn. Mẹ đưa cho con mục đích đời sống cao thượng, tươi đẹp này, con nghĩ rằng mẹ đã không còn tham dục nữa.
Người xưa rất sắc bén, tế nhị, người ta không nói rõ ra mà chỉ cần nói không còn tham dục tức là ai. Nên mình cần hiểu ý của người xưa nói chuyện rất sâu sắc, tế nhị, không thô thiển như mình bây giờ.
Rồi vị Trưởng lão Ni trả lời, nêu rõ trách nhiệm của mình đã làm xong:
208. Vaddha! Phàm hành gì,
Thấp, cao hay bậc trung,
Một tí nhỏ tham dục,
Không có ở nơi ta.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3 – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm IX. Tập Chín Kệ - Bài kinh Mẹ của Vaddha)
Ý nói, Vaddha, tất cả các hành, thấp cao hay bậc trung, tức là sự vận hành trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này, dù cho đẹp, vừa hay xấu, thượng, trung, hạ ở nơi ta đã không còn một chút tham muốn nào hết trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này. Dù cho một chút xíu thôi, ham muốn, được hiện hữu trong năm uẩn đều không còn, ta đã hoàn toàn dập tắt hết tất cả mọi tham dục trong ngũ uẩn.
209. Ta đoạn mọi lậu hoặc,
Không phóng dật, thiền tu,
Ba minh đã đạt được,
Làm xong lời dạy.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3 – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm IX. Tập Chín Kệ - Bài kinh Mẹ của Vaddha)
Tất cả tâm mê, tất cả mọi sự lậu hoặc ta đã đoạn tận hết, sạch sẽ hoàn toàn hết, trong sạch hoàn toàn, không phóng dật thiền tu. Ta không buông lung phóng dật, ngày giờ ta để thiền tu nên vì vậy, ta đã thành tựu được ba loại trí tuệ, ta đã thấy biết được đời quá khứ của ta trong vô lượng kiếp, ta đã nhìn được tất cả được dòng sinh tử của chúng sanh trong tam giới. Và tất cả tâm mê của ta đã hoàn toàn bị phá sạch, ba minh ta đã đạt được những gì Đức Phật dạy ta đã hoàn tất.
Tốt nghiệp rồi con ơi! Mẹ đã hoàn tất rồi con cưng của mẹ ơi! Con hãy ráng lên nha con.
Chúng ta thấy được mẫu tử tình thâm, đây là Thánh tịnh, không phải phàm tịnh. Đó là mẹ hiền thánh nhân, thánh mẫu, bậc Thánh đức dạy con.
Suy tư trên hạnh phúc về quả chứng của mình, Vaddha đi đến mẹ và nói lên chánh trí của mình:
210. Vi diệu thay, mẹ ta,
Khích lệ, thúc đẩy ta,
Những kệ thuộc chân đế,
Với lòng từ thương tưởng.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3 – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm IX. Tập Chín Kệ - Bài kinh Mẹ của Vaddha)
Thật may mắn thay, người con này rất hiếu thảo và cảm nhận được tình thương của mẹ, tấm lòng của mẹ, cảm nhận được một tâm từ, sâu, rộng và vô lượng của mẹ hiền, mẹ ta thật là tuyệt vời trên cuộc đời này. Đã khích lệ và thúc đẩy ta những gì thuộc về sự thật của bậc Thánh, tức là chân đế.
Mẹ đã khích lệ ta, đã thúc đẩy ta, để ta có thể chạm đến sự thật mà bậc Thánh đã chứng ngộ vì lòng từ, thương tưởng của ta.
211. Ta nghe lời mẹ dạy,
Lời giáo giới mẹ hiền,
Ta hành pháp cảm kích,
Ðạt an ổn khổ ách.
212. Ta tinh tấn tinh cần,
Ngày đêm không biếng nhác,
Ðược mẹ khéo khích lệ,
Ta chứng tịnh tối thượng.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3 – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm IX. Tập Chín Kệ - Bài kinh Mẹ của Vaddha)
Mẹ ơi, con nghe lời mẹ dạy, lời giáo giới của mẹ hiền. Con thực hành pháp với một tâm cảm kích, xúc động. Tình thương của mẹ và Vaddha đã đạt đến chỗ an ổn hoàn toàn, chấm dứt tất cả khổ ách. Nhờ sự tinh cần tinh tấn, ngày đêm không biếng nhác, nhờ sự khích lệ khéo léo của mẹ hiền và con nay chứng đắc được sự thanh tịnh tối thượng nhờ tình thương của mẹ.
Hỡi những người con trên khắp hành tinh này có cảm nhận được tấm lòng của mẹ hiền thánh nhân này chăng?
Đây là những giây phút thiêng liêng nhất của tình mẫu tử. Tình mẫu tử này cao đẹp, tình mẫu tử này hiền thiện, thánh thiện. Con đã được cha mẹ sanh thành dưỡng dục những điều gì, những điều gì con thấy cần xin lỗi mẹ, cũng như những lời hứa phát nguyện đối với mẹ, để cho mẹ an lòng trên bước đường du học tha phương và tương lai của con.
VI. Trình pháp
Phật tử số 1 trình pháp:
Trong lúc này con nhìn thấy hình dáng nhỏ bé của mẹ con ngồi ở đây con thấy như một cuốn phim quay lại từ nhỏ đến lớn. Mẹ con đã trải qua bao nhiêu đắng cay, vất vả từ lúc sinh con ra đời cho đến con lớn như ngày hôm nay. Mẹ con xuất thân trong gia đình khó khăn, có tuổi thơ rất bất hạnh, không có cha. Từ lúc mẹ con mang bầu con thì mẹ con làm lụng rất nhiều. Sau khi mẹ con sanh con xong thì mẹ con không có thời gian để nghỉ ngơi mà mẹ con phải đi làm liền.
Là một người phụ nữ nhỏ bé như vầy nhưng mẹ con phải khiêng vác những thùng sơn rất lớn, đến nỗi máu sản hậu của mẹ con chảy ra thì mẹ con mới vừa sanh con không có thời gian để nghỉ ngơi.
Người khách đến mua hàng hỏi tại sao chị bị chảy máu nhiều như vậy thì mẹ con mới nói là mẹ vừa mới sanh em bé xong, là con so đầu lòng, vì quá nghèo khổ nên không có thời gian nghỉ ngơi, phải lao vào kiếm tiền để có tiền nuôi con.
Từ từ mẹ con tích được tài sản, có nhà, có cửa, trong quá trình tích lũy tài sản đó phải tạo biết bao nhiêu là nghiệp, nói dối, tham lam.
Do những ngày đầu chưa biết đạo nên mẹ con đã nói rằng vì có em bé nên tấm lòng người mẹ phải quơ quào, phải mắng mun để kiếm tiền để nuôi con mình bằng tất cả những mưu đồ để nuôi con lớn lên.
Vậy mà từ lúc nhỏ con không có dễ dạy, con khó dạy, khó ăn, làm gì cũng không ngoan, phải để cho mẹ lo lắng. Từ học hành, giấc ngủ tới miếng cơm manh áo, mẹ con đã phải vất vả, kiêng nhẫn. Mẹ con dùng nhiều phương tiện từ ngọt ngào, dỗ ngọt cho tới lời răn đe mạnh để mẹ dạy cho con, cho con đi học, cho con ăn uống, lo lắng tất cả các thứ.
Cho đến khi con lớn lên đến ngày hôm nay, mẹ con đã biết được Chánh pháp. Mẹ con dìu dẫn con đến Chánh pháp này, dạy con:
Con ơi hãy sống kham nhẫn, sống hiền lành, sống biết yêu thương, biết chia sẻ, sống khiêm cung, khiêm hạ. Những lời nói trái ý nghịch lòng con hãy nhẫn nại, con hãy biết nhân quả, con hãy cố gắng vượt qua. Ở xứ lạ quê người, lỡ như con có chuyện gì, có cãi nhau với bạn bè, lỡ mà con có gì thì cha mẹ ở bên đây chỉ biết khóc than, không đi qua bên đó được. Chỉ một thân nữ một thân một mình phải biết bảo trọng.
Mẹ dạy dỗ từng ly từng tí, cho con ăn học, đầu tư cho tới đi học ở Canada, học ở Mỹ nhưng được đi học như vậy, tri thức nhiều như vậy nhưng con sanh tâm kiêu mạng, ngã mạn, nghĩ là mình hiểu biết hơn cha mẹ. Có đôi khi cha mẹ dạy dỗ những không nghe lời, không biết lắng nghe, nhiều lần cãi lại lời mẹ dạy, không biết khiêm cung, bất hiếu.
Giờ đây mẹ thấy con học đã gần xong, vì tấm lòng rộng lớn của người mẹ, mẹ con học trong Chánh pháp cảm nhận được niềm an vui, an lạc pháp của Thế Tôn, hướng dẫn con, mong muốn con được đến Chánh pháp tối thượng này, dạy con những đạo đức làm người, mong con lớn lên thành nhân tri mỹ, mong con sống sao để làm con người thật tốt. Cho đến giờ này, con đã đầy đủ những sự trưởng thành, sự chính chắn, biết suy nghĩ, biết thương cha thương mẹ đã có nhiều tiến bộ, không còn ngỗ nghịch như ngày xưa. Mẹ thấy vậy nên hướng con đường cao thượng, ủng hộ con, nói con là:
Con ơi, hãy học hoàn thành hai bằng thạc sĩ này, dùng tài năng, tri thức, thực lực của con tiếp tục theo học Chánh pháp, hãy sống cuộc đời vạn hạnh, đi đến con đường xuất gia. Vì chỉ có thực tập theo pháp của Thế Tôn mới được an vui, hạnh phúc nhất. Đừng có đam mê những dục lạc ở bên ngoài, nó chỉ là những thứ vô thường, tạm bợ. Nó sẽ có đó rồi mất đó, khi tâm không tu tập thì sẽ rất đau khổ, khi mất nó sẽ ám ảnh những hình bóng khả hỷ, khả ái ngày xưa, mình sẽ đau khổ gấp mấy trăm lần. Còn một người biết Chánh pháp, có Chánh tri kiến thì khi đối mặt với những mất mát, những đau thương như vậy thì tâm người đó cũng bất động, giải thoát, vượt qua.
Vì mẹ có sự học pháp và thực tập pháp, cảm thấy niềm vui và an lạc, lợi ích như vậy nên cũng muốn con đi đến con đường xuất gia. Mẹ đã nói là mẹ không cần con phải báo hiếu hay phải mua những đồ hiệu, những trang sức mắc tiền hay những thức ăn gì hết. Mẹ chỉ mong con có thể đi theo con đường của bậc đạo sư, của Đức Thế Tôn, đi theo con đường của đạo sư Chân Tính Toàn để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.
Dùng tri thức ở ngoài đời và dùng sự thực tập pháp của chúng con để con được giác ngộ, làm lợi ích cho lợi mình, lợi người và lợi cả thế giới này. Tấm lòng người mẹ rộng lớn, không cần cầu mong báo đáp. Vì nghĩ tới lợi ích của con, nghĩ tới lợi ích của chúng sanh, lợi ích của thế giới, mong muốn con mình được sống đời phạm hạnh.
Mà con không học Phật, không có thực tập pháp, không nghe pháp, con rất si mê, không nghe lời mẹ dạy. Con không biết là sống ít hưởng thụ, sống ít muốn biết đủ, tiêu xài tiết kiệm, để dành phần tài sản hộ trì Tam bảo, hộ trì Chánh pháp. Nhưng con chưa học được hạnh, con chưa được xuất gia, nhưng con rất ngưỡng mộ hạnh của những người xuất gia. Bởi vậy con cảm thấy là những người xuất gia là những người dũng cảm nhất, dũng cảm không phải là cầm lên được mà là bỏ xuống được.
Tất cả những lòng ngưỡng mộ, ái mộ hạnh xuất gia đó nên con sẽ tiêu dùng ít lại để phụng sự Tam bảo, để quý chư tăng, chư ni được an tâm, có đầy đủ thức ăn, vật chất để tu hành.
Con sẽ hoan hỷ với tất cả những chuyện thiện lành mà mẹ đã làm, hộ trì Chánh pháp, giúp đỡ những người khó khăn. Con sẽ sống một cuộc đời của người hiền thiện, con sẽ chăm chỉ, tinh tấn, dành thời gian nghe pháp, để mưa dầm thấm lâu, từ từ rồi con sẽ được giảm bớt những thói hư tật xấu, có được những đạo đức tối thượng.
Con biết là, như sư phụ đã nói là người hướng dẫn mình quy y, đưa mình gặp được Chánh pháp thì dù có làm bao nhiêu cũng không đền đáp được, trừ khi chứng quả Thánh. Con biết con không đền đáp được ân đức lâu dài của mẹ, nhưng con sẽ làm trong những khả năng nhỏ nhoi của con từng chút, con sống cuộc đời hiền thiện, từ tâm, khiêm cung, khiêm hạ, chăm chỉ, tập tành nghe pháp, tập ngồi thiền.
Con hứa với mẹ là con sẽ phát triển, tiến bộ trong con đường tâm linh, trên con đường đạo đức. Con sẽ sống trọn vẹn, sống đạo đức của một con người và hướng đến con đường của Thánh nhân để đền đáp công ơn của cha mẹ.
Phật tử số 2 trình pháp:
Nãy giờ con nói, đó là lòng sự thật của mẹ. Mẹ mong muốn bắt đầu từ đây, con đã được duyên lành đến bậc đạo sư Linh Quy Pháp Ấn thừa ân đức của Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn truyền trao Chánh pháp, Chánh hạnh, đức hạnh, kinh Nikāya nguyên chất, ly tham, chân chánh, để tiến lên con đường Thánh trí, Thánh nhân, Thánh quả như lời của bậc đạo sư đã truyền dạy trong những ngày vừa qua.
Mẹ hy vọng rằng ít nhiều con cũng thấm được giáo pháp này và con sẽ làm được. Mẹ tin rằng lời hứa của con trước ba ngôi Tam bảo, trước bậc đạo sư và trước toàn thể đạo tràng kinh Nikāya ở tại Linh Quy Pháp Ấn linh thiêng nơi đây chứng minh cho lòng thành của con được thành tựu bổn nguyện. Là bước lên Thánh nhân, pháp học, pháp hành, pháp tu chứng ngộ, chứng đạo, đi đến con đường xuất gia để lưu truyền Chánh pháp, mạng mạch quan trọng này.
Chánh pháp ly tham tối thượng này trường tồn mãi mãi cho khắp tất cả pháp giới chúng sanh được hưởng được ân đức của Tam bảo, hưởng được ân đức của Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn. Cũng như lời truyền thừa của bậc đạo sư đã dày công huyết lệ, tâm huyết, để dạy cho mẹ và con cũng như tất cả chúng sanh hưởng được lợi lạc, hạnh phúc, thật sự, bình yên, vĩnh cửu. Không phải là hạnh phúc nhỏ nhoi như vật chất ở thế gian, tham dục càng nhiều, đạt được càng nhiều, khổ lụy càng nhiều và đọa lạc càng nhiều.
Như con đã nói, những vị hiền đức, tăng ni thật là dũng cảm, tối thượng. Tối thượng là không phải ôm vào, tham vào những tài sắc, danh thực thi đó mà là dũng cảm bỏ được, viễn ly được, cắt ái được.
Mẹ nghe mẹ rất mừng khi con hiểu được sự xuất ly, hướng thượng, tối thượng, dũng cảm của quý Ngài, phạm hạnh của quý Ngài, ly dục, ly bất thiện pháp, để đưa đến chứng ngộ, chứng đạo, chứng quả là hạnh phúc tối thượng.
Mẹ mong rằng con sẽ làm được điều này cho tự thân con. Rồi con sẽ chia sẻ những hạnh phúc tối thượng này cho khắp cả pháp giới chúng sanh cùng hưởng được hạnh phúc tối thượng này cũng như con không khác.
Mong rằng, nguyện rằng ân đức Tam bảo, đức hạnh, gương hạnh của bậc Thánh nhân, của bậc Thánh tăng, Thánh ni như nãy giờ sư phụ cũng đã dạy, những gương hạnh của hai mẹ con đó con cũng đã được học, con hãy cố gắng. Và mẹ cũng hứa với lòng, trước ba ngôi Tam bảo, sự hiện diện của bậc đạo sư và chư tôn hiền đức tăng ni, chư vị hiền trí chứng minh cho lòng thành của con và con của con, là Liên Ánh.
Mẹ con của con sẽ bước lên từng bậc thang chậm rãi, chắc chắn, để đi đến con đường mà Đức Thế Tôn, cũng như bậc đạo sư đã khổ công giáo dạy, truyền thừa cho chúng con. Và con hứa với lòng là con sẽ đi mãi trên con đường Thánh đạo, không bỏ cuộc, dù cho con đường có chông gai như thế nào. Con vẫn biết trên con đường rất là thử thánh, rất khó khăn, nhưng con dù có sụp hầm, chảy máu, con quyết không đứng lại, không bỏ cuộc. Con đi đến cùng, cho đến khi nào thành Thánh quả, dù sớm hay muộn để con báo đền ân đức Tam bảo cũng như không phụ tấm lòng từ ái của bậc đạo sư chư tôn hiền đức tăng ni và chư vị hiền trí thiện tri thức đã dày công giáo dạy chúng con.
Con xin thành tâm tri ân công đức Tam bảo, xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ trên ân đức Tam bảo, Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn, Đức Thánh hiền tăng và hiện tiền bậc đạo sư, chư tôn hiền đức tăng ni và chư vị hiền trí.
Phật tử số 3 trình pháp:
Kính bạch sư phụ, quý thầy, quý ni sư, quý sư cô và tất cả các bậc hiền trí.
Con xin tri ân trên sư phụ bài pháp vừa qua, con có rất nhiều cảm xúc, cảm xúc hạnh phúc rúng động khi nghe các vị Thánh ni đã chứng quả và thốt lên những lời nói: Ta đã làm hoàn thành những lời Phật dạy. Lúc đó trong cảm thọ con hân hoan, reo hò, con hạnh phúc dâng trào, con rất mong muốn được như các vị đó.
Con tri ân trên sư phụ rất nhiều, trong thời gian qua đã hết lòng từ bi, thương tưởng cho chúng con, đã dìu dắt cho chúng con tu học, nhắc nhở, khuyến tấn mọi lúc mọi nơi. Niềm tri ân sâu sắc của con đối với sư phụ đúng nhân duyên, lúc con đi chùa Hoằng Pháp về, cảm thọ tri ân đối với sư phụ rất to lớn. Khi trên xe từ chùa Hoằng Pháp về đây, con rất xúc động, con đã dâng trào những dòng nước mắt biết ơn và tưởng trong con là những hình ảnh sư phụ vất vả trên những đoạn đường khó khăn để đi hoằng pháp. Vì tình thương cao thượng mà không quản ngại thân xác của mình rất mệt mỏi. Con mới trải nghiệm có một lần thôi mà con thấy mệt mỏi rã rời mà sư phụ đi thường xuyên, liên tục như vậy. Cũng chỉ vì tình thương thiêng liêng giống như người mẹ thương con, thấy con mình đang khổ nạn không đành lòng, không quản ngại thân xác này.
Có thể sư phụ sẽ hy sinh trên những quãng đường đi. Thật sự con rất biết ơn sư phụ.
Đây là lần đầu tiên con cảm nhận được sâu như vậy, trước đây con chỉ biết tri ơn là con được sư phụ dẫn dắt vào Thánh pháp thôi. Nhưng nhân duyên con được trải nghiệm trên những đoạn đường vất vả, khó khăn như vậy thì con mới hiểu được vì tình thương giống như người mẹ. Khi thấy con mình đang khổ trong sống chết luân hồi thì không thể nào đứng nhìn được.
…124:00 gồng gánh cho các con. Từ bữa tới giờ, lúc nào con cũng xúc động, biết ơn đến sư phụ. Trước giờ con vô minh, con chưa cảm nhận được. Con tri ân rất nhiều những chuyến đi đó, cho con học hỏi được rất nhiều. Con xin tri ân trên sư phụ.
Phật tử số 4 trình pháp:
Con xin cảm ơn bậc đạo sư đã giảng bài pháp về nữ cư sĩ tại gia đã quán chiếu về điều Thế Tôn đã giảng dạy và đã chứng được quả A-la-hán. Đó cũng là điều bậc đạo sư muốn truyền đến cho tất cả đạo tràng Nikāya của chúng ta, hãy tinh tấn tu tập, không ngừng sách tấn tu tập thì thời gian chúng ta đạt được Thánh quả có thể dài hoặc ngắn nhưng đích đến của chúng ta sẽ đạt được.
Tâm thương này tỏa rộng,
Cùng khắp thế giới này,
Tâm thương này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.