Kinh Nikāya Giảng Giải - Sợ Hãi Trong Tương Lai
Kinh Nikāya Giảng Giải
SỢ HÃI TRONG TƯƠNG LAI
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Công năng thực hành ba pháp PAGEREF _Toc114213838 \h 1
II.Soi xét tự thân PAGEREF _Toc114213839 \h 4
III.Sợ hãi trong tương lai PAGEREF _Toc114213840 \h 8
Công năng thực hành ba pháp
Huynh đệ mở mắt nhìn về phía trước, đừng nhắm mắt, tuyệt đối không nhắm mắt. Nhìn xuống về phía trước khoảng một thước đến một thước hơn, mở rộng tầm nhìn của mình hết mức ra hai bên. Đây gọi là đặt niệm trước mặt trong kinh Tứ Niệm Xứ.
Tiếp theo các huynh đệ trở về với hơi thở, hơi thở vào biết là vào, hơi thở biết là ra. Hơi thở vào, ra mình nhận biết rõ. Các huynh đệ cảm nhận chỗ động chuyển của hơi thở, hơi thở sẽ động chuyển ngay lồng ngực, ngay chóp mũi và ngay mũi. Cảm nhận ba chỗ động chuyển của hơi thở là ở mũi, ở lồng ngực và ở bụng. Sau đó mở bung cảm giác của hơi thở. Từ hơi thở mở cảm giác lên đỉnh đầu, cảm giác mặt, cảm giác hai vai, hai tay, mông, chân, bàn chân, mở bung cảm giác từ hơi thở ra toàn thân. Thở vào, thở ra, cảm giác toàn thân.
Pháp thứ ba là nội tâm tỉnh giác. Tâm của mình tỉnh giác, chánh niệm.
Đặt niệm trước mặt tức là rõ biết trước mắt, kế đó là cảm giác toàn thân, thấy được hơi thở, tiếp theo là nội tâm tỉnh giác – ba pháp này như đỉnh ba chân, rất quan trọng. Các huynh đệ thực tập ba pháp này quen thì đó sẽ là nền tảng để đi vào nhận diện năm uẩn. Ba pháp này khi được thực tập thuần thục thì lúc đi, đứng, nằm ngồi mình đều thực tập được hết chứ không phải chỉ giờ ngồi thiền. Lúc nào sự biết trước mặt của mình cũng sáng rõ, tầm nhìn mở rộng. Lúc nào cũng để ý cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác thì sẽ phát hiện ra trong tâm lúc đó có gì xuất hiện.
Ba pháp này sẽ quyết định tất cả những pháp tu tập về sau. Nếu không tu tập được ba pháp này thì các pháp sâu sắc phía sau để nhận diện các uẩn, nhận diện được phiền não vận hành như thế nào sẽ không nhận diện được. Vì vậy, cần phải nắm thật vững và cố gắng thực tập ba pháp. Đây là của báu của người tu chúng ta. Sau này mình hướng dẫn lại cho những người huynh đệ hoặc đệ tử của mình.
Ba pháp này bao bọc tất cả. Bên ngoài mình rõ biết trước mặt, vì là rõ biết trước mắt nên mình không chú tâm vào một điểm nào hết. Nếu chú tâm vào điểm nào là sẽ rơi vào tưởng. Khi ngồi thiền cũng vậy, đừng nhìn vào một điểm nào cả, chẳng hạn nền gạch bông, chiếu, thảm… vì nhìn vào một điểm sẽ tưởng ra hình con này, con kia. Cho nên, phải rõ biết trước mặt, không trú vào một điểm nào. Hơn nữa, khi ngồi thiền, niệm Phật hay trì chú tuyệt đối không được nhắm mắt. Tại vì nhắm mắt sẽ đưa mình vào trạng thái lờ mờ, rơi vào tưởng uẩn và tưởng xuất hiện sẽ đưa mình vào vô minh. Lúc đó mình không còn thấy rõ gì nữa. Vì vậy, tuyệt đối không nhắm mắt, trừ khi nào quán tưởng thì lúc đó mới nhắm.
Tất cả những gì chúng ta tích lũy, chất chứa đều được cất giữ trong cảm giác, cảm thọ. Thế nên cảm thọ là kho chứa đựng những tập khí, thói quen trong quá khứ của mình. Tất cả sẽ được tích tụ trong cảm giác, cảm thọ, những điều này là lời Đức Phật dạy nằm trong Kinh tạng Pāli, Nikāya. Phải thường cảm giác toàn thân, trong đó có hơi thở, luôn trở về coi lại cảm giác của mình tại vì phiền não sẽ trú ẩn trong cảm giác, cảm thọ. Khi phiền não xuất hiện thì cảm thọ biến động, lúc phát giác cảm thọ vừa biến động là lúc đó tham, sân, si, phiền não đã xuất hiện.
Ví dụ, khi nổi nóng lên thì cảm giác sẽ đổi khác. Đầu tiên nóng lên ở lồng ngực, nếu sân ít thì sẽ ấm lên, nếu nhiều thì nóng lên và từ đó lan ra, hỏa đại bốc lên, có thể mặt, tai sẽ đỏ lên. Nếu thường nhìn lại cảm giác toàn thân, ngay lúc vừa sanh khởi lên khác lạ thì chúng ta phát hiện ra ngay là cảm thọ đã đổi khác, hiện tại trong thân mình đang có cảm thọ, cảm giác nóng bức. Đây là một cảm giác sân.
Hoặc khi nhìn thấy một đối tượng hay một món đồ nào đó và phát sinh ra tâm ưa thích, ham muốn, khoan khoái, thậm chí mãnh liệt hơn là khao khát. Lúc đó cảm thọ động chuyển, thường hiện rõ nhất là ở chỗ lồng ngực, tim sẽ đập mạnh, có sự thay đổi ở chỗ lồng ngực, cảm giác cũng thay đổi. Thậm chí có khi mình rung lên, có cảm giác bất thường xuất hiện. Đó là tham dục xuất hiện, cần phải phát hiện liền.
Minh Thành chỉ nói những điều gần gần, dễ thấy cho huynh đệ làm quen. Khi thực tập được thì Minh Thành sẽ chia sẻ những điều sâu sắc và vi tế hơn. Như vậy cảm giác toàn thân giúp cho mình nhìn trở lại, phát hiện ra tự thân và tự tâm của mình. Nếu không trú trong cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt, chánh niệm tỉnh giác thì lúc đó mình sống trong trạng thái của vô minh. Tức là không rõ về tự thân, tự tâm; luôn luôn có sự phóng dật xuất hiện. Phóng dật là trạng thái buông lung, không hộ trì căn, không nhìn trở lại năm uẩn, thế nên phiền não trú ẩn trong cảm giác, cảm thọ nhưng mình không hay biết. Khi tu tập, nếu thường nhìn lại, chúng ta sẽ thấy được cảm giác sân, nóng bức sanh khởi, lúc đó dùng Như Lý Tác Ý để nhiếp phục nó.
Các phiền não sanh lên trong nội tâm cũng là một pháp. Cho nên mình sẽ đối thoại, nói chuyện với nó giống như nói chuyện với một người ở ngoài, có khi nói một cách mạnh mẽ, uy lực (cương), có khi lại nhẹ nhàng (nhu). Khi nóng lên thì tác ý: “Bộ giận sướng lắm hả? Ham giận lắm hả? Yêu giận, thích giận lắm phải không? Giận mấy chục năm nay chưa đủ hả?”. Khi nhìn ra được cảm thọ sân sanh khởi, mình phát hiện được bộ mặt của nó, lúc đó nó bắt đầu e dè. Giống như một người đang đi, không có ai nhìn thì đi bình thường, nhưng có ai nhìn thì sẽ tự nhiên đi khựng khựng lại. Phiền não cũng giống như vậy.
Như vậy, sự quan trọng của việc nhìn lại cảm giác quan trọng là ở chỗ khi phiền não bị phát hiện thì nó sẽ e dè, rụt rè. Sau đó chúng ta dùng Như Lý Tác Ý để giải quyết từng vấn đề. Nếu cơn sân mãnh liệt quá thì dùng những lời nhẹ nhàng để đối đãi nó. Nếu tham dục mạnh thì dùng búa tạ để đập vỡ đầu nó ra, sau đó mình nói chuyện với nó: “Dục là mũi tên, dục là rắn độc, chính mi là kẻ sát nhân, chính mi là ác ma, chính mi đưa ta vào vòng luân hồi, sanh tử, khổ đau, ràng buộc. Chạy đi kiếm mấy chục năm nay chưa đủ hay sao mà giờ còn muốn đi kiếm nữa?”. Những từ ngữ mạnh này đều trong kinh, là pháp lệnh của Đức Phật trong kinh Nikāya. Dục là hố than hừng, dục là rắn độc, dục là mũi tên, dục là kẻ sát nhân, dục làm cho tan nhà nát cửa, mất mạng, kẻ giết người, ác ma. Dùng những từ mạnh như vậy thì cái dục lúc đó sẽ lắng dịu xuống. “Ta sẽ không chấp nhận mi, ta từ bỏ mi. Ta sẽ diệt tận ngươi. Ta chặt ngươi giống như cây Sala, cây dừa, cây cau. Ta chặt ngươi không còn tái sanh nữa, không còn sanh khởi được nữa”.
Luôn để ý sự động chuyển của cảm thọ trong cơ thể, nó ở chỗ nào thì hướng tâm tác ý ngay đó thì sẽ tan dần ra. Ví dụ, đang nóng ở lồng ngực thì mình hướng tâm mình vào chỗ đó mình nói chuyện, dùng Như Lý Tác Ý, lúc đó cảm thọ sẽ dịu từ từ rồi tan ra. Nếu dục phát sanh mạnh, không những là dục tưởng mà cả dục thọ (cảm giác dục hiện khởi trong thân), lúc đó mình hướng tâm đến chỗ phát dục, dùng Như Lý Tác Ý: “Ta từ bỏ ngươi, ta không chấp nhận ngươi, ta sẽ diệt tận ngươi. Chính ngươi là thủ phạm lôi ta vào trối trăng, ràng buộc, khổ đau”. Nói như vậy thì chỗ phát dục sẽ từ từ lắng dịu rồi rồi tan ra. Cứ cố gắng thực hành rồi sẽ thấy kết quả. Dục ở bất cứ chỗ nào cũng phát hiện ra được nếu thực tập cảm giác toàn thân.
Bây giờ tới si, si là cảm giác không khổ không vui, cứ lờ đờ. Ví dụ, mình đang học, xuất hiện cảm giác lờ đờ, không phải hưng phấn mà cũng không phải là ngủ rồi, nó cứ lờ đờ, trơ trơ, đó là trạng thái của si. Cần phải Như Lý Tác Ý: “Ngủ 40 năm rồi chưa đã hay sao, bộ muốn ngủ 1000 năm hay sao? Đồ ngu si, thức dậy đi”. Dùng Như Lý Tác Ý mạnh đánh thì sự lờ đờ đó từ từ tan ra, rồi mình đặt niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, lúc đó con ma si sẽ bị đánh tan. Đây là phương pháp rất đặc biệt ở trong Chánh tạng Đức Phật dạy.
Minh Thành đã nói sơ lược để huynh đệ thấy tại sao phải thực tập cảm giác toàn thân. Bởi vì muốn phát hiện, thấy rõ được bộ mặt của phiền não; thấy được tham dục vận hành như thế nào; thấy được sân hận vận hành như thế nào; si mê tứ đại ra làm sao; ngã mạn tiềm ẩn, hoạt động như thế nào. Khi nhìn lại cảm thọ mình sẽ thấy rõ mặt mũi, tên tuổi, tánh tình rồi có cách để trị nó. Vì vậy, phải cố gắng nhìn lại cảm giác toàn thân trong mọi lúc mọi nơi.
Soi xét tự thân
Hiện nay, một điều Minh Thành rất lo lắng là Pháp Hành. Minh Thành đã đi tìm cầu khắp trên thế giới, tới các vị Cao Tăng và cuối cùng mới tìm ra được trong lần nhập thất một tháng vừa qua. Chúng ta nhìn lại sự tu học của mình, ngay cả bản thân Minh Thành trước đây cũng vậy, đều là tu chung chung, hành chung chung, học chung chung, đọc chung chung, nghe chung chung. Cuối cùng kết quả chung chung. Thế nên, đối với những vấn đề quan trọng cần phải kiểm tra lại.
Phải xem tham ái trong lòng như thế nào? Có khi nó không giảm mà càng ngày càng tăng, đó là một điều hổ thẹn của người xuất gia. Tự mình nhìn lại mình sẽ thấy rõ nhất chứ chẳng cần nói ai. Bao nhiêu năm xuất gia, bây giờ đã nhiếp phục được tham dục, sân hận, bản ngã chưa? Nếu không khéo, ngay cả bản thân Minh Thành, nhìn kĩ mình sẽ thấy rất là nhục nhã, rất là xấu hổ. Khi nhập thất, Minh Thành đã lạy một chú thị giả và xin lỗi, nói rằng trước nay chưa thấy được bản ngã của mình. Sau khi ở yên một mình, nhìn kĩ vào nội tâm, thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức vận hành thì mới thấy đúng là thời gian qua cái ngã trá hình nhưng không thấy. Nó trá hình trong vai trò là thầy, là sư phụ, là bổn phận, trách nhiệm, là người lớn, nếu không khéo là đường tu không tới đâu hết, có khi bị thối đọa mà không hay, nhìn lại mình mới thấy ghê gớm. Chính Minh Thành nhìn lại trong tháng vừa qua thì phát hiện thấy khủng khiếp, nhục nhã, xấu hổ, cay đắng cho sự tu hành của người xuất gia. Càng ngày càng lún sâu vào bùn lầy mà không biết, nếu không phản tỉnh thì đời tu của mình là một tai họa – một tai họa lớn chứ không phải bình thường.
Minh Thành nhớ ngày mới xuất gia, mình là một chú tiểu hiền lành, rất là dễ dạy, dễ thương, rụt rè. Trong Tăng Chi bộ kinh, Đức Phật nói người Tỳ-kheo khi mới xuất gia, mới thọ giới giống như cô dâu về nhà chồng. Người này e dè, rụt rè, sợ mẹ chồng để ý, xấu hổ, sợ cha chồng, sợ anh, chị, em, bà con chồng, thậm chí với người ở làm công cũng e dè, cẩn thận từng lời nói, từng hành động, từng cử chỉ. Khi Tỳ-kheo vào trong giáo pháp ở một thời gian rồi thì trở thành vô tàm vô quý – không biết xấu hổ, không biết nhục nhã, không cung kính, không tôn trọng thầy, đồng học, không cẩn trọng với các bậc đồng phạm hạnh nữa. Giống như cô dâu ở lâu bên nhà chồng một thời sau trở nên hách dịch, nghiêm mặt, thậm chí có những người chửi mắng lại chồng, thậm chí xem thường ông bà già chồng. Cũng vậy, Đức Phật nói với người xuất gia, đó là điều rất là cay đắng, rất là đau đớn. Cho nên pháp mà Đức Phật dạy các vị Tỳ-kheo rất quan trọng là: sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận các học pháp và biết hổ thẹn, tàm quý. Nhưng cuối cùng, tại sao mình tu được một thời gian thì không còn hổ thẹn, không còn sợ tội lỗi gì nữa hết? Đây là chỗ nhìn kĩ lại thì thấy rất nguy hiểm.
Trong thời gian nhập thất, Minh Thành dùng phương pháp phá ngã, tức là có tâm niệm nghĩ sai, nghĩ tiêu cực về người nào là mình lạy người đó. Quán tưởng hình ảnh mình đắp y hậu và lạy người đó. Ngồi quán tưởng đắp y, mặc hậu đàng hoàng rồi lạy. Lạy một lạy chưa được đủ, phải ra lệnh cho nó: “Lạy xuống, lạy!”. Chính thân mình đắp y hậu lạy xuống, một lạy, hai lạy, ba lạy chưa đủ lạy tiếp, lạy mười lạy. Đó là phương pháp quán chiếu để dập tắt từ từ bản ngã.
Vì sao lại thực tập như vậy? Ví dụ mình nói rằng: “Chiều nay tôi sẽ đi Việt Nam Quốc Tự”, nếu huynh đệ nói như vậy thì có hình bóng mình leo lên xe, rồi có hình bóng Việt Nam Quốc Tự. Khi nói tôi sẽ làm gì đó thì trong tâm sẽ hiện ra một hình bóng lờ mờ, đó là sắc tưởng. Còn lại là ảo tưởng về tự ngã, ảo tưởng về một cái tôi sẽ làm việc đó. Huynh đệ cứ việc nhìn lại tâm sẽ thấy rất rõ.
Cũng vậy, thực tập phương pháp phá ngã là khi hình bóng chính mình hiện trong tâm thì bắt nó phải cúi đầu, không cho nó ngẩng đầu lên. Mỗi khi hình bóng hiện lên trong tâm mình là phải quán tưởng nó đang quỳ lạy hết tất cả mọi người, không cho nó ngẩng đầu lên, không cho nó ưỡn ngực, không cho nó hách dịch, không cho nó ta đây mà phải bắt nó nhiếp phục, khuất phục, bắt nó cúi đầu xuống, gục đầu xuống, quỳ xuống lạy người ta. Mỗi khi sắc tưởng hiện lên phải quán chiếu như vậy.
Phương pháp phá ngã này rất khó thực tập và vô cùng sâu sắc. Nếu không có đủ phương tiện thì mình không thể nào mà nhúc nhích, cục cựa, không thể thực hành gì hết. Minh Thành ví dụ nó giống như cây cổ thụ ngàn năm, còn mình chỉ cầm cây cuốc quẹt quẹt cái rễ thì cây cổ thụ chẳng bị ảnh hưởng gì. Trước giờ chúng ta tu là tu kiểu đó. Tuy miệng nói là vô ngã, vô thường, không phải tôi, không có gì là của tôi nhưng thực ra nó giống như cây cổ thụ hàng ngàn năm, nhưng mình cầm cây cuốc quẹt quẹt thì không có thấm thía gì. Cho nên bây giờ đầu tiên là mình phá cái ngã về sắc tưởng trước, đây là mới bên ngoài thôi nhưng phải quán chiếu và thực tập thì sẽ thấy thay đổi.
Phải làm cho nội tâm trở nên nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng. Lam sao càng tu phải càng trở thành một người dễ dạy, dễ nghe, dễ nói, dễ bảo. Trong bài kinh “Giáo giới”, Tương Ưng Bộ Kinh II, Minh Thành nghe những lời Ngài Ma-ha-ca-diếp nói Minh Thành thấy buồn vô cùng, xúc cảm vô cùng. Đức Thế Tôn nói rằng: “Này Ma-ha-ca-diếp, ông hãy nói pháp cho các Tỳ kheo tân học, Ông hãy khai thị cho các Tỳ kheo, giảng dạy cho các Tỳ kheo mới”. Ma-ha-ca-diếp bảo rằng các Tỳ kheo này khó nghe, khó bảo, khó nói, cứng đầu: “Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn. Họ không kính trọng lời giáo giới”. Ngay thời Đức Phật mà còn như vậy, nghe tới đó Minh Thành thấy rã rời, bi cảm vô cùng.
Cho nên Minh Thành cũng không dám trách gì các huynh đệ, ngay thời Đức Phật mà còn như vậy thì bây giờ còn gì nữa. Tại sao càng tu mình càng trở thành người khó nghe? Tại sao mình lại trở thành người khó bảo? Tâm hổ thẹn, tâm để cung kính, tôn trọng mất hết là tại sao? Nhìn lại coi mình đang đi về đâu. Có phải mình đang thối đọa không? Đây là một sự thật mà Minh Thành muốn các huynh đệ trực diện, thật pháp, thực tế nhìn lại vấn đề.
Trong chùa nhiều khi có những điều khiến Minh Thành đau xót nhưng lại rất thương. Có những huynh đệ trong chùa Minh Thành thấy nhưng không biết nói với họ thế nào nên thấy thương vô cùng. Trên lớp học cũng vậy, một lòng xót thương vô hạn. Thương người ta cũng là thương mình. Phải luôn luôn nhìn lại mình, thấy nhục nhã, xấu hổ cho mình, vì thấy đó là tương lai của Phật giáo.
Sợ hãi trong tương lai
Trong kinh Tăng Chi Bộ, điều này rất thấm thía, Đức Phật nói trước 2.600 năm:
Này các Tỷ-kheo, có năm triền phược này. Thế nào là năm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tâm không ly tham, không ly dục, không ly ái, không ly khao khát, không ly nhiệt tình, không ly ái nhiễm đối với các dục. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tâm không ly tham, không ly dục, không ly ái, không ly khao khát, không ly nhiệt tình, không ly ái nhiễm đối với các dục, tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Tâm của vị nào không hướng về... (như trên)... như vậy là tâm triền phược thứ nhất.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập IV, 9. Chương Chín Pháp, VII. Phẩm Niệm Xứ, bài kinh Tâm phiền trược)
Tức là đầu tiên Đức Phật nói tâm mình mà không hướng đến sự lìa dục, không mãnh liệt, tinh tấn, siêng năng, nỗ lực để quyết định xa rời tất cả những vô minh, phiền não, tham ái thì người đó đang ở trong sự trói buộc, chứ không phải đang ở trong giải thoát. Vậy, những điều sợ hãi trong tương lai là gì?
Này các Tỳ kheo, do quán thấy năm sợ hãi trong tương lai này là vừa đủ để cho cac Tỳ kheo sống ở rừng, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
Này các Tỷ-kheo, sẽ có những vị Tỷ-kheo trong tương lai, thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập. Do thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, nếu họ thọ đại giới cho các người khác, họ sẽ không có thể huấn luyện trong tăng thượng giới, trong tăng thượng tâm, trong tăng thượng tuệ. Các người ấy sẽ trở thành những người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập… Như vậy, này các Tỷ-kheo, do Pháp ô nhiễm, nên Luật bị ô nhiễm; do Luật ô nhiễm, nên Pháp bị ô nhiễm.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập II, Chương Năm Pháp, Phẩm Chiến Sĩ, bài kinh Sợ hãi trong tương lai 1)
Đây là sợ hãi trong tương lai 2.600 năm trước Đức Phật đã nói. “Này các Tỳ kheo, sẽ có những vị Tỳ kheo trong tương lai, thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập”. Những người này sẽ làm thầy, truyền giới cho đệ tử và những đệ tử đó cũng sẽ giống y như vậy. Thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập. Rồi sẽ như thế nào? Họ không thể huấn luyện trong sự tăng thượng giới, định, huệ. Bản thân họ không tu tập làm sao họ hướng dẫn cho đệ tử họ tu tập? Và đương nhiên là đệ tử không được huấn luyện trong sự tăng thượng giới, định, huệ, người ấy sẽ trở thành không tu tập.“Do Pháp ô nhiễm, nên Luật bị ô nhiễm; do Luật ô nhiễm, nên Pháp bị ô nhiễm”. Đây là điều sợ hãi thứ nhất trong tương lai. Điều này Đức Thế Tôn nói hiện tại lúc đó “chưa sanh khởi nhưng các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các Thầy cần phải tinh tấn để đoạn trừ chúng”.
Huynh đệ thấy ghê khiếp không, 2600 năm mà đã nói trước hết rồi. Điều thứ hai:
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo trong tương lai sẽ trở thành những người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, họ làm y chỉ sư cho các người khác. Họ không có thể huấn luyện trong tăng thượng giới, trong tăng thượng tâm, trong tăng thượng tuệ… Như vậy, này các Tỳ kheo, do Pháp ô nhiễm, nên Luật bị ô nhiễm. Do Luật ô nhiễm, nên Pháp bị ô nhiễm. Này các Tỳ kheo, đây là sự sợ hãi thứ hai về tương lai.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo trong tương lai sẽ trở thành những người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập. Do thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, khi họ thuyết về Thắng pháp hay về Quảng thuyết (Trí giải luận) – (tức là họ luận giải ra, thuộc về Luận tạng), họ rơi vào hắc pháp, không có thể giác ngộ rõ ràng.
Khi luận giảng về những lời dạy của Đức Phật, chúng ta phải y cứ vao Kinh tạng, các huynh đệ không thể y cứ toàn bộ vào Luận tạng được đâu. Trừ những bậc A-la-hán mới giảng đúng theo lời dạy của Phật, ít nhất là bậc Tu-đà-hoàn. Còn chưa dự vào bậc Thánh, chưa nhập được Thánh trí thì giảng trật lất, không trúng. Mà mình y cứ theo những người này là mình không bao giờ thành tựu. Các vị Tỳ kheo này:“Họ sẽ thuyết giảng về Thắng pháp hay về Quảng thuyết (Trí giải luận), họ rơi vào hắc pháp, không có thể giác ngộ rõ ràng. Này các Tỳ kheo, đây là do ô nhiễm Pháp, nên sanh ô nhiễm Luật; do ô nhiễm Luật, nên sanh ô nhiễm Pháp”. Cho nên, các huynh đệ mà y cứ theo những kinh sách bây giờ để tu thì không bao giờ thành tựu Thánh đạo, Thánh quả được. Phải y cứ theo lời Đức Phật nói trong Chánh tạng Pāli. Đức Phật là bậc Chánh Đẳng Giác, học Đức Phật thì mình mới thành bậc Chánh Đẳng Giác, mới thành A-la-hán. Những vị sau này làm sao bằng Phật. Huynh đệ nghĩ ai có thể sở hữu trí tuệ Chánh Đẳng Giác ngang hàng với Phật? Mà mình không học với Phật, để qua một bên, nói cái này Tiểu Thừa, rồi đi học với những người sau. Điều này rất nguy hiểm, phải thật cẩn thận.
Đức Phật đã nói trước: “họ rơi vào hắc pháp”. Họ giảng không có đúng vì họ đâu có tu chứng. Rõ ràng là thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập thì làm sao họ thấy được tham, sân, si? Làm sao họ nhiếp phục được tham, sân, si? Làm sao diệt tận được tham, sân, si? Làm sao thành tựu được Chánh trí, Thánh trí? Vậy thì họ giảng gì? Họ giảng trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức của họ. Chính chỗ đó mình theo sắc, thọ, tưởng, hình, thức, học trong ngũ uẩn, nên không thoát ra được ngũ uẩn. Cho nên từ chỗ này sáng lập ra đủ thứ tông phái hết, là theo cái tưởng của những người đó. Thành ra chỗ này rất quan trọng, quay về cội gốc lời dạy của Phật. Minh Thành mong muốn các huynh đệ là trở về được lời dạy gốc của Đức Phật. Hắc pháp là gì? Là pháp đưa mình vào đen tối, vào trong rừng rậm, Đức Phật gọi là kiến trù lâm – tâm hoang vu, nghĩa là kiến chấp nhiều như rừng rậm. Quả thật bây giờ mình càng đọc kinh mình càng không biết đường tu. Kinh sách bây giờ viết ra biết bao nhiêu, đọc rồi cuối cùng hỏi tu làm sao thì không biết. Chỗ đó mình cần để ý.
Lại nữa, này các Tỳ kheo, sẽ có những Tỳ kheo trong tương lai thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập. Do thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, đối với các kinh tạng do Như Lai tuyên thuyết, thâm sâu, ý nghĩa sâu kín, siêu thế, liên hệ đến không, khi các kinh ấy được thuyết giảng, họ không có nghe, họ không có lắng tai, họ không an trú tâm liễu giải, họ không nghĩ rằng các kinh ấy cần phải học tập, cần phải học thuộc lòng. Còn những kinh điển do các thi sĩ làm, những bài thi, với những chữ văn hoa, với những câu văn hoa, thuộc ngoại điển do các đệ tử thuyết, trong khi các kinh ấy được thuyết giảng, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ lóng tai, họ an trú tâm liễu giải. Các pháp ấy, họ sẽ nghĩ cần phải học tập, cần phải học thuộc lòng. Này các Tỳ kheo, đây là do Pháp ô nhiễm, nên Luật ô nhiễm; do Luật ô nhiễm, nên Pháp ô nhiễm. Này các Tỳ kheo, đây là sợ hãi thứ tư về tương lai, nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai, các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các Thầy cần phải tinh tấn để đoạn tận sợ hãi ấy.
Bây giờ có thật hết, những lời Chánh tạng Đức Phật nói không ai nghe, không ai đọc nữa. Đức Phật nói rõ, bây giờ họ nghe “những kinh điển do các thi sĩ làm”, cho nên thơ, văn hoa mình thuộc hết.“Những bài thi, với những chữ văn hoa, với những câu văn hoa, thuộc ngoại điển do các đệ tử thuyết, trong khi các kinh ấy được thuyết giảng, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ lóng tai, họ an trú tâm liễu giải. Các pháp ấy, họ sẽ nghĩ cần phải học tập, cần phải học thuộc lòng”. Trong khi pháp sâu chính, nhiệm màu, giải thoát và liên hệ đến “không” của Đức Phật thì để qua một bên, không học thuộc. Đây là sự sợ hãi trong tương lai.
Lại nữa, này các Tỳ kheo, sẽ có những Tỳ kheo trong tương lai thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập. Do thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập nên các trưởng lão Tỳ kheo sẽ sống đầy đủ, biếng nhác dẫn đầu trong thối đọa, từ bỏ gánh nặng viễn ly, không có hăng hái tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Và quần chúng về sau sẽ đi theo tà kiến của họ. Họ sẽ trở thành những người sống đầy đủ, biếng nhác, dẫn đầu trong thối đọa, từ bỏ gánh nặng, viễn ly, sẽ không hăng hái tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Như vậy, này các Tỳ kheo, do nhiễm ô về Pháp, đưa đến nhiễm ô về Luật; do nhiễm ô về Luật, đưa đến nhiễm ô về Pháp.
Này các Tỳ kheo, năm sợ hãi về tương lai này, nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai. Các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các Thầy cần phải tinh tấn để đoạn tận những sự sợ hãi ấy.(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 2, Chương Năm Pháp, Phẩm Chiến Sĩ, bài kinh Sợ Hãi Trong Tương Lai 3).
Điều cuối này mình thấy mới đau lòng, những người này sẽ sống “sẽ sống đầy đủ, biếng nhác dẫn đầu trong thối đọa, từ bỏ gánh nặng viễn ly”. Sống đầy đủ mà không phải đầy đủ thượng pháp mà là đầy đủ biếng nhác. Họ không tu tập, không chịu quán chiếu, không học giới luật, không Như Lý Tác Ý, không ngồi thiền, để rồi cuối cùng chạy ra ngoài tìm danh, tìm lợi, tìm tài, tìm sắc và đứng đầu trong thối đọa. “Thối” là thối lui, “đọa” là đọa lạc, lùi lại rồi rơi xuống. Hai chữ này để cho chúng ta chiêm nghiệm. Đây là những đề tài cho mình thường quán, chiêm nghiệm những điều này mới là cái học cội gốc của Đức Phật. Thối lui lại hay là thối rữa, thối nát, vỡ ra hết, tan tác hết. Còn đọa là rơi xuống, từ chỗ cao mà rơi xuống, không khéo tu là mình rơi vào cái những điều đó.
“Từ bỏ gánh nặng viễn ly”, chữ này sâu lắm. Gánh nặng thiện pháp và gánh nặng viễn ly. Mình chiêm nghiệm mình mới thấy từ “gánh nặng thiện pháp” hay lắm. Tại sao thiện pháp lại là một gánh nặng? Thiện pháp là một gánh nặng chứ không phải nhẹ, ở ngoài người ta cũng gánh nặng nhưng là gánh nặng tài, tình, tiền. Khi tu mình cũng có gánh nặng thiện pháp là muốn thực hành thiện pháp thì phải kham nhẫn, phải nỗ lực, phải gắng sức giống như là một gánh nặng trên vai, không được từ bỏ gánh nặng đó. Phải tiến tới, phải quyết chí, phải vững tâm, phải quyết lòng. Đó là gánh nặng của thiện pháp. Thế nào là thiện pháp? Tứ Niệm Xứ là thiện pháp. Thế nào là thiện pháp? Bát Chánh Đạo là thiện pháp. Thế nào là thiện pháp? Tứ Thánh Đế là thiện pháp. Đó là Chánh Thượng Pháp, Thánh Thượng Pháp. Mình không được từ bỏ những gánh nặng đó mà sâu xa nhất chính là gánh nặng viễn ly.
Viễn ly – sống một mình khó lắm chứ không phải dễ. Một tháng trải nghiệm vừa rồi cho Minh Thành thấy là không phải chuyện dễ. Nếu không nhập được pháp là chỉ vài ngày sẽ bung thất. Đức Phật nói trong bài kinh Khu Rừng, người mà nặng về dục tham mãnh liệt là không thể ở trong rừng được. Người thích giao du, giao tiếp là không thể ở trong rừng một mình được. Người thích danh, lợi cúng dường là không thể ở một mình trong rừng được, độc cư thiền định không được. Cho nên ở một mình không phải chuyện dễ.
Khi ở một mình rồi huynh đệ mới thấy đúng là muốn thành tựu Thánh đạo, Thánh quả, muốn thăng tiến trên tâm linh, thì không thể không ở một mình để thực tập. Tại vì khi ở một mình, tự đối diện mình, mới thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức của mình nó trông như thế nào. Còn tối ngày cứ duyên trần, duyên cảnh, phóng túng, phóng dật quen rồi, nên mình đâu có nhìn ra đâu mà thấy được. Bản ngã, tham dục, sân hận, cống cao, ngã mạn, ta đây, hách dịch, dương dương tự đắc – mình đều không thấy. Viễn ly rồi thì nó hoạt động ra sao mình thấy rõ hết. Thấy để mà xấu hổ.
Cho nên chữ đầu tiên của bậc Tu-đà-hoàn là Nhục. Nhục nhã khi thấy nội tâm của mình, khi phát hiện ra được phiền não. Cho nên viễn ly là phải bỏ hết. Chùa - bỏ, đệ tử xuất gia - bỏ, Phật tử - bỏ, trường lớp - bỏ, Tăng Ni sinh - bỏ. Bao nhiêu xe cộ, đất đai, tiền bạc, chùa chiền, những gì thân ái bỏ hết. Ở một mình rồi mình sẽ thấy được nội tâm như thế nào. Đó là gánh nặng của viễn ly, không được từ bỏ gánh nặng viễn ly, phải sống như vậy. Như vậy mới thấy được thực pháp, thấy được thực trạng của tâm mình như thế nào.
“Không hăng hái để tinh tấn, chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.” Không chịu tinh tấn, biết mà làm lơ chứ không phải không biết. Biết là mình đang giải đãi đó nhưng vẫn không chịu tinh tấn.
Chỗ thê thảm nhất là:“Và quần chúng về sau sẽ đi theo tà kiến của họ”. Đây là chỗ đau đớn nhất. Quần chúng ở đây là những người đệ tử xuất gia, những người đệ tử cư sĩ. Họ được người này hướng dẫn thì sẽ đi theo tà kiến, đi theo hiểu biết sai lầm.
Đây là sợ hãi trong tương lai mà các Thầy phải hoàn toàn rõ biết, phải tinh tấn để đoạn trừ, đoạn tận.
Như vậy huynh đệ phải nhớ thực tập những điều sau: đặt niệm trước mặt (rõ biết trước mặt), cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác và nhận diện năm uẩn. Công dụng của cảm giác toàn thân là phát hiện chỗ trú ẩn của tham dục, sân hận, si mê, ngã mạn, ta đây, cống cao, dương dương tự đắc, cho mình là số một, phát hiện ra cái ngu si, vô minh của mình. Sau khi phát hiện ra, dùng Như Lý Tác Ý để dập nó, tiêu diệt nó, làm cho nó tan tác, bứng gốc rễ của nó, đốt nó thành tro và quăng xuống sông, đưa nó đến chỗ vô ưu Niết – bàn, không tái sanh trở lại nữa.
Đó là con đường 2.600 năm trước của Đức Thế Tôn. Bây giờ chúng ta rất vinh hạnh, sung sướng, hạnh phúc khi gặp được con đường này và noi theo Đức Phật. Tương lai trong lớp chúng ta sẽ có những vị đầy đủ Chánh kiến để dự vào dòng pháp trí huệ, chắc chắn không nhiều thì cũng có ít. Vì chỉ cần tin chắc vào Đức Phật, tin chắc vào Pháp thì sẽ Dự Lưu vào dòng pháp của Phật. Chắc chắn, không có nghi, nhất định như vậy! Đây là cơ hội ngàn năm một thuở cho những người nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm và tỉnh giác.
./.
SỢ HÃI TRONG TƯƠNG LAI
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Công năng thực hành ba pháp PAGEREF _Toc114213838 \h 1
II.Soi xét tự thân PAGEREF _Toc114213839 \h 4
III.Sợ hãi trong tương lai PAGEREF _Toc114213840 \h 8
Công năng thực hành ba pháp
Huynh đệ mở mắt nhìn về phía trước, đừng nhắm mắt, tuyệt đối không nhắm mắt. Nhìn xuống về phía trước khoảng một thước đến một thước hơn, mở rộng tầm nhìn của mình hết mức ra hai bên. Đây gọi là đặt niệm trước mặt trong kinh Tứ Niệm Xứ.
Tiếp theo các huynh đệ trở về với hơi thở, hơi thở vào biết là vào, hơi thở biết là ra. Hơi thở vào, ra mình nhận biết rõ. Các huynh đệ cảm nhận chỗ động chuyển của hơi thở, hơi thở sẽ động chuyển ngay lồng ngực, ngay chóp mũi và ngay mũi. Cảm nhận ba chỗ động chuyển của hơi thở là ở mũi, ở lồng ngực và ở bụng. Sau đó mở bung cảm giác của hơi thở. Từ hơi thở mở cảm giác lên đỉnh đầu, cảm giác mặt, cảm giác hai vai, hai tay, mông, chân, bàn chân, mở bung cảm giác từ hơi thở ra toàn thân. Thở vào, thở ra, cảm giác toàn thân.
Pháp thứ ba là nội tâm tỉnh giác. Tâm của mình tỉnh giác, chánh niệm.
Đặt niệm trước mặt tức là rõ biết trước mắt, kế đó là cảm giác toàn thân, thấy được hơi thở, tiếp theo là nội tâm tỉnh giác – ba pháp này như đỉnh ba chân, rất quan trọng. Các huynh đệ thực tập ba pháp này quen thì đó sẽ là nền tảng để đi vào nhận diện năm uẩn. Ba pháp này khi được thực tập thuần thục thì lúc đi, đứng, nằm ngồi mình đều thực tập được hết chứ không phải chỉ giờ ngồi thiền. Lúc nào sự biết trước mặt của mình cũng sáng rõ, tầm nhìn mở rộng. Lúc nào cũng để ý cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác thì sẽ phát hiện ra trong tâm lúc đó có gì xuất hiện.
Ba pháp này sẽ quyết định tất cả những pháp tu tập về sau. Nếu không tu tập được ba pháp này thì các pháp sâu sắc phía sau để nhận diện các uẩn, nhận diện được phiền não vận hành như thế nào sẽ không nhận diện được. Vì vậy, cần phải nắm thật vững và cố gắng thực tập ba pháp. Đây là của báu của người tu chúng ta. Sau này mình hướng dẫn lại cho những người huynh đệ hoặc đệ tử của mình.
Ba pháp này bao bọc tất cả. Bên ngoài mình rõ biết trước mặt, vì là rõ biết trước mắt nên mình không chú tâm vào một điểm nào hết. Nếu chú tâm vào điểm nào là sẽ rơi vào tưởng. Khi ngồi thiền cũng vậy, đừng nhìn vào một điểm nào cả, chẳng hạn nền gạch bông, chiếu, thảm… vì nhìn vào một điểm sẽ tưởng ra hình con này, con kia. Cho nên, phải rõ biết trước mặt, không trú vào một điểm nào. Hơn nữa, khi ngồi thiền, niệm Phật hay trì chú tuyệt đối không được nhắm mắt. Tại vì nhắm mắt sẽ đưa mình vào trạng thái lờ mờ, rơi vào tưởng uẩn và tưởng xuất hiện sẽ đưa mình vào vô minh. Lúc đó mình không còn thấy rõ gì nữa. Vì vậy, tuyệt đối không nhắm mắt, trừ khi nào quán tưởng thì lúc đó mới nhắm.
Tất cả những gì chúng ta tích lũy, chất chứa đều được cất giữ trong cảm giác, cảm thọ. Thế nên cảm thọ là kho chứa đựng những tập khí, thói quen trong quá khứ của mình. Tất cả sẽ được tích tụ trong cảm giác, cảm thọ, những điều này là lời Đức Phật dạy nằm trong Kinh tạng Pāli, Nikāya. Phải thường cảm giác toàn thân, trong đó có hơi thở, luôn trở về coi lại cảm giác của mình tại vì phiền não sẽ trú ẩn trong cảm giác, cảm thọ. Khi phiền não xuất hiện thì cảm thọ biến động, lúc phát giác cảm thọ vừa biến động là lúc đó tham, sân, si, phiền não đã xuất hiện.
Ví dụ, khi nổi nóng lên thì cảm giác sẽ đổi khác. Đầu tiên nóng lên ở lồng ngực, nếu sân ít thì sẽ ấm lên, nếu nhiều thì nóng lên và từ đó lan ra, hỏa đại bốc lên, có thể mặt, tai sẽ đỏ lên. Nếu thường nhìn lại cảm giác toàn thân, ngay lúc vừa sanh khởi lên khác lạ thì chúng ta phát hiện ra ngay là cảm thọ đã đổi khác, hiện tại trong thân mình đang có cảm thọ, cảm giác nóng bức. Đây là một cảm giác sân.
Hoặc khi nhìn thấy một đối tượng hay một món đồ nào đó và phát sinh ra tâm ưa thích, ham muốn, khoan khoái, thậm chí mãnh liệt hơn là khao khát. Lúc đó cảm thọ động chuyển, thường hiện rõ nhất là ở chỗ lồng ngực, tim sẽ đập mạnh, có sự thay đổi ở chỗ lồng ngực, cảm giác cũng thay đổi. Thậm chí có khi mình rung lên, có cảm giác bất thường xuất hiện. Đó là tham dục xuất hiện, cần phải phát hiện liền.
Minh Thành chỉ nói những điều gần gần, dễ thấy cho huynh đệ làm quen. Khi thực tập được thì Minh Thành sẽ chia sẻ những điều sâu sắc và vi tế hơn. Như vậy cảm giác toàn thân giúp cho mình nhìn trở lại, phát hiện ra tự thân và tự tâm của mình. Nếu không trú trong cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt, chánh niệm tỉnh giác thì lúc đó mình sống trong trạng thái của vô minh. Tức là không rõ về tự thân, tự tâm; luôn luôn có sự phóng dật xuất hiện. Phóng dật là trạng thái buông lung, không hộ trì căn, không nhìn trở lại năm uẩn, thế nên phiền não trú ẩn trong cảm giác, cảm thọ nhưng mình không hay biết. Khi tu tập, nếu thường nhìn lại, chúng ta sẽ thấy được cảm giác sân, nóng bức sanh khởi, lúc đó dùng Như Lý Tác Ý để nhiếp phục nó.
Các phiền não sanh lên trong nội tâm cũng là một pháp. Cho nên mình sẽ đối thoại, nói chuyện với nó giống như nói chuyện với một người ở ngoài, có khi nói một cách mạnh mẽ, uy lực (cương), có khi lại nhẹ nhàng (nhu). Khi nóng lên thì tác ý: “Bộ giận sướng lắm hả? Ham giận lắm hả? Yêu giận, thích giận lắm phải không? Giận mấy chục năm nay chưa đủ hả?”. Khi nhìn ra được cảm thọ sân sanh khởi, mình phát hiện được bộ mặt của nó, lúc đó nó bắt đầu e dè. Giống như một người đang đi, không có ai nhìn thì đi bình thường, nhưng có ai nhìn thì sẽ tự nhiên đi khựng khựng lại. Phiền não cũng giống như vậy.
Như vậy, sự quan trọng của việc nhìn lại cảm giác quan trọng là ở chỗ khi phiền não bị phát hiện thì nó sẽ e dè, rụt rè. Sau đó chúng ta dùng Như Lý Tác Ý để giải quyết từng vấn đề. Nếu cơn sân mãnh liệt quá thì dùng những lời nhẹ nhàng để đối đãi nó. Nếu tham dục mạnh thì dùng búa tạ để đập vỡ đầu nó ra, sau đó mình nói chuyện với nó: “Dục là mũi tên, dục là rắn độc, chính mi là kẻ sát nhân, chính mi là ác ma, chính mi đưa ta vào vòng luân hồi, sanh tử, khổ đau, ràng buộc. Chạy đi kiếm mấy chục năm nay chưa đủ hay sao mà giờ còn muốn đi kiếm nữa?”. Những từ ngữ mạnh này đều trong kinh, là pháp lệnh của Đức Phật trong kinh Nikāya. Dục là hố than hừng, dục là rắn độc, dục là mũi tên, dục là kẻ sát nhân, dục làm cho tan nhà nát cửa, mất mạng, kẻ giết người, ác ma. Dùng những từ mạnh như vậy thì cái dục lúc đó sẽ lắng dịu xuống. “Ta sẽ không chấp nhận mi, ta từ bỏ mi. Ta sẽ diệt tận ngươi. Ta chặt ngươi giống như cây Sala, cây dừa, cây cau. Ta chặt ngươi không còn tái sanh nữa, không còn sanh khởi được nữa”.
Luôn để ý sự động chuyển của cảm thọ trong cơ thể, nó ở chỗ nào thì hướng tâm tác ý ngay đó thì sẽ tan dần ra. Ví dụ, đang nóng ở lồng ngực thì mình hướng tâm mình vào chỗ đó mình nói chuyện, dùng Như Lý Tác Ý, lúc đó cảm thọ sẽ dịu từ từ rồi tan ra. Nếu dục phát sanh mạnh, không những là dục tưởng mà cả dục thọ (cảm giác dục hiện khởi trong thân), lúc đó mình hướng tâm đến chỗ phát dục, dùng Như Lý Tác Ý: “Ta từ bỏ ngươi, ta không chấp nhận ngươi, ta sẽ diệt tận ngươi. Chính ngươi là thủ phạm lôi ta vào trối trăng, ràng buộc, khổ đau”. Nói như vậy thì chỗ phát dục sẽ từ từ lắng dịu rồi rồi tan ra. Cứ cố gắng thực hành rồi sẽ thấy kết quả. Dục ở bất cứ chỗ nào cũng phát hiện ra được nếu thực tập cảm giác toàn thân.
Bây giờ tới si, si là cảm giác không khổ không vui, cứ lờ đờ. Ví dụ, mình đang học, xuất hiện cảm giác lờ đờ, không phải hưng phấn mà cũng không phải là ngủ rồi, nó cứ lờ đờ, trơ trơ, đó là trạng thái của si. Cần phải Như Lý Tác Ý: “Ngủ 40 năm rồi chưa đã hay sao, bộ muốn ngủ 1000 năm hay sao? Đồ ngu si, thức dậy đi”. Dùng Như Lý Tác Ý mạnh đánh thì sự lờ đờ đó từ từ tan ra, rồi mình đặt niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, lúc đó con ma si sẽ bị đánh tan. Đây là phương pháp rất đặc biệt ở trong Chánh tạng Đức Phật dạy.
Minh Thành đã nói sơ lược để huynh đệ thấy tại sao phải thực tập cảm giác toàn thân. Bởi vì muốn phát hiện, thấy rõ được bộ mặt của phiền não; thấy được tham dục vận hành như thế nào; thấy được sân hận vận hành như thế nào; si mê tứ đại ra làm sao; ngã mạn tiềm ẩn, hoạt động như thế nào. Khi nhìn lại cảm thọ mình sẽ thấy rõ mặt mũi, tên tuổi, tánh tình rồi có cách để trị nó. Vì vậy, phải cố gắng nhìn lại cảm giác toàn thân trong mọi lúc mọi nơi.
Soi xét tự thân
Hiện nay, một điều Minh Thành rất lo lắng là Pháp Hành. Minh Thành đã đi tìm cầu khắp trên thế giới, tới các vị Cao Tăng và cuối cùng mới tìm ra được trong lần nhập thất một tháng vừa qua. Chúng ta nhìn lại sự tu học của mình, ngay cả bản thân Minh Thành trước đây cũng vậy, đều là tu chung chung, hành chung chung, học chung chung, đọc chung chung, nghe chung chung. Cuối cùng kết quả chung chung. Thế nên, đối với những vấn đề quan trọng cần phải kiểm tra lại.
Phải xem tham ái trong lòng như thế nào? Có khi nó không giảm mà càng ngày càng tăng, đó là một điều hổ thẹn của người xuất gia. Tự mình nhìn lại mình sẽ thấy rõ nhất chứ chẳng cần nói ai. Bao nhiêu năm xuất gia, bây giờ đã nhiếp phục được tham dục, sân hận, bản ngã chưa? Nếu không khéo, ngay cả bản thân Minh Thành, nhìn kĩ mình sẽ thấy rất là nhục nhã, rất là xấu hổ. Khi nhập thất, Minh Thành đã lạy một chú thị giả và xin lỗi, nói rằng trước nay chưa thấy được bản ngã của mình. Sau khi ở yên một mình, nhìn kĩ vào nội tâm, thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức vận hành thì mới thấy đúng là thời gian qua cái ngã trá hình nhưng không thấy. Nó trá hình trong vai trò là thầy, là sư phụ, là bổn phận, trách nhiệm, là người lớn, nếu không khéo là đường tu không tới đâu hết, có khi bị thối đọa mà không hay, nhìn lại mình mới thấy ghê gớm. Chính Minh Thành nhìn lại trong tháng vừa qua thì phát hiện thấy khủng khiếp, nhục nhã, xấu hổ, cay đắng cho sự tu hành của người xuất gia. Càng ngày càng lún sâu vào bùn lầy mà không biết, nếu không phản tỉnh thì đời tu của mình là một tai họa – một tai họa lớn chứ không phải bình thường.
Minh Thành nhớ ngày mới xuất gia, mình là một chú tiểu hiền lành, rất là dễ dạy, dễ thương, rụt rè. Trong Tăng Chi bộ kinh, Đức Phật nói người Tỳ-kheo khi mới xuất gia, mới thọ giới giống như cô dâu về nhà chồng. Người này e dè, rụt rè, sợ mẹ chồng để ý, xấu hổ, sợ cha chồng, sợ anh, chị, em, bà con chồng, thậm chí với người ở làm công cũng e dè, cẩn thận từng lời nói, từng hành động, từng cử chỉ. Khi Tỳ-kheo vào trong giáo pháp ở một thời gian rồi thì trở thành vô tàm vô quý – không biết xấu hổ, không biết nhục nhã, không cung kính, không tôn trọng thầy, đồng học, không cẩn trọng với các bậc đồng phạm hạnh nữa. Giống như cô dâu ở lâu bên nhà chồng một thời sau trở nên hách dịch, nghiêm mặt, thậm chí có những người chửi mắng lại chồng, thậm chí xem thường ông bà già chồng. Cũng vậy, Đức Phật nói với người xuất gia, đó là điều rất là cay đắng, rất là đau đớn. Cho nên pháp mà Đức Phật dạy các vị Tỳ-kheo rất quan trọng là: sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận các học pháp và biết hổ thẹn, tàm quý. Nhưng cuối cùng, tại sao mình tu được một thời gian thì không còn hổ thẹn, không còn sợ tội lỗi gì nữa hết? Đây là chỗ nhìn kĩ lại thì thấy rất nguy hiểm.
Trong thời gian nhập thất, Minh Thành dùng phương pháp phá ngã, tức là có tâm niệm nghĩ sai, nghĩ tiêu cực về người nào là mình lạy người đó. Quán tưởng hình ảnh mình đắp y hậu và lạy người đó. Ngồi quán tưởng đắp y, mặc hậu đàng hoàng rồi lạy. Lạy một lạy chưa được đủ, phải ra lệnh cho nó: “Lạy xuống, lạy!”. Chính thân mình đắp y hậu lạy xuống, một lạy, hai lạy, ba lạy chưa đủ lạy tiếp, lạy mười lạy. Đó là phương pháp quán chiếu để dập tắt từ từ bản ngã.
Vì sao lại thực tập như vậy? Ví dụ mình nói rằng: “Chiều nay tôi sẽ đi Việt Nam Quốc Tự”, nếu huynh đệ nói như vậy thì có hình bóng mình leo lên xe, rồi có hình bóng Việt Nam Quốc Tự. Khi nói tôi sẽ làm gì đó thì trong tâm sẽ hiện ra một hình bóng lờ mờ, đó là sắc tưởng. Còn lại là ảo tưởng về tự ngã, ảo tưởng về một cái tôi sẽ làm việc đó. Huynh đệ cứ việc nhìn lại tâm sẽ thấy rất rõ.
Cũng vậy, thực tập phương pháp phá ngã là khi hình bóng chính mình hiện trong tâm thì bắt nó phải cúi đầu, không cho nó ngẩng đầu lên. Mỗi khi hình bóng hiện lên trong tâm mình là phải quán tưởng nó đang quỳ lạy hết tất cả mọi người, không cho nó ngẩng đầu lên, không cho nó ưỡn ngực, không cho nó hách dịch, không cho nó ta đây mà phải bắt nó nhiếp phục, khuất phục, bắt nó cúi đầu xuống, gục đầu xuống, quỳ xuống lạy người ta. Mỗi khi sắc tưởng hiện lên phải quán chiếu như vậy.
Phương pháp phá ngã này rất khó thực tập và vô cùng sâu sắc. Nếu không có đủ phương tiện thì mình không thể nào mà nhúc nhích, cục cựa, không thể thực hành gì hết. Minh Thành ví dụ nó giống như cây cổ thụ ngàn năm, còn mình chỉ cầm cây cuốc quẹt quẹt cái rễ thì cây cổ thụ chẳng bị ảnh hưởng gì. Trước giờ chúng ta tu là tu kiểu đó. Tuy miệng nói là vô ngã, vô thường, không phải tôi, không có gì là của tôi nhưng thực ra nó giống như cây cổ thụ hàng ngàn năm, nhưng mình cầm cây cuốc quẹt quẹt thì không có thấm thía gì. Cho nên bây giờ đầu tiên là mình phá cái ngã về sắc tưởng trước, đây là mới bên ngoài thôi nhưng phải quán chiếu và thực tập thì sẽ thấy thay đổi.
Phải làm cho nội tâm trở nên nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng. Lam sao càng tu phải càng trở thành một người dễ dạy, dễ nghe, dễ nói, dễ bảo. Trong bài kinh “Giáo giới”, Tương Ưng Bộ Kinh II, Minh Thành nghe những lời Ngài Ma-ha-ca-diếp nói Minh Thành thấy buồn vô cùng, xúc cảm vô cùng. Đức Thế Tôn nói rằng: “Này Ma-ha-ca-diếp, ông hãy nói pháp cho các Tỳ kheo tân học, Ông hãy khai thị cho các Tỳ kheo, giảng dạy cho các Tỳ kheo mới”. Ma-ha-ca-diếp bảo rằng các Tỳ kheo này khó nghe, khó bảo, khó nói, cứng đầu: “Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn. Họ không kính trọng lời giáo giới”. Ngay thời Đức Phật mà còn như vậy, nghe tới đó Minh Thành thấy rã rời, bi cảm vô cùng.
Cho nên Minh Thành cũng không dám trách gì các huynh đệ, ngay thời Đức Phật mà còn như vậy thì bây giờ còn gì nữa. Tại sao càng tu mình càng trở thành người khó nghe? Tại sao mình lại trở thành người khó bảo? Tâm hổ thẹn, tâm để cung kính, tôn trọng mất hết là tại sao? Nhìn lại coi mình đang đi về đâu. Có phải mình đang thối đọa không? Đây là một sự thật mà Minh Thành muốn các huynh đệ trực diện, thật pháp, thực tế nhìn lại vấn đề.
Trong chùa nhiều khi có những điều khiến Minh Thành đau xót nhưng lại rất thương. Có những huynh đệ trong chùa Minh Thành thấy nhưng không biết nói với họ thế nào nên thấy thương vô cùng. Trên lớp học cũng vậy, một lòng xót thương vô hạn. Thương người ta cũng là thương mình. Phải luôn luôn nhìn lại mình, thấy nhục nhã, xấu hổ cho mình, vì thấy đó là tương lai của Phật giáo.
Sợ hãi trong tương lai
Trong kinh Tăng Chi Bộ, điều này rất thấm thía, Đức Phật nói trước 2.600 năm:
Này các Tỷ-kheo, có năm triền phược này. Thế nào là năm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tâm không ly tham, không ly dục, không ly ái, không ly khao khát, không ly nhiệt tình, không ly ái nhiễm đối với các dục. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tâm không ly tham, không ly dục, không ly ái, không ly khao khát, không ly nhiệt tình, không ly ái nhiễm đối với các dục, tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Tâm của vị nào không hướng về... (như trên)... như vậy là tâm triền phược thứ nhất.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập IV, 9. Chương Chín Pháp, VII. Phẩm Niệm Xứ, bài kinh Tâm phiền trược)
Tức là đầu tiên Đức Phật nói tâm mình mà không hướng đến sự lìa dục, không mãnh liệt, tinh tấn, siêng năng, nỗ lực để quyết định xa rời tất cả những vô minh, phiền não, tham ái thì người đó đang ở trong sự trói buộc, chứ không phải đang ở trong giải thoát. Vậy, những điều sợ hãi trong tương lai là gì?
Này các Tỳ kheo, do quán thấy năm sợ hãi trong tương lai này là vừa đủ để cho cac Tỳ kheo sống ở rừng, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
Này các Tỷ-kheo, sẽ có những vị Tỷ-kheo trong tương lai, thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập. Do thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, nếu họ thọ đại giới cho các người khác, họ sẽ không có thể huấn luyện trong tăng thượng giới, trong tăng thượng tâm, trong tăng thượng tuệ. Các người ấy sẽ trở thành những người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập… Như vậy, này các Tỷ-kheo, do Pháp ô nhiễm, nên Luật bị ô nhiễm; do Luật ô nhiễm, nên Pháp bị ô nhiễm.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập II, Chương Năm Pháp, Phẩm Chiến Sĩ, bài kinh Sợ hãi trong tương lai 1)
Đây là sợ hãi trong tương lai 2.600 năm trước Đức Phật đã nói. “Này các Tỳ kheo, sẽ có những vị Tỳ kheo trong tương lai, thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập”. Những người này sẽ làm thầy, truyền giới cho đệ tử và những đệ tử đó cũng sẽ giống y như vậy. Thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập. Rồi sẽ như thế nào? Họ không thể huấn luyện trong sự tăng thượng giới, định, huệ. Bản thân họ không tu tập làm sao họ hướng dẫn cho đệ tử họ tu tập? Và đương nhiên là đệ tử không được huấn luyện trong sự tăng thượng giới, định, huệ, người ấy sẽ trở thành không tu tập.“Do Pháp ô nhiễm, nên Luật bị ô nhiễm; do Luật ô nhiễm, nên Pháp bị ô nhiễm”. Đây là điều sợ hãi thứ nhất trong tương lai. Điều này Đức Thế Tôn nói hiện tại lúc đó “chưa sanh khởi nhưng các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các Thầy cần phải tinh tấn để đoạn trừ chúng”.
Huynh đệ thấy ghê khiếp không, 2600 năm mà đã nói trước hết rồi. Điều thứ hai:
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo trong tương lai sẽ trở thành những người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, họ làm y chỉ sư cho các người khác. Họ không có thể huấn luyện trong tăng thượng giới, trong tăng thượng tâm, trong tăng thượng tuệ… Như vậy, này các Tỳ kheo, do Pháp ô nhiễm, nên Luật bị ô nhiễm. Do Luật ô nhiễm, nên Pháp bị ô nhiễm. Này các Tỳ kheo, đây là sự sợ hãi thứ hai về tương lai.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo trong tương lai sẽ trở thành những người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập. Do thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, khi họ thuyết về Thắng pháp hay về Quảng thuyết (Trí giải luận) – (tức là họ luận giải ra, thuộc về Luận tạng), họ rơi vào hắc pháp, không có thể giác ngộ rõ ràng.
Khi luận giảng về những lời dạy của Đức Phật, chúng ta phải y cứ vao Kinh tạng, các huynh đệ không thể y cứ toàn bộ vào Luận tạng được đâu. Trừ những bậc A-la-hán mới giảng đúng theo lời dạy của Phật, ít nhất là bậc Tu-đà-hoàn. Còn chưa dự vào bậc Thánh, chưa nhập được Thánh trí thì giảng trật lất, không trúng. Mà mình y cứ theo những người này là mình không bao giờ thành tựu. Các vị Tỳ kheo này:“Họ sẽ thuyết giảng về Thắng pháp hay về Quảng thuyết (Trí giải luận), họ rơi vào hắc pháp, không có thể giác ngộ rõ ràng. Này các Tỳ kheo, đây là do ô nhiễm Pháp, nên sanh ô nhiễm Luật; do ô nhiễm Luật, nên sanh ô nhiễm Pháp”. Cho nên, các huynh đệ mà y cứ theo những kinh sách bây giờ để tu thì không bao giờ thành tựu Thánh đạo, Thánh quả được. Phải y cứ theo lời Đức Phật nói trong Chánh tạng Pāli. Đức Phật là bậc Chánh Đẳng Giác, học Đức Phật thì mình mới thành bậc Chánh Đẳng Giác, mới thành A-la-hán. Những vị sau này làm sao bằng Phật. Huynh đệ nghĩ ai có thể sở hữu trí tuệ Chánh Đẳng Giác ngang hàng với Phật? Mà mình không học với Phật, để qua một bên, nói cái này Tiểu Thừa, rồi đi học với những người sau. Điều này rất nguy hiểm, phải thật cẩn thận.
Đức Phật đã nói trước: “họ rơi vào hắc pháp”. Họ giảng không có đúng vì họ đâu có tu chứng. Rõ ràng là thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập thì làm sao họ thấy được tham, sân, si? Làm sao họ nhiếp phục được tham, sân, si? Làm sao diệt tận được tham, sân, si? Làm sao thành tựu được Chánh trí, Thánh trí? Vậy thì họ giảng gì? Họ giảng trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức của họ. Chính chỗ đó mình theo sắc, thọ, tưởng, hình, thức, học trong ngũ uẩn, nên không thoát ra được ngũ uẩn. Cho nên từ chỗ này sáng lập ra đủ thứ tông phái hết, là theo cái tưởng của những người đó. Thành ra chỗ này rất quan trọng, quay về cội gốc lời dạy của Phật. Minh Thành mong muốn các huynh đệ là trở về được lời dạy gốc của Đức Phật. Hắc pháp là gì? Là pháp đưa mình vào đen tối, vào trong rừng rậm, Đức Phật gọi là kiến trù lâm – tâm hoang vu, nghĩa là kiến chấp nhiều như rừng rậm. Quả thật bây giờ mình càng đọc kinh mình càng không biết đường tu. Kinh sách bây giờ viết ra biết bao nhiêu, đọc rồi cuối cùng hỏi tu làm sao thì không biết. Chỗ đó mình cần để ý.
Lại nữa, này các Tỳ kheo, sẽ có những Tỳ kheo trong tương lai thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập. Do thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, đối với các kinh tạng do Như Lai tuyên thuyết, thâm sâu, ý nghĩa sâu kín, siêu thế, liên hệ đến không, khi các kinh ấy được thuyết giảng, họ không có nghe, họ không có lắng tai, họ không an trú tâm liễu giải, họ không nghĩ rằng các kinh ấy cần phải học tập, cần phải học thuộc lòng. Còn những kinh điển do các thi sĩ làm, những bài thi, với những chữ văn hoa, với những câu văn hoa, thuộc ngoại điển do các đệ tử thuyết, trong khi các kinh ấy được thuyết giảng, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ lóng tai, họ an trú tâm liễu giải. Các pháp ấy, họ sẽ nghĩ cần phải học tập, cần phải học thuộc lòng. Này các Tỳ kheo, đây là do Pháp ô nhiễm, nên Luật ô nhiễm; do Luật ô nhiễm, nên Pháp ô nhiễm. Này các Tỳ kheo, đây là sợ hãi thứ tư về tương lai, nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai, các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các Thầy cần phải tinh tấn để đoạn tận sợ hãi ấy.
Bây giờ có thật hết, những lời Chánh tạng Đức Phật nói không ai nghe, không ai đọc nữa. Đức Phật nói rõ, bây giờ họ nghe “những kinh điển do các thi sĩ làm”, cho nên thơ, văn hoa mình thuộc hết.“Những bài thi, với những chữ văn hoa, với những câu văn hoa, thuộc ngoại điển do các đệ tử thuyết, trong khi các kinh ấy được thuyết giảng, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ lóng tai, họ an trú tâm liễu giải. Các pháp ấy, họ sẽ nghĩ cần phải học tập, cần phải học thuộc lòng”. Trong khi pháp sâu chính, nhiệm màu, giải thoát và liên hệ đến “không” của Đức Phật thì để qua một bên, không học thuộc. Đây là sự sợ hãi trong tương lai.
Lại nữa, này các Tỳ kheo, sẽ có những Tỳ kheo trong tương lai thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập. Do thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập nên các trưởng lão Tỳ kheo sẽ sống đầy đủ, biếng nhác dẫn đầu trong thối đọa, từ bỏ gánh nặng viễn ly, không có hăng hái tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Và quần chúng về sau sẽ đi theo tà kiến của họ. Họ sẽ trở thành những người sống đầy đủ, biếng nhác, dẫn đầu trong thối đọa, từ bỏ gánh nặng, viễn ly, sẽ không hăng hái tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Như vậy, này các Tỳ kheo, do nhiễm ô về Pháp, đưa đến nhiễm ô về Luật; do nhiễm ô về Luật, đưa đến nhiễm ô về Pháp.
Này các Tỳ kheo, năm sợ hãi về tương lai này, nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai. Các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các Thầy cần phải tinh tấn để đoạn tận những sự sợ hãi ấy.(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 2, Chương Năm Pháp, Phẩm Chiến Sĩ, bài kinh Sợ Hãi Trong Tương Lai 3).
Điều cuối này mình thấy mới đau lòng, những người này sẽ sống “sẽ sống đầy đủ, biếng nhác dẫn đầu trong thối đọa, từ bỏ gánh nặng viễn ly”. Sống đầy đủ mà không phải đầy đủ thượng pháp mà là đầy đủ biếng nhác. Họ không tu tập, không chịu quán chiếu, không học giới luật, không Như Lý Tác Ý, không ngồi thiền, để rồi cuối cùng chạy ra ngoài tìm danh, tìm lợi, tìm tài, tìm sắc và đứng đầu trong thối đọa. “Thối” là thối lui, “đọa” là đọa lạc, lùi lại rồi rơi xuống. Hai chữ này để cho chúng ta chiêm nghiệm. Đây là những đề tài cho mình thường quán, chiêm nghiệm những điều này mới là cái học cội gốc của Đức Phật. Thối lui lại hay là thối rữa, thối nát, vỡ ra hết, tan tác hết. Còn đọa là rơi xuống, từ chỗ cao mà rơi xuống, không khéo tu là mình rơi vào cái những điều đó.
“Từ bỏ gánh nặng viễn ly”, chữ này sâu lắm. Gánh nặng thiện pháp và gánh nặng viễn ly. Mình chiêm nghiệm mình mới thấy từ “gánh nặng thiện pháp” hay lắm. Tại sao thiện pháp lại là một gánh nặng? Thiện pháp là một gánh nặng chứ không phải nhẹ, ở ngoài người ta cũng gánh nặng nhưng là gánh nặng tài, tình, tiền. Khi tu mình cũng có gánh nặng thiện pháp là muốn thực hành thiện pháp thì phải kham nhẫn, phải nỗ lực, phải gắng sức giống như là một gánh nặng trên vai, không được từ bỏ gánh nặng đó. Phải tiến tới, phải quyết chí, phải vững tâm, phải quyết lòng. Đó là gánh nặng của thiện pháp. Thế nào là thiện pháp? Tứ Niệm Xứ là thiện pháp. Thế nào là thiện pháp? Bát Chánh Đạo là thiện pháp. Thế nào là thiện pháp? Tứ Thánh Đế là thiện pháp. Đó là Chánh Thượng Pháp, Thánh Thượng Pháp. Mình không được từ bỏ những gánh nặng đó mà sâu xa nhất chính là gánh nặng viễn ly.
Viễn ly – sống một mình khó lắm chứ không phải dễ. Một tháng trải nghiệm vừa rồi cho Minh Thành thấy là không phải chuyện dễ. Nếu không nhập được pháp là chỉ vài ngày sẽ bung thất. Đức Phật nói trong bài kinh Khu Rừng, người mà nặng về dục tham mãnh liệt là không thể ở trong rừng được. Người thích giao du, giao tiếp là không thể ở trong rừng một mình được. Người thích danh, lợi cúng dường là không thể ở một mình trong rừng được, độc cư thiền định không được. Cho nên ở một mình không phải chuyện dễ.
Khi ở một mình rồi huynh đệ mới thấy đúng là muốn thành tựu Thánh đạo, Thánh quả, muốn thăng tiến trên tâm linh, thì không thể không ở một mình để thực tập. Tại vì khi ở một mình, tự đối diện mình, mới thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức của mình nó trông như thế nào. Còn tối ngày cứ duyên trần, duyên cảnh, phóng túng, phóng dật quen rồi, nên mình đâu có nhìn ra đâu mà thấy được. Bản ngã, tham dục, sân hận, cống cao, ngã mạn, ta đây, hách dịch, dương dương tự đắc – mình đều không thấy. Viễn ly rồi thì nó hoạt động ra sao mình thấy rõ hết. Thấy để mà xấu hổ.
Cho nên chữ đầu tiên của bậc Tu-đà-hoàn là Nhục. Nhục nhã khi thấy nội tâm của mình, khi phát hiện ra được phiền não. Cho nên viễn ly là phải bỏ hết. Chùa - bỏ, đệ tử xuất gia - bỏ, Phật tử - bỏ, trường lớp - bỏ, Tăng Ni sinh - bỏ. Bao nhiêu xe cộ, đất đai, tiền bạc, chùa chiền, những gì thân ái bỏ hết. Ở một mình rồi mình sẽ thấy được nội tâm như thế nào. Đó là gánh nặng của viễn ly, không được từ bỏ gánh nặng viễn ly, phải sống như vậy. Như vậy mới thấy được thực pháp, thấy được thực trạng của tâm mình như thế nào.
“Không hăng hái để tinh tấn, chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.” Không chịu tinh tấn, biết mà làm lơ chứ không phải không biết. Biết là mình đang giải đãi đó nhưng vẫn không chịu tinh tấn.
Chỗ thê thảm nhất là:“Và quần chúng về sau sẽ đi theo tà kiến của họ”. Đây là chỗ đau đớn nhất. Quần chúng ở đây là những người đệ tử xuất gia, những người đệ tử cư sĩ. Họ được người này hướng dẫn thì sẽ đi theo tà kiến, đi theo hiểu biết sai lầm.
Đây là sợ hãi trong tương lai mà các Thầy phải hoàn toàn rõ biết, phải tinh tấn để đoạn trừ, đoạn tận.
Như vậy huynh đệ phải nhớ thực tập những điều sau: đặt niệm trước mặt (rõ biết trước mặt), cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác và nhận diện năm uẩn. Công dụng của cảm giác toàn thân là phát hiện chỗ trú ẩn của tham dục, sân hận, si mê, ngã mạn, ta đây, cống cao, dương dương tự đắc, cho mình là số một, phát hiện ra cái ngu si, vô minh của mình. Sau khi phát hiện ra, dùng Như Lý Tác Ý để dập nó, tiêu diệt nó, làm cho nó tan tác, bứng gốc rễ của nó, đốt nó thành tro và quăng xuống sông, đưa nó đến chỗ vô ưu Niết – bàn, không tái sanh trở lại nữa.
Đó là con đường 2.600 năm trước của Đức Thế Tôn. Bây giờ chúng ta rất vinh hạnh, sung sướng, hạnh phúc khi gặp được con đường này và noi theo Đức Phật. Tương lai trong lớp chúng ta sẽ có những vị đầy đủ Chánh kiến để dự vào dòng pháp trí huệ, chắc chắn không nhiều thì cũng có ít. Vì chỉ cần tin chắc vào Đức Phật, tin chắc vào Pháp thì sẽ Dự Lưu vào dòng pháp của Phật. Chắc chắn, không có nghi, nhất định như vậy! Đây là cơ hội ngàn năm một thuở cho những người nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm và tỉnh giác.
./.