Xưng Tán Đức Hạnh Ngài Xá Lợi Phất
Kinh Nikāya Giảng Giải
Xưng Tán Đức Hạnh Ngài Xá Lợi Phất!
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Những hạnh đức của Ngài Xá Lợi Phất PAGEREF _Toc145751815 \h 1
II. Tâm nhu thuận của Ngài Punna PAGEREF _Toc145751816 \h 14
I. Những hạnh đức của Ngài Xá Lợi Phất
Con dập đầu cúi lạy Phật Thích-ca Mâu-Ni, bậc thế gian tôn kính, tâm hoàn toàn thanh tịnh, diệt tận tham, sân, si, thấu hiểu đến tột cùng thân tâm và thế giới.
Kính bạch chư tôn hiền đức và các vị hiền trí, hôm nay chúng ta tiếp tục nghe những bài kinh liên hệ đến ngài Xá-lợi-phất nằm trong Tương Ưng Bộ, tập I.
"Nhân duyên ở Sàvatthi.
Rồi Ðại đức Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Ðại đức Ananda đang ngồi một bên:
-- Này Ananda, Ông có hoan hỉ đối với Sàriputta không?
-- Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỉ đối với Tôn giả Sàriputta?
Bạch Thế Tôn, hiền trí là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, đại tuệ là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, quảng tuệ là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, hỷ tuệ là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, tiệp tuệ là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, lợi tuệ là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, quyết trạch tuệ là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, ít dục là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, biết đủ là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, viễn ly là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, bất cộng trú là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, tinh cần, tinh tấn là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, biện tài là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, nghe lời trung ngôn là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, cáo tội trung thực là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sàriputta
Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỉ đối với Tôn giả Sàriputta?
-- Như vậy là phải, này Ananda. Như vậy là phải, này Ananda. Này Ananda, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỉ đối với Sàriputta?
Này Ananda, hiền trí là Sàriputta. Này Ananda, đại tuệ là Sàriputta. Này Ananda, quảng tuệ là Sàriputta. Này Ananda, hỷ tuệ là Sàriputta. Này Ananda, tiệp tuệ là Sàriputta. Này Ananda, lợi tuệ là Sàriputta. Này Ananda, quyết trạch tuệ là Sàriputta. Này Ananda, ít dục là Sàriputta. Này Ananda, biết đủ là Sàriputta. Này Ananda, viễn ly là Sàriputta. Này Ananda, bất cọng trú là Sàriputta. Này Ananda, biện tài là Sàriputta. Này Ananda, nghe lời trung ngôn là Sariputta. Này Ananda, cáo tội trung thực là Sàriputta. Này Ananda, chỉ trích ác pháp là Sàriputta. Này Ananda, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm, lại có thể không hoan hỉ đối với Sàriputta?"
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương II. Tương Ưng Thiên Tử, III. Phẩm Các Ngoại Ðạo, IX. Susima)
Bất cộng trú là không ở chung với sân si, không ở chung với dục ái, bản ngã, biện tài là tài hùng biện.
"Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta với bài pháp thoại đang tuyên thuyết, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ các Tỳ-kheo, với lời nói lịch sự, thông suốt, không có phều phào, với ý nghĩa rõ ràng minh bạch. Và các vị Tỳ-kheo ấy chú ý, chú tâm, tập trung tâm lực, lắng tai nghe pháp.
Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ: 'Tôn giả Sàriputta với bài pháp thoại đang tuyên thuyết, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ các Tỳ-kheo, với lời nói lịch sự, thông suốt, không có phều phào, với ý nghĩa rõ ràng minh bạch. Và các vị Tỳ-kheo ấy chú ý, chú tâm, tập trung tâm lực, lắng tai nghe pháp. Vậy trước mặt Tôn giả Sàriputta, ta hãy nói lên những bài kệ tán thán thích đáng'.
Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về Tôn giả Sàriputta và nói với Tôn giả Sàriputta:
-- Hiền giả Sàriputta, một vấn đề đến với tôi. Hiền giả Sàriputta, một vấn đề đến với tôi.
-- Mong rằng Hiền giả Vangìsa nói lên vấn đề ấy!
Rồi Tôn giả Vangìsa, trước mặt Tôn giả Sàriputta, nói lên những lời kệ tán thán thích đáng:
Trí tuệ thâm, trí giải,
Thiện xảo đạo, phi đạo,
Ngài Sàriputta,
Là bậc Ðại trí tuệ.
Chính Ngài đang thuyết pháp,
Cho các vị Tỳ-kheo.
Ngài giảng cách tóm tắt,
Ngài cũng thuyết rộng rãi.
Như âm thanh vi diệu,
Của loại chim Sàli,
Lời Ngài giảng tuôn trào,
Tiếng Ngài nghe ngọt lịm.
Với giọng điệu ái luyến,
Êm tai, và mỹ diệu,
Chúng lắng tai nghe pháp,
Tâm phấn khởi hoan hỉ,
Này các vị Tỳ-kheo"
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VIII. Tương Ưng Trưởng Lão Vangìsa, VI. Sàriputta (Xá-lợi-phất))
Tôn giả Vangìsa trước lúc đi tu là một nhà thơ, một thi sĩ cho nên khi cảm xúc là ngài nói lên bài kệ. Tôn giả Vangìsa khen ngợi trí tuệ của ngài Xá-lợi-phất thâm sâu, ngài thông đạt, thấu hiểu, khéo léo trong cái này là đạo lộ của bậc Thánh, cái nào không phải là đạo lộ của bậc Thánh, đó gọi là thiện xảo đạo, phi đạo, cái nào là Thánh đạo, cái nào không phải là Thánh đạo thì ngài rất rành rõ, rất thiện xảo, phân tích rõ ràng, diễn thuyết, trình bày, biện biệt, giãn trạch. Ngài Xá-lợi-phất có khả năng thuyết pháp giống Đức Phật, âm thanh vi diệu như tiếng chim Ca-lăng tần già, ngài phát ra âm thanh đi vào tim của thính chúng, đi vào lòng người, lời nói ngọt ngào, giọng nói êm tai, dễ nghe, người ta thích nghe âm giọng của ngài.
Có những người có chất giọng phát ra rất chói tai, đó cũng là nghiệp, người tu bốn nghiệp về miệng, không nói dối, đâm, độc, nhảm, nói lời từ ái, hiền thiện thì có lời nói dễ nghe, dễ mến, dễ đi vào lòng người, nếu mình có giọng đó thì mình ráng tiếp tục tu như vậy, còn nếu mình có chất giọng khó nghe thì mình phải biết cái nghiệp của mình để điều chỉnh lại.
Có những người cất giọng lên ai cũng dễ chịu, hoan hỉ, nhưng có những người cất giọng lên làm người ta khó chịu, sân, khổ thọ khi nghe âm thanh đó, đó là do tu tập bốn nghiệp của miệng.
"- Thành tựu sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo vừa đủ cho tự mình, vừa đủ cho các người khác. Thế nào là sáu?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp; là người thọ trì những pháp đã được nghe; là người suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp; giọng nói dễ nghe, phát âm tốt, lời nói tao nhã, phân minh, phát ngôn không bập bẹ, giải thích nghĩa lý xác minh; có khả năng thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ các đồng Phạm hạnh. Thành tựu sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo vừa đủ cho tự mình, vừa đủ cho các người khác"
(Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (II). Vừa Ðủ)
Ở đây mình phải để ý đến giọng nói, chất giọng, âm giọng là mình không sửa được nhưng cách mình nói, cảm thọ của mình khi nói và sự điều chỉnh độ nhanh của lời nói thì mình có thể làm được. Chúng ta là người xuất gia hay người cư sĩ cũng vậy, phải có khả năng nói pháp, điều này rất quan trọng, mình phải có trách nhiệm duy trì, làm lan tỏa Thánh pháp. Nhưng tiếp tục, duy trì, lan tỏa bằng cái gì? Nếu từ Bồ-đề đạo tràng cho đến Tala song thọ mà Thế Tôn không nói pháp thì giờ này mình có tạng kinh Nikāya không?
Cho nên sự biểu đạt là từ lời nói, nếu lời nói mình không tu tập, không để ý thì mình không có khả năng trình bày cái pháp cho người khác hiểu dù mình có hiểu, muốn như vậy thì phải để ý tu tập lời nói rất nhiều. Con để các thầy, các cô trình pháp là ngoài việc biết chúng ta tu học đến đâu, chia sẻ khó khăn, tháo gỡ khúc mắc thì còn một ý nữa là giúp cho chúng ta thực tập và rèn luyện cách chia sẻ pháp.
Người xuất gia chỉ có hai việc, một là tu, hai là chia sẻ pháp, đó là hai việc quan trọng nhất, nhiều khi có những vị trình pháp, nói điện thoại con nghe không kịp, ở đây cũng vậy, đó là nói trong cái dục, người đời không nói vì càng lanh lẹ thì càng thích nhưng người tu thì khác, cứ nói huyên thuyên mà không biết nói cái gì, chữ được chữ mất, âm giọng không có chánh niệm nên phát ra the thé, nghe không có chất tu, chất thiền trong đó, không có chánh niệm tỉnh giác, không có lắng dịu, an tịnh trong lời nói. Nói ra là người ta đọc được mình đang trạo cử, trong âm thanh phát ra lúc đó người ta đọc được mình đang sân, mình nói ra lúc đó người ta đọc được mình đang ái vì thế khi nghe phát âm thì mình sẽ biết trạng thái ngũ uẩn của người đó đang như thế nào.
Ngày xưa con trình pháp cho bậc đạo sư toàn bộ đều qua điện thoại nhưng khi con nói chuyện bình thường thôi mà ngài đọc được ngũ uẩn của con lúc như thế nào làm con bất ngờ, chỉ trong âm thanh thôi mà ngài đọc ra hết thọ; tưởng; hành; thức của mình cho nên thần thông là như vậy đó, trí tuệ là như vậy đó, dù chưa đạt được thần thông như các vị sáu thắng trí lục thông thời Đức Phật nhưng trí về ngũ uẩn là ngài đọc được hết vì ngũ uẩn giống hết nhau, duyên sanh pháp không khác nhau, tham, sân, si không khác nhau.
Bản chất là một thôi cho nên mình hiểu mình thì mình sẽ hiểu người ta vì thế không cần đi hiểu người ta, chỉ cần hiểu mình là hiểu hết. Khi mình nói chuyện có rất nhiều pháp trong đó, nhiều khi con chia sẻ pháp rồi nhưng khi nghe lại thì thấy xấu hổ, tắt nhanh không dám nghe nữa, thấy chưa được hiền lắm cho nên khi mình nói chuyện sẽ thể hiện công phu tu tập của mình.
Khi phát âm phải có chánh niệm, phải có sự điều tiết trong âm thanh của mình, không quá lớn cũng không quá nhỏ, có người nói trong miệng không nghe được nên phải hỏi lại, có người lại nói vang trời vang đất. Đều này giống như mình lên dây đàn tiếng phải vừa đủ, trong những bài pháp của mình có người bình luận âm thanh lúc nhỏ lúc lớn khó nghe, có khi mình để nhạc quá lớn làm người ta giật mình phải mở nhỏ xuống, đến phần giảng pháp lại nhỏ quá phải mở to lên. Một người có tâm tu sẽ có rất nhiều công việc để làm, nhiều khi mình nói ra một câu mà trong đó là nói móc rất nhiều người, nhìn thấy hiền lắm, mắt lúc nào cũng nhìn xuống nhưng nói ra lời nào là đầy mũi tên lời đó.
Con vừa đọc bài kinh này thôi là nước mắt đã rưng ra rồi, con có nhân duyên với ngài Xá-lợi-phất rất lạ. Ngày xưa con dành 28-30 năm để đi cầu pháp, cầu nguyện làm sao để tìm ra được pháp hành, có một chú người Pháp, chú đó thường lên đây tu thiền, chú đó mời con qua Nepal, khi đến nơi đó là đại tháp có hai con mắt rất lớn, tháp đó có tuổi đời trên 1000 năm, trong tháp đó để tóc của Đức Phật và xá lợi của ngài Xá-lợi-phất. Tự nhiên con đến đó là khóc rất nhiều, con nói "ngài là bậc trí huệ bậc nhất, con giờ đang đau khổ, si mê, vô minh, đầy rẫy những dục, tham, ái, con đi mò mẫm không biết đường tu".
Con khóc với ngài rất nhiều rồi cầu nguyện và lạy, mỗi sáng đi vòng vòng nơi đó để lạy, không biết nhân duyên ra sao mà trở về con gặp bậc đạo sư. Khi con gặp ngài thì những gì ngài dạy toàn là trí tuệ, trong tâm con ngài là sự tái hiện của tôn giả Xá-lợi-phất thứ hai, con dùng bốn chữ "Thánh đức từ dung" để nói lên đạo hạnh của ngài, đến bây giờ con đọc những bài kinh này nói về ngài Xá-lợi-phất là tự nhiên trong tim dâng trào lên cảm thọ, chắc cũng đi theo ngài học mấy ngàn năm trước, cũng từng nghe ngài thuyết pháp rồi cho nên nơi đây phải làm Thánh tượng của ngài Xá-lợi-phất để mình lễ lạy, tưởng nhớ.
Sau khi mình học bài kinh "Sau khi an cư" có chín pháp an trú tâm là mình rung động toàn thân, sau đó ngài đưa bài đảnh lễ đức hạnh ngài Xá-lợi-phất là con ngạc nhiên hết cái này đến cái khác, nhân duyên tương ứng với nhau. Pháp hành của mình ở đây cơ bản là chín pháp an trú tâm của ngài Xá-lợi-phất, trong biết bao vị Thánh ngài chỉ biết một bài về ngài Xá-lợi-phất thôi, đúng ngay chỗ mình cầu nguyện, mình hướng tâm về cho nên tất cả pháp đều có nhân có duyên, cái này có thì cái kia khó.
Do con nghiêng về cái trí nhiều quá nên ít có người ở gần, cô cũng vậy, ngài tâm sự là thật sự không có người nào chấm được, ngay cả con cũng chưa đạt yêu cầu nên mình chỉ còn cách cố gắng thôi. Người trí rất khó gần, không phải người ta làm khó mình mà do mình sống với vô minh, bản ngã, dục ái, mình sống với năm triền cái thì làm sao tương ứng với các bậc hiền trí. Thường thì người trí thích ở một mình vì thế đức hạnh đầu tiên về ngài mà mình học là hiền trí, tất cả thành viên trong đạo tràng đều đang thực tập hai chữ này.
Có những chuyện rất kì lạ, ở Myanmar và Nepal động đất tan hoang hết nhưng ngay chỗ cái tháp của ngài Xá-lợi-phất vững như bàn thạch mấy ngàn năm. Ở chỗ sợi tóc của Đức Phật cũng vậy, trên viên đá đó dính một chút sợi tóc của Đức Phật, các ngài không quan trọng sự huyền bí nhưng các ngài chứng được Thánh trí ngũ uẩn thì ngũ uẩn của các ngài trở thành màu nhiệm, vi diệu, bất khả tư nghì, vượt ra ngoài khoa học nghiên cứu. Vì thế mình cần để ý lời nói, đó là phương tiện để duy trì và lan tỏa Thánh pháp sau sự tu chứng, khi mình đạt pháp thì tự động lời nói mình sẽ hợp pháp, nhưng muốn đạt pháp thì cũng phải đạt thân, miệng, ý chứ không phải cái pháp nằm ngoài thân, miệng, ý. Khi các vị viết bài trình pháp cũng phải để ý viết với tâm chân thành tu học, phải nhận diện ngũ uẩn trong khi viết.
Chỉ riêng việc ít muốn ăn thôi là khỏe rất nhiều rồi, nhiều khi hôm đó đồ ăn ngon quá rồi ăn nhiều thêm, về nhà đến giờ ngồi thiền là khó khăn, thấy nặng nề, ì ạch. Mình ít ngủ thì đến giờ ngồi thiền thuần túy trong sáng, tinh anh, tinh cần, tinh tấn, con ma ngủ không xâm chiếm được, mình tác ý ngủ đủ rồi thế là mình diệt được nó, mình tỉnh táo. Đối với sinh hoạt cũng vậy, những phương tiện sinh hoạt đơn sơ, đơn giản, tâm mình nhẹ nhàng trong mọi hoàn cảnh, phải có những cái này thì mình mới hiền trí được.
Chẳng hạn như bốn cái toilet đơn sơ trước thiền đường, chỉ có 4 tấm tôn khiêng đi đâu cũng được nhưng dùng cũng được 5-7 năm rồi, không cần dán gạch men, đá hoa cương gì cả, miễn sao vào đó xả ra được là tốt rồi, đơn giản nên đỡ tốn thời gian, đỡ lao tâm, lao lực, đỡ phiền não, không đòi hỏi gì cả nên cần tập ít muốn biết đủ với mọi hoàn cảnh. Ở đây cũng không cần khóa cửa vì trong thiền đường chỉ có tượng Phật thôi, rất đơn giản cho nên những gì con thiết kế là lấy theo Nikāya, kiến trúc của Phật giáo nguyên chất. Lúc trước chưa vô Nikāya trọn vẹn đã như vầy, bây giờ thêm làng tu thì càng đơn giản, mình lùi trở về cả ngàn năm trước vì người dân tộc ao ước được lên nhà tường, ông bà, cha mẹ và họ ở nhà ván, nhà tre nên họ cố gắng lên nhà tường, còn mình lấy cái bỏ đó về dùng, còn đồ người ta ham muốn, tìm kiếm thì mình xin từ bỏ, xin rời xa, đó là ít muốn biết đủ, quay trở về những gì đơn giản nhất.
Khi sanh ra mình không có tấm vải che thân, tấm thân trần truồng như nhộng, đến khi mình chết thì cái nút áo cũng bị lắc lại, người ta đem mình ra thiêu không còn gì cả, tại sao ở chặng giữa mình lại gom góp đủ thứ, mình chiếm hữu, đòi phải là của tôi để làm gì? Ở chặng giữa mình bươi, mình quào, mình chụp, mình giật, mình hốt để làm gì vậy?
Đó là người không hiểu được thật tướng của đời sống, không hiểu được bản chất của đời sống cho nên phải tập buông xả, càng xả thì càng vui. Đối với con ai cúng dường tiền là con đem tiền đó đi bố thí cho hết để nhẹ lòng, bánh trái người ta cúng dường con cũng đem phát cho hết thì thấy vui vì sợ hết hạn, chuột ăn mất, kiến bò vô, chất đó để chật chỗ, đem cho hết thì thấy vui.
Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!
Niềm vui nho nhỏ cứ đem cho
Có người thí vật, người thí pháp
Cái gì thí được, cứ đem cho…
Cứ cho đi rồi sẽ có lại, cứ như vậy mà làm, có đồ ăn cứ cho đem nên đi toàn thế giới ở đâu cũng được đãi đồ ăn thượng hạng, nhưng không phải mình làm để cầu mong như vậy mà nhân quả là như vậy. Vì thế con dặn nhà bếp làm đồ ăn phải đầy đủ, bất cứ khách nào vô cũng miễn phí hết, chúng ta phải tập đời sống đơn giản, tối giản như ngài Xá-lợi-phất, có một cô Phật tử ra ngoài xách túi hàng hiệu thì bị cướp giật túi làm cô té đập đầu may 16 mũi cho nên ngày xưa giàu đeo đồ thì đẹp nhưng bây giờ đeo thì rước họa, lòng tham con người khác xưa rất nhiều, tăng trưởng thêm rất nhiều, những pháp ác tăng trưởng lên.
Cho nên Đức Phật và các bậc Thánh dạy mình sự thông minh, đó là những thứ bên ngoài, sau đó đi sâu vào bên trong thọ; tưởng; hành; thức. Con đang suy nghĩ chỗ con ở sẽ ghi là "Phế nhân thất", đó là người này là đồ bỏ, không tranh danh, không tranh lợi với ai cả, đồ phế vật là người ta quăng đi thì mình nhặt về dùng, không có cái gì mới là giàu nhất hành tinh, chỉ cần hai chữ "ít muốn biết đủ" thôi là mình sống thần tiên.
Mình mới tập được chút đỉnh đã thấy sung sướng, thoải mái, Đức Phật và các bậc Thánh còn hạnh phúc đến dường nào nữa, các ngài chỉ có tấm y và cái bình bát thôi, ở chỗ nào cũng được, đi đâu cũng được, có khi các ngài đi khất thực ở chỗ mùa vụ thất bát nên đổ nước lạnh vào bình bát uống thôi, có khi con đi rừng đi núi không có đồ ăn nhưng khi nghĩ lại Đức Phật phải uống nước lã qua ngày còn mình có mì gói thì cũng tốt lắm rồi, thậm chí nước sôi cũng không có để nấu mì vì đang ở trong rừng, đi toilet thì lấy lá cây chùi chứ làm gì có giấy trong rừng mà dùng, đồ có khi mặc vài ngày chưa thay cũng bình thường.
Mình an trú được những điều này thì rất tuyệt diệu, còn nhiều người ngày nào không tắm là bực bội, khó chịu, cái đó cũng là chấp thủ, ăn cơm phải có canh mới ăn được, không có là ăn không được, ngược lại mình cái gì ăn cũng được. Có khi mấy thầy trò lấy bánh mì cũ ra nướng lại, tìm cái gì kẹp vô ăn rồi đi làm trong rừng nhưng lại rất vui, rất hoan hỉ, đó là tâm nhu nhuyến, là tâm tùy thuận, đó là tùy duyên thuận pháp, là ít muốn biết đủ.
Nhiều người dân tộc nói rằng "sợ sư phụ quá, nhà con ngoài làng mà sư phụ lại vô trong nôi xa xôi này, làm sao dám ở trong này", nhiều người dân tộc hỏi "sao sư phụ vô trong đây ở, không sợ hả?". Mình ở như vậy thì mình nhớ Đức Phật, nhớ các bậc Thánh rồi thấy ngọt ngào vì thế khi lên tu học ăn uống có thiếu thốn một chút cũng đừng quan trọng. Mình lên ngồi thiền nhưng lát sau mới phát hiện cái Bồ-đoàn này không phải của mình, ngồi không quen nên suốt buổi cứ muốn tìm Bồ-đoàn của mình, ngay giờ ngồi thiền mà đi tới đi lui tìm là làm mất trang nghiêm thanh tịnh, làm động niệm mọi người, trong người có khi có sân vi tế nữa, "ai lấy Bồ-đoàn của tôi rồi?". Mình nghĩ Bồ-đoàn đó là của mình nên nó làm mình sân, nó làm mình khó chịu, dao động nhưng nếu mình nghĩ ngồi Bồ-đoàn nào cũng được, nhiếp phục cảm thọ khó chịu, không phải do cái Bồ-đoàn mà do cảm thọ, không cần đi tìm cái Bồ-đoàn mà lo chỉnh cảm thọ này, chỗ đó là bí kíp. Từ bỏ ý niệm của tôi, từ bỏ cảm giác khó chịu, sân hận, từ bỏ sự dao động lăng xăng, từ bỏ cái suy nghĩ loạn xạ không biết ai lấy, bây giờ nó nằm chỗ nào, từ bỏ hết tất cả để quay trở về nhiếp phục cảm thọ thì mình sẽ được ngồi yên, tâm mình sẽ lắng dịu. Sau khi nhiếp phục được cảm thọ thì mình vui lên, mình hoan hỉ, mình tác ý sự chiến thắng.
Chúng ta chỉ cần quay trở lại cảm thọ để nhiếp phục là chúng ta thành công, là tối thượng, là bậc đại hiền trí, còn nhìn ra bên ngoài là đủ chuyện phiền não. Nếu nhìn theo thường tình thì cái Bồ-đoàn mình ngồi mỗi ngày thì tạm gọi là của mình, ngươi kia lấy thì đương nhiên là người kia sai, nếu thì mình đi theo cái đúng sai đó thì mình có tu không? Tất nhiên là không có tu rồi nhưng người lấy Bồ-đoàn của người ta hay lấy dép người ta là đại tội, phải ra sám hối, phải nhớ kĩ điều này, nếu không mình cứ lấy Bồ-đoàn của người khác dùng thoải mái hoặc lấy dép người ta mang, đây là tâm không cung kính Tăng chúng, không tôn trọng Tăng chúng, đó là tâm cẩu thả, buông lung phóng dật, làm càng, mang thêm tội ăn cắp nữa nhất thời. Đó là lấy đồ mà không được sự đồng ý của người ta, chừng nào mình hỏi mượn và được đồng ý thì không mang tội, còn lấy mà chưa được người ta đồng ý thì mang tội trộm cắp trong thời gian ngắn, gọi là nhất thời.
Phải quay trở lại nhiếp phục cảm thọ, thấy sai, có lỗi là phải chỉnh liền thì từ từ mình sẽ được trong sạch, thanh tịnh, mình sẽ được tăng thượng trong pháp. Nghe lời trung ngôn là nghe lời thật, cái đó mình sai thật sự nhưng người ta nói thật bằng tâm thật mà mình lại sân, lời trung ngôn là lời thành thật, lời trung thực. Cáo lỗi trung thực là người ta chỉ lỗi mình, chỉ đúng mà mình không chịu thì mình không phải là đệ tử ngài Xá-lợi-phất, không học được đức hạnh của ngài. Chừng nào mình nghe mà mình cúi đầu "đã để con xem xét", nếu có làm mình xin lỗi liền, nếu mình thấy chưa có thì mình nói "để từ từ con coi lại, con xem xét lại", mình không phản ứng liền ngay lập tức, mình chối lia lịa, đẩy cho người này người kia, mình bảo vệ bản ngã của mình, bảo vệ cái tôi của mình, không cho ai đụng vô, ai mà đụng vô là nhảy dựng lên. Đó là tâm vết thương, chưa gì hết là nhảy dựng lên, chúng ta phải tập tâm lắng dịu, đó là những đức hạnh của ngài Xá-lợi-phất.
"Rồi Thiên tử Susima, trong khi được nghe lời tán thán về Tôn giả Sàriputta, với đại chúng Thiên tử đoanh vây, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
Ðứng một bên, Thiên tử Susima bạch Thế Tôn:
-- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn. Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ. Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỉ đối với Tôn giả Sàriputta?. Bạch Thế Tôn, hiền trí là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, đại tuệ là Tôn giả Sàriputta...... Bạch Thế Tôn, chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỉ đối với Tôn giả Sàriputta? Bạch Thế Tôn, con đi đến chúng Thiên tử nào, con đều được nghe nhiều lần tiếng nói như vậy: 'Hiền trí là Tôn giả Sàriputta... ... chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sàriputta. Ai không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỉ đối với Tôn giả Sàriputta?'
Rồi chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sàriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỉ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương II. Tương Ưng Thiên Tử, III. Phẩm Các Ngoại Ðạo, IX. Susima)
Nếu mình vui thì gương mặt sáng rực lên, còn các ngài vui thì thân thể chói sáng hơn bình thường.
"Ví như một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo giũa, khéo mài, được đặt trên một tấm màn màu vàng da cam, chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sàriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỉ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
Ví như một đồ trang sức bằng vàng mịn được một người thợ vàng thiện xảo, khéo đập, khéo mài, đặt trên một tấm màn màu vàng da cam, chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, Thiên tử chúng của Thiên tử Susima... ... và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
Ví như trong khi đêm đã gần sáng, sao mai chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima... ... và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
Ví như trong mùa thu, trên trời các vòng mây đã được bay sạch, mặt trời mọc lên giữa trời, đánh tan màn đêm, khắp giữa hư không chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sàriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỉ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
Rồi Thiên tử Susima, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Sàriputta:
Ngài Sàriputta,
Ðược mọi người xác nhận,
Là bậc Ðại hiền trí,
Không phẫn hận, ít dục,
Nhu thuận và điều phục,
Ðược Ðạo Sư tán thán" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương II. Tương Ưng Thiên Tử, III. Phẩm Các Ngoại Ðạo, IX. Susima)
Ở đây chỉ yếu diễn tả hội chúng thù thắng của chư thiên, họ xưng tán, khen ngợi vang dội đất trời, nói về vẻ đẹp của các vị thiên chúng tán thán tôn giả Xá-lợi-phất, vì thế trong phần lục niệm có niệm thiên để mình sanh khởi sự hân hoan, thích thú, hoan hỉ để làm các thiện pháp, ngoài niệm thiên còn có niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới. Đức Phật nói cái quả của chư thiên để khuyến khích cái nhân để tu tập thiện, đó là ý của Phật và các vị Thánh, phải tu thập thiện để được cái quả của chư thiên. Ngài Xá-lợi-phất giống như ngài Phú-lâu-na có tâm nhu thuận.
II. Tâm nhu thuận của Ngài Punna
"-- Này Punna, người nước Sunaparanta là hung bạo. Này Punna, người nước Sunaparanta là thô ác. Này Punna, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy các cục đất ném đánh Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy dao đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao sắc bén đoạt hại mạng ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- -Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: 'Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy.
-- Lành thay, lành thay, này Punna! Này Punna, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Punna, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
Rồi Tôn giả Punna, sau khi hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, dọn dẹp sàng tọa, lấy y bát, rồi ra đi, đi đến nước Sunaparanta. Tiếp tục du hành, Tôn giả Punna đi đến nước Sunaparanta. Tại đây, Tôn giả Punna sống trong nước Sunaparanta. Rồi Tôn giả Punna nội trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp được khoảng năm trăm nam cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp độ khoảng năm trăm nữ cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, chứng được Tam minh"
(Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)
Các ngài ngày xưa độ sanh là như vậy, các ngài không nói độ ai cả, không tuyên bố độ ai cả nhưng ai có duyên đến học pháp diệt khổ thì ngài chỉ cho, nếu làm theo thì hết khổ. Còn mình bây giờ mới cạo đầu đã "chúng sanh vô biên thệ nguyện độ", đó là mình không hiểu đúng cái ý, nói thì cao siêu, rộng lớn, không phải đi máy bay nữa mà đi ra khỏi vũ trụ luôn, nói những câu độc lạ rồi ảo tưởng trong đó, "thâu lai tại nhất vi trần, tán khứ phổ châu sa giới" nghe rất đã tai nhưng đụng vào thì biết tay nhau cho nên mình tu Nikāya là đi dưới đất, phải tu tâm hiền hòa trước, tâm khiêm cung trước, hòa kính với nhau, sống biết thương, có tình có nghĩa với nhau trước.
"Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ về Sàriputta cho Thiên tử Susima:
Về Sàriputta,
Mọi người đều xác nhận,
Là bậc Ðại hiền trí,
Không phẫn hận, ít dục,
Nhu thuận và điều phục,
Như người khéo điều phục,
Chờ đợi thời giờ đến,
Ðể hưởng quả thuần thục"
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương II. Tương Ưng Thiên Tử, III. Phẩm Các Ngoại Ðạo, IX. Susima)
Chúng ta không biết bài kinh này Đức Phật và ngài A-nan nói vào lúc nào, có những bài kinh ngài kể lại ngài tu bao nhiêu thời gian thì đoạn tận các lậu hoặc. Ngày nào mình cũng về thăm các bậc Thánh Tăng, mình học đức hạnh của các ngài, ngày nào mình cũng đi về Linh Thứu, ngày nào mình cũng về Trúc Lâm, ngày nào mình cũng về Bồ-đề đạo tràng, ngày nào mình cũng về Tala song thọ. Mình ở rất gần Ấn Độ, gần Bồ-đề đạo tràng, trong tâm mình có Phật, mình ở chỗ nào mà tưởng niệm đến ngài thì chỗ đó thành Thánh tích, trong mình có ngài Xá-lợi-phất.
Nguyện tâm như địa, thủy, hỏa, phong
Rộng rãi, bao dung, chẳng buộc ràng,
Nguyện tâm như miếng nùi giẻ rách
Có gì để lên mặt, hơn thua.
Ngài Xá-lợi-phất chưa nhập diệt trong tâm mình, còn mình sống với tâm kênh kiệu, tâm ta tôi, tâm ngã mạn thì mình không gặp ngài Xá-lợi-phất. Mỗi ngày mình tu những đức hạnh đó là mình thấy được ngài Xá-lợi-phất, mình muốn thăm bất cứ lúc nào là mình đến thăm, mình an trú tâm trong chín pháp đó thì lúc đó mình gặp ngài Xá-lợi-phất, gặp pháp thân của ngài. Với những pháp mà ngài tu được mình tu theo thì lúc đó gặp được pháp thân của ngài chứ không phải hiểu pháp thân như bây giờ. Mình an trú vào pháp đó thì lúc đó mình thấy được thân pháp của ngài, đó là ý nghĩa của chữ pháp thân, ví dụ mình an trú tâm giống như đất để người ta giẫm đạp, người ta khạc nhổ lên nhưng mình không sân si thì lúc đó mình đang gặp được pháp thân của tôn giả Xá-lợi-phất. Mình thấy thân này là vô thường, khổ, vô ngã thì lúc đó mình thấy được pháp thân của Đức Phật, mình ở trong pháp thân của Đức Phật, ở trong trí thân của Đức Phật, mình ở trong tuệ thân của Đức Phật, mình ở trong giác thân của Đức Phật.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Xưng Tán Đức Hạnh Ngài Xá Lợi Phất!
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Những hạnh đức của Ngài Xá Lợi Phất PAGEREF _Toc145751815 \h 1
II. Tâm nhu thuận của Ngài Punna PAGEREF _Toc145751816 \h 14
I. Những hạnh đức của Ngài Xá Lợi Phất
Con dập đầu cúi lạy Phật Thích-ca Mâu-Ni, bậc thế gian tôn kính, tâm hoàn toàn thanh tịnh, diệt tận tham, sân, si, thấu hiểu đến tột cùng thân tâm và thế giới.
Kính bạch chư tôn hiền đức và các vị hiền trí, hôm nay chúng ta tiếp tục nghe những bài kinh liên hệ đến ngài Xá-lợi-phất nằm trong Tương Ưng Bộ, tập I.
"Nhân duyên ở Sàvatthi.
Rồi Ðại đức Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Ðại đức Ananda đang ngồi một bên:
-- Này Ananda, Ông có hoan hỉ đối với Sàriputta không?
-- Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỉ đối với Tôn giả Sàriputta?
Bạch Thế Tôn, hiền trí là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, đại tuệ là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, quảng tuệ là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, hỷ tuệ là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, tiệp tuệ là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, lợi tuệ là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, quyết trạch tuệ là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, ít dục là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, biết đủ là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, viễn ly là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, bất cộng trú là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, tinh cần, tinh tấn là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, biện tài là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, nghe lời trung ngôn là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, cáo tội trung thực là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sàriputta
Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỉ đối với Tôn giả Sàriputta?
-- Như vậy là phải, này Ananda. Như vậy là phải, này Ananda. Này Ananda, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỉ đối với Sàriputta?
Này Ananda, hiền trí là Sàriputta. Này Ananda, đại tuệ là Sàriputta. Này Ananda, quảng tuệ là Sàriputta. Này Ananda, hỷ tuệ là Sàriputta. Này Ananda, tiệp tuệ là Sàriputta. Này Ananda, lợi tuệ là Sàriputta. Này Ananda, quyết trạch tuệ là Sàriputta. Này Ananda, ít dục là Sàriputta. Này Ananda, biết đủ là Sàriputta. Này Ananda, viễn ly là Sàriputta. Này Ananda, bất cọng trú là Sàriputta. Này Ananda, biện tài là Sàriputta. Này Ananda, nghe lời trung ngôn là Sariputta. Này Ananda, cáo tội trung thực là Sàriputta. Này Ananda, chỉ trích ác pháp là Sàriputta. Này Ananda, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm, lại có thể không hoan hỉ đối với Sàriputta?"
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương II. Tương Ưng Thiên Tử, III. Phẩm Các Ngoại Ðạo, IX. Susima)
Bất cộng trú là không ở chung với sân si, không ở chung với dục ái, bản ngã, biện tài là tài hùng biện.
"Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta với bài pháp thoại đang tuyên thuyết, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ các Tỳ-kheo, với lời nói lịch sự, thông suốt, không có phều phào, với ý nghĩa rõ ràng minh bạch. Và các vị Tỳ-kheo ấy chú ý, chú tâm, tập trung tâm lực, lắng tai nghe pháp.
Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ: 'Tôn giả Sàriputta với bài pháp thoại đang tuyên thuyết, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ các Tỳ-kheo, với lời nói lịch sự, thông suốt, không có phều phào, với ý nghĩa rõ ràng minh bạch. Và các vị Tỳ-kheo ấy chú ý, chú tâm, tập trung tâm lực, lắng tai nghe pháp. Vậy trước mặt Tôn giả Sàriputta, ta hãy nói lên những bài kệ tán thán thích đáng'.
Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về Tôn giả Sàriputta và nói với Tôn giả Sàriputta:
-- Hiền giả Sàriputta, một vấn đề đến với tôi. Hiền giả Sàriputta, một vấn đề đến với tôi.
-- Mong rằng Hiền giả Vangìsa nói lên vấn đề ấy!
Rồi Tôn giả Vangìsa, trước mặt Tôn giả Sàriputta, nói lên những lời kệ tán thán thích đáng:
Trí tuệ thâm, trí giải,
Thiện xảo đạo, phi đạo,
Ngài Sàriputta,
Là bậc Ðại trí tuệ.
Chính Ngài đang thuyết pháp,
Cho các vị Tỳ-kheo.
Ngài giảng cách tóm tắt,
Ngài cũng thuyết rộng rãi.
Như âm thanh vi diệu,
Của loại chim Sàli,
Lời Ngài giảng tuôn trào,
Tiếng Ngài nghe ngọt lịm.
Với giọng điệu ái luyến,
Êm tai, và mỹ diệu,
Chúng lắng tai nghe pháp,
Tâm phấn khởi hoan hỉ,
Này các vị Tỳ-kheo"
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VIII. Tương Ưng Trưởng Lão Vangìsa, VI. Sàriputta (Xá-lợi-phất))
Tôn giả Vangìsa trước lúc đi tu là một nhà thơ, một thi sĩ cho nên khi cảm xúc là ngài nói lên bài kệ. Tôn giả Vangìsa khen ngợi trí tuệ của ngài Xá-lợi-phất thâm sâu, ngài thông đạt, thấu hiểu, khéo léo trong cái này là đạo lộ của bậc Thánh, cái nào không phải là đạo lộ của bậc Thánh, đó gọi là thiện xảo đạo, phi đạo, cái nào là Thánh đạo, cái nào không phải là Thánh đạo thì ngài rất rành rõ, rất thiện xảo, phân tích rõ ràng, diễn thuyết, trình bày, biện biệt, giãn trạch. Ngài Xá-lợi-phất có khả năng thuyết pháp giống Đức Phật, âm thanh vi diệu như tiếng chim Ca-lăng tần già, ngài phát ra âm thanh đi vào tim của thính chúng, đi vào lòng người, lời nói ngọt ngào, giọng nói êm tai, dễ nghe, người ta thích nghe âm giọng của ngài.
Có những người có chất giọng phát ra rất chói tai, đó cũng là nghiệp, người tu bốn nghiệp về miệng, không nói dối, đâm, độc, nhảm, nói lời từ ái, hiền thiện thì có lời nói dễ nghe, dễ mến, dễ đi vào lòng người, nếu mình có giọng đó thì mình ráng tiếp tục tu như vậy, còn nếu mình có chất giọng khó nghe thì mình phải biết cái nghiệp của mình để điều chỉnh lại.
Có những người cất giọng lên ai cũng dễ chịu, hoan hỉ, nhưng có những người cất giọng lên làm người ta khó chịu, sân, khổ thọ khi nghe âm thanh đó, đó là do tu tập bốn nghiệp của miệng.
"- Thành tựu sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo vừa đủ cho tự mình, vừa đủ cho các người khác. Thế nào là sáu?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp; là người thọ trì những pháp đã được nghe; là người suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp; giọng nói dễ nghe, phát âm tốt, lời nói tao nhã, phân minh, phát ngôn không bập bẹ, giải thích nghĩa lý xác minh; có khả năng thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ các đồng Phạm hạnh. Thành tựu sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo vừa đủ cho tự mình, vừa đủ cho các người khác"
(Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (II). Vừa Ðủ)
Ở đây mình phải để ý đến giọng nói, chất giọng, âm giọng là mình không sửa được nhưng cách mình nói, cảm thọ của mình khi nói và sự điều chỉnh độ nhanh của lời nói thì mình có thể làm được. Chúng ta là người xuất gia hay người cư sĩ cũng vậy, phải có khả năng nói pháp, điều này rất quan trọng, mình phải có trách nhiệm duy trì, làm lan tỏa Thánh pháp. Nhưng tiếp tục, duy trì, lan tỏa bằng cái gì? Nếu từ Bồ-đề đạo tràng cho đến Tala song thọ mà Thế Tôn không nói pháp thì giờ này mình có tạng kinh Nikāya không?
Cho nên sự biểu đạt là từ lời nói, nếu lời nói mình không tu tập, không để ý thì mình không có khả năng trình bày cái pháp cho người khác hiểu dù mình có hiểu, muốn như vậy thì phải để ý tu tập lời nói rất nhiều. Con để các thầy, các cô trình pháp là ngoài việc biết chúng ta tu học đến đâu, chia sẻ khó khăn, tháo gỡ khúc mắc thì còn một ý nữa là giúp cho chúng ta thực tập và rèn luyện cách chia sẻ pháp.
Người xuất gia chỉ có hai việc, một là tu, hai là chia sẻ pháp, đó là hai việc quan trọng nhất, nhiều khi có những vị trình pháp, nói điện thoại con nghe không kịp, ở đây cũng vậy, đó là nói trong cái dục, người đời không nói vì càng lanh lẹ thì càng thích nhưng người tu thì khác, cứ nói huyên thuyên mà không biết nói cái gì, chữ được chữ mất, âm giọng không có chánh niệm nên phát ra the thé, nghe không có chất tu, chất thiền trong đó, không có chánh niệm tỉnh giác, không có lắng dịu, an tịnh trong lời nói. Nói ra là người ta đọc được mình đang trạo cử, trong âm thanh phát ra lúc đó người ta đọc được mình đang sân, mình nói ra lúc đó người ta đọc được mình đang ái vì thế khi nghe phát âm thì mình sẽ biết trạng thái ngũ uẩn của người đó đang như thế nào.
Ngày xưa con trình pháp cho bậc đạo sư toàn bộ đều qua điện thoại nhưng khi con nói chuyện bình thường thôi mà ngài đọc được ngũ uẩn của con lúc như thế nào làm con bất ngờ, chỉ trong âm thanh thôi mà ngài đọc ra hết thọ; tưởng; hành; thức của mình cho nên thần thông là như vậy đó, trí tuệ là như vậy đó, dù chưa đạt được thần thông như các vị sáu thắng trí lục thông thời Đức Phật nhưng trí về ngũ uẩn là ngài đọc được hết vì ngũ uẩn giống hết nhau, duyên sanh pháp không khác nhau, tham, sân, si không khác nhau.
Bản chất là một thôi cho nên mình hiểu mình thì mình sẽ hiểu người ta vì thế không cần đi hiểu người ta, chỉ cần hiểu mình là hiểu hết. Khi mình nói chuyện có rất nhiều pháp trong đó, nhiều khi con chia sẻ pháp rồi nhưng khi nghe lại thì thấy xấu hổ, tắt nhanh không dám nghe nữa, thấy chưa được hiền lắm cho nên khi mình nói chuyện sẽ thể hiện công phu tu tập của mình.
Khi phát âm phải có chánh niệm, phải có sự điều tiết trong âm thanh của mình, không quá lớn cũng không quá nhỏ, có người nói trong miệng không nghe được nên phải hỏi lại, có người lại nói vang trời vang đất. Đều này giống như mình lên dây đàn tiếng phải vừa đủ, trong những bài pháp của mình có người bình luận âm thanh lúc nhỏ lúc lớn khó nghe, có khi mình để nhạc quá lớn làm người ta giật mình phải mở nhỏ xuống, đến phần giảng pháp lại nhỏ quá phải mở to lên. Một người có tâm tu sẽ có rất nhiều công việc để làm, nhiều khi mình nói ra một câu mà trong đó là nói móc rất nhiều người, nhìn thấy hiền lắm, mắt lúc nào cũng nhìn xuống nhưng nói ra lời nào là đầy mũi tên lời đó.
Con vừa đọc bài kinh này thôi là nước mắt đã rưng ra rồi, con có nhân duyên với ngài Xá-lợi-phất rất lạ. Ngày xưa con dành 28-30 năm để đi cầu pháp, cầu nguyện làm sao để tìm ra được pháp hành, có một chú người Pháp, chú đó thường lên đây tu thiền, chú đó mời con qua Nepal, khi đến nơi đó là đại tháp có hai con mắt rất lớn, tháp đó có tuổi đời trên 1000 năm, trong tháp đó để tóc của Đức Phật và xá lợi của ngài Xá-lợi-phất. Tự nhiên con đến đó là khóc rất nhiều, con nói "ngài là bậc trí huệ bậc nhất, con giờ đang đau khổ, si mê, vô minh, đầy rẫy những dục, tham, ái, con đi mò mẫm không biết đường tu".
Con khóc với ngài rất nhiều rồi cầu nguyện và lạy, mỗi sáng đi vòng vòng nơi đó để lạy, không biết nhân duyên ra sao mà trở về con gặp bậc đạo sư. Khi con gặp ngài thì những gì ngài dạy toàn là trí tuệ, trong tâm con ngài là sự tái hiện của tôn giả Xá-lợi-phất thứ hai, con dùng bốn chữ "Thánh đức từ dung" để nói lên đạo hạnh của ngài, đến bây giờ con đọc những bài kinh này nói về ngài Xá-lợi-phất là tự nhiên trong tim dâng trào lên cảm thọ, chắc cũng đi theo ngài học mấy ngàn năm trước, cũng từng nghe ngài thuyết pháp rồi cho nên nơi đây phải làm Thánh tượng của ngài Xá-lợi-phất để mình lễ lạy, tưởng nhớ.
Sau khi mình học bài kinh "Sau khi an cư" có chín pháp an trú tâm là mình rung động toàn thân, sau đó ngài đưa bài đảnh lễ đức hạnh ngài Xá-lợi-phất là con ngạc nhiên hết cái này đến cái khác, nhân duyên tương ứng với nhau. Pháp hành của mình ở đây cơ bản là chín pháp an trú tâm của ngài Xá-lợi-phất, trong biết bao vị Thánh ngài chỉ biết một bài về ngài Xá-lợi-phất thôi, đúng ngay chỗ mình cầu nguyện, mình hướng tâm về cho nên tất cả pháp đều có nhân có duyên, cái này có thì cái kia khó.
Do con nghiêng về cái trí nhiều quá nên ít có người ở gần, cô cũng vậy, ngài tâm sự là thật sự không có người nào chấm được, ngay cả con cũng chưa đạt yêu cầu nên mình chỉ còn cách cố gắng thôi. Người trí rất khó gần, không phải người ta làm khó mình mà do mình sống với vô minh, bản ngã, dục ái, mình sống với năm triền cái thì làm sao tương ứng với các bậc hiền trí. Thường thì người trí thích ở một mình vì thế đức hạnh đầu tiên về ngài mà mình học là hiền trí, tất cả thành viên trong đạo tràng đều đang thực tập hai chữ này.
Có những chuyện rất kì lạ, ở Myanmar và Nepal động đất tan hoang hết nhưng ngay chỗ cái tháp của ngài Xá-lợi-phất vững như bàn thạch mấy ngàn năm. Ở chỗ sợi tóc của Đức Phật cũng vậy, trên viên đá đó dính một chút sợi tóc của Đức Phật, các ngài không quan trọng sự huyền bí nhưng các ngài chứng được Thánh trí ngũ uẩn thì ngũ uẩn của các ngài trở thành màu nhiệm, vi diệu, bất khả tư nghì, vượt ra ngoài khoa học nghiên cứu. Vì thế mình cần để ý lời nói, đó là phương tiện để duy trì và lan tỏa Thánh pháp sau sự tu chứng, khi mình đạt pháp thì tự động lời nói mình sẽ hợp pháp, nhưng muốn đạt pháp thì cũng phải đạt thân, miệng, ý chứ không phải cái pháp nằm ngoài thân, miệng, ý. Khi các vị viết bài trình pháp cũng phải để ý viết với tâm chân thành tu học, phải nhận diện ngũ uẩn trong khi viết.
Chỉ riêng việc ít muốn ăn thôi là khỏe rất nhiều rồi, nhiều khi hôm đó đồ ăn ngon quá rồi ăn nhiều thêm, về nhà đến giờ ngồi thiền là khó khăn, thấy nặng nề, ì ạch. Mình ít ngủ thì đến giờ ngồi thiền thuần túy trong sáng, tinh anh, tinh cần, tinh tấn, con ma ngủ không xâm chiếm được, mình tác ý ngủ đủ rồi thế là mình diệt được nó, mình tỉnh táo. Đối với sinh hoạt cũng vậy, những phương tiện sinh hoạt đơn sơ, đơn giản, tâm mình nhẹ nhàng trong mọi hoàn cảnh, phải có những cái này thì mình mới hiền trí được.
Chẳng hạn như bốn cái toilet đơn sơ trước thiền đường, chỉ có 4 tấm tôn khiêng đi đâu cũng được nhưng dùng cũng được 5-7 năm rồi, không cần dán gạch men, đá hoa cương gì cả, miễn sao vào đó xả ra được là tốt rồi, đơn giản nên đỡ tốn thời gian, đỡ lao tâm, lao lực, đỡ phiền não, không đòi hỏi gì cả nên cần tập ít muốn biết đủ với mọi hoàn cảnh. Ở đây cũng không cần khóa cửa vì trong thiền đường chỉ có tượng Phật thôi, rất đơn giản cho nên những gì con thiết kế là lấy theo Nikāya, kiến trúc của Phật giáo nguyên chất. Lúc trước chưa vô Nikāya trọn vẹn đã như vầy, bây giờ thêm làng tu thì càng đơn giản, mình lùi trở về cả ngàn năm trước vì người dân tộc ao ước được lên nhà tường, ông bà, cha mẹ và họ ở nhà ván, nhà tre nên họ cố gắng lên nhà tường, còn mình lấy cái bỏ đó về dùng, còn đồ người ta ham muốn, tìm kiếm thì mình xin từ bỏ, xin rời xa, đó là ít muốn biết đủ, quay trở về những gì đơn giản nhất.
Khi sanh ra mình không có tấm vải che thân, tấm thân trần truồng như nhộng, đến khi mình chết thì cái nút áo cũng bị lắc lại, người ta đem mình ra thiêu không còn gì cả, tại sao ở chặng giữa mình lại gom góp đủ thứ, mình chiếm hữu, đòi phải là của tôi để làm gì? Ở chặng giữa mình bươi, mình quào, mình chụp, mình giật, mình hốt để làm gì vậy?
Đó là người không hiểu được thật tướng của đời sống, không hiểu được bản chất của đời sống cho nên phải tập buông xả, càng xả thì càng vui. Đối với con ai cúng dường tiền là con đem tiền đó đi bố thí cho hết để nhẹ lòng, bánh trái người ta cúng dường con cũng đem phát cho hết thì thấy vui vì sợ hết hạn, chuột ăn mất, kiến bò vô, chất đó để chật chỗ, đem cho hết thì thấy vui.
Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!
Niềm vui nho nhỏ cứ đem cho
Có người thí vật, người thí pháp
Cái gì thí được, cứ đem cho…
Cứ cho đi rồi sẽ có lại, cứ như vậy mà làm, có đồ ăn cứ cho đem nên đi toàn thế giới ở đâu cũng được đãi đồ ăn thượng hạng, nhưng không phải mình làm để cầu mong như vậy mà nhân quả là như vậy. Vì thế con dặn nhà bếp làm đồ ăn phải đầy đủ, bất cứ khách nào vô cũng miễn phí hết, chúng ta phải tập đời sống đơn giản, tối giản như ngài Xá-lợi-phất, có một cô Phật tử ra ngoài xách túi hàng hiệu thì bị cướp giật túi làm cô té đập đầu may 16 mũi cho nên ngày xưa giàu đeo đồ thì đẹp nhưng bây giờ đeo thì rước họa, lòng tham con người khác xưa rất nhiều, tăng trưởng thêm rất nhiều, những pháp ác tăng trưởng lên.
Cho nên Đức Phật và các bậc Thánh dạy mình sự thông minh, đó là những thứ bên ngoài, sau đó đi sâu vào bên trong thọ; tưởng; hành; thức. Con đang suy nghĩ chỗ con ở sẽ ghi là "Phế nhân thất", đó là người này là đồ bỏ, không tranh danh, không tranh lợi với ai cả, đồ phế vật là người ta quăng đi thì mình nhặt về dùng, không có cái gì mới là giàu nhất hành tinh, chỉ cần hai chữ "ít muốn biết đủ" thôi là mình sống thần tiên.
Mình mới tập được chút đỉnh đã thấy sung sướng, thoải mái, Đức Phật và các bậc Thánh còn hạnh phúc đến dường nào nữa, các ngài chỉ có tấm y và cái bình bát thôi, ở chỗ nào cũng được, đi đâu cũng được, có khi các ngài đi khất thực ở chỗ mùa vụ thất bát nên đổ nước lạnh vào bình bát uống thôi, có khi con đi rừng đi núi không có đồ ăn nhưng khi nghĩ lại Đức Phật phải uống nước lã qua ngày còn mình có mì gói thì cũng tốt lắm rồi, thậm chí nước sôi cũng không có để nấu mì vì đang ở trong rừng, đi toilet thì lấy lá cây chùi chứ làm gì có giấy trong rừng mà dùng, đồ có khi mặc vài ngày chưa thay cũng bình thường.
Mình an trú được những điều này thì rất tuyệt diệu, còn nhiều người ngày nào không tắm là bực bội, khó chịu, cái đó cũng là chấp thủ, ăn cơm phải có canh mới ăn được, không có là ăn không được, ngược lại mình cái gì ăn cũng được. Có khi mấy thầy trò lấy bánh mì cũ ra nướng lại, tìm cái gì kẹp vô ăn rồi đi làm trong rừng nhưng lại rất vui, rất hoan hỉ, đó là tâm nhu nhuyến, là tâm tùy thuận, đó là tùy duyên thuận pháp, là ít muốn biết đủ.
Nhiều người dân tộc nói rằng "sợ sư phụ quá, nhà con ngoài làng mà sư phụ lại vô trong nôi xa xôi này, làm sao dám ở trong này", nhiều người dân tộc hỏi "sao sư phụ vô trong đây ở, không sợ hả?". Mình ở như vậy thì mình nhớ Đức Phật, nhớ các bậc Thánh rồi thấy ngọt ngào vì thế khi lên tu học ăn uống có thiếu thốn một chút cũng đừng quan trọng. Mình lên ngồi thiền nhưng lát sau mới phát hiện cái Bồ-đoàn này không phải của mình, ngồi không quen nên suốt buổi cứ muốn tìm Bồ-đoàn của mình, ngay giờ ngồi thiền mà đi tới đi lui tìm là làm mất trang nghiêm thanh tịnh, làm động niệm mọi người, trong người có khi có sân vi tế nữa, "ai lấy Bồ-đoàn của tôi rồi?". Mình nghĩ Bồ-đoàn đó là của mình nên nó làm mình sân, nó làm mình khó chịu, dao động nhưng nếu mình nghĩ ngồi Bồ-đoàn nào cũng được, nhiếp phục cảm thọ khó chịu, không phải do cái Bồ-đoàn mà do cảm thọ, không cần đi tìm cái Bồ-đoàn mà lo chỉnh cảm thọ này, chỗ đó là bí kíp. Từ bỏ ý niệm của tôi, từ bỏ cảm giác khó chịu, sân hận, từ bỏ sự dao động lăng xăng, từ bỏ cái suy nghĩ loạn xạ không biết ai lấy, bây giờ nó nằm chỗ nào, từ bỏ hết tất cả để quay trở về nhiếp phục cảm thọ thì mình sẽ được ngồi yên, tâm mình sẽ lắng dịu. Sau khi nhiếp phục được cảm thọ thì mình vui lên, mình hoan hỉ, mình tác ý sự chiến thắng.
Chúng ta chỉ cần quay trở lại cảm thọ để nhiếp phục là chúng ta thành công, là tối thượng, là bậc đại hiền trí, còn nhìn ra bên ngoài là đủ chuyện phiền não. Nếu nhìn theo thường tình thì cái Bồ-đoàn mình ngồi mỗi ngày thì tạm gọi là của mình, ngươi kia lấy thì đương nhiên là người kia sai, nếu thì mình đi theo cái đúng sai đó thì mình có tu không? Tất nhiên là không có tu rồi nhưng người lấy Bồ-đoàn của người ta hay lấy dép người ta là đại tội, phải ra sám hối, phải nhớ kĩ điều này, nếu không mình cứ lấy Bồ-đoàn của người khác dùng thoải mái hoặc lấy dép người ta mang, đây là tâm không cung kính Tăng chúng, không tôn trọng Tăng chúng, đó là tâm cẩu thả, buông lung phóng dật, làm càng, mang thêm tội ăn cắp nữa nhất thời. Đó là lấy đồ mà không được sự đồng ý của người ta, chừng nào mình hỏi mượn và được đồng ý thì không mang tội, còn lấy mà chưa được người ta đồng ý thì mang tội trộm cắp trong thời gian ngắn, gọi là nhất thời.
Phải quay trở lại nhiếp phục cảm thọ, thấy sai, có lỗi là phải chỉnh liền thì từ từ mình sẽ được trong sạch, thanh tịnh, mình sẽ được tăng thượng trong pháp. Nghe lời trung ngôn là nghe lời thật, cái đó mình sai thật sự nhưng người ta nói thật bằng tâm thật mà mình lại sân, lời trung ngôn là lời thành thật, lời trung thực. Cáo lỗi trung thực là người ta chỉ lỗi mình, chỉ đúng mà mình không chịu thì mình không phải là đệ tử ngài Xá-lợi-phất, không học được đức hạnh của ngài. Chừng nào mình nghe mà mình cúi đầu "đã để con xem xét", nếu có làm mình xin lỗi liền, nếu mình thấy chưa có thì mình nói "để từ từ con coi lại, con xem xét lại", mình không phản ứng liền ngay lập tức, mình chối lia lịa, đẩy cho người này người kia, mình bảo vệ bản ngã của mình, bảo vệ cái tôi của mình, không cho ai đụng vô, ai mà đụng vô là nhảy dựng lên. Đó là tâm vết thương, chưa gì hết là nhảy dựng lên, chúng ta phải tập tâm lắng dịu, đó là những đức hạnh của ngài Xá-lợi-phất.
"Rồi Thiên tử Susima, trong khi được nghe lời tán thán về Tôn giả Sàriputta, với đại chúng Thiên tử đoanh vây, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
Ðứng một bên, Thiên tử Susima bạch Thế Tôn:
-- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn. Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ. Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỉ đối với Tôn giả Sàriputta?. Bạch Thế Tôn, hiền trí là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, đại tuệ là Tôn giả Sàriputta...... Bạch Thế Tôn, chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỉ đối với Tôn giả Sàriputta? Bạch Thế Tôn, con đi đến chúng Thiên tử nào, con đều được nghe nhiều lần tiếng nói như vậy: 'Hiền trí là Tôn giả Sàriputta... ... chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sàriputta. Ai không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỉ đối với Tôn giả Sàriputta?'
Rồi chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sàriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỉ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương II. Tương Ưng Thiên Tử, III. Phẩm Các Ngoại Ðạo, IX. Susima)
Nếu mình vui thì gương mặt sáng rực lên, còn các ngài vui thì thân thể chói sáng hơn bình thường.
"Ví như một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo giũa, khéo mài, được đặt trên một tấm màn màu vàng da cam, chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sàriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỉ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
Ví như một đồ trang sức bằng vàng mịn được một người thợ vàng thiện xảo, khéo đập, khéo mài, đặt trên một tấm màn màu vàng da cam, chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, Thiên tử chúng của Thiên tử Susima... ... và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
Ví như trong khi đêm đã gần sáng, sao mai chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima... ... và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
Ví như trong mùa thu, trên trời các vòng mây đã được bay sạch, mặt trời mọc lên giữa trời, đánh tan màn đêm, khắp giữa hư không chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sàriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỉ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
Rồi Thiên tử Susima, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Sàriputta:
Ngài Sàriputta,
Ðược mọi người xác nhận,
Là bậc Ðại hiền trí,
Không phẫn hận, ít dục,
Nhu thuận và điều phục,
Ðược Ðạo Sư tán thán" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương II. Tương Ưng Thiên Tử, III. Phẩm Các Ngoại Ðạo, IX. Susima)
Ở đây chỉ yếu diễn tả hội chúng thù thắng của chư thiên, họ xưng tán, khen ngợi vang dội đất trời, nói về vẻ đẹp của các vị thiên chúng tán thán tôn giả Xá-lợi-phất, vì thế trong phần lục niệm có niệm thiên để mình sanh khởi sự hân hoan, thích thú, hoan hỉ để làm các thiện pháp, ngoài niệm thiên còn có niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới. Đức Phật nói cái quả của chư thiên để khuyến khích cái nhân để tu tập thiện, đó là ý của Phật và các vị Thánh, phải tu thập thiện để được cái quả của chư thiên. Ngài Xá-lợi-phất giống như ngài Phú-lâu-na có tâm nhu thuận.
II. Tâm nhu thuận của Ngài Punna
"-- Này Punna, người nước Sunaparanta là hung bạo. Này Punna, người nước Sunaparanta là thô ác. Này Punna, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy các cục đất ném đánh Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy dao đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao sắc bén đoạt hại mạng ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- -Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: 'Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy.
-- Lành thay, lành thay, này Punna! Này Punna, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Punna, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
Rồi Tôn giả Punna, sau khi hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, dọn dẹp sàng tọa, lấy y bát, rồi ra đi, đi đến nước Sunaparanta. Tiếp tục du hành, Tôn giả Punna đi đến nước Sunaparanta. Tại đây, Tôn giả Punna sống trong nước Sunaparanta. Rồi Tôn giả Punna nội trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp được khoảng năm trăm nam cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp độ khoảng năm trăm nữ cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, chứng được Tam minh"
(Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)
Các ngài ngày xưa độ sanh là như vậy, các ngài không nói độ ai cả, không tuyên bố độ ai cả nhưng ai có duyên đến học pháp diệt khổ thì ngài chỉ cho, nếu làm theo thì hết khổ. Còn mình bây giờ mới cạo đầu đã "chúng sanh vô biên thệ nguyện độ", đó là mình không hiểu đúng cái ý, nói thì cao siêu, rộng lớn, không phải đi máy bay nữa mà đi ra khỏi vũ trụ luôn, nói những câu độc lạ rồi ảo tưởng trong đó, "thâu lai tại nhất vi trần, tán khứ phổ châu sa giới" nghe rất đã tai nhưng đụng vào thì biết tay nhau cho nên mình tu Nikāya là đi dưới đất, phải tu tâm hiền hòa trước, tâm khiêm cung trước, hòa kính với nhau, sống biết thương, có tình có nghĩa với nhau trước.
"Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ về Sàriputta cho Thiên tử Susima:
Về Sàriputta,
Mọi người đều xác nhận,
Là bậc Ðại hiền trí,
Không phẫn hận, ít dục,
Nhu thuận và điều phục,
Như người khéo điều phục,
Chờ đợi thời giờ đến,
Ðể hưởng quả thuần thục"
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương II. Tương Ưng Thiên Tử, III. Phẩm Các Ngoại Ðạo, IX. Susima)
Chúng ta không biết bài kinh này Đức Phật và ngài A-nan nói vào lúc nào, có những bài kinh ngài kể lại ngài tu bao nhiêu thời gian thì đoạn tận các lậu hoặc. Ngày nào mình cũng về thăm các bậc Thánh Tăng, mình học đức hạnh của các ngài, ngày nào mình cũng đi về Linh Thứu, ngày nào mình cũng về Trúc Lâm, ngày nào mình cũng về Bồ-đề đạo tràng, ngày nào mình cũng về Tala song thọ. Mình ở rất gần Ấn Độ, gần Bồ-đề đạo tràng, trong tâm mình có Phật, mình ở chỗ nào mà tưởng niệm đến ngài thì chỗ đó thành Thánh tích, trong mình có ngài Xá-lợi-phất.
Nguyện tâm như địa, thủy, hỏa, phong
Rộng rãi, bao dung, chẳng buộc ràng,
Nguyện tâm như miếng nùi giẻ rách
Có gì để lên mặt, hơn thua.
Ngài Xá-lợi-phất chưa nhập diệt trong tâm mình, còn mình sống với tâm kênh kiệu, tâm ta tôi, tâm ngã mạn thì mình không gặp ngài Xá-lợi-phất. Mỗi ngày mình tu những đức hạnh đó là mình thấy được ngài Xá-lợi-phất, mình muốn thăm bất cứ lúc nào là mình đến thăm, mình an trú tâm trong chín pháp đó thì lúc đó mình gặp ngài Xá-lợi-phất, gặp pháp thân của ngài. Với những pháp mà ngài tu được mình tu theo thì lúc đó gặp được pháp thân của ngài chứ không phải hiểu pháp thân như bây giờ. Mình an trú vào pháp đó thì lúc đó mình thấy được thân pháp của ngài, đó là ý nghĩa của chữ pháp thân, ví dụ mình an trú tâm giống như đất để người ta giẫm đạp, người ta khạc nhổ lên nhưng mình không sân si thì lúc đó mình đang gặp được pháp thân của tôn giả Xá-lợi-phất. Mình thấy thân này là vô thường, khổ, vô ngã thì lúc đó mình thấy được pháp thân của Đức Phật, mình ở trong pháp thân của Đức Phật, ở trong trí thân của Đức Phật, mình ở trong tuệ thân của Đức Phật, mình ở trong giác thân của Đức Phật.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.