Nikāya Soi Sáng - Nghe Giảng Và Thiền Quán Khác Nhau Như Thế Nào
Nikāya Soi Sáng
Nghe Giảng Và Thiền Quán Khác Nhau Như Thế Nào?
Thích Minh Thành
Ngày 03 tháng 12 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cảm thọ - thiền quán PAGEREF _Toc93563126 \h 1
II. Thức PAGEREF _Toc93563127 \h 7
I. Cảm thọ - thiền quán
Thưa ba vị sư cô, ở đây được mấy ngày nữa, tới thứ năm. Minh Thành biết các cô đến đây thời gian không nhiều, cho nên Linh Quy cũng muốn trao gửi những phương pháp thực tập ở đây. Trong thời gian ngắn của quý cô mà gửi cũng hơi nhiều một chút, mấy cô hoan hỉ.
Thời gian của chúng ta không còn nhiều nữa, chỉ hôm nay và ngày mai, hổm rày các cô tu học rồi, mời bảy vị trình bày tổng kết lại các pháp mình đã tu học. Mình học và thực tập được gì, từ vấn đề thực hành ba pháp, nhận diện năm uẩn, sau đó là về pháp tâm hiền. Đây là mang tính cách giới thiệu tổng quát, đúng ra mỗi một pháp như vậy mình phải có một thời gian tu học, đào sâu. Vì thời gian quý vị đến ngắn ngủi, cho nên với tính cách giới thiệu tổng quát, căn bản để chúng ta có được khái niệm, nắm được cách thức để khi mình trở về, mình có duyên với pháp nào thì thực tập.
Trong năm ngày qua, các cô đã thực tập về thực hành ba pháp, nhận diện năm uẩn, thực tập tâm hiền, thực tập hiện tại lạc trú, thực tập tâm từ. Và hôm nay là thực tập quán bộ xương, nói lên cảm nhận của mình về phương pháp đó.
(3:50 đến 8:10: trình pháp)
Chúng ta nhớ câu hỏi là trình bày về cảm nhận trong thực tập pháp, thực hành ba pháp, nhận diện ngũ uẩn, tâm từ, tâm hiền, hiện tại lạc trú và quán bộ xương. Nhớ câu hỏi của Minh Thành nêu ra là trình bày sự thu hoạch, sự cảm nhận trong sáu pháp mà mình đang thực tập.
(8:50 đến 12:30: trình pháp)
Đúng rồi, cứ việc rèn đến khi nào hết lúc đó không cần nghe pháp nữa. Lúc đó chỉ cần Như Lý Tác Ý đánh đuổi hôn trầm, mình đang chiến đấu, thấy sự hôn trầm này là khổ đau, si mê, vô minh, chướng ngại. Mình cứ suy nghĩ và tác động tâm ý như vậy hoài cho đến khi nào mình chiến thắng được nó càng tốt.
(13:00 đến 48: 50: trình pháp)
Hôm trước sư cô Tịnh Nhẫn có hỏi mà Minh Thành chưa trả lời. Khi nghe pháp, lúc ngồi thiền mà mình được nghe những bài tác ý thì có giống nhau không? Xin thưa là khác nhau. Cũng đồng là mình nghe pháp, nhưng khi nghe để mình nhận thức, hiểu ra vấn đề. Và khi mình nghe pháp, nghe giảng, tâm mình thường thường hướng theo lời giảng, lời pháp, bài pháp để mình hiểu ra vấn đề đó. Còn khi thiền quán, nó sâu sắc, tế nhị hơn. Và một người phải nhận diện được ngũ uẩn mới có thể thực tập được thiền quán một cách chính xác và sâu sắc, mới có thể khai mở được những cảm thọ hiền thiện, trí tuệ và những cảm thọ thấy biết về khổ, những cảm thọ nhàm chán, ly tham, hướng đến từ bỏ. Cho nên, thiền quán sâu sắc hơn nghe giảng.
Có thời gian, các cô mở lên những bài pháp ở đây chia sẻ. Nghe kinh Nikāya giảng giải thì khác nhưng tinh hoa Nikāya thiền quán sẽ khác, ngôn ngữ, âm điệu, cách trình bày khác. Thiền quán tức người nói sẽ nói bằng tâm rất sâu sắc và đưa nó vào cảm thọ của người nghe. Và người nghe phải biết an trú tâm mình trong cảm thọ và dẫn những lời tác ý đó đưa vào trong cảm thọ. Đây gọi là tung và hứng, phải thiện xảo.
Ngày xưa, thời Đức Phật còn tại thế, mình đọc trong trưởng lão tăng kệ, trưởng lão ni kệ, mình sẽ thấy rất nhiều những vị chứng Thánh quả nhờ triển khai thiền quán. Cho nên khi mình nhận diện năm uẩn và biết được thọ, tưởng, hành, thức, khi mình nghe tác ý, mình đưa những lời tác ý đó đi vào trong cảm thọ và làm cho cảm thọ của mình thấm, ngấm tận xương tủy, tâm não của mình, để nó đi vào tận sâu thẳm trong tâm khảm, đi vào những tầng lớp thâm sâu của cảm thọ mình. Tức mình sẵn sàng mở tâm mình ra, đưa những lời tác ý của Thánh trí, của sự thật, đưa nó đi vào càng sâu càng tốt. Và khi cảm thọ trào dâng, đừng kềm hãm, kiềm chế lại, mà để cho cảm thọ đó bung ra.
Cho nên, những khi Minh Thành đưa micro cho các sư cô trình pháp, cô nào khóc, xúc động nhiều, Minh Thành đưa để cho các vị tuôn trào cảm thọ ra. Nhiều khi mình không biết, kềm lại, sợ khóc trước mặt người ta thì kỳ, hay thấy mình yếu đuối, không phải, đó cũng là bản ngã. Mình hãy để cho cảm thọ hiền trí, cảm thọ mà thấm đẫm một cách thâm sâu về vô thường, về đau khổ của đời sống này, một sự thật phũ phàng, mình cho những lời đó tuôn ra hết, không sao cả.
Những lần tuôn ra như vậy là những lần khai mở các cánh cửa của cảm thọ. Mỗi một lần tuôn ra như vậy, sau đó mình sẽ thấy thân tâm nhẹ nhõm; và sự thấy biết của mình về pháp sẽ sâu sắc hơn. Mỗi một lần mình được cảm thọ, cảm xúc trào dâng, chấn cảm, chấn động, mà các cô dùng từ kinh cảm, rung chuyển tất cả sự chấp thủ trong mình. Đức Thế Tôn có bài kinh “Thủ chuyển”, làm cho các sự chấp thủ của mình bị rung chuyển, năm thủ uẩn của mình bị rung chuyển trước sự thật, trước chân lý, trước ánh sáng của Thánh trí. Nó khác nhau như vậy.
Cho nên các cô lấy làm lạ là buổi đầu tiên Minh Thành mở bài thiền quán, các cô sẽ sốc, thấy lạ, vì Minh Thành muốn đưa một cái rất mới. Nếu những tâm chịu cởi mở, chịu học hỏi, như chúng ta là những người hiền thiện, hiền trí, cùng kinh pháp, khát ngưỡng pháp, tìm cầu pháp, quý mến pháp, học hỏi pháp, lắng nghe pháp thì chúng ta dễ dàng tiếp nhận. Vì chúng ta là những người bỏ tất cả, bỏ cha mẹ, gia đình, bỏ hết sắc đẹp, tài sản, tuổi trẻ, bỏ hết, chúng ta hủy hình, bỏ hình thể này. Mái tóc là gốc con người, nhất là với các cô, chúng ta hủy bỏ hình thể mình, vẻ ngoài của hình thể này để chúng ta cầu sự thật. Cho nên, những người thật tâm, chân tu, thật học cầu pháp dễ lắm. Họ thấy sự thật thì dễ bỏ qua hết tất cả những thứ khác để tìm cầu sự thật.
Thiền quán có công năng, tác dụng là đốt cháy phiền não rất mạnh. Nhưng muốn thực tập thiền quán, phải trải qua, quan trọng nhất, là lặp lại từ những ngày đầu tiên các cô đến đây cho đến những ngày cuối cùng: nhận diện ngũ uẩn. Không thấy ngũ uẩn là không thấy được mình rồi làm sao tu? Khi nhận diện được rồi, mình biết cái nào là thọ, tưởng, hành.
Hiện tại, có những vị khéo léo nhận diện, nhưng có những vị chưa nhận diện chính xác. Nhưng nếu mình chịu thực tập thêm, ở đây, chúng ta bằng tấm lòng quý mến nhau, tôn kính nhau. Những người xuất gia chúng ta là những bậc tôn giả, người đáng tôn kính, bằng sự chia sẻ với nhau hết lòng về pháp. Khi chúng ta nhận diện được ngũ uẩn rồi chúng ta sẽ thực tập thiền quán, khi mình thực tập thiền quán được rồi mình sẽ thấy con người mình thay đổi từ trong cảm giác, suy nghĩ, tư tưởng và nhận thức, sẽ thay đổi. Và một khi bên trong đổi rồi thì bên ngoài hình dáng đổi theo.
Đức Phật tuyệt diệu và tối thượng, không dùng từ gì diễn tả được. Chẳng qua mình học mà chưa thấy hết được trí tuệ và những phương pháp của Đức Phật. Ở ngoài Ngài có hộ trì căn, kế đó Ngài có cảm giác toàn thân, sau đó có những tác ý, những tuệ lực, thiền quán bên trong, phá thập diện. Đức Phật phá hết tám mặt, còn gọi là Bát Chánh Đạo hay thập Thánh đạo, Chánh trí Chánh giải thoát. Mình học mình chỉ biết Bát Chánh Đạo thôi, nhưng thật ra là thập Thánh Đạo. Đối với một bậc A-la-hán là còn Chánh trí Chánh giải thoát. Thành ra Đức Phật tuyệt diệu lắm.
Nếu có duyên, các cô còn trở lại, hoặc có những tịnh thất, đủ duyên các cô sẽ ẩn tu. Minh Thành cũng như đại chúng đây vô cùng hoan nghênh tất cả các vị, nhất là những vị tu hành theo Chánh pháp hoặc những vị Nam tông, vì rất gần với Đức Phật. Thành ra đó là duyên lành của chúng ta.
Điều thứ hai, nãy giờ chúng ta thấy không, các vị lên trình pháp, chúng ta thấy hỷ và ưu. Có bữa với hiện tại lạc trú thì chúng ta vui, có bữa như sáng nay quán bộ xương thì chúng ta khóc. Nhưng hỷ và ưu này không phải là vui và buồn tầm thường, mà vui và buồn này là cảm thọ của thiện pháp, Thánh pháp, Thánh trí, không liên hệ đến vật chất.
Khi ngồi thiền, lúc nào mình cũng thở vô thở ra, để cho tâm mình yên, sao giờ ngồi thiền lại suy nghĩ, có tác động tâm ý, có những lời nói khóc hu hu như vậy? Đây là chỗ đặc biệt. Vì mình tu không phải đến chỗ không có cảm giác, mà tu để khai mở những cảm giác hiền trí, trí tuệ, những cảm giác thấu suốt về bản chất của sự vật. Nếu không có những cảm giác, cảm xúc, cảm động đó, những kinh cảm, làm sao mình vỡ ra được vô minh uẩn, sao mình làm bể ra được ngọn núi của những tham dục, tham ái. Cho nên đó là những lần rung chuyển chấn động ở bên trong.
Mình càng chấn động nhiều chừng nào, sức công phá của sự thật càng lớn nên khi nghe thiền quán, mình đừng nghĩ rằng ai nói, ai nghe, đừng phân tích lời đó đúng hay sai. Đó là tâm không nhu nhuyến, không thuận pháp, tùy pháp, tâm chưa được “tùy văn nhập quán”. Chúng ta hãy bằng một tâm hết sức mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng, pháp vào tới đâu là tâm mình đi theo tới đó, không chống đối, không có ý tưởng sao nói như vầy, có đúng không… Đó là những ý hành thô, tâm mình chưa nhu nhuyến. Vì đó là sự thật.
Những bài thiền quán đó không có một cái gì riêng của cá nhân người nói, mà những bài thiền quán đó chuyển tải lại Thánh trí tuệ, định lý, chứng ngộ của Đức Phật. Chúng ta nghe kỹ tất cả bài thiền quán, chẳng qua diễn lại lời của Đức Phật theo ngôn ngữ hiện tại chứ không có ý riêng của cá nhân người nói, đó là sự thật.
Cho nên, thuận theo pháp, mình thuận pháp tùy pháp, để cho tâm mình mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng, đi theo pháp vận hành. Lúc đó mình sẽ được lợi lạc rất lớn. Lợi lạc đó là gì? Mình sẽ cảm nhận, cảm thọ, cảm xúc được sự thật, chạm đến sự thật, rung cảm, rung chấn, kinh cảm, kinh động, chấn động trước sự thật và thể nhập thực tướng của sự thật trong thiền quán. Thành ra, hỷ ưu là điều bình thường.
Sau này, khi mình có thời gian tu học rồi, đối với tâm, với cảm thọ của mình, mình sử dụng nó dễ dàng. Muốn vui, mình an trú luôn suốt một tuần lễ trong tâm hỷ. Mình muốn trú trong tâm từ là mình trú luôn suốt bảy ngày, một tháng, ba tháng. Muốn trú tâm nào là mình trú trong tâm đó. Mình muốn trú tâm xả là trú luôn tâm xả một thời gian dài. Cũng như bản thân Minh Thành được trú trong tâm hỷ của pháp như vậy suốt hàng năm trời, không mất tâm hỷ. Cứ nghe tới Nikāya, nói về Nikāya là rung động, cũng như mấy thầy ở đây có trình pháp rồi, nó muốn vỡ lồng ngực ra, nó dâng lên những cảm thọ. Mà những điều đó là hỷ lạc trong pháp.
Như vậy, mình khéo léo điều hòa, cho nó từ từ, và khi thâm nhập được rồi, rất tuyệt vời. Mình muốn trú vô tâm nào là trú vô tâm đó, mình muốn trú tâm hỷ là suốt một thời gian dài, muốn trú tâm từ là trú, muốn trú tâm bi mẫn là trú vào tâm bi mẫn. Nó giống như căn nhà, phòng ốc của mình vậy, mình ở trong đó dạo chơi, an trú. Nhưng mình phải có cảm thọ mới được, còn tu một pháp mà cứ đơ đơ, ngồi thiền, mà không thấy hạnh phúc, hứng thú, không đem lại điều gì cho mình, cứ ngồi cho yên vậy thôi. Điều đó tốt, nhưng được phần chỉ thôi, còn phần quán, phần triển khai để đi vào sự thật bị khựng lại, dừng lại.
Hơn nữa, đi sâu vào, chúng ta sẽ mổ xẻ, giải phẫu thân tâm mình. Đây là bước sâu sắc của thiền quán chứ không phải im ru. Chúng ta sẽ mổ xẻ từng hình ảnh trong tâm mình, từng suy nghĩ, từng cảm thọ. Cho nên, tu theo đúng tinh thần Nikāya là siêu tích cực, không rảnh thời gian nào hết. Thậm chí mình moi móc ở trong những cảm thọ của mình, những hình bóng trong tâm, mình phải đem nó ra xử. Mình rà xét lại, coi cảm thọ sân, cảm thọ dục ái này ra sao, cảm thọ bản ngã này ra sao. Nó không khởi, nhưng mình tác ý nó khi nó chưa khởi, tác ý khi nó đang khởi và đã chấm dứt, chứ không thể ngồi im ru được với nó.
Bây giờ Minh Thành lấy một ví dụ đơn giản: có một con cá sấu bò vô trong nhà mình, mình nằm ngủ được không? Hay có con rắn hổ mang bò vô, mình nhìn thấy nó, còn nằm ngủ được không? Cho nên mình phải tìm mọi cách đánh đuổi nó ra. Thiền quán này tích cực, năng động như vậy đó. Sau khi phát giác, phát hiện những suy tư, hình bóng, cảm thọ ác bất thiện pháp của sự xúc dục, sự yêu thích, sự ham muốn, những cảm giác bức xức, bực bội, khó chịu, hay những cảm giác ta đây, khen mình chê người, khinh thường người khác, cho mình là hay, là giỏi.
Những điều đó mà mình nhìn thấy được trong cảm thọ, hoặc trong ý hành là mình phải đem ra xử nó. Mình phải quở trách, những suy nghĩ này là xấu hổ, nhục nhã, thấp hèn, hạ liệt, suy nghĩ ta đây là phàm phu, những suy nghĩ này đáng tàm, đáng quý, mình phải rầy la, quở trách nó. Giống như người đó đang đi rất thoải mái, tự nhiên, bỗng nhiên họ thấy có người nhìn mình, lúc đó người này có sửa tướng đi lại không? Có hơi rụt rè, cẩn thận, có hơi để ý một chút không? Tại vì có người nhìn mình. Lúc nãy họ đi tung tăng, nhưng khi có người đang nhìn mình, nhìn hết sức kỹ.
Cũng vậy, tâm mình bị trí Chánh niệm, tỉnh giác nhìn vô cho nên nhìn ra dục, ái, tham, sân, si, nhìn ra bản ngã. Đó là sự nhận diện ngũ uẩn, quán chiếu thân tâm, sự Chánh niệm và tỉnh thức. Có người, họ để ý vô từng suy nghĩ, cảm thọ, hình bóng của sự Chánh niệm và tỉnh thức. Cũng vậy, tâm bản ngã bị nhìn riết rồi nó rụt rè, cái tham bị nhìn vô, nên nó rụt rè, nó sợ bị la, bị mắng, bị chửi. Mình tác ý riết như vậy rồi nó xấu hổ, nó sợ.
Đức Phật ví dụ trong “Tương Ưng Bộ Kinh” mà sau này người ta phát triển thành mười bức tranh chân trâu, chứ thật ra nó rất đơn giản: đánh con trâu một trận nên thân, “Tương Ưng Sáu Xứ”, sau này nó thấy lúa mạ không dám ăn nữa. Đức Phật nói nó nhớ tới trận đòn nên thân đó, mà gặp lúc mạ không dám nhào vô nữa. Đó là do sự tác ý của mình, do quở trách tâm, rầy tâm, tâm ác bất thiện pháp, tâm ái nhiễm, tâm dục ái, sân hận, bản ngã. Đức Phật dùng nhiều từ rất nặng, mà mình không để ý, Ngài dùng những sự tác ý rất hay. Đức Phật nói ái nhiễm là ung nhọt, là bệnh hoạn, là cục bướu, mũi tên, rắn độc, kẻ giết người, hố than hừng. Ngài dùng rất nhiều những từ để quở trách, để tác ý, rầy la, trách mắng.
Chúng ta đã nói sơ lược về thiền quán, cũng như hỷ và ưu, mừng, buồn, vui hay sự khóc, trào dâng cảm xúc ở trong thiền tập, rất tốt cho mình. Có những lúc mình như bất động, như ngọn núi. Có những lúc mình uyển chuyển như dòng nước, lúc cong, lúc thẳng, tùy theo dòng chảy, linh hoạt, uyển chuyển tùy theo trí tuệ của mình, chứ không phải lúc nào cũng thẳng băng, im ru, người ta hỏi gì cũng không biết. Mình cứ giữ như vậy, nghĩ là hay, nhưng không phải. Đó là tâm thụ động, không sắc bén, linh hoạt, nhiệt tâm, tinh cần ở trong sự thấy biết tâm mình.
II. Thức
Một điểm cuối mà Minh Thành có nghe lại là các cô về thức, thức này thấy vậy mà không dễ hiểu. Thực ra trước khi Minh Thành đi vào tu học đường lối Nikāya này là tu mù hai mươi tám năm. Hoàn toàn mình chỉ làm được những thiện pháp, mình tác ý, hài lòng. Nhưng khi đi vào trong dòng pháp này rồi, con mắt mình mới bắt đầu được mở ra. Nhiều khi chúng ta học nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, tức sáu thức, như là biết thêm chữ nghĩa thôi chứ chưa nhận diện được.
Nhãn thức không phải sự biết của con mắt, còn một hai ngày nữa, có duyên chúng ta sẽ chia sẻ về nguyên lý sanh khởi ngũ uẩn. Nhãn thức là sự rõ biết các sắc. Nhĩ thức không phải sự biết của lỗ tai mà là sự rõ biết âm thanh. Thiệt thức không phải sự biết của lưỡi mà là sự rõ biết các vị. Tỷ thức là sự rõ biết các mùi, thân thức là rõ biết các sự đụng chạm. Thành ra các cô, nhất là các vị mới phải học thuộc lòng. Không học thuộc lòng thì không bao giờ nhận diện được, mình nghe rồi một hồi nói lại, trật lất, tam sao thất bản, mà mình mới nghe kinh, nhắc lại là trật lất. Như vậy sẽ loạn pháp. May là trao cho các vị Thánh tăng, chúng ta giờ này mới còn đại tạng kinh chứ trao cho mình, buổi sáng tới trưa là xong, pháp đi luôn.
Nhưng mà mình không học thuộc lòng, con nhớ rồi. Nên chính chỗ suy diễn, thọ, tưởng, hành, thức của mình, mà Pháp bây giờ ra như vậy. Họ không tôn trọng tuyệt đối lời dạy của bậc Chánh Đẳng Giác, tự ý họ suy diễn, nhớ theo vô minh, nhớ riết rồi lần lần… có câu Phật nói. Không phải Phật nói cũng nói là Phật nói, như vậy cuối cùng là mạt pháp. Chính vì vậy mà phải học thuộc lòng. Đức Phật cũng nói trong kinh Nikāya: “các ông cần phải học thuộc lòng, cái này liên hệ đến phạm hạnh, là căn bản của phạm hạnh”. Cho nên các cô cố gắng học thuộc lòng những cái cần học thuộc lòng trong “Căn bản trí I” và “Căn bản trí II”. Nếu không học thuộc lòng thì đi vô thực hành mình không thể nào biết được hết.
Giống như định lý vậy, phải thuộc lòng rồi sau đó mới ứng dụng ra. Cũng như mình học thuộc lòng khẩu quyết trong kiếm hiệp, những bí quyết, khẩu quyết, bí kíp. Ở đây cũng vậy, bí kíp Chánh Pháp, khẩu quyết Chánh Pháp, định lý Chánh Pháp phải thuộc lòng. Thuộc lòng là pháp học, từ pháp học thuộc lòng đó mình mới nhìn sâu trở lại nội tâm mình mới nhận diện ra. Sau khi nhận diện một bước rồi, từ từ mình sẽ nhận diện ra những cái vi tế hơn, sâu sắc hơn, nhỏ nhiệm hơn. Mình có những pháp tương thích, tương ứng để xử lý những lậu hoặc của mình.
Như vậy, bây giờ vấn đề trọng yếu nhất trong sáu thức này là ý thức. Những bài này Minh Thành chia sẻ hết rồi, các cô chịu khó về nghe: ý thức. Giờ các cô đừng ngại, mời ba vị, trước đây mình học về ý thức, nó là gì? Cứ chia sẻ một cách thật lòng, không sao cả, học sao cứ chia sẻ vậy.
(1:16:15 đến 1:22:10 trình pháp)
Chỗ này ngày xưa Minh Thành cũng không biết rõ, khi đi vào học theo tinh thần kinh tạng Nikāya nguyên gốc mới thấy rằng không phải giống như mình hiểu mà trong đây có định lý của Đức Phật, chứ mình không hiểu chung chung được. Chúng ta chỉ giới thiệu một chút rồi quý vị về thực tập nhận diện luôn. Đây là định lý, không phải mình muốn nghĩ sao thì nghĩ, hiểu sao thì hiểu, mà nó phải là định lý của Đức Phật, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác giải thích cho chúng ta. Nếu mình không biết được ý thức là không nhận diện được thức uẩn, khi không nhận diện được thức uẩn, mình sẽ không rõ, không thành tựu trí tuệ về nó. Ý nó chỉ biết về thọ, tưởng, hành.
Mình lấy ví dụ: khi ngồi thiền, mình để ý trong tâm đang có hình ảnh của mẹ, đó là tưởng; có một cảm giác dễ chịu, ấm áp là thọ; có những suy nghĩ về mẹ không biết giờ này làm gì là hành; mình để ý vào trong tâm, hình bóng mẹ hiện ra, cảm giác dễ chịu hiện ra, suy nghĩ về mẹ hiện ra, và mình biết rõ điều đó, là ý thức. Ý thức là biết được thọ, tưởng, hành; đây là định nghĩa, định lý của Đức Phật.
Bây giờ để ý vào trong tâm, mình thấy có hình bóng của người hồi sáng nói nặng mình là tưởng, có cảm giác khó chịu là thọ, suy nghĩ về người đó, tại sao họ nói vậy, mình phân tích lời nói của người đó, nói vậy là khinh tôi như thế nào, xem thường tôi ra sao, là hành. Mình rõ biết được trong tâm mình có hình bóng của người mình giận, có cảm giác khó chịu, có những suy nghĩ về người đó, mình rõ biết được điều đó, đó là ý thức.
Thêm một ví dụ nữa: mình ở trong phòng một mình, tự nhiên nhớ có hình bóng của một người dễ thương xuất hiện, là tưởng; cảm thọ dễ chịu có mặt kèm theo hình bóng đó là thọ; những suy nghĩ về người đó, người đó dễ thương như thế nào, mình đã từng gặp ra sao, có những hành động, cử chỉ gì, là hành. Lúc đó, mình rõ biết được đang có hình bóng của người dễ thương đó, đang có cảm thọ dễ chịu, đang có những suy nghĩ về người đó, là ý thức.
Thành ra, ý thức nó chỉ biết được thọ, tưởng, hành thôi, còn nhãn thức mới biết được những hình sắc bên ngoài, gọi là nhãn thức giới, là phạm trù, giới thức của nhãn thức. Nó chỉ biết được hình sắc, âm thanh không biết, còn nhĩ thức chỉ biết được âm thanh, mùi không biết, còn tỷ thức chỉ rõ biết được mùi, thiệt thức chỉ rõ biết được vị, thân thức chỉ biết được sự đụng chạm.
Ví dụ bây giờ mình để ý, thấy quần áo có chạm trong da thịt mình, hay chỗ ghế ngồi mà mình chạm, giữa chân, mông chạm với các thanh tre, nó rõ biết sự đụng chạm ngay chỗ đó, đó là thân thức. Năm thức trước biết ở ngoài, ngoại cảnh; còn ý thức biết được ở trong: thọ, tưởng, hành. Đây là định lý của Đức Phật, không có bất cứ người nào khác có thể nói khác được điều này. Nó có một chuẩn mực, chứ không phải nói chung chung là mình không nhận thức được. Để ý vào bên trong sẽ thấy có hình ảnh, có cảm giác, có suy nghĩ, rõ biết được điều đó.
Mình Thành nói ngắn gọn để chúng ta nhận diện được ý thức. Thành ra chúng ta học Nikāya thấy tuyệt vời lắm. Tất cả đều có định lý, chứ không phải mình muốn suy nghĩ sao thì suy nghĩ, hiểu sao thì hiểu. Mình nói điều đó tôi hiểu, tôi hiểu đâu có được, vì Đức Phật chứng ngộ, trình bày cho mình, mình theo định lý đó, nhận diện lại nó sẽ ra các pháp đó. Đó là mình đi theo sự chứng ngộ sự thật của Đức Phật. Còn nếu mình tự suy nghĩ ra, nói tôi hiểu như vậy, suy nghĩ như vậy, cho là như vậy, cái đó là của vô minh, không phải Thánh trí. Đây mới là Thánh trí.
Khi mình nhận biết được ý thức rồi, mình thành tựu trí về ý thức, trí huệ về nó, thấy về nó, biết về nó, mình coi sự vận hành, vận động của nó như thế nào mới có khả năng nhiếp phục, chế ngự nó. Nếu mình chưa biết nó, nói rằng để tôi lại gặp người kia đặng tôi xử lý họ, nhưng hỏi tên gì, không biết; mặt mũi ra sao, đen trắng, cao thấp mập ốm cũng không biết; tánh tình họ ra sao, già trẻ, lớn nhỏ rồi làm sao mình lại xử lý người đó. Thành ra biết tên tuổi, mặt mũi, dáng vẻ, biết tính tình, gốc gác, chỗ cư trú ở đâu, sau đó mình mới làm việc với họ được.
Sự tu của mình, tu theo kinh Nikāya là rõ biết hết tất cả nguồn gốc, tập khởi và đoạn diệt của ngũ uẩn. Từ đâu nó sanh khởi ra, chúng ta học kỹ, rồi học nguyên lý sanh khởi của ngũ uẩn, sắc do cái gì sanh khởi, vận hành và chấm dứt như thế nào. Thọ do cái gì sanh khởi, vận hành như thế nào, làm sao để chấm dứt, tưởng, hành sanh diệt ra sao, thức từ đâu, duyên khởi sanh diệt ra sao. Chúng ta nắm được hết Ba Mươi Bảy Trí về ngũ uẩn, chúng ta phải học. Cho nên, con mời tất cả các cô phải học thuộc lòng “Căn bản trí” mới nắm vững được.
Về trình bày phần kinh “Duyên sanh pháp” trong bài kinh “Cả hai”, chúng ta mở ra xem. Đức Phật giải thích, ý thức là biết được những cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ trong tâm. Còn vấn đề tuệ tri là một phạm trù khác, lĩnh vực riêng, ở đây mình nói về ý thức thôi. Nãy giờ chúng ta nói về ý thức chung chung, lẫn lộn giữa nhãn thức hay nhĩ thức. Cho nên Minh Thành phân biệt rạch ròi để chúng ta thấy rằng sự rõ biết sắc là nhãn thức, sự rõ biết tiếng là nhĩ thức, sự rõ biết mùi là tỷ thức, sự rõ biết vị là thiệt thức, sự rõ biết, sự đụng chạm của thân là thân thức.
Năm thứ này ở bên ngoài, biết đối tượng ở bên ngoài, còn ngược lại, ý thức biết đối tượng ở bên trong, biết cảm giác, hình bóng và suy nghĩ bên trong. Chúng ta chưa mở rộng gì đến tuệ tri, chỉ đang nói về ý thức. Đây là định lý của Đức Phật trong bài kinh “Cả hai”, chúng ta tìm hiểu, đọc thêm bài kinh đó, khoan hãy vội phản ứng và đánh giá, chúng ta sẽ thực tập, nhận diện khi mình thiền tập trong thời gian ở đây. Đừng vội đánh giá hay phản ứng sớm, vì đây là lời của Đức Phật, không thay đổi được, nó thuộc về định lý, không được ý kiến gì cả.
Nếu là lời của Minh Thành thì ý kiến được, còn lời của Phật, không ý kiến, chỉ có tập nhận diện để nhìn ra nó thôi, chứ lời Đức Phật không có gì bàn cãi cả. Ví như lời của thầy nào, của ai thì mình bàn, còn lời Đức Phật mình không bàn được, chỉ có cách thuận pháp, tùy pháp để coi lại nó có đúng như vậy hay không. Nếu thấy chưa đúng, từ từ mình sẽ nhận ra để thấy đúng với lời Đức Phật. Thành ra cách học Nikāya khác với những cách học khác là vậy.
Con mong rằng các cô cứ trầm tĩnh, kham nhẫn để nhận diện thân tâm mình. Có khi những điều mình đã học, mình đã quen với nhận thức, nhận định đó rồi nhưng chưa hẳn điều đó là tuyệt đối. Chúng ta nên lấy kinh điển y cứ, y cứ vào Thánh điển để chúng ta nhận diện thân tâm mình, mới có thể chạm đến sự thật thật sự. Hôm nay chia sẻ tới đây thôi, còn rất nhiều thứ để chúng ta học.
Nghe Giảng Và Thiền Quán Khác Nhau Như Thế Nào?
Thích Minh Thành
Ngày 03 tháng 12 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cảm thọ - thiền quán PAGEREF _Toc93563126 \h 1
II. Thức PAGEREF _Toc93563127 \h 7
I. Cảm thọ - thiền quán
Thưa ba vị sư cô, ở đây được mấy ngày nữa, tới thứ năm. Minh Thành biết các cô đến đây thời gian không nhiều, cho nên Linh Quy cũng muốn trao gửi những phương pháp thực tập ở đây. Trong thời gian ngắn của quý cô mà gửi cũng hơi nhiều một chút, mấy cô hoan hỉ.
Thời gian của chúng ta không còn nhiều nữa, chỉ hôm nay và ngày mai, hổm rày các cô tu học rồi, mời bảy vị trình bày tổng kết lại các pháp mình đã tu học. Mình học và thực tập được gì, từ vấn đề thực hành ba pháp, nhận diện năm uẩn, sau đó là về pháp tâm hiền. Đây là mang tính cách giới thiệu tổng quát, đúng ra mỗi một pháp như vậy mình phải có một thời gian tu học, đào sâu. Vì thời gian quý vị đến ngắn ngủi, cho nên với tính cách giới thiệu tổng quát, căn bản để chúng ta có được khái niệm, nắm được cách thức để khi mình trở về, mình có duyên với pháp nào thì thực tập.
Trong năm ngày qua, các cô đã thực tập về thực hành ba pháp, nhận diện năm uẩn, thực tập tâm hiền, thực tập hiện tại lạc trú, thực tập tâm từ. Và hôm nay là thực tập quán bộ xương, nói lên cảm nhận của mình về phương pháp đó.
(3:50 đến 8:10: trình pháp)
Chúng ta nhớ câu hỏi là trình bày về cảm nhận trong thực tập pháp, thực hành ba pháp, nhận diện ngũ uẩn, tâm từ, tâm hiền, hiện tại lạc trú và quán bộ xương. Nhớ câu hỏi của Minh Thành nêu ra là trình bày sự thu hoạch, sự cảm nhận trong sáu pháp mà mình đang thực tập.
(8:50 đến 12:30: trình pháp)
Đúng rồi, cứ việc rèn đến khi nào hết lúc đó không cần nghe pháp nữa. Lúc đó chỉ cần Như Lý Tác Ý đánh đuổi hôn trầm, mình đang chiến đấu, thấy sự hôn trầm này là khổ đau, si mê, vô minh, chướng ngại. Mình cứ suy nghĩ và tác động tâm ý như vậy hoài cho đến khi nào mình chiến thắng được nó càng tốt.
(13:00 đến 48: 50: trình pháp)
Hôm trước sư cô Tịnh Nhẫn có hỏi mà Minh Thành chưa trả lời. Khi nghe pháp, lúc ngồi thiền mà mình được nghe những bài tác ý thì có giống nhau không? Xin thưa là khác nhau. Cũng đồng là mình nghe pháp, nhưng khi nghe để mình nhận thức, hiểu ra vấn đề. Và khi mình nghe pháp, nghe giảng, tâm mình thường thường hướng theo lời giảng, lời pháp, bài pháp để mình hiểu ra vấn đề đó. Còn khi thiền quán, nó sâu sắc, tế nhị hơn. Và một người phải nhận diện được ngũ uẩn mới có thể thực tập được thiền quán một cách chính xác và sâu sắc, mới có thể khai mở được những cảm thọ hiền thiện, trí tuệ và những cảm thọ thấy biết về khổ, những cảm thọ nhàm chán, ly tham, hướng đến từ bỏ. Cho nên, thiền quán sâu sắc hơn nghe giảng.
Có thời gian, các cô mở lên những bài pháp ở đây chia sẻ. Nghe kinh Nikāya giảng giải thì khác nhưng tinh hoa Nikāya thiền quán sẽ khác, ngôn ngữ, âm điệu, cách trình bày khác. Thiền quán tức người nói sẽ nói bằng tâm rất sâu sắc và đưa nó vào cảm thọ của người nghe. Và người nghe phải biết an trú tâm mình trong cảm thọ và dẫn những lời tác ý đó đưa vào trong cảm thọ. Đây gọi là tung và hứng, phải thiện xảo.
Ngày xưa, thời Đức Phật còn tại thế, mình đọc trong trưởng lão tăng kệ, trưởng lão ni kệ, mình sẽ thấy rất nhiều những vị chứng Thánh quả nhờ triển khai thiền quán. Cho nên khi mình nhận diện năm uẩn và biết được thọ, tưởng, hành, thức, khi mình nghe tác ý, mình đưa những lời tác ý đó đi vào trong cảm thọ và làm cho cảm thọ của mình thấm, ngấm tận xương tủy, tâm não của mình, để nó đi vào tận sâu thẳm trong tâm khảm, đi vào những tầng lớp thâm sâu của cảm thọ mình. Tức mình sẵn sàng mở tâm mình ra, đưa những lời tác ý của Thánh trí, của sự thật, đưa nó đi vào càng sâu càng tốt. Và khi cảm thọ trào dâng, đừng kềm hãm, kiềm chế lại, mà để cho cảm thọ đó bung ra.
Cho nên, những khi Minh Thành đưa micro cho các sư cô trình pháp, cô nào khóc, xúc động nhiều, Minh Thành đưa để cho các vị tuôn trào cảm thọ ra. Nhiều khi mình không biết, kềm lại, sợ khóc trước mặt người ta thì kỳ, hay thấy mình yếu đuối, không phải, đó cũng là bản ngã. Mình hãy để cho cảm thọ hiền trí, cảm thọ mà thấm đẫm một cách thâm sâu về vô thường, về đau khổ của đời sống này, một sự thật phũ phàng, mình cho những lời đó tuôn ra hết, không sao cả.
Những lần tuôn ra như vậy là những lần khai mở các cánh cửa của cảm thọ. Mỗi một lần tuôn ra như vậy, sau đó mình sẽ thấy thân tâm nhẹ nhõm; và sự thấy biết của mình về pháp sẽ sâu sắc hơn. Mỗi một lần mình được cảm thọ, cảm xúc trào dâng, chấn cảm, chấn động, mà các cô dùng từ kinh cảm, rung chuyển tất cả sự chấp thủ trong mình. Đức Thế Tôn có bài kinh “Thủ chuyển”, làm cho các sự chấp thủ của mình bị rung chuyển, năm thủ uẩn của mình bị rung chuyển trước sự thật, trước chân lý, trước ánh sáng của Thánh trí. Nó khác nhau như vậy.
Cho nên các cô lấy làm lạ là buổi đầu tiên Minh Thành mở bài thiền quán, các cô sẽ sốc, thấy lạ, vì Minh Thành muốn đưa một cái rất mới. Nếu những tâm chịu cởi mở, chịu học hỏi, như chúng ta là những người hiền thiện, hiền trí, cùng kinh pháp, khát ngưỡng pháp, tìm cầu pháp, quý mến pháp, học hỏi pháp, lắng nghe pháp thì chúng ta dễ dàng tiếp nhận. Vì chúng ta là những người bỏ tất cả, bỏ cha mẹ, gia đình, bỏ hết sắc đẹp, tài sản, tuổi trẻ, bỏ hết, chúng ta hủy hình, bỏ hình thể này. Mái tóc là gốc con người, nhất là với các cô, chúng ta hủy bỏ hình thể mình, vẻ ngoài của hình thể này để chúng ta cầu sự thật. Cho nên, những người thật tâm, chân tu, thật học cầu pháp dễ lắm. Họ thấy sự thật thì dễ bỏ qua hết tất cả những thứ khác để tìm cầu sự thật.
Thiền quán có công năng, tác dụng là đốt cháy phiền não rất mạnh. Nhưng muốn thực tập thiền quán, phải trải qua, quan trọng nhất, là lặp lại từ những ngày đầu tiên các cô đến đây cho đến những ngày cuối cùng: nhận diện ngũ uẩn. Không thấy ngũ uẩn là không thấy được mình rồi làm sao tu? Khi nhận diện được rồi, mình biết cái nào là thọ, tưởng, hành.
Hiện tại, có những vị khéo léo nhận diện, nhưng có những vị chưa nhận diện chính xác. Nhưng nếu mình chịu thực tập thêm, ở đây, chúng ta bằng tấm lòng quý mến nhau, tôn kính nhau. Những người xuất gia chúng ta là những bậc tôn giả, người đáng tôn kính, bằng sự chia sẻ với nhau hết lòng về pháp. Khi chúng ta nhận diện được ngũ uẩn rồi chúng ta sẽ thực tập thiền quán, khi mình thực tập thiền quán được rồi mình sẽ thấy con người mình thay đổi từ trong cảm giác, suy nghĩ, tư tưởng và nhận thức, sẽ thay đổi. Và một khi bên trong đổi rồi thì bên ngoài hình dáng đổi theo.
Đức Phật tuyệt diệu và tối thượng, không dùng từ gì diễn tả được. Chẳng qua mình học mà chưa thấy hết được trí tuệ và những phương pháp của Đức Phật. Ở ngoài Ngài có hộ trì căn, kế đó Ngài có cảm giác toàn thân, sau đó có những tác ý, những tuệ lực, thiền quán bên trong, phá thập diện. Đức Phật phá hết tám mặt, còn gọi là Bát Chánh Đạo hay thập Thánh đạo, Chánh trí Chánh giải thoát. Mình học mình chỉ biết Bát Chánh Đạo thôi, nhưng thật ra là thập Thánh Đạo. Đối với một bậc A-la-hán là còn Chánh trí Chánh giải thoát. Thành ra Đức Phật tuyệt diệu lắm.
Nếu có duyên, các cô còn trở lại, hoặc có những tịnh thất, đủ duyên các cô sẽ ẩn tu. Minh Thành cũng như đại chúng đây vô cùng hoan nghênh tất cả các vị, nhất là những vị tu hành theo Chánh pháp hoặc những vị Nam tông, vì rất gần với Đức Phật. Thành ra đó là duyên lành của chúng ta.
Điều thứ hai, nãy giờ chúng ta thấy không, các vị lên trình pháp, chúng ta thấy hỷ và ưu. Có bữa với hiện tại lạc trú thì chúng ta vui, có bữa như sáng nay quán bộ xương thì chúng ta khóc. Nhưng hỷ và ưu này không phải là vui và buồn tầm thường, mà vui và buồn này là cảm thọ của thiện pháp, Thánh pháp, Thánh trí, không liên hệ đến vật chất.
Khi ngồi thiền, lúc nào mình cũng thở vô thở ra, để cho tâm mình yên, sao giờ ngồi thiền lại suy nghĩ, có tác động tâm ý, có những lời nói khóc hu hu như vậy? Đây là chỗ đặc biệt. Vì mình tu không phải đến chỗ không có cảm giác, mà tu để khai mở những cảm giác hiền trí, trí tuệ, những cảm giác thấu suốt về bản chất của sự vật. Nếu không có những cảm giác, cảm xúc, cảm động đó, những kinh cảm, làm sao mình vỡ ra được vô minh uẩn, sao mình làm bể ra được ngọn núi của những tham dục, tham ái. Cho nên đó là những lần rung chuyển chấn động ở bên trong.
Mình càng chấn động nhiều chừng nào, sức công phá của sự thật càng lớn nên khi nghe thiền quán, mình đừng nghĩ rằng ai nói, ai nghe, đừng phân tích lời đó đúng hay sai. Đó là tâm không nhu nhuyến, không thuận pháp, tùy pháp, tâm chưa được “tùy văn nhập quán”. Chúng ta hãy bằng một tâm hết sức mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng, pháp vào tới đâu là tâm mình đi theo tới đó, không chống đối, không có ý tưởng sao nói như vầy, có đúng không… Đó là những ý hành thô, tâm mình chưa nhu nhuyến. Vì đó là sự thật.
Những bài thiền quán đó không có một cái gì riêng của cá nhân người nói, mà những bài thiền quán đó chuyển tải lại Thánh trí tuệ, định lý, chứng ngộ của Đức Phật. Chúng ta nghe kỹ tất cả bài thiền quán, chẳng qua diễn lại lời của Đức Phật theo ngôn ngữ hiện tại chứ không có ý riêng của cá nhân người nói, đó là sự thật.
Cho nên, thuận theo pháp, mình thuận pháp tùy pháp, để cho tâm mình mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng, đi theo pháp vận hành. Lúc đó mình sẽ được lợi lạc rất lớn. Lợi lạc đó là gì? Mình sẽ cảm nhận, cảm thọ, cảm xúc được sự thật, chạm đến sự thật, rung cảm, rung chấn, kinh cảm, kinh động, chấn động trước sự thật và thể nhập thực tướng của sự thật trong thiền quán. Thành ra, hỷ ưu là điều bình thường.
Sau này, khi mình có thời gian tu học rồi, đối với tâm, với cảm thọ của mình, mình sử dụng nó dễ dàng. Muốn vui, mình an trú luôn suốt một tuần lễ trong tâm hỷ. Mình muốn trú trong tâm từ là mình trú luôn suốt bảy ngày, một tháng, ba tháng. Muốn trú tâm nào là mình trú trong tâm đó. Mình muốn trú tâm xả là trú luôn tâm xả một thời gian dài. Cũng như bản thân Minh Thành được trú trong tâm hỷ của pháp như vậy suốt hàng năm trời, không mất tâm hỷ. Cứ nghe tới Nikāya, nói về Nikāya là rung động, cũng như mấy thầy ở đây có trình pháp rồi, nó muốn vỡ lồng ngực ra, nó dâng lên những cảm thọ. Mà những điều đó là hỷ lạc trong pháp.
Như vậy, mình khéo léo điều hòa, cho nó từ từ, và khi thâm nhập được rồi, rất tuyệt vời. Mình muốn trú vô tâm nào là trú vô tâm đó, mình muốn trú tâm hỷ là suốt một thời gian dài, muốn trú tâm từ là trú, muốn trú tâm bi mẫn là trú vào tâm bi mẫn. Nó giống như căn nhà, phòng ốc của mình vậy, mình ở trong đó dạo chơi, an trú. Nhưng mình phải có cảm thọ mới được, còn tu một pháp mà cứ đơ đơ, ngồi thiền, mà không thấy hạnh phúc, hứng thú, không đem lại điều gì cho mình, cứ ngồi cho yên vậy thôi. Điều đó tốt, nhưng được phần chỉ thôi, còn phần quán, phần triển khai để đi vào sự thật bị khựng lại, dừng lại.
Hơn nữa, đi sâu vào, chúng ta sẽ mổ xẻ, giải phẫu thân tâm mình. Đây là bước sâu sắc của thiền quán chứ không phải im ru. Chúng ta sẽ mổ xẻ từng hình ảnh trong tâm mình, từng suy nghĩ, từng cảm thọ. Cho nên, tu theo đúng tinh thần Nikāya là siêu tích cực, không rảnh thời gian nào hết. Thậm chí mình moi móc ở trong những cảm thọ của mình, những hình bóng trong tâm, mình phải đem nó ra xử. Mình rà xét lại, coi cảm thọ sân, cảm thọ dục ái này ra sao, cảm thọ bản ngã này ra sao. Nó không khởi, nhưng mình tác ý nó khi nó chưa khởi, tác ý khi nó đang khởi và đã chấm dứt, chứ không thể ngồi im ru được với nó.
Bây giờ Minh Thành lấy một ví dụ đơn giản: có một con cá sấu bò vô trong nhà mình, mình nằm ngủ được không? Hay có con rắn hổ mang bò vô, mình nhìn thấy nó, còn nằm ngủ được không? Cho nên mình phải tìm mọi cách đánh đuổi nó ra. Thiền quán này tích cực, năng động như vậy đó. Sau khi phát giác, phát hiện những suy tư, hình bóng, cảm thọ ác bất thiện pháp của sự xúc dục, sự yêu thích, sự ham muốn, những cảm giác bức xức, bực bội, khó chịu, hay những cảm giác ta đây, khen mình chê người, khinh thường người khác, cho mình là hay, là giỏi.
Những điều đó mà mình nhìn thấy được trong cảm thọ, hoặc trong ý hành là mình phải đem ra xử nó. Mình phải quở trách, những suy nghĩ này là xấu hổ, nhục nhã, thấp hèn, hạ liệt, suy nghĩ ta đây là phàm phu, những suy nghĩ này đáng tàm, đáng quý, mình phải rầy la, quở trách nó. Giống như người đó đang đi rất thoải mái, tự nhiên, bỗng nhiên họ thấy có người nhìn mình, lúc đó người này có sửa tướng đi lại không? Có hơi rụt rè, cẩn thận, có hơi để ý một chút không? Tại vì có người nhìn mình. Lúc nãy họ đi tung tăng, nhưng khi có người đang nhìn mình, nhìn hết sức kỹ.
Cũng vậy, tâm mình bị trí Chánh niệm, tỉnh giác nhìn vô cho nên nhìn ra dục, ái, tham, sân, si, nhìn ra bản ngã. Đó là sự nhận diện ngũ uẩn, quán chiếu thân tâm, sự Chánh niệm và tỉnh thức. Có người, họ để ý vô từng suy nghĩ, cảm thọ, hình bóng của sự Chánh niệm và tỉnh thức. Cũng vậy, tâm bản ngã bị nhìn riết rồi nó rụt rè, cái tham bị nhìn vô, nên nó rụt rè, nó sợ bị la, bị mắng, bị chửi. Mình tác ý riết như vậy rồi nó xấu hổ, nó sợ.
Đức Phật ví dụ trong “Tương Ưng Bộ Kinh” mà sau này người ta phát triển thành mười bức tranh chân trâu, chứ thật ra nó rất đơn giản: đánh con trâu một trận nên thân, “Tương Ưng Sáu Xứ”, sau này nó thấy lúa mạ không dám ăn nữa. Đức Phật nói nó nhớ tới trận đòn nên thân đó, mà gặp lúc mạ không dám nhào vô nữa. Đó là do sự tác ý của mình, do quở trách tâm, rầy tâm, tâm ác bất thiện pháp, tâm ái nhiễm, tâm dục ái, sân hận, bản ngã. Đức Phật dùng nhiều từ rất nặng, mà mình không để ý, Ngài dùng những sự tác ý rất hay. Đức Phật nói ái nhiễm là ung nhọt, là bệnh hoạn, là cục bướu, mũi tên, rắn độc, kẻ giết người, hố than hừng. Ngài dùng rất nhiều những từ để quở trách, để tác ý, rầy la, trách mắng.
Chúng ta đã nói sơ lược về thiền quán, cũng như hỷ và ưu, mừng, buồn, vui hay sự khóc, trào dâng cảm xúc ở trong thiền tập, rất tốt cho mình. Có những lúc mình như bất động, như ngọn núi. Có những lúc mình uyển chuyển như dòng nước, lúc cong, lúc thẳng, tùy theo dòng chảy, linh hoạt, uyển chuyển tùy theo trí tuệ của mình, chứ không phải lúc nào cũng thẳng băng, im ru, người ta hỏi gì cũng không biết. Mình cứ giữ như vậy, nghĩ là hay, nhưng không phải. Đó là tâm thụ động, không sắc bén, linh hoạt, nhiệt tâm, tinh cần ở trong sự thấy biết tâm mình.
II. Thức
Một điểm cuối mà Minh Thành có nghe lại là các cô về thức, thức này thấy vậy mà không dễ hiểu. Thực ra trước khi Minh Thành đi vào tu học đường lối Nikāya này là tu mù hai mươi tám năm. Hoàn toàn mình chỉ làm được những thiện pháp, mình tác ý, hài lòng. Nhưng khi đi vào trong dòng pháp này rồi, con mắt mình mới bắt đầu được mở ra. Nhiều khi chúng ta học nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, tức sáu thức, như là biết thêm chữ nghĩa thôi chứ chưa nhận diện được.
Nhãn thức không phải sự biết của con mắt, còn một hai ngày nữa, có duyên chúng ta sẽ chia sẻ về nguyên lý sanh khởi ngũ uẩn. Nhãn thức là sự rõ biết các sắc. Nhĩ thức không phải sự biết của lỗ tai mà là sự rõ biết âm thanh. Thiệt thức không phải sự biết của lưỡi mà là sự rõ biết các vị. Tỷ thức là sự rõ biết các mùi, thân thức là rõ biết các sự đụng chạm. Thành ra các cô, nhất là các vị mới phải học thuộc lòng. Không học thuộc lòng thì không bao giờ nhận diện được, mình nghe rồi một hồi nói lại, trật lất, tam sao thất bản, mà mình mới nghe kinh, nhắc lại là trật lất. Như vậy sẽ loạn pháp. May là trao cho các vị Thánh tăng, chúng ta giờ này mới còn đại tạng kinh chứ trao cho mình, buổi sáng tới trưa là xong, pháp đi luôn.
Nhưng mà mình không học thuộc lòng, con nhớ rồi. Nên chính chỗ suy diễn, thọ, tưởng, hành, thức của mình, mà Pháp bây giờ ra như vậy. Họ không tôn trọng tuyệt đối lời dạy của bậc Chánh Đẳng Giác, tự ý họ suy diễn, nhớ theo vô minh, nhớ riết rồi lần lần… có câu Phật nói. Không phải Phật nói cũng nói là Phật nói, như vậy cuối cùng là mạt pháp. Chính vì vậy mà phải học thuộc lòng. Đức Phật cũng nói trong kinh Nikāya: “các ông cần phải học thuộc lòng, cái này liên hệ đến phạm hạnh, là căn bản của phạm hạnh”. Cho nên các cô cố gắng học thuộc lòng những cái cần học thuộc lòng trong “Căn bản trí I” và “Căn bản trí II”. Nếu không học thuộc lòng thì đi vô thực hành mình không thể nào biết được hết.
Giống như định lý vậy, phải thuộc lòng rồi sau đó mới ứng dụng ra. Cũng như mình học thuộc lòng khẩu quyết trong kiếm hiệp, những bí quyết, khẩu quyết, bí kíp. Ở đây cũng vậy, bí kíp Chánh Pháp, khẩu quyết Chánh Pháp, định lý Chánh Pháp phải thuộc lòng. Thuộc lòng là pháp học, từ pháp học thuộc lòng đó mình mới nhìn sâu trở lại nội tâm mình mới nhận diện ra. Sau khi nhận diện một bước rồi, từ từ mình sẽ nhận diện ra những cái vi tế hơn, sâu sắc hơn, nhỏ nhiệm hơn. Mình có những pháp tương thích, tương ứng để xử lý những lậu hoặc của mình.
Như vậy, bây giờ vấn đề trọng yếu nhất trong sáu thức này là ý thức. Những bài này Minh Thành chia sẻ hết rồi, các cô chịu khó về nghe: ý thức. Giờ các cô đừng ngại, mời ba vị, trước đây mình học về ý thức, nó là gì? Cứ chia sẻ một cách thật lòng, không sao cả, học sao cứ chia sẻ vậy.
(1:16:15 đến 1:22:10 trình pháp)
Chỗ này ngày xưa Minh Thành cũng không biết rõ, khi đi vào học theo tinh thần kinh tạng Nikāya nguyên gốc mới thấy rằng không phải giống như mình hiểu mà trong đây có định lý của Đức Phật, chứ mình không hiểu chung chung được. Chúng ta chỉ giới thiệu một chút rồi quý vị về thực tập nhận diện luôn. Đây là định lý, không phải mình muốn nghĩ sao thì nghĩ, hiểu sao thì hiểu, mà nó phải là định lý của Đức Phật, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác giải thích cho chúng ta. Nếu mình không biết được ý thức là không nhận diện được thức uẩn, khi không nhận diện được thức uẩn, mình sẽ không rõ, không thành tựu trí tuệ về nó. Ý nó chỉ biết về thọ, tưởng, hành.
Mình lấy ví dụ: khi ngồi thiền, mình để ý trong tâm đang có hình ảnh của mẹ, đó là tưởng; có một cảm giác dễ chịu, ấm áp là thọ; có những suy nghĩ về mẹ không biết giờ này làm gì là hành; mình để ý vào trong tâm, hình bóng mẹ hiện ra, cảm giác dễ chịu hiện ra, suy nghĩ về mẹ hiện ra, và mình biết rõ điều đó, là ý thức. Ý thức là biết được thọ, tưởng, hành; đây là định nghĩa, định lý của Đức Phật.
Bây giờ để ý vào trong tâm, mình thấy có hình bóng của người hồi sáng nói nặng mình là tưởng, có cảm giác khó chịu là thọ, suy nghĩ về người đó, tại sao họ nói vậy, mình phân tích lời nói của người đó, nói vậy là khinh tôi như thế nào, xem thường tôi ra sao, là hành. Mình rõ biết được trong tâm mình có hình bóng của người mình giận, có cảm giác khó chịu, có những suy nghĩ về người đó, mình rõ biết được điều đó, đó là ý thức.
Thêm một ví dụ nữa: mình ở trong phòng một mình, tự nhiên nhớ có hình bóng của một người dễ thương xuất hiện, là tưởng; cảm thọ dễ chịu có mặt kèm theo hình bóng đó là thọ; những suy nghĩ về người đó, người đó dễ thương như thế nào, mình đã từng gặp ra sao, có những hành động, cử chỉ gì, là hành. Lúc đó, mình rõ biết được đang có hình bóng của người dễ thương đó, đang có cảm thọ dễ chịu, đang có những suy nghĩ về người đó, là ý thức.
Thành ra, ý thức nó chỉ biết được thọ, tưởng, hành thôi, còn nhãn thức mới biết được những hình sắc bên ngoài, gọi là nhãn thức giới, là phạm trù, giới thức của nhãn thức. Nó chỉ biết được hình sắc, âm thanh không biết, còn nhĩ thức chỉ biết được âm thanh, mùi không biết, còn tỷ thức chỉ rõ biết được mùi, thiệt thức chỉ rõ biết được vị, thân thức chỉ biết được sự đụng chạm.
Ví dụ bây giờ mình để ý, thấy quần áo có chạm trong da thịt mình, hay chỗ ghế ngồi mà mình chạm, giữa chân, mông chạm với các thanh tre, nó rõ biết sự đụng chạm ngay chỗ đó, đó là thân thức. Năm thức trước biết ở ngoài, ngoại cảnh; còn ý thức biết được ở trong: thọ, tưởng, hành. Đây là định lý của Đức Phật, không có bất cứ người nào khác có thể nói khác được điều này. Nó có một chuẩn mực, chứ không phải nói chung chung là mình không nhận thức được. Để ý vào bên trong sẽ thấy có hình ảnh, có cảm giác, có suy nghĩ, rõ biết được điều đó.
Mình Thành nói ngắn gọn để chúng ta nhận diện được ý thức. Thành ra chúng ta học Nikāya thấy tuyệt vời lắm. Tất cả đều có định lý, chứ không phải mình muốn suy nghĩ sao thì suy nghĩ, hiểu sao thì hiểu. Mình nói điều đó tôi hiểu, tôi hiểu đâu có được, vì Đức Phật chứng ngộ, trình bày cho mình, mình theo định lý đó, nhận diện lại nó sẽ ra các pháp đó. Đó là mình đi theo sự chứng ngộ sự thật của Đức Phật. Còn nếu mình tự suy nghĩ ra, nói tôi hiểu như vậy, suy nghĩ như vậy, cho là như vậy, cái đó là của vô minh, không phải Thánh trí. Đây mới là Thánh trí.
Khi mình nhận biết được ý thức rồi, mình thành tựu trí về ý thức, trí huệ về nó, thấy về nó, biết về nó, mình coi sự vận hành, vận động của nó như thế nào mới có khả năng nhiếp phục, chế ngự nó. Nếu mình chưa biết nó, nói rằng để tôi lại gặp người kia đặng tôi xử lý họ, nhưng hỏi tên gì, không biết; mặt mũi ra sao, đen trắng, cao thấp mập ốm cũng không biết; tánh tình họ ra sao, già trẻ, lớn nhỏ rồi làm sao mình lại xử lý người đó. Thành ra biết tên tuổi, mặt mũi, dáng vẻ, biết tính tình, gốc gác, chỗ cư trú ở đâu, sau đó mình mới làm việc với họ được.
Sự tu của mình, tu theo kinh Nikāya là rõ biết hết tất cả nguồn gốc, tập khởi và đoạn diệt của ngũ uẩn. Từ đâu nó sanh khởi ra, chúng ta học kỹ, rồi học nguyên lý sanh khởi của ngũ uẩn, sắc do cái gì sanh khởi, vận hành và chấm dứt như thế nào. Thọ do cái gì sanh khởi, vận hành như thế nào, làm sao để chấm dứt, tưởng, hành sanh diệt ra sao, thức từ đâu, duyên khởi sanh diệt ra sao. Chúng ta nắm được hết Ba Mươi Bảy Trí về ngũ uẩn, chúng ta phải học. Cho nên, con mời tất cả các cô phải học thuộc lòng “Căn bản trí” mới nắm vững được.
Về trình bày phần kinh “Duyên sanh pháp” trong bài kinh “Cả hai”, chúng ta mở ra xem. Đức Phật giải thích, ý thức là biết được những cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ trong tâm. Còn vấn đề tuệ tri là một phạm trù khác, lĩnh vực riêng, ở đây mình nói về ý thức thôi. Nãy giờ chúng ta nói về ý thức chung chung, lẫn lộn giữa nhãn thức hay nhĩ thức. Cho nên Minh Thành phân biệt rạch ròi để chúng ta thấy rằng sự rõ biết sắc là nhãn thức, sự rõ biết tiếng là nhĩ thức, sự rõ biết mùi là tỷ thức, sự rõ biết vị là thiệt thức, sự rõ biết, sự đụng chạm của thân là thân thức.
Năm thứ này ở bên ngoài, biết đối tượng ở bên ngoài, còn ngược lại, ý thức biết đối tượng ở bên trong, biết cảm giác, hình bóng và suy nghĩ bên trong. Chúng ta chưa mở rộng gì đến tuệ tri, chỉ đang nói về ý thức. Đây là định lý của Đức Phật trong bài kinh “Cả hai”, chúng ta tìm hiểu, đọc thêm bài kinh đó, khoan hãy vội phản ứng và đánh giá, chúng ta sẽ thực tập, nhận diện khi mình thiền tập trong thời gian ở đây. Đừng vội đánh giá hay phản ứng sớm, vì đây là lời của Đức Phật, không thay đổi được, nó thuộc về định lý, không được ý kiến gì cả.
Nếu là lời của Minh Thành thì ý kiến được, còn lời của Phật, không ý kiến, chỉ có tập nhận diện để nhìn ra nó thôi, chứ lời Đức Phật không có gì bàn cãi cả. Ví như lời của thầy nào, của ai thì mình bàn, còn lời Đức Phật mình không bàn được, chỉ có cách thuận pháp, tùy pháp để coi lại nó có đúng như vậy hay không. Nếu thấy chưa đúng, từ từ mình sẽ nhận ra để thấy đúng với lời Đức Phật. Thành ra cách học Nikāya khác với những cách học khác là vậy.
Con mong rằng các cô cứ trầm tĩnh, kham nhẫn để nhận diện thân tâm mình. Có khi những điều mình đã học, mình đã quen với nhận thức, nhận định đó rồi nhưng chưa hẳn điều đó là tuyệt đối. Chúng ta nên lấy kinh điển y cứ, y cứ vào Thánh điển để chúng ta nhận diện thân tâm mình, mới có thể chạm đến sự thật thật sự. Hôm nay chia sẻ tới đây thôi, còn rất nhiều thứ để chúng ta học.