TRÙNG TUYÊN THÁNH ĐIỂN NIKĀYA 2
TRÙNG TUYÊN THÁNH ĐIỂN NIKĀYA 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Ý nghĩa “Trùng tuyên thánh điển” PAGEREF _Toc111534144 \h 1
II.Trùng tuyên Thánh điển Nikāya PAGEREF _Toc111534145 \h 1
Ý nghĩa “Trùng tuyên thánh điển”
Trùng tuyên Thánh điển nói nôm na là trả bài, là cùng nhau nhắc lại lời dạy của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Đây là điều ngày xưa các bậc Thánh Tăng từng làm trong mấy ngàn năm qua.
Khi còn tại thế, Đức Phật nói điều gì Ngài đều lặp tới lặp lui rất nhiều lần, các vị Thánh chúng cũng như vậy. Khi Đức Phật nhập Niết-bàn, tại hang Thất Diệp, Ngài Ma Ha Ca Diếp (Maha Kassapa) đã triệu 500 vị Thánh Tăng A-la-hán để kết tập kinh điển lần thứ nhất, sau đó là lần thứ hai, lần thứ ba và giờ đây chúng ta có được Thánh Pháp Tạng Nikāya. Bên cạnh đó, còn có những bậc Thánh Tăng cao đức đã dày công dịch thuật, như cố Hòa thượng Thích Minh Châu phiên dịch, Ni sư Chơn Tín Toàn phân loại. Nhờ đó, chúng ta là những người con cháu sau này được thừa hưởng được tài sản vĩ đại của Thánh Pháp. Chúng ta mỗi ngày được tiếp cận, được học hỏi, được tu tập, được lợi ích trong tinh thần chẳng những học cho mình, mà còn muốn lan tỏa những lời dạy nguyên gốc, nguyên chất, nguyên thủy của Đức Phật đến với những người thân thương và những người xung quanh.
Vì vậy, trong thời khóa tu học của chúng ta sẽ có thêm phần “Trùng Tuyên Thánh Điển” để nhớ ân đức của Đức Phật, nhớ ân đức của các bậc Thánh, nhớ ân đức của giáo pháp. Đồng thời cũng vì sự tu học của tự thân mỗi người, trùng tuyên kinh tạng giúp chúng ta ôn nhắc lời Phật dạy để thực tập và hành trì.
Trùng tuyên Thánh điển Nikāya
Phật tử 1:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Mỗi lần nhắc đến ân điển của Đức Phật và các bậc tôn túc, cũng như sư cô Toàn và sư phụ thì trong lòng con luôn có cảm xúc dâng trào. Và con cũng nhớ lại người thầy quy y cho mình. Cứ mỗi lần nhắc đến đây là cảm xúc trong lòng con cứ trào dâng, con không diễn tả được. Con xin đọc bài kinh tâm đắc nhất:
Niệm Cúng Dường Tối Thượng - Kinh Trường Bộ, bài 16:
Này Ānanda, nếu có Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh Pháp và Tùy Pháp, sống chơn chánh trong Chánh Pháp, hành trì đúng Chánh Pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng.
Do vậy, này Ānanda, hãy thành tựu Chánh Pháp và Tùy Pháp, sống chơn chánh trong Chánh Pháp và hành trì đúng Chánh Pháp. Này Ānanda, các Người phải học tập như vậy.
Con hiểu rằng, khi học Thánh Pháp, không phải chỉ học trên mặt lý thuyết mà còn phải biết ứng dụng vào đời sống, hơn nữa, phải ứng dụng pháp trong từng trường hợp thích hợp. Bên cạnh đó, sự mang ơn đối với Thánh Pháp là phải học và hành theo đúng Chánh Pháp, như vậy mới là sự cúng dường tối thượng.
Phật tử 2:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin đọc bài kinh tâm đắc nhất:
Niệm Sợi Dây Tái Sanh, Kinh Sợi Dây Tái Sanh (Tương III, 333)
Nhân duyên ở Sàvatthi... Ngồi xuống một bên, Tôn giả Rādha bạch Thế Tôn:
- “Ðoạn diệt sợi dây tái sanh. Ðoạn diệt sợi dây tái sanh”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là sợi dây tái sanh? Thế nào là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh?
- Này Rādha, phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với Sắc, như vậy gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.
- Này Rādha, phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với Thọ… đối với Tưởng… đối với các Hành… đối với Thức, đó gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.
Phật tử 3:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin đọc bài kinh tâm đắc nhất:
Niệm Lòng Tin Bất Động, Kinh Cần Phải Khích Lệ (Tăng I, 402)
Này Ānanda, với ai, Thầy có lòng từ mẫn, và với những ai, Thầy nghĩ là nên nghe theo, các bạn bè, thân hữu, bà con hay cùng một huyết thống, với những người ấy, Thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú trong ba điểm.
Thế nào là ba?
- Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với Đức Phật: “Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Mạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.
- Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”.
- Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời”.
Này Ānanda, dầu cho bốn đại chủng có đổi khác, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, nhưng vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Phật không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, thành tựu tịnh tín bất động đối với Đức Phật, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.
Này Ānanda, dầu cho bốn đại chủng có đổi khác, địa đại, thủy đai, hỏa đại, phong đại, nhưng vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.
Này Ānanda, dầu cho bốn đại chủng có đổi khác, địa đại, thủy đai, hỏa đại, phong đại, nhưng vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.
Này Ānanda, với ai Thầy có lòng từ mẫn, và với những ai Thầy nghĩ là nên nghe theo, các bạn bè, thân hữu, bà con hay cùng một huyết thống, với những người ấy, này Ānanda, Thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú trong ba điểm này.
Thưa sư phụ, từ trước đến nay, khi đã biết Phật pháp, mặc dù chưa được biết đến dòng pháp Nikāya này nhưng lúc nào con cũng có lòng tin bất động đối với ba ngôi Tam bảo. Trước đây, khi chưa biết đến Nikāya, khi nghe ai phỉ báng Tam bảo con thấy rất sân hận vì muốn bảo vệ ba ngôi Tam bảo. Lúc nào con cũng nguyện xin Đức Phật cho con tẩy sạch được tham, sân, si, bản ngã và những cấu uế để con có được một tâm thanh tịnh, trong sạch và mát mẻ để xứng đáng là người con chân chánh của Đức Phật.
Phật tử 4:
Định nghĩa Ngũ Uẩn:
- Thân người là Sắc
- Cảm giác là Thọ
- Hình bóng là Tưởng
- Suy nghĩ là Hành
- Rõ biết là Thức
Phật tử 5:
Thưa thầy, thân tứ đại đang ngồi là sắc. Thọ thân và thọ tâm đều dễ chịu. Hình bóng trong con là hình bóng của Đức Phật. Hành suy nghĩ rất biết ơn Đức Phật đã truyền trao Chánh Pháp. Thức rõ biết con đang trình pháp. Con xin đọc hai bài Kinh Pháp Cú:
Như mái nhà vụng lợp,
Mưa liền xâm nhập vào.
Cũng vậy tâm không tu,
Tham dục liền xâm nhập.
Như ngôi nhà khéo lợp,
Mưa không xâm nhập vào.
Cũng vậy tâm khéo tu,
Tham dục không xâm nhập.
(Kinh Pháp Cú – phẩm Song Yếu)
Con hiểu nếu mình có tu thì mình nhiếp phục được tham dục, còn không tu thì không nhiếp phục được tham dục. Đức Phật dạy mình nhiếp phục vì tham dục làm cho mình khổ.
Ít người giữa nhân loại,
Ðến được bờ bên kia
Còn số người còn lại,
Xuôi ngược chạy bờ này.
Những ai hành trì pháp,
Theo chánh pháp khéo dạy,
Sẽ đến bờ bên kia,
Vượt ma lực khó thoát.
(Kinh Pháp Cú – phẩm Hiền Trí)
Phật tử 6:
Niệm Chúng sanh:
Tất cả đều là chúng sanh,
Không ai là người thân của mình,
Chỉ có vô minh, nghiệp và nhân quả.
Hãy buông xả và mau tỉnh thức,
Sống đúng trách nhiệm,
Sống đẹp với đời,
Nhận diện ngũ uẩn,
Thể nhập Thánh Trí,
Diệt tham, sân, si
Thoát ly sanh tử.
Con hiểu là tất cả mọi người đều là chúng sanh, nếu cứ cố chấp nắm chặt thì không thoát ly được sanh tử, cứ tham, sân, si thì sẽ bị đọa vào ba đường ác.
Phật tử 7:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin đọc bài kinh Pháp Cú:
Như bông hoa tươi đẹp,
Có sắc nhưng không hương.
Cũng vậy, lời khéo nói,
Không làm, không kết quả.
Như bông hoa tươi đẹp,
Có sắc lại thêm hương;
Cũng vậy, lời khéo nói,
Có làm, có kết quả.
(Kinh Pháp Cú – phẩm Hoa)
Con hiểu câu kinh này như sau, những lời mình nói ra mà mình thực hiện được thì mới có lợi ích, còn những lời nói ra, dù có khéo léo đến đâu mà không thực hành được thì không có lợi ích gì.
Phật tử 8:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin đọc bài Niệm Chánh Niệm Tỉnh Giác, Kinh Tật Bệnh (Tương IV, 340)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… sống quán thọ trên các cảm thọ... sống quán tâm trên tâm... sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải chánh niệm tỉnh giác khi thời đã đến. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
Thưa sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Đây là bài kinh con rất tâm đắc. Đầu tiên, về Chánh niệm là chánh niệm theo Tứ Niệm Xứ, gồm: niệm Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Niệm Thân gồm: niệm oai nghi, niệm hành động, niệm hơi thở, niệm tứ đại, niệm 32 thể trược, niệm 9 giai đoạn tử thi. Bình thường con thực tập theo Thân hành niệm trong đi, đứng, nằm, ngồi để tập chánh niệm. Vì trước đây, khi chưa vào dòng pháp này, con toàn sống trong vô minh, khi đi, đứng, nằm, ngồi hay thức, nói, im lặng con đều làm theo phản xạ, không để ý vào đó. Cũng vì làm trong vô minh nên trí nhớ của con bị giảm, để đồ ở đâu con cũng hay quên. Từ khi lên đây, nhờ thực tập niệm oai nghi, hành động nên con để ý vào việc làm của con hơn, trí nhớ được cải thiện rõ rệt, ít quên hơn ngày xưa.
Thứ hai, về Niệm thọ, con thường để ý vào ba cảm giác: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Sư phụ thường giảng: “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ”, nên con thường để ý vào cảm thọ. Khi có cảm thọ sân khởi lên thì con biết và dừng lại, không để mình bị nó dẫn đi xa hơn. Cảm thọ tham ăn, tham ngủ cũng thường sanh khởi, khi thấy được thì con dừng và giảm lại.
Thứ ba, về Niệm tâm, con thường để ý xem tâm có tham, sân, si hay không.
Thứ tư, về Niệm pháp, con để ý vào thọ, tưởng, hành, thức. Khi có những hình bóng, suy nghĩ lầm thầm thuộc về ác, bất thiện pháp thì con kéo tâm lại, không để đi xa hơn, làm cho tâm bớt dao động, tránh khỏi việc tạo ác nghiệp.
Về tỉnh giác, con nghĩ thuộc một phần trong Niệm thân. Khi đi tới đi lui, cũng như trong những sinh hoạt hằng ngày thì nhờ sư phụ chỉ dạy, con để ý lại và thấy mình có thể làm chủ bước đi hơn. Trước đi, khi đi tay thường đánh tới đánh lui, cổ và mắt cũng thường hướng ngoại, ngó lung tung. Nhưng khi thực hành chánh niệm trước mặt, ban đầu tuy có sự khó chịu nhưng cố gắng thực tập thì con thấy có sự tiến bộ và bình an hơn, tâm bớt phóng ra ngoài. Con chưa được tỉnh giác nhiều nhưng con đang tập và thấy tốt hơn từng ngày. Lâu nay con cứ nghĩ là mình là chủ của thân này; đi, đứng, nằm, ngồi là do mình điều khiển nhưng giờ con mới biết trước giờ mình toàn làm trong vô minh. Khi có sự nhìn lại con thấy trong con có sự thay đổi nhiều.
Câu cuối bài kinh là “Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải chánh niệm tỉnh giác khi thời đã đến”, theo suy nghĩ nông cạn của con, con nghĩ Đức Phật dạy rằng khi chết cũng phải chánh niệm tỉnh giác. Nhưng bây giờ còn đang sống mà không luyện tập chánh niệm tỉnh giác thì lúc chết làm sao có thể chánh niệm tỉnh giác được, khi đó nghiệp sẽ dẫn mình đi vào những đường ác và mình sẽ khổ. Vì vậy, con cũng đang cố gắng tập chánh niệm tỉnh giác để khi thân hoại mạng chung, nếu chưa được giải thoát thì còn có thể trở lại sanh vào Thiện thú, để tiếp tục tu tập theo dòng pháp này để có thể giải thoát. Bằng không, nếu rơi vào ba đường ác thì không còn cơ hội tu dòng pháp này, như vậy sẽ đau khổ triền miên.
Phật tử 9:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin đọc một đoạn trong bài Niệm Phật Đạo Vô Thượng, Kinh Thành Ấp (Tương II, 185):
Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy một con đường cũ, một đạo lộ cũ do các vị Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường cũ, đạo lộ cũ ấy do các vị Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua?
Đây chính là con đường Thánh Đạo Tám Ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Con đường ấy, này các Tỷ-kheo, là con đường cũ, đạo lộ cũ do các bậc Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua. Ta đã đi theo con đường ấy.
Đi theo con đường ấy, Ta thấy rõ già chết; Ta thấy rõ già, chết tập khởi; Ta thấy rõ già chết đoạn diệt; Ta thấy rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt.
Ta đã đi theo con đường ấy. Đi theo con đường ấy, Ta thấy rõ Sanh... Ta thấy rõ Hữu... Ta thấy rõ Thủ... Ta thấy rõ Ái... Ta thấy rõ Thọ... Ta thấy rõ Xúc... Ta thấy rõ Sáu xứ... Ta thấy rõ Danh sắc... Ta thấy rõ Thức... Ta thấy rõ các Hành; Ta thấy rõ các hành tập khởi; Ta thấy rõ các hành đoạn diệt, Ta thấy rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt.
Cái được Ta biết rõ, Ta đã tuyên bố cho các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ được biết. Này các Tỷ-kheo, tức là Phạm hạnh này, phồn vinh, thịnh vượng, quảng đại, chúng đa, người nhiều và được chư Thiên, loài Người khéo léo trình bày.
Con hiểu rằng Đức Phật có nêu rõ con đường, đạo lộ mà các vị thuở xưa đã đi và đã thành tựu, và Ngài chỉ rõ con đường đó là Bát Thánh Đạo. Khi tu theo đạo lộ ấy, Ngài thấy rõ sự khổ, già, chết, vô thường, luân hồi và nghiệp.
Phật tử 10:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin được trình pháp khi nghe bài Thánh ca Phật Đạo Vô Thượng. Cảm thọ con rất hỷ lạc. Tưởng con có hình bóng Phật đi trước, sư phụ đi sau và toàn thể quý thầy, quý cô cùng đại chúng đi sau. Hành nói rằng đây là một đội quân rất thanh tịnh, nhẹ nhàng, hùng dũng, trong sáng. Thức thấy rõ thọ, tưởng, hành. Khi về, con có cảm xúc với một đoạn kệ trong Phật Đạo Vô Thượng:
Tám Chánh mở đường cho Chánh Trí
Chánh Giải Thoát theo đó khởi sanh,
Hành giải bước lên Thuyền Bát Nhã,
Nhẹ nhàng ra khỏi biển trầm luân.
Tám Chánh chính là con đường Bát Chánh Đạo, những hành giả tu theo Bát Chánh Đạo sẽ được khai mở Chánh trí, nhờ đó, vị này:
- Như thật rõ biết: “Đây là Khổ”
- Như thật rõ biết: “Đây là Khổ Tập”
- Như thật rõ biết: “Đây là Khổ Diệt”
- Như thật rõ biết: “Đây là Khổ Diệt Đạo”.
Và như vậy, hành giả được giác ngộ, thông hiểu được Bốn Thánh Đế; đã giác ngộ, chứng đạt được Bốn Thánh Pháp; đã tinh tấn trong pháp và luật; đã phòng hộ được sáu căn; đã thành tựu được trí ngũ uẩn; thành tựu trí diệt vô minh; thành tựu Bát Thánh Đạo. Hành giả ấy thấy rõ được đây là hữu, đây là thủ, thấy rõ được ái, thọ, xúc, sáu xứ, danh sắc; thấy rõ được hành, thấy rõ được hành tập khởi, thấy rõ được hành đoạn diệt, thấy rõ con đường đưa đến hành đoạn diệt tất cả vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn. Như vậy, thời hữu ái được diệt trừ, tham ái một đời sống tương lai được trừ diệt, những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa. Vị ấy sống an trú, chánh niệm, sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Từ đó: Chánh Giải Thoát theo đó khởi sanh - Hành giải bước lên Thuyền Bát Nhã - Nhẹ nhàng ra khỏi biển trầm luân”. Đây là đoạn kệ tu theo Bát Chánh Đạo, thâu tóm thông suốt cả quá trình tu tập để đưa đến sự đoạn diệt vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn, thoát khỏi sanh tử, thể nhập Niết-bàn.
Xin sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng chỉ dạy con. Hằng ngày, con lúc nào cũng nghĩ mình tuổi già sắp chết, cho nên phải siêng năng tu tập Chánh Pháp để không uổng phí cuộc đời này.
Sư phụ: Trí tuệ rất là sắc bén, bà cụ rất khiêm cung, mỗi lần trình bày điều gì thì sự khiêm cung đều thể hiện trong từng cử chỉ, hành động và lời nói. Đây là một tấm gương lớn cho chúng ta noi theo. Nhiều khi chúng ta còn trẻ, học chưa bao nhiêu nhưng giọng trình pháp không được ngọt ngào, cho nên, đây là một tấm gương cho tất cả học tập theo
Thầy Thiện Huệ:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin trùng tuyên và ôn nhắc lại bài kinh “Thời gian trôi qua”, Tương Ưng Bộ - tập I:
Nhân duyên ở (Sàvatthi ), đứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Thời gian (lặng) trôi qua,
Đêm (ngày luôn) di động,
Tuổi tác buổi thanh xuân,
Tiếp tục bỏ chúng ta.
Những ai chịu quán sát,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy làm các công đức,
Đưa đến (chơn) an lạc.
(Thế Tôn):
(Thời gian lặng) trôi qua,
Đêm (ngày luôn) di động,
Tuổi tác buổi thanh xuân,
Tiếp tục bỏ chúng ta.
Những ai chịu quán sát,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy bỏ mọi thế lợi,
Tâm hướng cầu tịch tịnh.
Theo như con hiểu, trong bài kinh này, Đức Thế Tôn dạy tất cả chúng ta phải luôn ghi nhớ, cảnh tỉnh trước vô thường, vì thời gian trôi qua rất lặng lẽ, âm thầm, nhiều khi chúng ta quên đi điều đó, không nhớ làm những việc lành thiện, không lo tu học trí tuệ, thiền định và công đức, để thời gian trôi qua suôn. Tâm chúng ta đừng để những thế lợi, những tài sản, những vật chất ràng buộc. Phải cố gắng tháo gỡ từ từ, tâm hướng đến sự mong cầu tịch tịnh, tức là hướng đến Niết-bàn, dập tắt tất cả những ngọn lửa tham muốn, nóng giận, si mê. Khi đó, tâm mình mới đạt được bình an, hạnh phúc tối thượng. Luôn cố gắng dập tắt những ngọn lửa tham muốn, nóng giận, si mê và nhắc nhở bản thân rằng vô thường luôn lặng lẽ trôi qua rất nhanh để lo tu học, học pháp, thiền định, làm những việc phước báu, công đức và trí tuệ.
Thầy Pháp Nghĩa:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và toàn thể các bậc Hiền trí đáng kính. Gần đây con có tâm đắc bài kinh “Người”, trong kinh Tương Ưng Bộ - tập II:
1) Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakùta (Linh Thứu).
2) Tại đấy Thế Tôn...
3) Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo...
4) Các xương của một người, này các Tỷ-kheo, lưu chuyển luân hồi có thể lớn như một đồi xương, một chồng xương, một đống xương, như núi Vepulla này, nếu có người thâu lượm xương lại, gìn giữ chúng, không làm chúng hủy hoại.
5) Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.
6) Thế Tôn nói vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Đạo Sư lại nói thêm:
Chồng chất như xương người,
Chỉ sống có một kiếp,
Chất đống bằng hòn núi,
Bậc Đạo Sư nói vậy.
Đống xương ấy được nói,
Lớn như Vepulla
Phía Bắc núi Linh Thứu,
Núi thành Magadha.
Người thấy bốn sự thật,
Với chân chánh trí tuệ,
Khổ và khổ tập khởi,
Sẽ vượt qua đau khổ,
Con đường Thánh tám ngành,
Dẫn đến khổ tịnh chỉ.
Người ấy phải luân chuyển,
Tối đa là bảy lần.
Là vị đoạn tận khổ,
Đoạn diệt mọi kiết sử.
Sau khi đọc bài kinh này, con có cảm nhận về thông điệp của Thế Tôn đối với các vị Tỷ-kheo. Thế Tôn chỉ dạy “Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo...” điểm khởi đầu đối với sự luân hồi của các chúng sanh không có điểm bắt đầu. Tất cả chúng sanh bị tham ái và vô minh trói buộc, cứ mãi ở trong vùng lẩn quẩn của sanh tử, tử sanh. Do sự lưu chuyển luân hồi mãi nên Thế Tôn ví dụ xương của con người chồng chất từ đời này sang đồi khác thành một đống xương, một đồi xương, được ví lớn như núi Veppula – một ngọn núi lớn ở Ấn Độ lúc đó. Nếu cứ ở mãi trong vòng tử sanh lẩn quẩn này thì phải chịu đựng thống khổ, cho nên Thế Tôn dạy phải nhàm chán tất cả đối với thân ngũ uẩn này, bằng không, nếu không cố gắng tu tập thì sẽ ở mãi trong thân ngũ uẩn từ kiếp này qua kiếp khác. Chỉ có con đường chân chánh, thấy được khổ và con đường diệt khổ thì mới vượt qua vòng lẩn quẩn như vậy. Khi đã thấy được đạo lộ thì chỉ còn sanh tử trong cõi Người và Nhân thiên tối đa bảy lần để đoạn tận dòng kiết sử sanh tử, khổ đau này.
Thầy Pháp Tâm:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin được phép đọc một đoạn kệ trong bài kinh con rất tâm đắc, bài kinh có tên Tàyana, Tương Ưng Bộ Kinh – tập I:
Ôi này Bà-la-môn,
Tinh tấn, cắt dòng nước,
Đoạn trừ và tiêu diệt,
Mọi tham đắm dục vọng.
Ẩn sĩ không đoạn dục,
Không chứng được nhứt tâm.
Nếu làm việc phải làm,
Cần kiên trì, tinh tấn.
Xuất gia, nếu biếng nhác,
Càng tung vãi bụi trần.
Không làm, hơn làm dở,
Làm dở sau khổ đau.
Đã làm nên làm tốt,
Làm tốt không khổ đau.
Như nắm vụng lá cỏ,
Có thể bị đứt tay.
Sa-môn hạnh vụng tu,
Kéo đến cõi địa ngục.
Mọi sở hành biếng nhác,
Mọi hạnh tu ô nhiễm,
Ác hạnh trong Phạm hạnh,
Không đưa đến quả lớn.
Con có suy tư về bài kinh như sau, đây là bài kinh Đức Phật khuyên các vị Tỷ-kheo nên học thuộc lòng, vì đây là bài kinh có đầy đủ nghĩa lợi và trình bày đời sống phạm hạnh trong sạch, thanh tịnh, viên mãn. Đức Phật khuyên dạy phải tinh tấn đoạn trừ tất cả pháp bất thiện trong thân tâm chính mình. Thấy được những pháp thiện phải nỗ lực tinh tấn, kiên trì, hướng dẫn tâm, sách tấn tâm để không bỏ rơi các thiện pháp. Đoạn trừ những dục vọng, mong muốn đối với những dục lạc thế gian, làm cho tâm dễ bị đắm nhiễm. Khi xuất gia rồi phải cố gắng tu học, không được biếng nhác, vì biếng nhác sẽ khiến cho mình dễ quay về hưởng thụ, tâm bị dắt dẫn bởi những bụi trần bên ngoài, làm cho tâm trí dễ bị thu hút, mê mờ, lầm lạc, đi sai đường hướng và dễ bị tích tụ thêm nhiều rác bẩn trong tâm. Cần phải nỗ lực, đặt tâm đúng hướng để tẩy trừ tham, sân, si, bản ngã, vô minh hắc ám, mờ tối bên trong để thành tựu viên mãn đời sống thanh tịnh, trong sạch. Bằng không, cũng giống như ví dụ, nắm lá cỏ nếu không khéo léo sẽ dễ bị đứt tay, cũng vậy, khi người tu không nhắm thẳng mục đích đoạn tận tham, sân, si, vô minh, bản ngã, nhiếp phục tham vọng, tham ái đối với năm dục, đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức, mà chìm đắm trong đó thì sẽ tiếp tục lưu chuyển trong sanh tử, đau khổ lâu dài.
Thầy Pháp Cần:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Trong sự tu học kinh tạng Nikāya thì có rất nhiều bài con tâm đắc, hôm nay con xin phép đọc bài mà ngày nào lên tu học quý thầy cũng đọc, mỗi khi nghe con thấy rất hoan hỷ, hân hoan với bài Nguyện hương, đây là những câu trong kinh Pháp Cú, phẩm Hoa:
Hương các loại hoa thơm
Không ngược bay chiều gió
Nhưng hương người đức hạnh
Ngược gió khắp tung bay
Chỉ có bậc chân nhân
Tỏa khắp mọi phương trời.
Hoa chiên đàn, già la,
Hoa sen, hoa vũ quý,
Giữa những hương hoa ấy,
Giới hương là vô thượng.
Ít giá trị hương này,
Hương già la, chiên đàn;
Chỉ hương người đức hạnh,
Tối thượng tỏa Thiên giới.
Nhưng ai có giới hạnh,
An trú không phóng dật,
Chánh trí, chơn giải thoát,
Ác ma không thấy đường.
Như giữa đống rác nhớp,
Quăng bỏ trên đường lớn,
Chỗ ấy hoa sen nở,
Thơm sạch, đẹp ý người.
Cũng vậy giữa quần sanh,
Uế nhiễm, mù, phàm tục,
Ðệ tử bậc Chánh Giác,
Sáng ngời với Tuệ Trí.
(Kinh Pháp Cú – phẩm Hoa)
Theo sự hiểu của con, ngoài đời có những hương hoa đắt nhất nhưng hương thơm ấy không thể bay ngược hướng gió. Nhưng hương của những người đức hạnh thì có thể ngược hướng gió mà tung bay. Con thấy mình rất may mắn khi được gần gũi bậc Thiện tri thức, gần gũi bậc Minh sư, thầy lành, bạn tốt, những bậc giữ gìn đức hạnh, có trải qua thực hành. Con thấy mình rất may mắn khi được gần gũi và học hành đức hạnh ấy. Đối với tự thân con, con thấy mình rất cần học tập và trao dồi đức hạnh, vì trước giờ con sống trong vô minh, lầm lạc, không biết đúng sai khi chưa gặp được Chánh Pháp. “Cũng vậy giữa quần sanh - Uế nhiễm, mù, phàm tục”, con sống giữa thế giới đầy hơn thua, tranh đấu, uế nhiễm, đầy dục vọng, tham sân, không có Chánh Pháp để nương tựa. Khi gặp được Chánh Pháp, thật là may mắn, thật là hạnh phúc, thật là lợi ích cho con, cũng như lợi ích cho các vị đang tu học theo lời dạy nguyên chất của Đức Phật.
Sư cô Huệ Quý:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, kính thưa Ni sư, quý sư cô và đại chúng. Con xin phép đọc bài Duyên Sanh Pháp, trong Căn bản trí 1:
Do duyên có mắt và các sắc sanh khởi Nhãn thức (rõ biết các sắc). Sự hội tụ của ba pháp này là Nhãn xúc. Do duyên có Nhãn xúc nên sanh khởi thọ do nhãn xúc sanh, sắc tưởng, sắc tư.
- Do duyên có tai và các tiếng, sanh khởi Nhĩ thức (nghe rõ, rõ biết các âm thanh). Sự hội tụ của ba pháp này là Nhĩ xúc. Do duyên có Nhĩ xúc nên sanh khởi thọ do nhĩ xúc sanh, thanh tưởng, thanh tư.
- Do duyên có mũi và các mùi, sanh khởi Tỷ thức (rõ biết các mùi). Sự hội tụ của ba pháp này là Tỷ xúc. Do duyên có Tỷ xúc nên sanh khởi thọ do tỷ xúc sanh, hương tưởng, hương tư.
- Do duyên có lưỡi và các vị, sanh khởi Thiệt thức (rõ biết các vị). Sự hội tụ của ba pháp này là Thiệt xúc. Do duyên có Thiệt xúc nên sanh khởi thọ do Thiệt xúc sanh, vị tưởng, vị tư.
- Do duyên có thân và có sự đụng chạm, sanh khởi Thân thức (rõ biết sự đụng chạm). Sự hội tụ của ba pháp này là Thân xúc. Do duyên có Thân xúc nên sanh khởi thọ do thân xúc sanh, xúc tưởng, xúc tư.
- Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành nên sanh khởi Ý thức (rõ biết thọ, tưởng, hành). Sự hội tụ của ba pháp này là Ý xúc. Do duyên có Ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư.
Qua bài này, theo suy nghĩ của bản thân con, con hiểu rằng các pháp hiện hữu trên cuộc đời này đều do duyên của sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; sanh ra sáu thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Từ đó giúp con có cái nhìn rõ hơn về sự rõ biết của mình khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, tất cả đều do duyên sanh ra, không có thật. Mà do duyên sanh thì nó sẽ diệt nên sự nhận biết của mình cũng là do duyên, không có gì là thật, nên không có gì khiến mình dính mắc. Cũng như những dòng cảm xúc vui, buồn, thương, ghét cũng chỉ là do duyên đến rồi đi. Hiểu được như vậy thì không có gì làm cho mình bận lòng, đau khổ nhiều. Tương tự như vậy, những hình bóng, những dòng suy nghĩ trong tâm cũng là pháp duyên sanh. Khi hiểu rõ điều này chúng ta thấy rằng không có gì làm cho mình bận lòng, dính mắc bởi những thứ không có thật. Từ đó, con có được suy nghĩ thoát ra những thứ dính mắc trước giờ, vì không biết, không rõ bản chất của nó mà mình đau khổ nhiều đời, nhiều kiếp. Giờ đây khi biết được rồi thì phải cố gắng tu tập để thoát ra, làm cho thân tâm được an tịnh, lắng dịu. Và sự an tịnh, lắng dịu này phải trong sự rõ biết các pháp, chứ không phải không an tịnh, lắng dịu mà không biết các pháp đang diễn ra thế nào.
Phật tử 12:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin đọc bài kinh con thuộc:
Con chân thành đảnh lễ
Phật Thích Ca Mâu Ni
Đời này con xin nguyện:
“Thấy biết rõ ngũ uẩn,
Thấy biết rõ tự thân,
Thành tựu chánh tri kiến,
Thể nhập vào Thánh quả,
Con nguyện xứng đáng là
Người con Phật chân chánh”.
Con xin đảnh lễ Ngài
Phật Thích Ca Mâu Ni
Bậc đoạn tận tham ái,
Bậc đoạn tận sợ hãi,
Tâm Ngài không dao động,
Tâm không nhiễm thế gian.
Con xin đảnh lễ Ngài
Phật Thích Ca Mâu Ni
Bậc Vô Thượng giải thoát
Ngài là thầy của con
Ngài – vị dẫn đường con
Ngài – vị con quy ngưỡng
Con chân thành quy hướng
Đảnh lễ bậc Vô Thượng
Đảnh lễ bậc Chánh Giác
“Con xin quy phục Ngài,
Con xin làm đệ tử,
Làm con ngoan của Ngài”.
“Con xin quy phục Pháp,
Quy phục Pháp Tám Đúng,
Nguyện thành tựu Tám Đúng”.
“Con xin tôn kính Tăng,
Tôn kính đời Giới Đức,
Nguyện thành tựu Giới Đức”.
Trước khi dự khóa tu, con không muốn tham dự, chỉ muốn ở nhà kiếm tiền, nhưng nhờ mẹ năn nỉ con đi nên giờ đây con thay đổi rất nhiều. Con được lắng nghe, học hỏi nhiều điều. Bình thường, giọng con rất to, hay cãi lời mẹ, nhưng giờ con không còn nạt nộ, hay cãi lời mẹ nữa, con thay đổi được phần nào. Con cũng siêng năng học bài, đọc kinh hơn.
Phật tử 13:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin đọc Định nghĩa Ngũ Uẩn, Định nghĩa 2:
- Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại là Sắc.
- Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là Thọ.
- Bóng dáng thô tế trong tâm là Tưởng.
- Suy nghĩ nói thầm trong tâm là Hành.
- Rõ biết trong ngoài sáu trần là Thức.
Phật tử 14:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng.
Con muốn vạch mặt của con trong những ngày tu vừa qua. Ngày đầu tiên lên con rất vui khi nghe sư phụ giảng về Đức Phật đi khất thực, nhiều lúc không có đồ ăn, phải uống nước trừ cơm. Trong lòng con thấy rất hoan hỷ và phát nguyện chỉ ăn buổi trưa, không ăn sáng, chiều. Khi được mấy cô rủ ra bếp, hôm đó có món bún xào và sầu riêng thì con không kiềm được, mà ăn. Sau đó con đi vào thiền đường, con xá Phật, sám hối. Qua hôm sau, vừa nghe sư phụ giảng xong thì đi ngang bếp có món bún riêu, là món con rất thích, con nguyện trong lòng không ăn và đi luôn.
Con xin đọc một bài kệ trong kinh Pháp Cú, do thầy Nhật Từ dịch:
Thà sống một mình,
Không kết bạn người ngu,
Một mình không ác hạnh,
Như voi sống rừng voi.
(Kinh Pháp Cú – phẩm Voi)
Phật tử 15:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng.
Con cũng là học trò mầm non mới lên đây, con chưa thuộc bài nhưng con xin chia sẻ tâm ý của mình. Khi được thầy Pháp Nghĩa cho con được kết nối vào nhóm Nikāya và đọc được lịch khóa tu, trong đó có câu: “Con trò Minh Thành kính lễ”, lúc đọc những dòng đó, con khóc rất nhiều vì nghĩ rằng ở đời này không phải dễ tìm một vị đạo sư, một người tu chân chánh, xưng “con” với mọi người. Cá nhân con nghĩ rằng một vị đạo sư như vậy sao có thể xưng “con” với một người phàm phu, ngu si, đầy tội lỗi như mình. Con từng đi rất nhiều chùa, biết cũng nhiều thầy và các vị tu hành, con chưa từng thấy ai hạ thấp bản ngã như sư phụ nơi đây, vì vậy, lúc đó con rất xúc động. Khi đó hai đứa cháu nội con hỏi sao con khóc, con trả lời là do con tìm thấy được một vị thầy tu hành rất tốt, rất chân chánh, nhưng thầy lại xưng là “con” với tất cả đệ tử và với một người phàm phu, ngu si như bà nội. Con thật sự thấy rất kính phục sư phụ, cũng như quý thầy, quý cô trên đây. Khi được lên đây tu học, mỗi ngày được thầy cô dẫn dắt, truyền pháp, cũng như các hiền giả tu học nơi này, ai ai cũng xưng “con” hết, khiến cho bản ngã của con thấy rất hổ thẹn, vì mình không xưng hô như vậy được, trong khi nhiều cô lớn tuổi hơn mình rất nhiều lại có thể làm được. Điều này làm con suy nghĩ rất nhiều. Cảm thọ và suy nghĩ của con thấy rất kính phục, nể phục trước sự dẫn dắt của sư phụ, giúp mọi người dẹp bỏ được bản ngã. Vì vậy, con thấy học rất nhiều về bản ngã, về pháp Nikāya này và học nhận diện ngũ uẩn. Mô Phật, con cảm ơn thầy.
Sư phụ: Chúng ta phải cố gắng diệt tận bản ngã.
Bát Chánh nơi mồ chôn bản ngã;
Tứ Đế nơi diệt tận bản ngã;
Tứ Niệm Xứ diệt bản ngã thành mây, khói.
Con nguyện sống với Thánh trí vô ngã, tâm hiền, tâm từ rộng lớn, thương cùng khắp tất cả chúng sanh.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Ý nghĩa “Trùng tuyên thánh điển” PAGEREF _Toc111534144 \h 1
II.Trùng tuyên Thánh điển Nikāya PAGEREF _Toc111534145 \h 1
Ý nghĩa “Trùng tuyên thánh điển”
Trùng tuyên Thánh điển nói nôm na là trả bài, là cùng nhau nhắc lại lời dạy của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Đây là điều ngày xưa các bậc Thánh Tăng từng làm trong mấy ngàn năm qua.
Khi còn tại thế, Đức Phật nói điều gì Ngài đều lặp tới lặp lui rất nhiều lần, các vị Thánh chúng cũng như vậy. Khi Đức Phật nhập Niết-bàn, tại hang Thất Diệp, Ngài Ma Ha Ca Diếp (Maha Kassapa) đã triệu 500 vị Thánh Tăng A-la-hán để kết tập kinh điển lần thứ nhất, sau đó là lần thứ hai, lần thứ ba và giờ đây chúng ta có được Thánh Pháp Tạng Nikāya. Bên cạnh đó, còn có những bậc Thánh Tăng cao đức đã dày công dịch thuật, như cố Hòa thượng Thích Minh Châu phiên dịch, Ni sư Chơn Tín Toàn phân loại. Nhờ đó, chúng ta là những người con cháu sau này được thừa hưởng được tài sản vĩ đại của Thánh Pháp. Chúng ta mỗi ngày được tiếp cận, được học hỏi, được tu tập, được lợi ích trong tinh thần chẳng những học cho mình, mà còn muốn lan tỏa những lời dạy nguyên gốc, nguyên chất, nguyên thủy của Đức Phật đến với những người thân thương và những người xung quanh.
Vì vậy, trong thời khóa tu học của chúng ta sẽ có thêm phần “Trùng Tuyên Thánh Điển” để nhớ ân đức của Đức Phật, nhớ ân đức của các bậc Thánh, nhớ ân đức của giáo pháp. Đồng thời cũng vì sự tu học của tự thân mỗi người, trùng tuyên kinh tạng giúp chúng ta ôn nhắc lời Phật dạy để thực tập và hành trì.
Trùng tuyên Thánh điển Nikāya
Phật tử 1:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Mỗi lần nhắc đến ân điển của Đức Phật và các bậc tôn túc, cũng như sư cô Toàn và sư phụ thì trong lòng con luôn có cảm xúc dâng trào. Và con cũng nhớ lại người thầy quy y cho mình. Cứ mỗi lần nhắc đến đây là cảm xúc trong lòng con cứ trào dâng, con không diễn tả được. Con xin đọc bài kinh tâm đắc nhất:
Niệm Cúng Dường Tối Thượng - Kinh Trường Bộ, bài 16:
Này Ānanda, nếu có Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh Pháp và Tùy Pháp, sống chơn chánh trong Chánh Pháp, hành trì đúng Chánh Pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng.
Do vậy, này Ānanda, hãy thành tựu Chánh Pháp và Tùy Pháp, sống chơn chánh trong Chánh Pháp và hành trì đúng Chánh Pháp. Này Ānanda, các Người phải học tập như vậy.
Con hiểu rằng, khi học Thánh Pháp, không phải chỉ học trên mặt lý thuyết mà còn phải biết ứng dụng vào đời sống, hơn nữa, phải ứng dụng pháp trong từng trường hợp thích hợp. Bên cạnh đó, sự mang ơn đối với Thánh Pháp là phải học và hành theo đúng Chánh Pháp, như vậy mới là sự cúng dường tối thượng.
Phật tử 2:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin đọc bài kinh tâm đắc nhất:
Niệm Sợi Dây Tái Sanh, Kinh Sợi Dây Tái Sanh (Tương III, 333)
Nhân duyên ở Sàvatthi... Ngồi xuống một bên, Tôn giả Rādha bạch Thế Tôn:
- “Ðoạn diệt sợi dây tái sanh. Ðoạn diệt sợi dây tái sanh”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là sợi dây tái sanh? Thế nào là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh?
- Này Rādha, phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với Sắc, như vậy gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.
- Này Rādha, phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với Thọ… đối với Tưởng… đối với các Hành… đối với Thức, đó gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.
Phật tử 3:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin đọc bài kinh tâm đắc nhất:
Niệm Lòng Tin Bất Động, Kinh Cần Phải Khích Lệ (Tăng I, 402)
Này Ānanda, với ai, Thầy có lòng từ mẫn, và với những ai, Thầy nghĩ là nên nghe theo, các bạn bè, thân hữu, bà con hay cùng một huyết thống, với những người ấy, Thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú trong ba điểm.
Thế nào là ba?
- Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với Đức Phật: “Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Mạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.
- Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”.
- Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời”.
Này Ānanda, dầu cho bốn đại chủng có đổi khác, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, nhưng vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Phật không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, thành tựu tịnh tín bất động đối với Đức Phật, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.
Này Ānanda, dầu cho bốn đại chủng có đổi khác, địa đại, thủy đai, hỏa đại, phong đại, nhưng vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.
Này Ānanda, dầu cho bốn đại chủng có đổi khác, địa đại, thủy đai, hỏa đại, phong đại, nhưng vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.
Này Ānanda, với ai Thầy có lòng từ mẫn, và với những ai Thầy nghĩ là nên nghe theo, các bạn bè, thân hữu, bà con hay cùng một huyết thống, với những người ấy, này Ānanda, Thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú trong ba điểm này.
Thưa sư phụ, từ trước đến nay, khi đã biết Phật pháp, mặc dù chưa được biết đến dòng pháp Nikāya này nhưng lúc nào con cũng có lòng tin bất động đối với ba ngôi Tam bảo. Trước đây, khi chưa biết đến Nikāya, khi nghe ai phỉ báng Tam bảo con thấy rất sân hận vì muốn bảo vệ ba ngôi Tam bảo. Lúc nào con cũng nguyện xin Đức Phật cho con tẩy sạch được tham, sân, si, bản ngã và những cấu uế để con có được một tâm thanh tịnh, trong sạch và mát mẻ để xứng đáng là người con chân chánh của Đức Phật.
Phật tử 4:
Định nghĩa Ngũ Uẩn:
- Thân người là Sắc
- Cảm giác là Thọ
- Hình bóng là Tưởng
- Suy nghĩ là Hành
- Rõ biết là Thức
Phật tử 5:
Thưa thầy, thân tứ đại đang ngồi là sắc. Thọ thân và thọ tâm đều dễ chịu. Hình bóng trong con là hình bóng của Đức Phật. Hành suy nghĩ rất biết ơn Đức Phật đã truyền trao Chánh Pháp. Thức rõ biết con đang trình pháp. Con xin đọc hai bài Kinh Pháp Cú:
Như mái nhà vụng lợp,
Mưa liền xâm nhập vào.
Cũng vậy tâm không tu,
Tham dục liền xâm nhập.
Như ngôi nhà khéo lợp,
Mưa không xâm nhập vào.
Cũng vậy tâm khéo tu,
Tham dục không xâm nhập.
(Kinh Pháp Cú – phẩm Song Yếu)
Con hiểu nếu mình có tu thì mình nhiếp phục được tham dục, còn không tu thì không nhiếp phục được tham dục. Đức Phật dạy mình nhiếp phục vì tham dục làm cho mình khổ.
Ít người giữa nhân loại,
Ðến được bờ bên kia
Còn số người còn lại,
Xuôi ngược chạy bờ này.
Những ai hành trì pháp,
Theo chánh pháp khéo dạy,
Sẽ đến bờ bên kia,
Vượt ma lực khó thoát.
(Kinh Pháp Cú – phẩm Hiền Trí)
Phật tử 6:
Niệm Chúng sanh:
Tất cả đều là chúng sanh,
Không ai là người thân của mình,
Chỉ có vô minh, nghiệp và nhân quả.
Hãy buông xả và mau tỉnh thức,
Sống đúng trách nhiệm,
Sống đẹp với đời,
Nhận diện ngũ uẩn,
Thể nhập Thánh Trí,
Diệt tham, sân, si
Thoát ly sanh tử.
Con hiểu là tất cả mọi người đều là chúng sanh, nếu cứ cố chấp nắm chặt thì không thoát ly được sanh tử, cứ tham, sân, si thì sẽ bị đọa vào ba đường ác.
Phật tử 7:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin đọc bài kinh Pháp Cú:
Như bông hoa tươi đẹp,
Có sắc nhưng không hương.
Cũng vậy, lời khéo nói,
Không làm, không kết quả.
Như bông hoa tươi đẹp,
Có sắc lại thêm hương;
Cũng vậy, lời khéo nói,
Có làm, có kết quả.
(Kinh Pháp Cú – phẩm Hoa)
Con hiểu câu kinh này như sau, những lời mình nói ra mà mình thực hiện được thì mới có lợi ích, còn những lời nói ra, dù có khéo léo đến đâu mà không thực hành được thì không có lợi ích gì.
Phật tử 8:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin đọc bài Niệm Chánh Niệm Tỉnh Giác, Kinh Tật Bệnh (Tương IV, 340)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… sống quán thọ trên các cảm thọ... sống quán tâm trên tâm... sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải chánh niệm tỉnh giác khi thời đã đến. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
Thưa sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Đây là bài kinh con rất tâm đắc. Đầu tiên, về Chánh niệm là chánh niệm theo Tứ Niệm Xứ, gồm: niệm Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Niệm Thân gồm: niệm oai nghi, niệm hành động, niệm hơi thở, niệm tứ đại, niệm 32 thể trược, niệm 9 giai đoạn tử thi. Bình thường con thực tập theo Thân hành niệm trong đi, đứng, nằm, ngồi để tập chánh niệm. Vì trước đây, khi chưa vào dòng pháp này, con toàn sống trong vô minh, khi đi, đứng, nằm, ngồi hay thức, nói, im lặng con đều làm theo phản xạ, không để ý vào đó. Cũng vì làm trong vô minh nên trí nhớ của con bị giảm, để đồ ở đâu con cũng hay quên. Từ khi lên đây, nhờ thực tập niệm oai nghi, hành động nên con để ý vào việc làm của con hơn, trí nhớ được cải thiện rõ rệt, ít quên hơn ngày xưa.
Thứ hai, về Niệm thọ, con thường để ý vào ba cảm giác: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Sư phụ thường giảng: “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ”, nên con thường để ý vào cảm thọ. Khi có cảm thọ sân khởi lên thì con biết và dừng lại, không để mình bị nó dẫn đi xa hơn. Cảm thọ tham ăn, tham ngủ cũng thường sanh khởi, khi thấy được thì con dừng và giảm lại.
Thứ ba, về Niệm tâm, con thường để ý xem tâm có tham, sân, si hay không.
Thứ tư, về Niệm pháp, con để ý vào thọ, tưởng, hành, thức. Khi có những hình bóng, suy nghĩ lầm thầm thuộc về ác, bất thiện pháp thì con kéo tâm lại, không để đi xa hơn, làm cho tâm bớt dao động, tránh khỏi việc tạo ác nghiệp.
Về tỉnh giác, con nghĩ thuộc một phần trong Niệm thân. Khi đi tới đi lui, cũng như trong những sinh hoạt hằng ngày thì nhờ sư phụ chỉ dạy, con để ý lại và thấy mình có thể làm chủ bước đi hơn. Trước đi, khi đi tay thường đánh tới đánh lui, cổ và mắt cũng thường hướng ngoại, ngó lung tung. Nhưng khi thực hành chánh niệm trước mặt, ban đầu tuy có sự khó chịu nhưng cố gắng thực tập thì con thấy có sự tiến bộ và bình an hơn, tâm bớt phóng ra ngoài. Con chưa được tỉnh giác nhiều nhưng con đang tập và thấy tốt hơn từng ngày. Lâu nay con cứ nghĩ là mình là chủ của thân này; đi, đứng, nằm, ngồi là do mình điều khiển nhưng giờ con mới biết trước giờ mình toàn làm trong vô minh. Khi có sự nhìn lại con thấy trong con có sự thay đổi nhiều.
Câu cuối bài kinh là “Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải chánh niệm tỉnh giác khi thời đã đến”, theo suy nghĩ nông cạn của con, con nghĩ Đức Phật dạy rằng khi chết cũng phải chánh niệm tỉnh giác. Nhưng bây giờ còn đang sống mà không luyện tập chánh niệm tỉnh giác thì lúc chết làm sao có thể chánh niệm tỉnh giác được, khi đó nghiệp sẽ dẫn mình đi vào những đường ác và mình sẽ khổ. Vì vậy, con cũng đang cố gắng tập chánh niệm tỉnh giác để khi thân hoại mạng chung, nếu chưa được giải thoát thì còn có thể trở lại sanh vào Thiện thú, để tiếp tục tu tập theo dòng pháp này để có thể giải thoát. Bằng không, nếu rơi vào ba đường ác thì không còn cơ hội tu dòng pháp này, như vậy sẽ đau khổ triền miên.
Phật tử 9:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin đọc một đoạn trong bài Niệm Phật Đạo Vô Thượng, Kinh Thành Ấp (Tương II, 185):
Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy một con đường cũ, một đạo lộ cũ do các vị Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường cũ, đạo lộ cũ ấy do các vị Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua?
Đây chính là con đường Thánh Đạo Tám Ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Con đường ấy, này các Tỷ-kheo, là con đường cũ, đạo lộ cũ do các bậc Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua. Ta đã đi theo con đường ấy.
Đi theo con đường ấy, Ta thấy rõ già chết; Ta thấy rõ già, chết tập khởi; Ta thấy rõ già chết đoạn diệt; Ta thấy rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt.
Ta đã đi theo con đường ấy. Đi theo con đường ấy, Ta thấy rõ Sanh... Ta thấy rõ Hữu... Ta thấy rõ Thủ... Ta thấy rõ Ái... Ta thấy rõ Thọ... Ta thấy rõ Xúc... Ta thấy rõ Sáu xứ... Ta thấy rõ Danh sắc... Ta thấy rõ Thức... Ta thấy rõ các Hành; Ta thấy rõ các hành tập khởi; Ta thấy rõ các hành đoạn diệt, Ta thấy rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt.
Cái được Ta biết rõ, Ta đã tuyên bố cho các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ được biết. Này các Tỷ-kheo, tức là Phạm hạnh này, phồn vinh, thịnh vượng, quảng đại, chúng đa, người nhiều và được chư Thiên, loài Người khéo léo trình bày.
Con hiểu rằng Đức Phật có nêu rõ con đường, đạo lộ mà các vị thuở xưa đã đi và đã thành tựu, và Ngài chỉ rõ con đường đó là Bát Thánh Đạo. Khi tu theo đạo lộ ấy, Ngài thấy rõ sự khổ, già, chết, vô thường, luân hồi và nghiệp.
Phật tử 10:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin được trình pháp khi nghe bài Thánh ca Phật Đạo Vô Thượng. Cảm thọ con rất hỷ lạc. Tưởng con có hình bóng Phật đi trước, sư phụ đi sau và toàn thể quý thầy, quý cô cùng đại chúng đi sau. Hành nói rằng đây là một đội quân rất thanh tịnh, nhẹ nhàng, hùng dũng, trong sáng. Thức thấy rõ thọ, tưởng, hành. Khi về, con có cảm xúc với một đoạn kệ trong Phật Đạo Vô Thượng:
Tám Chánh mở đường cho Chánh Trí
Chánh Giải Thoát theo đó khởi sanh,
Hành giải bước lên Thuyền Bát Nhã,
Nhẹ nhàng ra khỏi biển trầm luân.
Tám Chánh chính là con đường Bát Chánh Đạo, những hành giả tu theo Bát Chánh Đạo sẽ được khai mở Chánh trí, nhờ đó, vị này:
- Như thật rõ biết: “Đây là Khổ”
- Như thật rõ biết: “Đây là Khổ Tập”
- Như thật rõ biết: “Đây là Khổ Diệt”
- Như thật rõ biết: “Đây là Khổ Diệt Đạo”.
Và như vậy, hành giả được giác ngộ, thông hiểu được Bốn Thánh Đế; đã giác ngộ, chứng đạt được Bốn Thánh Pháp; đã tinh tấn trong pháp và luật; đã phòng hộ được sáu căn; đã thành tựu được trí ngũ uẩn; thành tựu trí diệt vô minh; thành tựu Bát Thánh Đạo. Hành giả ấy thấy rõ được đây là hữu, đây là thủ, thấy rõ được ái, thọ, xúc, sáu xứ, danh sắc; thấy rõ được hành, thấy rõ được hành tập khởi, thấy rõ được hành đoạn diệt, thấy rõ con đường đưa đến hành đoạn diệt tất cả vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn. Như vậy, thời hữu ái được diệt trừ, tham ái một đời sống tương lai được trừ diệt, những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa. Vị ấy sống an trú, chánh niệm, sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Từ đó: Chánh Giải Thoát theo đó khởi sanh - Hành giải bước lên Thuyền Bát Nhã - Nhẹ nhàng ra khỏi biển trầm luân”. Đây là đoạn kệ tu theo Bát Chánh Đạo, thâu tóm thông suốt cả quá trình tu tập để đưa đến sự đoạn diệt vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn, thoát khỏi sanh tử, thể nhập Niết-bàn.
Xin sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng chỉ dạy con. Hằng ngày, con lúc nào cũng nghĩ mình tuổi già sắp chết, cho nên phải siêng năng tu tập Chánh Pháp để không uổng phí cuộc đời này.
Sư phụ: Trí tuệ rất là sắc bén, bà cụ rất khiêm cung, mỗi lần trình bày điều gì thì sự khiêm cung đều thể hiện trong từng cử chỉ, hành động và lời nói. Đây là một tấm gương lớn cho chúng ta noi theo. Nhiều khi chúng ta còn trẻ, học chưa bao nhiêu nhưng giọng trình pháp không được ngọt ngào, cho nên, đây là một tấm gương cho tất cả học tập theo
Thầy Thiện Huệ:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin trùng tuyên và ôn nhắc lại bài kinh “Thời gian trôi qua”, Tương Ưng Bộ - tập I:
Nhân duyên ở (Sàvatthi ), đứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Thời gian (lặng) trôi qua,
Đêm (ngày luôn) di động,
Tuổi tác buổi thanh xuân,
Tiếp tục bỏ chúng ta.
Những ai chịu quán sát,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy làm các công đức,
Đưa đến (chơn) an lạc.
(Thế Tôn):
(Thời gian lặng) trôi qua,
Đêm (ngày luôn) di động,
Tuổi tác buổi thanh xuân,
Tiếp tục bỏ chúng ta.
Những ai chịu quán sát,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy bỏ mọi thế lợi,
Tâm hướng cầu tịch tịnh.
Theo như con hiểu, trong bài kinh này, Đức Thế Tôn dạy tất cả chúng ta phải luôn ghi nhớ, cảnh tỉnh trước vô thường, vì thời gian trôi qua rất lặng lẽ, âm thầm, nhiều khi chúng ta quên đi điều đó, không nhớ làm những việc lành thiện, không lo tu học trí tuệ, thiền định và công đức, để thời gian trôi qua suôn. Tâm chúng ta đừng để những thế lợi, những tài sản, những vật chất ràng buộc. Phải cố gắng tháo gỡ từ từ, tâm hướng đến sự mong cầu tịch tịnh, tức là hướng đến Niết-bàn, dập tắt tất cả những ngọn lửa tham muốn, nóng giận, si mê. Khi đó, tâm mình mới đạt được bình an, hạnh phúc tối thượng. Luôn cố gắng dập tắt những ngọn lửa tham muốn, nóng giận, si mê và nhắc nhở bản thân rằng vô thường luôn lặng lẽ trôi qua rất nhanh để lo tu học, học pháp, thiền định, làm những việc phước báu, công đức và trí tuệ.
Thầy Pháp Nghĩa:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và toàn thể các bậc Hiền trí đáng kính. Gần đây con có tâm đắc bài kinh “Người”, trong kinh Tương Ưng Bộ - tập II:
1) Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakùta (Linh Thứu).
2) Tại đấy Thế Tôn...
3) Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo...
4) Các xương của một người, này các Tỷ-kheo, lưu chuyển luân hồi có thể lớn như một đồi xương, một chồng xương, một đống xương, như núi Vepulla này, nếu có người thâu lượm xương lại, gìn giữ chúng, không làm chúng hủy hoại.
5) Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.
6) Thế Tôn nói vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Đạo Sư lại nói thêm:
Chồng chất như xương người,
Chỉ sống có một kiếp,
Chất đống bằng hòn núi,
Bậc Đạo Sư nói vậy.
Đống xương ấy được nói,
Lớn như Vepulla
Phía Bắc núi Linh Thứu,
Núi thành Magadha.
Người thấy bốn sự thật,
Với chân chánh trí tuệ,
Khổ và khổ tập khởi,
Sẽ vượt qua đau khổ,
Con đường Thánh tám ngành,
Dẫn đến khổ tịnh chỉ.
Người ấy phải luân chuyển,
Tối đa là bảy lần.
Là vị đoạn tận khổ,
Đoạn diệt mọi kiết sử.
Sau khi đọc bài kinh này, con có cảm nhận về thông điệp của Thế Tôn đối với các vị Tỷ-kheo. Thế Tôn chỉ dạy “Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo...” điểm khởi đầu đối với sự luân hồi của các chúng sanh không có điểm bắt đầu. Tất cả chúng sanh bị tham ái và vô minh trói buộc, cứ mãi ở trong vùng lẩn quẩn của sanh tử, tử sanh. Do sự lưu chuyển luân hồi mãi nên Thế Tôn ví dụ xương của con người chồng chất từ đời này sang đồi khác thành một đống xương, một đồi xương, được ví lớn như núi Veppula – một ngọn núi lớn ở Ấn Độ lúc đó. Nếu cứ ở mãi trong vòng tử sanh lẩn quẩn này thì phải chịu đựng thống khổ, cho nên Thế Tôn dạy phải nhàm chán tất cả đối với thân ngũ uẩn này, bằng không, nếu không cố gắng tu tập thì sẽ ở mãi trong thân ngũ uẩn từ kiếp này qua kiếp khác. Chỉ có con đường chân chánh, thấy được khổ và con đường diệt khổ thì mới vượt qua vòng lẩn quẩn như vậy. Khi đã thấy được đạo lộ thì chỉ còn sanh tử trong cõi Người và Nhân thiên tối đa bảy lần để đoạn tận dòng kiết sử sanh tử, khổ đau này.
Thầy Pháp Tâm:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin được phép đọc một đoạn kệ trong bài kinh con rất tâm đắc, bài kinh có tên Tàyana, Tương Ưng Bộ Kinh – tập I:
Ôi này Bà-la-môn,
Tinh tấn, cắt dòng nước,
Đoạn trừ và tiêu diệt,
Mọi tham đắm dục vọng.
Ẩn sĩ không đoạn dục,
Không chứng được nhứt tâm.
Nếu làm việc phải làm,
Cần kiên trì, tinh tấn.
Xuất gia, nếu biếng nhác,
Càng tung vãi bụi trần.
Không làm, hơn làm dở,
Làm dở sau khổ đau.
Đã làm nên làm tốt,
Làm tốt không khổ đau.
Như nắm vụng lá cỏ,
Có thể bị đứt tay.
Sa-môn hạnh vụng tu,
Kéo đến cõi địa ngục.
Mọi sở hành biếng nhác,
Mọi hạnh tu ô nhiễm,
Ác hạnh trong Phạm hạnh,
Không đưa đến quả lớn.
Con có suy tư về bài kinh như sau, đây là bài kinh Đức Phật khuyên các vị Tỷ-kheo nên học thuộc lòng, vì đây là bài kinh có đầy đủ nghĩa lợi và trình bày đời sống phạm hạnh trong sạch, thanh tịnh, viên mãn. Đức Phật khuyên dạy phải tinh tấn đoạn trừ tất cả pháp bất thiện trong thân tâm chính mình. Thấy được những pháp thiện phải nỗ lực tinh tấn, kiên trì, hướng dẫn tâm, sách tấn tâm để không bỏ rơi các thiện pháp. Đoạn trừ những dục vọng, mong muốn đối với những dục lạc thế gian, làm cho tâm dễ bị đắm nhiễm. Khi xuất gia rồi phải cố gắng tu học, không được biếng nhác, vì biếng nhác sẽ khiến cho mình dễ quay về hưởng thụ, tâm bị dắt dẫn bởi những bụi trần bên ngoài, làm cho tâm trí dễ bị thu hút, mê mờ, lầm lạc, đi sai đường hướng và dễ bị tích tụ thêm nhiều rác bẩn trong tâm. Cần phải nỗ lực, đặt tâm đúng hướng để tẩy trừ tham, sân, si, bản ngã, vô minh hắc ám, mờ tối bên trong để thành tựu viên mãn đời sống thanh tịnh, trong sạch. Bằng không, cũng giống như ví dụ, nắm lá cỏ nếu không khéo léo sẽ dễ bị đứt tay, cũng vậy, khi người tu không nhắm thẳng mục đích đoạn tận tham, sân, si, vô minh, bản ngã, nhiếp phục tham vọng, tham ái đối với năm dục, đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức, mà chìm đắm trong đó thì sẽ tiếp tục lưu chuyển trong sanh tử, đau khổ lâu dài.
Thầy Pháp Cần:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Trong sự tu học kinh tạng Nikāya thì có rất nhiều bài con tâm đắc, hôm nay con xin phép đọc bài mà ngày nào lên tu học quý thầy cũng đọc, mỗi khi nghe con thấy rất hoan hỷ, hân hoan với bài Nguyện hương, đây là những câu trong kinh Pháp Cú, phẩm Hoa:
Hương các loại hoa thơm
Không ngược bay chiều gió
Nhưng hương người đức hạnh
Ngược gió khắp tung bay
Chỉ có bậc chân nhân
Tỏa khắp mọi phương trời.
Hoa chiên đàn, già la,
Hoa sen, hoa vũ quý,
Giữa những hương hoa ấy,
Giới hương là vô thượng.
Ít giá trị hương này,
Hương già la, chiên đàn;
Chỉ hương người đức hạnh,
Tối thượng tỏa Thiên giới.
Nhưng ai có giới hạnh,
An trú không phóng dật,
Chánh trí, chơn giải thoát,
Ác ma không thấy đường.
Như giữa đống rác nhớp,
Quăng bỏ trên đường lớn,
Chỗ ấy hoa sen nở,
Thơm sạch, đẹp ý người.
Cũng vậy giữa quần sanh,
Uế nhiễm, mù, phàm tục,
Ðệ tử bậc Chánh Giác,
Sáng ngời với Tuệ Trí.
(Kinh Pháp Cú – phẩm Hoa)
Theo sự hiểu của con, ngoài đời có những hương hoa đắt nhất nhưng hương thơm ấy không thể bay ngược hướng gió. Nhưng hương của những người đức hạnh thì có thể ngược hướng gió mà tung bay. Con thấy mình rất may mắn khi được gần gũi bậc Thiện tri thức, gần gũi bậc Minh sư, thầy lành, bạn tốt, những bậc giữ gìn đức hạnh, có trải qua thực hành. Con thấy mình rất may mắn khi được gần gũi và học hành đức hạnh ấy. Đối với tự thân con, con thấy mình rất cần học tập và trao dồi đức hạnh, vì trước giờ con sống trong vô minh, lầm lạc, không biết đúng sai khi chưa gặp được Chánh Pháp. “Cũng vậy giữa quần sanh - Uế nhiễm, mù, phàm tục”, con sống giữa thế giới đầy hơn thua, tranh đấu, uế nhiễm, đầy dục vọng, tham sân, không có Chánh Pháp để nương tựa. Khi gặp được Chánh Pháp, thật là may mắn, thật là hạnh phúc, thật là lợi ích cho con, cũng như lợi ích cho các vị đang tu học theo lời dạy nguyên chất của Đức Phật.
Sư cô Huệ Quý:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, kính thưa Ni sư, quý sư cô và đại chúng. Con xin phép đọc bài Duyên Sanh Pháp, trong Căn bản trí 1:
Do duyên có mắt và các sắc sanh khởi Nhãn thức (rõ biết các sắc). Sự hội tụ của ba pháp này là Nhãn xúc. Do duyên có Nhãn xúc nên sanh khởi thọ do nhãn xúc sanh, sắc tưởng, sắc tư.
- Do duyên có tai và các tiếng, sanh khởi Nhĩ thức (nghe rõ, rõ biết các âm thanh). Sự hội tụ của ba pháp này là Nhĩ xúc. Do duyên có Nhĩ xúc nên sanh khởi thọ do nhĩ xúc sanh, thanh tưởng, thanh tư.
- Do duyên có mũi và các mùi, sanh khởi Tỷ thức (rõ biết các mùi). Sự hội tụ của ba pháp này là Tỷ xúc. Do duyên có Tỷ xúc nên sanh khởi thọ do tỷ xúc sanh, hương tưởng, hương tư.
- Do duyên có lưỡi và các vị, sanh khởi Thiệt thức (rõ biết các vị). Sự hội tụ của ba pháp này là Thiệt xúc. Do duyên có Thiệt xúc nên sanh khởi thọ do Thiệt xúc sanh, vị tưởng, vị tư.
- Do duyên có thân và có sự đụng chạm, sanh khởi Thân thức (rõ biết sự đụng chạm). Sự hội tụ của ba pháp này là Thân xúc. Do duyên có Thân xúc nên sanh khởi thọ do thân xúc sanh, xúc tưởng, xúc tư.
- Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành nên sanh khởi Ý thức (rõ biết thọ, tưởng, hành). Sự hội tụ của ba pháp này là Ý xúc. Do duyên có Ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư.
Qua bài này, theo suy nghĩ của bản thân con, con hiểu rằng các pháp hiện hữu trên cuộc đời này đều do duyên của sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; sanh ra sáu thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Từ đó giúp con có cái nhìn rõ hơn về sự rõ biết của mình khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, tất cả đều do duyên sanh ra, không có thật. Mà do duyên sanh thì nó sẽ diệt nên sự nhận biết của mình cũng là do duyên, không có gì là thật, nên không có gì khiến mình dính mắc. Cũng như những dòng cảm xúc vui, buồn, thương, ghét cũng chỉ là do duyên đến rồi đi. Hiểu được như vậy thì không có gì làm cho mình bận lòng, đau khổ nhiều. Tương tự như vậy, những hình bóng, những dòng suy nghĩ trong tâm cũng là pháp duyên sanh. Khi hiểu rõ điều này chúng ta thấy rằng không có gì làm cho mình bận lòng, dính mắc bởi những thứ không có thật. Từ đó, con có được suy nghĩ thoát ra những thứ dính mắc trước giờ, vì không biết, không rõ bản chất của nó mà mình đau khổ nhiều đời, nhiều kiếp. Giờ đây khi biết được rồi thì phải cố gắng tu tập để thoát ra, làm cho thân tâm được an tịnh, lắng dịu. Và sự an tịnh, lắng dịu này phải trong sự rõ biết các pháp, chứ không phải không an tịnh, lắng dịu mà không biết các pháp đang diễn ra thế nào.
Phật tử 12:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin đọc bài kinh con thuộc:
Con chân thành đảnh lễ
Phật Thích Ca Mâu Ni
Đời này con xin nguyện:
“Thấy biết rõ ngũ uẩn,
Thấy biết rõ tự thân,
Thành tựu chánh tri kiến,
Thể nhập vào Thánh quả,
Con nguyện xứng đáng là
Người con Phật chân chánh”.
Con xin đảnh lễ Ngài
Phật Thích Ca Mâu Ni
Bậc đoạn tận tham ái,
Bậc đoạn tận sợ hãi,
Tâm Ngài không dao động,
Tâm không nhiễm thế gian.
Con xin đảnh lễ Ngài
Phật Thích Ca Mâu Ni
Bậc Vô Thượng giải thoát
Ngài là thầy của con
Ngài – vị dẫn đường con
Ngài – vị con quy ngưỡng
Con chân thành quy hướng
Đảnh lễ bậc Vô Thượng
Đảnh lễ bậc Chánh Giác
“Con xin quy phục Ngài,
Con xin làm đệ tử,
Làm con ngoan của Ngài”.
“Con xin quy phục Pháp,
Quy phục Pháp Tám Đúng,
Nguyện thành tựu Tám Đúng”.
“Con xin tôn kính Tăng,
Tôn kính đời Giới Đức,
Nguyện thành tựu Giới Đức”.
Trước khi dự khóa tu, con không muốn tham dự, chỉ muốn ở nhà kiếm tiền, nhưng nhờ mẹ năn nỉ con đi nên giờ đây con thay đổi rất nhiều. Con được lắng nghe, học hỏi nhiều điều. Bình thường, giọng con rất to, hay cãi lời mẹ, nhưng giờ con không còn nạt nộ, hay cãi lời mẹ nữa, con thay đổi được phần nào. Con cũng siêng năng học bài, đọc kinh hơn.
Phật tử 13:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin đọc Định nghĩa Ngũ Uẩn, Định nghĩa 2:
- Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại là Sắc.
- Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là Thọ.
- Bóng dáng thô tế trong tâm là Tưởng.
- Suy nghĩ nói thầm trong tâm là Hành.
- Rõ biết trong ngoài sáu trần là Thức.
Phật tử 14:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng.
Con muốn vạch mặt của con trong những ngày tu vừa qua. Ngày đầu tiên lên con rất vui khi nghe sư phụ giảng về Đức Phật đi khất thực, nhiều lúc không có đồ ăn, phải uống nước trừ cơm. Trong lòng con thấy rất hoan hỷ và phát nguyện chỉ ăn buổi trưa, không ăn sáng, chiều. Khi được mấy cô rủ ra bếp, hôm đó có món bún xào và sầu riêng thì con không kiềm được, mà ăn. Sau đó con đi vào thiền đường, con xá Phật, sám hối. Qua hôm sau, vừa nghe sư phụ giảng xong thì đi ngang bếp có món bún riêu, là món con rất thích, con nguyện trong lòng không ăn và đi luôn.
Con xin đọc một bài kệ trong kinh Pháp Cú, do thầy Nhật Từ dịch:
Thà sống một mình,
Không kết bạn người ngu,
Một mình không ác hạnh,
Như voi sống rừng voi.
(Kinh Pháp Cú – phẩm Voi)
Phật tử 15:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng.
Con cũng là học trò mầm non mới lên đây, con chưa thuộc bài nhưng con xin chia sẻ tâm ý của mình. Khi được thầy Pháp Nghĩa cho con được kết nối vào nhóm Nikāya và đọc được lịch khóa tu, trong đó có câu: “Con trò Minh Thành kính lễ”, lúc đọc những dòng đó, con khóc rất nhiều vì nghĩ rằng ở đời này không phải dễ tìm một vị đạo sư, một người tu chân chánh, xưng “con” với mọi người. Cá nhân con nghĩ rằng một vị đạo sư như vậy sao có thể xưng “con” với một người phàm phu, ngu si, đầy tội lỗi như mình. Con từng đi rất nhiều chùa, biết cũng nhiều thầy và các vị tu hành, con chưa từng thấy ai hạ thấp bản ngã như sư phụ nơi đây, vì vậy, lúc đó con rất xúc động. Khi đó hai đứa cháu nội con hỏi sao con khóc, con trả lời là do con tìm thấy được một vị thầy tu hành rất tốt, rất chân chánh, nhưng thầy lại xưng là “con” với tất cả đệ tử và với một người phàm phu, ngu si như bà nội. Con thật sự thấy rất kính phục sư phụ, cũng như quý thầy, quý cô trên đây. Khi được lên đây tu học, mỗi ngày được thầy cô dẫn dắt, truyền pháp, cũng như các hiền giả tu học nơi này, ai ai cũng xưng “con” hết, khiến cho bản ngã của con thấy rất hổ thẹn, vì mình không xưng hô như vậy được, trong khi nhiều cô lớn tuổi hơn mình rất nhiều lại có thể làm được. Điều này làm con suy nghĩ rất nhiều. Cảm thọ và suy nghĩ của con thấy rất kính phục, nể phục trước sự dẫn dắt của sư phụ, giúp mọi người dẹp bỏ được bản ngã. Vì vậy, con thấy học rất nhiều về bản ngã, về pháp Nikāya này và học nhận diện ngũ uẩn. Mô Phật, con cảm ơn thầy.
Sư phụ: Chúng ta phải cố gắng diệt tận bản ngã.
Bát Chánh nơi mồ chôn bản ngã;
Tứ Đế nơi diệt tận bản ngã;
Tứ Niệm Xứ diệt bản ngã thành mây, khói.
Con nguyện sống với Thánh trí vô ngã, tâm hiền, tâm từ rộng lớn, thương cùng khắp tất cả chúng sanh.
./.