Tinh hoa Nikaya - thuốc xổ của bậc Thánh.
Tinh hoa Nikāya
THUỐC XỔ CỦA BẬC THÁNH
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tinh thần trị bệnh trong Kinh tạng Nikāya PAGEREF _Toc98014977 \h 1
II.Thuốc xổ của bậc Thánh PAGEREF _Toc98014978 \h 1
III.Bốn căn bệnh nội tâm và phương pháp đối trị PAGEREF _Toc98014979 \h 4
1.Bệnh hung dữ PAGEREF _Toc98014980 \h 5
2.Bệnh sân giận PAGEREF _Toc98014981 \h 7
3.Bệnh bản ngã PAGEREF _Toc98014982 \h 8
4.Bệnh vô minh PAGEREF _Toc98014983 \h 10
Tinh thần trị bệnh trong Kinh tạng Nikāya
Đức Phật có nhiều bài kinh hướng dẫn cách trị bệnh theo tinh thần Kinh tạng Nikāya.
Thông thường, một vị thầy thuốc ở ngoài đời sẽ trị được các chứng bệnh của thân, như: bệnh gan, bệnh bao tử, bệnh dạ dày, bệnh thận… tức là các chứng bệnh về thân xác, vật lý nhưng các vị ấy không thể trị được bệnh trong tâm. Bệnh tâm là bệnh của tham lam, nóng giận, vô minh, sân hận, bản ngã – những chứng bệnh này khiến chúng ta trầm kha, làm chúng ta sầu, bi, khổ, ưu, não và lúc nào cũng ở trong trạng thái của cảm xúc phiền bực, nóng bức, nhiệt não, bất an, bức xúc, căng thẳng, lo sợ và khổ đau. Chỉ có bậc thầy thuốc tối thượng gọi là Dược sư mới có thể chữa lành những chứng bệnh trong nội tâm và đó chính là Đức Thế Tôn. Trong kinh còn gọi Ngài là “Vô Thượng Y Vương”, nghĩa là vua của tất cả thầy thuốc, không có vị thầy thuốc nào có thể so sánh bằng, chính vì vậy, chỉ có Đức Phật mới trị được tâm bệnh cho chúng sanh.
Chúng ta lập đàn Dược sư, ngoài việc lễ lạy, tụng niệm thì cần nhớ rằng, Đức Phật còn hướng dẫn mọi người quay trở lại thân tâm chính mình để tra xét, dòm ngó, quán sát để tìm ra nguyên nhân gì làm cho tâm mình bất an; điều gì làm cho tâm mình bức xúc; tại sao tâm mình ở trong trạng thái bực dọc, phiền hà đối với người khác; lí do gì làm cho tâm mình ham muốn, thúc giục, đòi hỏi; nguyên do nào khiến tâm mình cứ giành giựt với nhau, hơn thua với nhau, tranh đấu với nhau? Khi tìm ra được những nguyên nhân đó thì điều chỉnh, tu tập, trị liệu để nhiếp phục và diệt trừ những rác bẩn trong tâm mình. Như vậy mới đúng với tinh thần Dược sư sâu sắc mà Đức Phật muốn truyền trao cho chúng ta.
Thuốc xổ của bậc Thánh
Chúng ta cùng tìm hiểu bài kinh “Y Thuật”, Tăng Chi Bộ Kinh - tập IV, trong đó, “y thuật” nghĩa là kỹ thuật trị liệu, là cách thức mà Đức Phật chữa bệnh cho hữu tình, cho chúng sanh. Đây chính là phương pháp mà Đức Thế Tôn ra toa, bắt mạch, trao thuốc cho những chúng sanh bệnh tham, sân, si, vô minh, bản ngã và khổ đau. Đức Phật nói với các thầy Tỳ-kheo rằng:
“Các y sư, này các Tỷ-kheo, cho thuốc xổ để chận đứng các bệnh khởi lên từ mật, để chận đứng các bệnh khởi lên từ đàm, để chận đứng các bệnh khởi lên từ gió. Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là thuốc xổ. Ta tuyên bố rằng đây không phải là không có, và này các Tỷ-kheo, thuốc xổ này có thành công và cũng có thất bại”.
Đức Phật nói, khi có những người mắc các chứng bệnh về mật, về đàm hay về gió thì các thầy thuốc ở ngoài đời sẽ cho thuốc xổ. Và Ngài tuyên bố rằng “ Thuốc xổ này có khi thành công, cũng có khi thất bại”, nghĩa là không phải lúc nào thầy thuốc trị bệnh cũng hết tuyệt đối 100%. Chỉ nói về thân bệnh thì có khi thầy thuốc trị được, có khi thầy thuốc trị không được. Đức Phật nói tiếp:
“Và này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về thuốc xổ các bậc Thánh, thuốc xổ này thành công, không có thất bại. Do nhân thuốc xổ này nên các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh; các chúng sanh bị già được giải thoát khỏi già, các chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi chết; các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.”
Sau đó, Đức Phật nhắc đến một loại thuốc xổ trị được sanh, già, bệnh, chết. Thuốc xổ này khi được uống vào là hết lo lắng, hết bất an, hết khổ sầu, hết buồn đau và có thể giải thoát khỏi sanh tử.
“--Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
--Này các Tỷ-kheo, thế nào là thuốc xổ bậc Thánh, thuốc xổ này thành công không có thất bại. Do duyên thuốc xổ bậc Thánh này nên các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh... các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não.”
Thế nào là thuốc xổ của bậc Thánh có thể trị liệu được bệnh tham, sân, si , có thể trị sạch được bệnh sầu bi, khổ, ưu não? Thế nào là thuốc xổ của bậc Thánh có thể trị dứt hẳn gốc rễ của hơn thua, giành giật, tranh đấu của khổ sầu trên cuộc đời này? Thế nào là thuốc xổ của bậc Thánh có thể diệt tận những sầu bi, khổ, ưu, não, sanh, lão, bệnh, tử của thế gian? Thế nào là thuốc xổ của bậc Thánh có thể chặn đứng tất cả dòng nước mắt của cuộc đời, làm cho tất cả chúng sanh đang bị tâm bệnh được khỏe mạnh, được an lạc, an tịnh, được an vui, được an lành?
“Với người có chánh kiến, này các Tỷ-kheo, tà kiến bị xổ ra.
Đức Phật tuyên bố rằng, với những người thấy đúng, biết đúng, hiểu đúng về tự thân tâm và đời sống này thì những cái nhìn sai lầm, ngộ nhận sẽ bị xổ ra, bị mửa ra, bị ói ra, bị khạc ra, bị bài tiết ra.
“Các ác bất thiện pháp do duyên tà kiến sanh khởi nên các pháp ấy được xổ ra và các pháp thiện do duyên với chánh kiến đi đến viên mãn trong tu tập.
Những điều ác, bất thiện pháp do cái nhìn sai sanh khởi sẽ được xổ ra, được nhổ ra và những pháp lành từ cái nhìn đúng sẽ đi đến tròn đầy trong sự tu tập. Từ đó, những cái ác, bất thiện pháp do duyên tà kiến sanh khởi sẽ được xổ ra. Tất cả những điều xấu, điều ác, tội lỗi do cái nhìn sai lầm trước kia chất chứa, nuôi dưỡng, tích góp sẽ bị cái nhìn đúng đắn, chân chánh đào thải, làm cho ói ra, mửa ra, trào ra, bài tiết ra, xổ ra. Và những pháp lành, những phước thiện công đức bằng cái nhìn thấy đúng của sự tu học này sẽ đi đến sự tròn đầy,viên mãn trong sự tu tập.
Như vậy, nhờ chánh kiến làm xổ ra những tà kiến; nhờ thấy đúng mà mửa ra những cái sai; nhờ biết đúng mà ói ra những cái biết lệch lạc; nhờ nhận thức đúng đắn về thân tâm, về đời sống này mà những sự thấy biết tà hoại, lầm lạc, mê tín, thần quyền được bài tiết ra, được ói ra, được mửa ra, được nhổ ra, được khạc ra. Từ đó, cái nhìn chân chính về sự thật của thân tâm này bằng nhân quả, bằng nghiệp báo, bằng lý duyên sanh, duyên khởi, bằng tính chất vô thường, bị biến đổi, bị bại hoại… được sáng ra, được tỏ ra, được rạng ra, được chiếu sáng ra trong thân tâm của người thấy đúng về sự thật mà Đức Phật đã dạy. Một khi sự thấy đúng ở trong nội tâm được sáng ra, được tỏ ra, được chiếu ra, được soi rọi ra thì những sự thấy sai lầm trước kia sẽ bị chiếu phá, bị giải trừ, đồng thời những phước báo, những công đức thiện lành sẽ được tăng trưởng, tiến bộ.
Người nghĩ đúng sẽ làm xổ ra những suy nghĩ sai, không chất chứa những suy nghĩ sai lầm. Thay vì chỉ nghĩ về sự lễ lạy, cầu xin thì họ phải cố gắng nhiếp phục những tập khí, phải tu tập, phải làm, chứ không phải chỉ ngồi rồi cầu xin. Ví dụ, từ sáng tới chiều tối chỉ ngồi cầu xin cơm hiện ra trước mặt thì không thể nào cơm tự dưng có sẵn được. Giống như việc ăn cơm, nói vắn tắt “muốn ăn thì lăn vào bếp ”, nghĩa là mình phải nấu; nói xa hơn thì phải đi chợ; nói xa hơn nữa là phải có tiền, vì thế phải làm thì mới có ăn.
Cũng vậy, đối với sự tu học này, không được suy nghĩ một cách đơn giản là cứ lạy để cầu xin là thành tựu mọi việc, mà chúng ta cần phải thực hành theo những gì Đức Phật dạy. Cho nên, nếu suy nghĩ sai thì sẽ không có kết quả, không đưa đến kết quả đúng. Đức Phật nói: “Do người nghĩ đúng, thời những suy nghĩ sai sẽ xổ ra, với người nói đúng thì những lời nói sai bị xổ ra”...
Tương tự, nói đúng thì những lời nói sai bị xổ ra. Hành động đúng thì những hành động sai bị xổ ra. Nuôi mạng đúng (sống đúng) thời những sự nuôi mạng sai lầm sẽ bị xổ ra. Siêng đúng thì những siêng sai sẽ bị xổ ra, bị mửa ra, bị đào thải ra. Chúng ta chú ý rằng, siêng năng cũng có cái đúng chứ không phải cái siêng bao giờ cũng đúng. Bởi lẽ, nhiều khi chúng ta cứ siêng năng tham, sân, si; siêng năng hơn thua, thị phi; siêng năng để đi kiện thưa, đó là những sự siêng năng sai trái, gọi là tà tinh tấn. Với một người quán đúng, tức là người biết quán xét, nhớ nghĩ đúng thì người này sẽ bài tiết những suy nghĩ, những sự quán xét sai lầm ra khỏi thân tâm của mình, đó là chánh niệm sẽ đuổi tà niệm, xổ tà niệm ra. Với một người tập trung tâm ý đúng (định đúng) thì những sự tập trung tâm ý sai lầm sẽ bị mửa ra, bị đào thải ra. Bởi lẽ, nếu tập trung tâm ý để mưu lợi, ích kỷ, chiếm hữu của người khác thì đó cũng là tập trung tâm ý nhưng nó thuộc về tà định, vì vậy, với chánh định thì sẽ xổ ra tà định.
Bốn căn bệnh nội tâm và phương pháp đối trị
Minh Thành sẽ nêu ra bốn căn bệnh trầm kha của tất cả chúng sanh để chúng ta thấy bản thân cũng đang bị bệnh và mình đang rất cần thầy thuốc, cùng như thuốc chữa trị.
Bệnh thứ nhất là bệnh hung dữ. Bình thường khi nhìn ở ngoài sẽ thấy rất hiền nhưng đụng chuyện rồi sẽ biết mặt, bởi vì, toàn là thuốc nổ, lựu đạn, gươm dao ở trong tâm, đụng chuyện sẽ thấy nổ ra, phựt ra, cháy ra, động tay động chân. Bệnh nặng nhất là bệnh hung dữ, bệnh dữ sẽ có thuốc hiền để trị, đây chính là sự thực tập rất quan trọng theo tinh thần Dược sư.
Bệnh thứ hai là bệnh sân giận, người bị bệnh này sẽ dễ dàng giận, bực, quạu, nóng, tức. Cần dùng thuốc tâm từ để điều trị bệnh này.
Bệnh thứ ba là bệnh hơn thua, tranh đua, bản ngã. Đối với bệnh này, cần lấy thuốc khiêm hạ, diệt ngã để chữa trị.
Bệnh cuối cùng cũng là bệnh nặng nhất, đó là bệnh vô minh, si mê.
Bệnh hung dữ
Bệnh đầu tiên chúng ta cần chữa trị là bệnh dữ. Không phải đợi mình la lối, phùng mang trợn mắt mới là bệnh hung dữ, mà khi bên trong cảm xúc của bản thân là sự bức xúc thường xuyên là chúng ta đang mắc bệnh này. Ví dụ, trong sinh hoạt hằng ngày, người có tâm hung dữ đóng cửa thì thô tháo, dọn dẹp tô chén thì mạnh tay, đặt đôi đũa xuống bàn thì rầm rầm, mặt nặng mày nhẹ cả ngày, khiến cho bữa cơm không còn ngon nữa và không ai muốn ăn cơm.
Cho nên, chúng ta phải tập hướng vào trong cảm giác, trong lồng ngực của bản thân và kêu gọi tâm mình: “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương, ngọt ngào. Đừng cay nghiệt nữa!” – những từ này thay thế cho niệm Phật. Cần thường xuyên nhìn vào trong cảm giác, cảm xúc, cảm thọ của bản thân và luôn để tâm, để ý, kêu gọi, nhắc nhở, dạy bảo, huấn luyện cảm xúc, cảm giác, cảm thọ của mình. Bên cạnh đó, phải thường tự nhắc bản thân rằng mình là người tu. Mỗi khi choàng pháp y, mặc áo tràng màu lam phải nhớ mình là người tu, mà người tu thì phải hiền, không được hung dữ. Thường tự nhắc nhở tâm mình:
Mình là người tu đó nghe không!
Tâm tâm niệm niệm khắc ghi lòng,
Sân si, nhân ngã, cao với thấp
Phải quấy, mình người sao sạch trong?
Phải nhớ mình là người tu, nhớ mình đang tu, nhớ mình phải tu, nhớ mình sẽ tu để ngày một tiến bộ trong sự tu học. Ngược lại, cứ mãi hơn thua, phải quấy, thị phi, nhân ngã… thì biết đến bao giờ tâm này mới được sạch trong? Cho nên, chúng ta cần thường xuyên quay lại nhắc nhở cảm giác, cảm xúc trong tâm để lòng mình được nhẹ nhàng, mát dịu, đồng thời tránh xa những cảm giác nóng nảy, bức xúc, phừng phựt. Hãy dành nhiều thời gian trong một ngày để quán chiếu lại cảm giác của bản thân, nhất là cảm giác trong lồng ngực, cần kêu gọi, nhắc nhở nó: “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương, ngọt ngào nha! Đừng kiếm chuyện, đừng sanh sự, đừng quậy, đừng hơn thua, đừng đố kị, đừng ganh tỵ nữa. Hãy hiền, ngoan, dễ thương, nghe lời”. Nhờ thường xuyên nói chuyện với cảm giác, huấn luyện cảm xúc nên nét mặt của chúng ta sẽ luôn được tươi tắn, dễ thương. Thực hành được như vậy hằng ngày là chúng ta đang tưới tẩm vào cây nhân từ, cây hiền đức trong tâm mình.
Dễ chịu làm sao cảm giác hiền lành! Ngọt ngào làm sao cảm giác hiền thiện! Tuyệt vời làm sao cảm giác của hiền hòa! An vui làm sao cảm giác nội tâm hết sức hiền lương! Hiền hậu, hiền đức, mát dịu, ngọt ngào, dễ chịu, thắm đượm, nhẹ nhàng, bình an là những cảm giác hiền hòa, hiền lành, hiền hậu, hiền từ, hiền đức này! Thật là phúc lạc cho ta, thật là may mắn, phúc báu cho ta khi được tham dự đàn Dược sư tối thượng này!
Chúng ta nay đã tìm được thần dược, thánh dược, pháp dược, diệu dược, vô thượng dược! Vô Thượng Y Vương là những cảm giác ngọt ngào, lắng dịu, dễ chịu và dễ thương này. Hãy tưới tẩm cảm thọ này từ đảnh tóc cho đến gót chân để mình được thấm đượm, dạt dào, sung mãn và tràn ngập. Ngay giây phút hiện tại, những cảm giác ngọt ngào, hiền thiện đang thấm đượm trong từng tế bào, từng lỗ chân lông, từng ánh mắt, từng đôi tai của chúng ta và chúng ta có được sự mát mẻ, dễ chịu, dạt dào, ngọt ngào, đó là kết quả thiết thực trong sự tu tập tâm hiền thiện, ngọt ngào và bình yên.
Cứ thực tập như vậy mỗi ngày thì phép lạ sẽ xảy ra trong người của chúng ta. Đầu tiên, phép lạ này sẽ xuất hiện trên đôi môi, khi đó, mình không còn những lời nói cộc cằn, cay cú nữa, mà trên đôi môi sẽ nở ra hoa cúc, nở ra hoa đào, nở ra hoa hồng, nở ra hoa sen. Phép màu này cũng sẽ xuất hiện trên gương mặt, trong ánh mắt, trong mỗi cử chỉ hành động bằng một cảm thọ hiền hòa, từ ái, ngọt ngào. Như vậy, thực tập hàng ngày thì chúng ta sẽ thấy phép màu của Dược sư, phép màu của Đức Thế Tôn.
Trong từng suy nghĩ, từng ánh nhìn, từng lời nói, từng cử chỉ của mình cũng được ngọt ngào. Nhờ đó, con cái sẽ sà vào lòng, ôm mẹ và nói: “Mẹ ơi, con thấy mẹ dễ thương lắm! Mẹ ơi, con thấy mẹ ngọt ngào lắm! Mẹ ơi, con cảm nhận được tình thương của mẹ lan tỏa khắp trong gia đình!”. Tất cả mọi người hãy cố gắng thực tập tâm hiền và tự bản thân mỗi người sẽ cảm nhận được những thay đổi của chính mình, đồng thời những người xung quanh cũng sẽ cảm nhận được từ trường hiền thiện, ngọt ngào đó. Bởi vì, sự hiền thiện ấy ngày càng sung mãn, tràn ngập khắp không gian trong gia đình, khiến cho những sự cộc cằn, dữ dằn, hung hăng được lắng dịu, được chế ngự và nhiếp phục. Như vậy, tâm hiền là thuốc cho bệnh thứ nhất.
Bệnh sân giận
Bệnh thứ hai là bệnh nóng giận. Đức Phật dạy rằng, sân hận sẽ được cảm thọ hiền lành làm cho lắng dịu, an tịnh và từ tâm hiền chúng ta phát triển thành tâm từ.
Hãy nhìn lại và tự soi rọi vào trong tâm để thấy rằng thời gian trước đây chúng ta đã bị những cảm giác của sân hận, tức giận, thù ghét thiêu đốt, hủy hoại cuộc dời của mình. Biết bao lần chúng ta bị cảm giác sân hận thiêu hủy, biết bao lần nước mắt chúng ta đã tuôn rơi, biết bao lần chúng ta đã buồn phiền, tức giận ngay cả đối với người thân thương nhất của mình, như cha mẹ, vợ chồng, anh chị em trong thân tộc. Cũng vì những cảm giác tức giận mà bản thân không kiềm chế được, chưa thấu hiểu được cho nhau và chúng ta hành hạ nhau bằng những cảm giác sân hận, thiêu đốt.
Thế nên, chúng ta là những kẻ rất đáng thương, rất tội nghiệp vì tất cả đều là nạn nhân của những cảm giác tức giận, sân hận thiêu đốt tham, sân, si này. Những cảm giác đó thiêu rụi, đốt cháy, hành hạ, làm cho chúng ta khổ và những người xung quanh mình khổ đau. Phải thấy mình hết sức đáng thương, từ đó sanh khởi cảm giác dào dạt, thấm đượm tình thương đối với tự thân và thương những người xung quanh, vì họ cũng giống mình, người nào cũng là những nạn nhân của những cảm giác sân hận đó, thiêu đốt.
Từ tâm hiền hãy mở rộng đến tâm từ để thấy rằng tất cả mọi người xung quanh và tự thân mình đều là những người đáng thương nhất hành tinh. Tất cả chúng ta rất đáng thương, vì mọi người đều là nạn nhân của tham, sân, si, đều là những bệnh nhân bị bệnh nặng, bị bệnh trầm kha, bị bệnh ở giai đoạn cuối. Nếu không dốc lòng chữa trị thì những dòng nước mắt, những dòng máu sẽ tiếp tục chảy xuống, sự sống chết trong vòng luân hồi này sẽ tiếp diễn bất tận, vô tận, vô cùng và không có ngày chấm dứt.
Vì vậy, hãy phát khởi lên tình thương dạt dào với tự thân, với tha nhân, với khắp hữu tình chúng sanh và cùng nhau thường xuyên thực tập trải tâm từ. Chính sự cảm thông, thấu hiểu, chính tình thương này sẽ giúp những cảm giác bực bội, bức xúc, sân hận, khó chịu, cay cú, cộc cằn được giảm bớt, được lắng dịu và dễ chịu. Mọi người cố gắng thường xuyên thực tập cảm thọ tình thương rộng mở, rộng lớn, dào dạt, trùm khắp không gian và đó chính là phương pháp trị bệnh sân hận.
Bệnh bản ngã
Bệnh thứ ba là bệnh bản ngã, đây là căn bệnh cực kỳ nặng, bệnh thâm căn cố đế từ vô lượng, vô biên kiếp. Lúc nào mình cũng “ta”, lúc nào cũng “tôi”, lúc nào cũng “tao” thì lúc nào mình cũng khổ đau. Chúng ta thấy rằng, việc gắn cái “ta” vào thân này cũng chẳng mang lại vui sướng gì. Ví dụ đơn giản, một người tặng hoa hồng cho mình, vô tình có người khác đi ngang làm rơi bông hồng và giẫm nát bông hồng, lúc đó mình phản ứng ngay “tại sao lại đạp nát bông hồng của tôi?”, ngay lúc đó sân giận sanh khởi cũng vì cho rằng đó là của mình.
Trong cuộc sống vợ chồng cũng vậy, khi xảy ra xích mích, cự cãi, ai cũng muốn phần đúng, phần hơn, ai cũng cho là mình có lý, không ai chịu lắng nghe ai. Khi nói chuyện bằng cái tôi, nói chuyện bằng bản ngã, nói chuyện bằng sự hơn thua thì cuộc nói chuyện chỉ mang lại phiền não, mệt mỏi, giận hờn, chứ không mang lại hòa khí, không mang lại sự yêu thương, cảm thông, không đem lại sự thông minh để giải quyết vấn đề. Bởi vì những lời chúng ta nói ra chính là từ những cảm thọ, suy nghĩ, tâm tư, bản ngã muốn nói cho hơn, nói cho đúng, giành phần thắng về mình và như vậy sẽ không mang đến sự thật, không giải quyết được vấn đề. Hơn nữa, điều đó chỉ khiến chúng ta rơi vào bẫy mồi của sự cao thấp, đúng sai, phải quấy, suốt ngày cứ nghĩ đến cái tôi, cái ta, rồi xem thường người khác.
Thậm chí trong việc đi chùa hay cúng dường, nhiều người không khéo, càng đi chùa thì bản ngã càng tăng lên. Nhiều vị đi chùa lâu năm rồi nghĩ rằng “chùa này là chùa của tôi”, “sư phụ của tôi”, “đồ này tôi cúng”, “chén bát ở chùa này là tôi cúng”, hoặc có ai vô tình làm bể cái chén cũng nổi sân lên bởi vì đó là “đồ của tôi cúng”. Cho nên, nếu làm việc thiện mà bên trong tâm cứ gắn cái tôi vào thì điều đó dễ dàng dẫn đến sự phiền não. Hơn thế nữa, đối với cha mẹ, đôi khi chúng ta cũng sanh bản ngã rồi cự cãi lại cha mẹ. Một khi bản ngã nổi lên thì không từ một ai, một khi sanh khởi ngã mạn lên thì không còn nghĩ đến cha mẹ, thầy bạn, vợ chồng, anh em nữa. Khi đó chỉ biết giành phân thắng, giành phần hơn, giành phần cao, giành phần phải.
Thế nên, đi vào bản ngã chính là đi vào sự dại khờ; nắm chặt bản ngã là nắm chặt vào tâm ngu si; khư khư giữ chặt chấp ngã là rơi vào vực thẳm của tai họa, của hiểm nguy, vì vậy thuốc trị bệnh này là thuốc khiêm cung, khiêm hạ. Trong thời khóa tu học tại Linh Quy Pháp Ấn có nghi thức Sám Hối Diệt Ngã, đây là phương pháp để chúng ta biết hạ thấp, cúi thấp, hạ bản ngã của mình xuống. Thông thường, việc lạy Phật có rất nhiều ý nghĩa và đây là một trong những cách giúp chúng ta rèn luyện sự khiêm hạ, diệt trừ bản ngã. Thế nhưng, nhiều khi chúng ta chỉ làm theo hình thức mà chưa thẩm thấu được công năng, tác dụng, ý nghĩa giá trị và lợi ích của việc lạy Phật. Hãy quán chiếu rằng, mỗi cái lạy là đang hạ thấp cái tôi, cái ta, cái bản ngã xuống để ta tập sống một đời khiêm hạ, khiêm tốn, khiêm cung, khiêm nhường, khiêm nhã.
Chúng ta càng hạ thấp xuống nhiều chừng nào thì đức hạnh chúng ta càng cao chừng ấy, nhờ đó, đời sống chúng ta càng an lành, tình thương càng rộng mở và tất cả mọi người càng quý mến mình nhiều hơn. Ngược lại, càng đưa cao bản ngã lên cao chừng nào thì mình càng đáng ghét, càng khó ưa chừng đó. Còn khi càng hạ thấp bản thân thì mọi người càng thương, càng mến, cầng gần gũi, càng quý trọng chúng ta. Cho nên, cái ta càng lớn thì phước đức càng nhỏ, cái tôi càng trương phình thì công đức của càng teo tóp.
Như vậy, trong sự tu hành này, hãy lấy sự khiêm cung, khiêm hạ, lấy sự đánh ngã, đánh đổ được bản ngã để làm thước đo của sự thực hành Thánh pháp trong giáo lý nhà Phật. Một tu sĩ đã tu học được 3 tháng, 3 năm hay 30 năm, mà bản ngã càng cao thì sẽ càng tẩu hỏa nhập ma, đó là họ đã tu sai, tu lạc. Mặt khác, một Phật tử chỉ mới đi chùa, tu học chưa bao lâu, thậm chí người chưa đi chùa nhưng bản ngã của họ được hạ thấp, ngày càng khiêm cung thì sự tu của họ có kết quả, có công đức và phước báo.
Vì vậy, khi lạy Phật chúng ta hạ thấp đến đâu thì đối với tất cả mọi người cũng giống như vậy. Đối với cha mẹ, ông bà, người thân, bạn bè ngang hàng, thậm chí đối với người thấp hơn mình thì chúng ta đều phải nói lời từ ái, nhẹ nhàng, đều có sự kính trọng, tôn trọng lẫn nhau, dẫu cho đó là người làm công cho chúng ta. Khi chúng ta chế ngự, đánh gục được cái ta trong lòng thì đó là đại công đức, đại trí tuệ, đó là sự thành công trong tu học. Bản ngã này cũng như hai cái sừng trâu, đó là vũ khí sắc bén để húc người, nếu bẻ gãy hai cái sừng trâu này thì con trâu sẽ không còn húc được ai và nó sẽ trở nên hiền ngoan. Cũng vậy, chúng ta tu là phải bẻ gãy bản ngã, hạ gục bản ngã, đánh gục bản ngã, diệt tận cái tôi, đánh đổ cái ta để cho tâm bản ngã này phải cúi đầu, khiêm hạ.
Để diệt trừ bản ngã đối với tấm thân năm uẩn này, chúng ta cần thường xuyên quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trượt, quán chín gia đoạn tử thi, quán chiếu về cát bụi. Ví dụ, một người bị nhiễm dịch bệnh được đưa đi cấp cứu, khi đi được xe đến tận nhà rước, nhưng đến lúc trả về chỉ còn là hũ tro cốt. Vậy, làm gì có cái tôi, cái ta, cái bản ngã nào trong tấm thân này? Tất cả chỉ là ta tự ảo tưởng, chứ không có một tự ngã, cái tôi nào ở đây. Khi thâm nhập được vào trí tuệ vô ngã này thì chúng ta mới hạ được bản ngã xuống. Và khi mình sống với tâm lắng dịu, khiêm hạ, khiêm ái thì đức độ của chúng ta ngày càng cao. Đó chính là phương pháp trị bệnh bản ngã.
Bệnh vô minh
Bệnh cuối cùng là bệnh vô minh, si ám. Vô minh là không sáng suốt, không thấy được sự thật về thân tâm này. Thân tâm này chỉ là ngũ uẩn. Thân này là sắc pháp do đất, nước, gió, lửa tạo thành, do tứ đại tác thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tan nát, biến hoại, hủy hoại, hoại diệt. Hàng ngày thân này phải được cơm cháo, nước, không khí đưa vào, chỉ cần thiếu một thứ, sẽ làm thân này nằm ì ra, ngã xuống, đổ xuống một cách hoàn toàn và trở thành một khúc cây vô dụng, vô tri.
Trong thân xác này (sắc) chất chứa những cảm giác (thọ), những suy nghĩ (hành), những hình bóng trong tâm (tưởng) và những nhận thức (thức). Như vậy, thân tâm này chỉ là năm tổ hợp được kết hợp do duyên sanh. Chỉ cần thiếu một tổ hợp thì ngũ uẩn sẽ rã nát. Cho nên nói, ngũ uẩn này có bản chất là vô thường, là đổi thay, là biến dịch, là tan hoại.
Bản chất cuộc đời là trống rỗng,
Bản chất cuộc đời là trống không,
Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,
Dễ dàng tan biến vào hư không.
(Nghi thức tu học Nikāya – Sám Hối Diệt Ngã)
Chúng ta nhìn lại để thấy hàng triệu người nhiễm dịch bệnh Covid-19 trên thế giới đã ra đi, tất cả đều trở thành cát bụi. Thế nhưng, con người chúng ta hễ còn một hơi thở là còn tham, còn đòi hỏi, còn tìm cầu, còn khát khao, còn thèm muốn, còn ưa thích. Còn một hơi thở là còn nóng giận, còn sân hận, còn bản ngã. Còn một chút sự sống là còn ta đây, còn giành giật. Đó là sự vô minh, dại khờ, si mê, ngu muội, mù lòa của chúng ta nên cả đời mình cứ sống ở trong bóng tối, không thấy được bản chất của thế gian này.
Nếu thấy được bản chất vô thường, khổ, vô ngã của cuộc sống này thì tâm của chúng ta sẽ được nhẹ nhàng, tham lam sẽ được xa lìa, nóng giận sẽ được lắng dịu, si mê sẽ bị phá sạch, bản ngã sẽ đi đến diệt vong. Đồng thời, tâm của chúng ta sẽ tràn ngập cảm thọ của từ ái, xót thương, cảm thông, tha thứ, chia sẻ, bao dung, độ lượng, rộng lớn. Đó là tinh thần từ bi, trí tuệ của đạo Phật và cũng là thuốc xổ của các bậc Thánh.
Này các Tỷ-kheo, đây là thuốc xổ bậc Thánh, thuốc xổ này chỉ thành công, không thất bại. Do nhân thuốc xổ này nên các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh; các chúng sanh bị già được giải thoát khỏi già, các chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi chết; các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. (Tăng Chi Bộ kinh – Tập IV, 10. Chương Mười Pháp, XI. Phẩm Sa-Môn Tưởng, bài kinh Y Thuật)
Như vậy, nhờ thuốc xổ của bậc Thánh này nên những húng sanh bị những cảm thọ hung hăng, dữ dằn sẽ được hiền thiện. Nhờ thuốc xổ của bậc Thánh này nên những chúng sanh bị sân hận thiêu đốt, đốt cháy, thiêu rụi sẽ được mát mẻ, mát dịu, an lành. Nhờ thuốc xổ thần diệu tối thượng của bậc Thánh này nên tâm bản ngã, hơn thua, thù hận sẽ được chuyển hóa thành nội tâm khiêm hạ, nhu hòa, khiêm tốn, từ ái. Và nhờ thuốc xổ của bậc Thánh này nên những nội tâm đầy vô minh, đầy hôn ám, đầy dại khờ, đầy ngu muội, chìm đắm trong bóng đêm sẽ được trí tuệ, sẽ được ánh sáng, sẽ được quang minh, sẽ được bình yên, hạnh phúc.
./.
THUỐC XỔ CỦA BẬC THÁNH
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tinh thần trị bệnh trong Kinh tạng Nikāya PAGEREF _Toc98014977 \h 1
II.Thuốc xổ của bậc Thánh PAGEREF _Toc98014978 \h 1
III.Bốn căn bệnh nội tâm và phương pháp đối trị PAGEREF _Toc98014979 \h 4
1.Bệnh hung dữ PAGEREF _Toc98014980 \h 5
2.Bệnh sân giận PAGEREF _Toc98014981 \h 7
3.Bệnh bản ngã PAGEREF _Toc98014982 \h 8
4.Bệnh vô minh PAGEREF _Toc98014983 \h 10
Tinh thần trị bệnh trong Kinh tạng Nikāya
Đức Phật có nhiều bài kinh hướng dẫn cách trị bệnh theo tinh thần Kinh tạng Nikāya.
Thông thường, một vị thầy thuốc ở ngoài đời sẽ trị được các chứng bệnh của thân, như: bệnh gan, bệnh bao tử, bệnh dạ dày, bệnh thận… tức là các chứng bệnh về thân xác, vật lý nhưng các vị ấy không thể trị được bệnh trong tâm. Bệnh tâm là bệnh của tham lam, nóng giận, vô minh, sân hận, bản ngã – những chứng bệnh này khiến chúng ta trầm kha, làm chúng ta sầu, bi, khổ, ưu, não và lúc nào cũng ở trong trạng thái của cảm xúc phiền bực, nóng bức, nhiệt não, bất an, bức xúc, căng thẳng, lo sợ và khổ đau. Chỉ có bậc thầy thuốc tối thượng gọi là Dược sư mới có thể chữa lành những chứng bệnh trong nội tâm và đó chính là Đức Thế Tôn. Trong kinh còn gọi Ngài là “Vô Thượng Y Vương”, nghĩa là vua của tất cả thầy thuốc, không có vị thầy thuốc nào có thể so sánh bằng, chính vì vậy, chỉ có Đức Phật mới trị được tâm bệnh cho chúng sanh.
Chúng ta lập đàn Dược sư, ngoài việc lễ lạy, tụng niệm thì cần nhớ rằng, Đức Phật còn hướng dẫn mọi người quay trở lại thân tâm chính mình để tra xét, dòm ngó, quán sát để tìm ra nguyên nhân gì làm cho tâm mình bất an; điều gì làm cho tâm mình bức xúc; tại sao tâm mình ở trong trạng thái bực dọc, phiền hà đối với người khác; lí do gì làm cho tâm mình ham muốn, thúc giục, đòi hỏi; nguyên do nào khiến tâm mình cứ giành giựt với nhau, hơn thua với nhau, tranh đấu với nhau? Khi tìm ra được những nguyên nhân đó thì điều chỉnh, tu tập, trị liệu để nhiếp phục và diệt trừ những rác bẩn trong tâm mình. Như vậy mới đúng với tinh thần Dược sư sâu sắc mà Đức Phật muốn truyền trao cho chúng ta.
Thuốc xổ của bậc Thánh
Chúng ta cùng tìm hiểu bài kinh “Y Thuật”, Tăng Chi Bộ Kinh - tập IV, trong đó, “y thuật” nghĩa là kỹ thuật trị liệu, là cách thức mà Đức Phật chữa bệnh cho hữu tình, cho chúng sanh. Đây chính là phương pháp mà Đức Thế Tôn ra toa, bắt mạch, trao thuốc cho những chúng sanh bệnh tham, sân, si, vô minh, bản ngã và khổ đau. Đức Phật nói với các thầy Tỳ-kheo rằng:
“Các y sư, này các Tỷ-kheo, cho thuốc xổ để chận đứng các bệnh khởi lên từ mật, để chận đứng các bệnh khởi lên từ đàm, để chận đứng các bệnh khởi lên từ gió. Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là thuốc xổ. Ta tuyên bố rằng đây không phải là không có, và này các Tỷ-kheo, thuốc xổ này có thành công và cũng có thất bại”.
Đức Phật nói, khi có những người mắc các chứng bệnh về mật, về đàm hay về gió thì các thầy thuốc ở ngoài đời sẽ cho thuốc xổ. Và Ngài tuyên bố rằng “ Thuốc xổ này có khi thành công, cũng có khi thất bại”, nghĩa là không phải lúc nào thầy thuốc trị bệnh cũng hết tuyệt đối 100%. Chỉ nói về thân bệnh thì có khi thầy thuốc trị được, có khi thầy thuốc trị không được. Đức Phật nói tiếp:
“Và này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về thuốc xổ các bậc Thánh, thuốc xổ này thành công, không có thất bại. Do nhân thuốc xổ này nên các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh; các chúng sanh bị già được giải thoát khỏi già, các chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi chết; các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.”
Sau đó, Đức Phật nhắc đến một loại thuốc xổ trị được sanh, già, bệnh, chết. Thuốc xổ này khi được uống vào là hết lo lắng, hết bất an, hết khổ sầu, hết buồn đau và có thể giải thoát khỏi sanh tử.
“--Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
--Này các Tỷ-kheo, thế nào là thuốc xổ bậc Thánh, thuốc xổ này thành công không có thất bại. Do duyên thuốc xổ bậc Thánh này nên các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh... các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não.”
Thế nào là thuốc xổ của bậc Thánh có thể trị liệu được bệnh tham, sân, si , có thể trị sạch được bệnh sầu bi, khổ, ưu não? Thế nào là thuốc xổ của bậc Thánh có thể trị dứt hẳn gốc rễ của hơn thua, giành giật, tranh đấu của khổ sầu trên cuộc đời này? Thế nào là thuốc xổ của bậc Thánh có thể diệt tận những sầu bi, khổ, ưu, não, sanh, lão, bệnh, tử của thế gian? Thế nào là thuốc xổ của bậc Thánh có thể chặn đứng tất cả dòng nước mắt của cuộc đời, làm cho tất cả chúng sanh đang bị tâm bệnh được khỏe mạnh, được an lạc, an tịnh, được an vui, được an lành?
“Với người có chánh kiến, này các Tỷ-kheo, tà kiến bị xổ ra.
Đức Phật tuyên bố rằng, với những người thấy đúng, biết đúng, hiểu đúng về tự thân tâm và đời sống này thì những cái nhìn sai lầm, ngộ nhận sẽ bị xổ ra, bị mửa ra, bị ói ra, bị khạc ra, bị bài tiết ra.
“Các ác bất thiện pháp do duyên tà kiến sanh khởi nên các pháp ấy được xổ ra và các pháp thiện do duyên với chánh kiến đi đến viên mãn trong tu tập.
Những điều ác, bất thiện pháp do cái nhìn sai sanh khởi sẽ được xổ ra, được nhổ ra và những pháp lành từ cái nhìn đúng sẽ đi đến tròn đầy trong sự tu tập. Từ đó, những cái ác, bất thiện pháp do duyên tà kiến sanh khởi sẽ được xổ ra. Tất cả những điều xấu, điều ác, tội lỗi do cái nhìn sai lầm trước kia chất chứa, nuôi dưỡng, tích góp sẽ bị cái nhìn đúng đắn, chân chánh đào thải, làm cho ói ra, mửa ra, trào ra, bài tiết ra, xổ ra. Và những pháp lành, những phước thiện công đức bằng cái nhìn thấy đúng của sự tu học này sẽ đi đến sự tròn đầy,viên mãn trong sự tu tập.
Như vậy, nhờ chánh kiến làm xổ ra những tà kiến; nhờ thấy đúng mà mửa ra những cái sai; nhờ biết đúng mà ói ra những cái biết lệch lạc; nhờ nhận thức đúng đắn về thân tâm, về đời sống này mà những sự thấy biết tà hoại, lầm lạc, mê tín, thần quyền được bài tiết ra, được ói ra, được mửa ra, được nhổ ra, được khạc ra. Từ đó, cái nhìn chân chính về sự thật của thân tâm này bằng nhân quả, bằng nghiệp báo, bằng lý duyên sanh, duyên khởi, bằng tính chất vô thường, bị biến đổi, bị bại hoại… được sáng ra, được tỏ ra, được rạng ra, được chiếu sáng ra trong thân tâm của người thấy đúng về sự thật mà Đức Phật đã dạy. Một khi sự thấy đúng ở trong nội tâm được sáng ra, được tỏ ra, được chiếu ra, được soi rọi ra thì những sự thấy sai lầm trước kia sẽ bị chiếu phá, bị giải trừ, đồng thời những phước báo, những công đức thiện lành sẽ được tăng trưởng, tiến bộ.
Người nghĩ đúng sẽ làm xổ ra những suy nghĩ sai, không chất chứa những suy nghĩ sai lầm. Thay vì chỉ nghĩ về sự lễ lạy, cầu xin thì họ phải cố gắng nhiếp phục những tập khí, phải tu tập, phải làm, chứ không phải chỉ ngồi rồi cầu xin. Ví dụ, từ sáng tới chiều tối chỉ ngồi cầu xin cơm hiện ra trước mặt thì không thể nào cơm tự dưng có sẵn được. Giống như việc ăn cơm, nói vắn tắt “muốn ăn thì lăn vào bếp ”, nghĩa là mình phải nấu; nói xa hơn thì phải đi chợ; nói xa hơn nữa là phải có tiền, vì thế phải làm thì mới có ăn.
Cũng vậy, đối với sự tu học này, không được suy nghĩ một cách đơn giản là cứ lạy để cầu xin là thành tựu mọi việc, mà chúng ta cần phải thực hành theo những gì Đức Phật dạy. Cho nên, nếu suy nghĩ sai thì sẽ không có kết quả, không đưa đến kết quả đúng. Đức Phật nói: “Do người nghĩ đúng, thời những suy nghĩ sai sẽ xổ ra, với người nói đúng thì những lời nói sai bị xổ ra”...
Tương tự, nói đúng thì những lời nói sai bị xổ ra. Hành động đúng thì những hành động sai bị xổ ra. Nuôi mạng đúng (sống đúng) thời những sự nuôi mạng sai lầm sẽ bị xổ ra. Siêng đúng thì những siêng sai sẽ bị xổ ra, bị mửa ra, bị đào thải ra. Chúng ta chú ý rằng, siêng năng cũng có cái đúng chứ không phải cái siêng bao giờ cũng đúng. Bởi lẽ, nhiều khi chúng ta cứ siêng năng tham, sân, si; siêng năng hơn thua, thị phi; siêng năng để đi kiện thưa, đó là những sự siêng năng sai trái, gọi là tà tinh tấn. Với một người quán đúng, tức là người biết quán xét, nhớ nghĩ đúng thì người này sẽ bài tiết những suy nghĩ, những sự quán xét sai lầm ra khỏi thân tâm của mình, đó là chánh niệm sẽ đuổi tà niệm, xổ tà niệm ra. Với một người tập trung tâm ý đúng (định đúng) thì những sự tập trung tâm ý sai lầm sẽ bị mửa ra, bị đào thải ra. Bởi lẽ, nếu tập trung tâm ý để mưu lợi, ích kỷ, chiếm hữu của người khác thì đó cũng là tập trung tâm ý nhưng nó thuộc về tà định, vì vậy, với chánh định thì sẽ xổ ra tà định.
Bốn căn bệnh nội tâm và phương pháp đối trị
Minh Thành sẽ nêu ra bốn căn bệnh trầm kha của tất cả chúng sanh để chúng ta thấy bản thân cũng đang bị bệnh và mình đang rất cần thầy thuốc, cùng như thuốc chữa trị.
Bệnh thứ nhất là bệnh hung dữ. Bình thường khi nhìn ở ngoài sẽ thấy rất hiền nhưng đụng chuyện rồi sẽ biết mặt, bởi vì, toàn là thuốc nổ, lựu đạn, gươm dao ở trong tâm, đụng chuyện sẽ thấy nổ ra, phựt ra, cháy ra, động tay động chân. Bệnh nặng nhất là bệnh hung dữ, bệnh dữ sẽ có thuốc hiền để trị, đây chính là sự thực tập rất quan trọng theo tinh thần Dược sư.
Bệnh thứ hai là bệnh sân giận, người bị bệnh này sẽ dễ dàng giận, bực, quạu, nóng, tức. Cần dùng thuốc tâm từ để điều trị bệnh này.
Bệnh thứ ba là bệnh hơn thua, tranh đua, bản ngã. Đối với bệnh này, cần lấy thuốc khiêm hạ, diệt ngã để chữa trị.
Bệnh cuối cùng cũng là bệnh nặng nhất, đó là bệnh vô minh, si mê.
Bệnh hung dữ
Bệnh đầu tiên chúng ta cần chữa trị là bệnh dữ. Không phải đợi mình la lối, phùng mang trợn mắt mới là bệnh hung dữ, mà khi bên trong cảm xúc của bản thân là sự bức xúc thường xuyên là chúng ta đang mắc bệnh này. Ví dụ, trong sinh hoạt hằng ngày, người có tâm hung dữ đóng cửa thì thô tháo, dọn dẹp tô chén thì mạnh tay, đặt đôi đũa xuống bàn thì rầm rầm, mặt nặng mày nhẹ cả ngày, khiến cho bữa cơm không còn ngon nữa và không ai muốn ăn cơm.
Cho nên, chúng ta phải tập hướng vào trong cảm giác, trong lồng ngực của bản thân và kêu gọi tâm mình: “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương, ngọt ngào. Đừng cay nghiệt nữa!” – những từ này thay thế cho niệm Phật. Cần thường xuyên nhìn vào trong cảm giác, cảm xúc, cảm thọ của bản thân và luôn để tâm, để ý, kêu gọi, nhắc nhở, dạy bảo, huấn luyện cảm xúc, cảm giác, cảm thọ của mình. Bên cạnh đó, phải thường tự nhắc bản thân rằng mình là người tu. Mỗi khi choàng pháp y, mặc áo tràng màu lam phải nhớ mình là người tu, mà người tu thì phải hiền, không được hung dữ. Thường tự nhắc nhở tâm mình:
Mình là người tu đó nghe không!
Tâm tâm niệm niệm khắc ghi lòng,
Sân si, nhân ngã, cao với thấp
Phải quấy, mình người sao sạch trong?
Phải nhớ mình là người tu, nhớ mình đang tu, nhớ mình phải tu, nhớ mình sẽ tu để ngày một tiến bộ trong sự tu học. Ngược lại, cứ mãi hơn thua, phải quấy, thị phi, nhân ngã… thì biết đến bao giờ tâm này mới được sạch trong? Cho nên, chúng ta cần thường xuyên quay lại nhắc nhở cảm giác, cảm xúc trong tâm để lòng mình được nhẹ nhàng, mát dịu, đồng thời tránh xa những cảm giác nóng nảy, bức xúc, phừng phựt. Hãy dành nhiều thời gian trong một ngày để quán chiếu lại cảm giác của bản thân, nhất là cảm giác trong lồng ngực, cần kêu gọi, nhắc nhở nó: “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương, ngọt ngào nha! Đừng kiếm chuyện, đừng sanh sự, đừng quậy, đừng hơn thua, đừng đố kị, đừng ganh tỵ nữa. Hãy hiền, ngoan, dễ thương, nghe lời”. Nhờ thường xuyên nói chuyện với cảm giác, huấn luyện cảm xúc nên nét mặt của chúng ta sẽ luôn được tươi tắn, dễ thương. Thực hành được như vậy hằng ngày là chúng ta đang tưới tẩm vào cây nhân từ, cây hiền đức trong tâm mình.
Dễ chịu làm sao cảm giác hiền lành! Ngọt ngào làm sao cảm giác hiền thiện! Tuyệt vời làm sao cảm giác của hiền hòa! An vui làm sao cảm giác nội tâm hết sức hiền lương! Hiền hậu, hiền đức, mát dịu, ngọt ngào, dễ chịu, thắm đượm, nhẹ nhàng, bình an là những cảm giác hiền hòa, hiền lành, hiền hậu, hiền từ, hiền đức này! Thật là phúc lạc cho ta, thật là may mắn, phúc báu cho ta khi được tham dự đàn Dược sư tối thượng này!
Chúng ta nay đã tìm được thần dược, thánh dược, pháp dược, diệu dược, vô thượng dược! Vô Thượng Y Vương là những cảm giác ngọt ngào, lắng dịu, dễ chịu và dễ thương này. Hãy tưới tẩm cảm thọ này từ đảnh tóc cho đến gót chân để mình được thấm đượm, dạt dào, sung mãn và tràn ngập. Ngay giây phút hiện tại, những cảm giác ngọt ngào, hiền thiện đang thấm đượm trong từng tế bào, từng lỗ chân lông, từng ánh mắt, từng đôi tai của chúng ta và chúng ta có được sự mát mẻ, dễ chịu, dạt dào, ngọt ngào, đó là kết quả thiết thực trong sự tu tập tâm hiền thiện, ngọt ngào và bình yên.
Cứ thực tập như vậy mỗi ngày thì phép lạ sẽ xảy ra trong người của chúng ta. Đầu tiên, phép lạ này sẽ xuất hiện trên đôi môi, khi đó, mình không còn những lời nói cộc cằn, cay cú nữa, mà trên đôi môi sẽ nở ra hoa cúc, nở ra hoa đào, nở ra hoa hồng, nở ra hoa sen. Phép màu này cũng sẽ xuất hiện trên gương mặt, trong ánh mắt, trong mỗi cử chỉ hành động bằng một cảm thọ hiền hòa, từ ái, ngọt ngào. Như vậy, thực tập hàng ngày thì chúng ta sẽ thấy phép màu của Dược sư, phép màu của Đức Thế Tôn.
Trong từng suy nghĩ, từng ánh nhìn, từng lời nói, từng cử chỉ của mình cũng được ngọt ngào. Nhờ đó, con cái sẽ sà vào lòng, ôm mẹ và nói: “Mẹ ơi, con thấy mẹ dễ thương lắm! Mẹ ơi, con thấy mẹ ngọt ngào lắm! Mẹ ơi, con cảm nhận được tình thương của mẹ lan tỏa khắp trong gia đình!”. Tất cả mọi người hãy cố gắng thực tập tâm hiền và tự bản thân mỗi người sẽ cảm nhận được những thay đổi của chính mình, đồng thời những người xung quanh cũng sẽ cảm nhận được từ trường hiền thiện, ngọt ngào đó. Bởi vì, sự hiền thiện ấy ngày càng sung mãn, tràn ngập khắp không gian trong gia đình, khiến cho những sự cộc cằn, dữ dằn, hung hăng được lắng dịu, được chế ngự và nhiếp phục. Như vậy, tâm hiền là thuốc cho bệnh thứ nhất.
Bệnh sân giận
Bệnh thứ hai là bệnh nóng giận. Đức Phật dạy rằng, sân hận sẽ được cảm thọ hiền lành làm cho lắng dịu, an tịnh và từ tâm hiền chúng ta phát triển thành tâm từ.
Hãy nhìn lại và tự soi rọi vào trong tâm để thấy rằng thời gian trước đây chúng ta đã bị những cảm giác của sân hận, tức giận, thù ghét thiêu đốt, hủy hoại cuộc dời của mình. Biết bao lần chúng ta bị cảm giác sân hận thiêu hủy, biết bao lần nước mắt chúng ta đã tuôn rơi, biết bao lần chúng ta đã buồn phiền, tức giận ngay cả đối với người thân thương nhất của mình, như cha mẹ, vợ chồng, anh chị em trong thân tộc. Cũng vì những cảm giác tức giận mà bản thân không kiềm chế được, chưa thấu hiểu được cho nhau và chúng ta hành hạ nhau bằng những cảm giác sân hận, thiêu đốt.
Thế nên, chúng ta là những kẻ rất đáng thương, rất tội nghiệp vì tất cả đều là nạn nhân của những cảm giác tức giận, sân hận thiêu đốt tham, sân, si này. Những cảm giác đó thiêu rụi, đốt cháy, hành hạ, làm cho chúng ta khổ và những người xung quanh mình khổ đau. Phải thấy mình hết sức đáng thương, từ đó sanh khởi cảm giác dào dạt, thấm đượm tình thương đối với tự thân và thương những người xung quanh, vì họ cũng giống mình, người nào cũng là những nạn nhân của những cảm giác sân hận đó, thiêu đốt.
Từ tâm hiền hãy mở rộng đến tâm từ để thấy rằng tất cả mọi người xung quanh và tự thân mình đều là những người đáng thương nhất hành tinh. Tất cả chúng ta rất đáng thương, vì mọi người đều là nạn nhân của tham, sân, si, đều là những bệnh nhân bị bệnh nặng, bị bệnh trầm kha, bị bệnh ở giai đoạn cuối. Nếu không dốc lòng chữa trị thì những dòng nước mắt, những dòng máu sẽ tiếp tục chảy xuống, sự sống chết trong vòng luân hồi này sẽ tiếp diễn bất tận, vô tận, vô cùng và không có ngày chấm dứt.
Vì vậy, hãy phát khởi lên tình thương dạt dào với tự thân, với tha nhân, với khắp hữu tình chúng sanh và cùng nhau thường xuyên thực tập trải tâm từ. Chính sự cảm thông, thấu hiểu, chính tình thương này sẽ giúp những cảm giác bực bội, bức xúc, sân hận, khó chịu, cay cú, cộc cằn được giảm bớt, được lắng dịu và dễ chịu. Mọi người cố gắng thường xuyên thực tập cảm thọ tình thương rộng mở, rộng lớn, dào dạt, trùm khắp không gian và đó chính là phương pháp trị bệnh sân hận.
Bệnh bản ngã
Bệnh thứ ba là bệnh bản ngã, đây là căn bệnh cực kỳ nặng, bệnh thâm căn cố đế từ vô lượng, vô biên kiếp. Lúc nào mình cũng “ta”, lúc nào cũng “tôi”, lúc nào cũng “tao” thì lúc nào mình cũng khổ đau. Chúng ta thấy rằng, việc gắn cái “ta” vào thân này cũng chẳng mang lại vui sướng gì. Ví dụ đơn giản, một người tặng hoa hồng cho mình, vô tình có người khác đi ngang làm rơi bông hồng và giẫm nát bông hồng, lúc đó mình phản ứng ngay “tại sao lại đạp nát bông hồng của tôi?”, ngay lúc đó sân giận sanh khởi cũng vì cho rằng đó là của mình.
Trong cuộc sống vợ chồng cũng vậy, khi xảy ra xích mích, cự cãi, ai cũng muốn phần đúng, phần hơn, ai cũng cho là mình có lý, không ai chịu lắng nghe ai. Khi nói chuyện bằng cái tôi, nói chuyện bằng bản ngã, nói chuyện bằng sự hơn thua thì cuộc nói chuyện chỉ mang lại phiền não, mệt mỏi, giận hờn, chứ không mang lại hòa khí, không mang lại sự yêu thương, cảm thông, không đem lại sự thông minh để giải quyết vấn đề. Bởi vì những lời chúng ta nói ra chính là từ những cảm thọ, suy nghĩ, tâm tư, bản ngã muốn nói cho hơn, nói cho đúng, giành phần thắng về mình và như vậy sẽ không mang đến sự thật, không giải quyết được vấn đề. Hơn nữa, điều đó chỉ khiến chúng ta rơi vào bẫy mồi của sự cao thấp, đúng sai, phải quấy, suốt ngày cứ nghĩ đến cái tôi, cái ta, rồi xem thường người khác.
Thậm chí trong việc đi chùa hay cúng dường, nhiều người không khéo, càng đi chùa thì bản ngã càng tăng lên. Nhiều vị đi chùa lâu năm rồi nghĩ rằng “chùa này là chùa của tôi”, “sư phụ của tôi”, “đồ này tôi cúng”, “chén bát ở chùa này là tôi cúng”, hoặc có ai vô tình làm bể cái chén cũng nổi sân lên bởi vì đó là “đồ của tôi cúng”. Cho nên, nếu làm việc thiện mà bên trong tâm cứ gắn cái tôi vào thì điều đó dễ dàng dẫn đến sự phiền não. Hơn thế nữa, đối với cha mẹ, đôi khi chúng ta cũng sanh bản ngã rồi cự cãi lại cha mẹ. Một khi bản ngã nổi lên thì không từ một ai, một khi sanh khởi ngã mạn lên thì không còn nghĩ đến cha mẹ, thầy bạn, vợ chồng, anh em nữa. Khi đó chỉ biết giành phân thắng, giành phần hơn, giành phần cao, giành phần phải.
Thế nên, đi vào bản ngã chính là đi vào sự dại khờ; nắm chặt bản ngã là nắm chặt vào tâm ngu si; khư khư giữ chặt chấp ngã là rơi vào vực thẳm của tai họa, của hiểm nguy, vì vậy thuốc trị bệnh này là thuốc khiêm cung, khiêm hạ. Trong thời khóa tu học tại Linh Quy Pháp Ấn có nghi thức Sám Hối Diệt Ngã, đây là phương pháp để chúng ta biết hạ thấp, cúi thấp, hạ bản ngã của mình xuống. Thông thường, việc lạy Phật có rất nhiều ý nghĩa và đây là một trong những cách giúp chúng ta rèn luyện sự khiêm hạ, diệt trừ bản ngã. Thế nhưng, nhiều khi chúng ta chỉ làm theo hình thức mà chưa thẩm thấu được công năng, tác dụng, ý nghĩa giá trị và lợi ích của việc lạy Phật. Hãy quán chiếu rằng, mỗi cái lạy là đang hạ thấp cái tôi, cái ta, cái bản ngã xuống để ta tập sống một đời khiêm hạ, khiêm tốn, khiêm cung, khiêm nhường, khiêm nhã.
Chúng ta càng hạ thấp xuống nhiều chừng nào thì đức hạnh chúng ta càng cao chừng ấy, nhờ đó, đời sống chúng ta càng an lành, tình thương càng rộng mở và tất cả mọi người càng quý mến mình nhiều hơn. Ngược lại, càng đưa cao bản ngã lên cao chừng nào thì mình càng đáng ghét, càng khó ưa chừng đó. Còn khi càng hạ thấp bản thân thì mọi người càng thương, càng mến, cầng gần gũi, càng quý trọng chúng ta. Cho nên, cái ta càng lớn thì phước đức càng nhỏ, cái tôi càng trương phình thì công đức của càng teo tóp.
Như vậy, trong sự tu hành này, hãy lấy sự khiêm cung, khiêm hạ, lấy sự đánh ngã, đánh đổ được bản ngã để làm thước đo của sự thực hành Thánh pháp trong giáo lý nhà Phật. Một tu sĩ đã tu học được 3 tháng, 3 năm hay 30 năm, mà bản ngã càng cao thì sẽ càng tẩu hỏa nhập ma, đó là họ đã tu sai, tu lạc. Mặt khác, một Phật tử chỉ mới đi chùa, tu học chưa bao lâu, thậm chí người chưa đi chùa nhưng bản ngã của họ được hạ thấp, ngày càng khiêm cung thì sự tu của họ có kết quả, có công đức và phước báo.
Vì vậy, khi lạy Phật chúng ta hạ thấp đến đâu thì đối với tất cả mọi người cũng giống như vậy. Đối với cha mẹ, ông bà, người thân, bạn bè ngang hàng, thậm chí đối với người thấp hơn mình thì chúng ta đều phải nói lời từ ái, nhẹ nhàng, đều có sự kính trọng, tôn trọng lẫn nhau, dẫu cho đó là người làm công cho chúng ta. Khi chúng ta chế ngự, đánh gục được cái ta trong lòng thì đó là đại công đức, đại trí tuệ, đó là sự thành công trong tu học. Bản ngã này cũng như hai cái sừng trâu, đó là vũ khí sắc bén để húc người, nếu bẻ gãy hai cái sừng trâu này thì con trâu sẽ không còn húc được ai và nó sẽ trở nên hiền ngoan. Cũng vậy, chúng ta tu là phải bẻ gãy bản ngã, hạ gục bản ngã, đánh gục bản ngã, diệt tận cái tôi, đánh đổ cái ta để cho tâm bản ngã này phải cúi đầu, khiêm hạ.
Để diệt trừ bản ngã đối với tấm thân năm uẩn này, chúng ta cần thường xuyên quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trượt, quán chín gia đoạn tử thi, quán chiếu về cát bụi. Ví dụ, một người bị nhiễm dịch bệnh được đưa đi cấp cứu, khi đi được xe đến tận nhà rước, nhưng đến lúc trả về chỉ còn là hũ tro cốt. Vậy, làm gì có cái tôi, cái ta, cái bản ngã nào trong tấm thân này? Tất cả chỉ là ta tự ảo tưởng, chứ không có một tự ngã, cái tôi nào ở đây. Khi thâm nhập được vào trí tuệ vô ngã này thì chúng ta mới hạ được bản ngã xuống. Và khi mình sống với tâm lắng dịu, khiêm hạ, khiêm ái thì đức độ của chúng ta ngày càng cao. Đó chính là phương pháp trị bệnh bản ngã.
Bệnh vô minh
Bệnh cuối cùng là bệnh vô minh, si ám. Vô minh là không sáng suốt, không thấy được sự thật về thân tâm này. Thân tâm này chỉ là ngũ uẩn. Thân này là sắc pháp do đất, nước, gió, lửa tạo thành, do tứ đại tác thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tan nát, biến hoại, hủy hoại, hoại diệt. Hàng ngày thân này phải được cơm cháo, nước, không khí đưa vào, chỉ cần thiếu một thứ, sẽ làm thân này nằm ì ra, ngã xuống, đổ xuống một cách hoàn toàn và trở thành một khúc cây vô dụng, vô tri.
Trong thân xác này (sắc) chất chứa những cảm giác (thọ), những suy nghĩ (hành), những hình bóng trong tâm (tưởng) và những nhận thức (thức). Như vậy, thân tâm này chỉ là năm tổ hợp được kết hợp do duyên sanh. Chỉ cần thiếu một tổ hợp thì ngũ uẩn sẽ rã nát. Cho nên nói, ngũ uẩn này có bản chất là vô thường, là đổi thay, là biến dịch, là tan hoại.
Bản chất cuộc đời là trống rỗng,
Bản chất cuộc đời là trống không,
Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,
Dễ dàng tan biến vào hư không.
(Nghi thức tu học Nikāya – Sám Hối Diệt Ngã)
Chúng ta nhìn lại để thấy hàng triệu người nhiễm dịch bệnh Covid-19 trên thế giới đã ra đi, tất cả đều trở thành cát bụi. Thế nhưng, con người chúng ta hễ còn một hơi thở là còn tham, còn đòi hỏi, còn tìm cầu, còn khát khao, còn thèm muốn, còn ưa thích. Còn một hơi thở là còn nóng giận, còn sân hận, còn bản ngã. Còn một chút sự sống là còn ta đây, còn giành giật. Đó là sự vô minh, dại khờ, si mê, ngu muội, mù lòa của chúng ta nên cả đời mình cứ sống ở trong bóng tối, không thấy được bản chất của thế gian này.
Nếu thấy được bản chất vô thường, khổ, vô ngã của cuộc sống này thì tâm của chúng ta sẽ được nhẹ nhàng, tham lam sẽ được xa lìa, nóng giận sẽ được lắng dịu, si mê sẽ bị phá sạch, bản ngã sẽ đi đến diệt vong. Đồng thời, tâm của chúng ta sẽ tràn ngập cảm thọ của từ ái, xót thương, cảm thông, tha thứ, chia sẻ, bao dung, độ lượng, rộng lớn. Đó là tinh thần từ bi, trí tuệ của đạo Phật và cũng là thuốc xổ của các bậc Thánh.
Này các Tỷ-kheo, đây là thuốc xổ bậc Thánh, thuốc xổ này chỉ thành công, không thất bại. Do nhân thuốc xổ này nên các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh; các chúng sanh bị già được giải thoát khỏi già, các chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi chết; các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. (Tăng Chi Bộ kinh – Tập IV, 10. Chương Mười Pháp, XI. Phẩm Sa-Môn Tưởng, bài kinh Y Thuật)
Như vậy, nhờ thuốc xổ của bậc Thánh này nên những húng sanh bị những cảm thọ hung hăng, dữ dằn sẽ được hiền thiện. Nhờ thuốc xổ của bậc Thánh này nên những chúng sanh bị sân hận thiêu đốt, đốt cháy, thiêu rụi sẽ được mát mẻ, mát dịu, an lành. Nhờ thuốc xổ thần diệu tối thượng của bậc Thánh này nên tâm bản ngã, hơn thua, thù hận sẽ được chuyển hóa thành nội tâm khiêm hạ, nhu hòa, khiêm tốn, từ ái. Và nhờ thuốc xổ của bậc Thánh này nên những nội tâm đầy vô minh, đầy hôn ám, đầy dại khờ, đầy ngu muội, chìm đắm trong bóng đêm sẽ được trí tuệ, sẽ được ánh sáng, sẽ được quang minh, sẽ được bình yên, hạnh phúc.
./.