Quán Nguy Hại - Thọ Thân Và Thọ Tâm - Làm Sao Hết Lo Lắng Bất An - Hiểu Vô Thường Như Thế Nào Chính Xác
SOI SÁNG NIKĀYA
QUÁN NGUY HẠI
THỌ THÂN VÀ THỌ TÂM
LÀM SAO HẾT LO LẮNG BẤT AN
HIỂU VÔ THƯỜNG NHƯ THẾ NÀO CHÍNH XÁC
Thích Minh Thành
Cảm giác không khổ không vui rất nguy hiểm vì cảm giác vui không kéo dài mà có rồi sẽ mất, cảm giác khổ cũng vậy nhưng cảm giác không vui không khổ, đều đều này thường xuyên có mặt và đại đa số chúng ta thường có mặt trong cảm giác này. Cảm giác không khổ không vui còn gọi là xả thọ, tức là mình không lấy cũng không bỏ, không thích cũng không ghét. Xả thọ này khác hoàn toàn với chánh niệm tỉnh giác trú xả, xả thọ là một cảm giác mình không thích cũng không ghét, đó là cảm giác thường thường, không dễ chịu cũng không khó chịu, còn nếu mình nói tu buông xả thì lại khác hơn nữa. Cho nên xả thọ giống cảm giác không khổ không vui và chúng ta cần tu cảm giác này vì nó rất nhiều, nhưng tu như thế nào đối với cảm giác này? Trong cảm giác này chúng ta phải quán chiếu tính nguy hại, tại sao lại nguy hiểm? Vì cảm giác không phải như vầy hoài mà nó vô thường, cảm giác này sẽ biến đổi, tan hoại mà Minh Thành thường dùng từ đột ngột, đột biến, đột tử, đột quỵ (tứ đột), đột ngột mình nghe tin người thân xảy ra chuyện, đột ngột nghe tin mẹ mình hoặc ông bà qua đời, mình dùng sự quán chiếu về sự nguy hiểm và tác hại của vô thường để mình phá vỡ nó, còn không cứ để nó đều đều là mình không có tu. Lúc Thái tử Tất-đạt-đa đi dạo qua bốn cửa thành thì ngài có cảm giác bất khổ bất lạc nhưng ngài lại thấy sự nguy hiểm và tai hại trong đời sống thường thường, đều đều đó, vì thế quán ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn của một tử thi chính là quán nguy hại của thân thể này. Nếu chúng ta không quán sự nguy hiểm và tác hại của vô thường, tan hoại, biến hoại, hủy hoại thì chúng ta không có tu, chúng ta sẽ sống buông lung, lãng quên, gọi là thối đọa cho nên phải phá tan cảm giác bất khổ bất lạc, không được ở trong cảm giác đó mà phải trú vào vô thường tưởng, vô ngã tưởng, khổ tưởng. Ví dụ khi thấy xe cứu thương chạy ngang hụ còi thì phải thấy đó là khổ, nguy hiểm, nguy nan, đau khổ đang ở trước mắt, cuộc đời là như vậy đó. Mình nắm bắt âm thanh, cảm thọ, cảm xúc đó làm cơ hội phát huy thọ; tưởng; hành trở thành thiền quán, quán khổ trong vô thường, quán khổ trong vô ngã, quán vô ngã trong khổ, quán vô ngã trong vô thường, quán vô thường trong cái khổ… mình khai triển tất cả những pháp quán, đại đa số trong kinh Nikāya đều là thiền quán để mình khai triển trí tuệ, nếu không quán thì không thể sanh trí tuệ. Ví dụ hôm nay có sư cô phải đi cấp cứu thì mình quay trở về trên thân quán chiếu "mình cũng sẽ như vậy, đó chính là Tứ Niệm Xứ, bản tánh thân này là như vậy, bản chất thân này là như thế, không thể vượt khỏi bản tánh ấy". Khi thấy người thân đang bệnh nặng thì mình phải đặt mình vào trong trường hợp đó để quán chiếu thì mới phá tung được cảm giác bất khổ bất lạc này để sanh khởi lên cảm giác lo lắng, sợ hãi, nỗ lực, tinh tấn tu học.
Ngồi thiền cảm thấy mệt, bệnh nên phải đem hết sức trú vào hơi thở. Khi đem hết sức của mình nhiếp tâm vào hơi thở giống như bệnh đó nhẹ ra, khỏe ra nhưng chỉ cần trở về thân mà không trú vào hơi thở nữa thì cảm thấy quá mệt, không ngồi nổi được nữa thì đó là minh chính cho thọ thân với thọ tâm khác nhau. Khi ngồi thiền mà có cảm giác mệt quá rồi, chịu không nổi nữa là lúc đó mình đang trú vào thọ thân cộng với cái tưởng phóng đại ra "mình ngồi nữa chắc chết quá", hoặc mới đau chân một chút thôi mà tưởng ra "chết rồi, chắc gãy chân luôn quá", đó là sự tưởng tượng chứ thực tế không có gì hết, mình đau chỉ có một chỗ nơi cái chân thôi mà tưởng uẩn phóng đại mọi thứ lên thành đau khắp người từ đầu đến chân, chỗ nào cũng thấy đau. Do không nhận diện ngũ uẩn, không thấy sự vận hành của năm uẩn nên đau có một chỗ thôi nhưng tưởng uẩn phóng đại đau hết thân thể. Sự tu của mình là nhận diện ngũ uẩn phải thật trong sáng để biết đau ở đau, đau cái gì và mức độ đau là bao nhiêu và phải an trú trong thực tại, tức là sự thật ngay trong giây phút hiện tại chứ đừng sống trong cái tưởng vì cái tưởng rất khủng khiếp, vì nó mà vợ chồng tan vỡ, huynh đệ tương tàn, thầy trò chia tay. Khi nhiếp tâm vào hơi thở, tập trung vào hơi thở thì không đi theo cái tưởng nữa, mình thu nhiếp vào một pháp chứ không đi mông lung nên lúc đó cảm thấy khỏe nhưng khi không chú tâm vào hơi thở nữa mà để phóng ra theo tưởng thì bắt đầu thấy mệt, bệnh, cảm thấy chịu hết nổi. Cho nên người tu sâu sắc là người tách riêng thọ thân và thọ tâm, đây là sự tu có công phu vì người ta biết đó chỉ là thọ thân và cái này là thọ tâm, người ta muốn tiếp nhận cái nào thì nhận, không muốn thì thôi. Chỗ này hơi sâu sắc, ví dụ mình là người tu mà đi ngang một người đẹp, dễ thương thì cảm thọ lạc sanh khởi nhưng mình không thọ nhận cảm thọ này, tẩy sạch, diệt tận cảm thọ này, muốn như vậy phải nhận diện ngũ uẩn sâu sắc. Vì khi thọ nhận thì cảm giác sẽ đi vào kho tâm thức và cái kho này nằm ngay cảm thọ cho nên mình nhận cái nào thì mình sẽ cất vào đó, mình giận người kia đã một tháng nhưng mỗi khi nhớ lại thì cảm giác tức giận vẫn còn vì sự tức giận được cất vào cảm thọ nên mỗi khi nhớ lại hình bóng và có suy nghĩ về người đó thì sự tức giận sẽ trổi dậy. Vì thế mình cần phân biệt cái nào thọ thân, cái nào thọ tâm và cái nào thọ thiện, cái nào thọ bất thiện, thọ nào mình nhận và thọ nào không nhận chứ không phải thọ nào khởi lên cũng nhận là mình sẽ chết với nó, vì mình cứ nhận vào rồi sầu, bi, khổ, ưu, não cho nên từ đây về sau không nhận nữa. Đức Thế Tôn bưng bình bát đi khất thực trong chánh niệm ung dung, tự tại, sau lưng ngài có đệ tử của vị Bà-la-môn hết lời tán thán Đức Phật trong khi người sư phụ của vị ấy dùng mọi từ ngữ nói xấu Đức Phật nhưng ngài vẫn ung dung. Vị thầy Bà-la-môn quá tức giận nên chạy ra trước mặt Đức Phật hỏi ngài có nghe những lời chửi rủa đó không thì Đức Phật nói "ông tặng quà nhưng tôi không nhận", đó là Đức Phật đóng tâm lại không thọ nhận những lời nói đó, còn mình không cần nói trực tiếp trước mặt mà chỉ nghe qua người khác nói lại thôi thì mình cũng thọ nhận, cái gì mình cũng gom góp, chất chứa nên tâm mình như hàng tồn kho, cho nên ngồi lại chỉ toàn nói chuyện sân si, thị phi, hơn thua, đó là đang bốc mùi bãi rác thối cho nên không phải cái nào mình cũng thọ nhận vào tâm. Phải nhớ tập trung tâm ý trú vào cảm giác toàn thân, đừng để ý bên ngoài cũng để đừng để ý thân này, hãy trú trong pháp chứ đừng trú trong thân.
Như thế nào là cảm thọ liên hệ đến vật chất và như thế nào là cảm thọ không liên hệ đến vật chất? Có những cảm giác liên hệ đến vật chất như ăn ngon thì thấy vui, được khen thì thích, được đi chơi thì khoái, đó là cảm thọ liên hệ đến vật chất. Còn cảm thọ không liên hệ đến vật chất là nghe pháp thấy dào dạt, hoan hỉ, ngồi thiền mà thấy an lạc, không cần chạy theo sắc; thanh; hương; vị; xúc bên ngoài thì đó là cảm thọ không liên hệ đến vật chất. Người tu phải đi theo cảm thọ không liên hệ đến vật chất, còn nếu tu mà cứ dính vào vật chất thì cái tu của mình không có sâu sắc, suốt ngày cứ tìm sắc đẹp để nhìn, thích chùa đẹp, thích cây đẹp, thích cảnh đẹp, chưng hoa trồng bông rồi đứng ngắm nghía, xong lại chụp hình khoe lên mạng xã hội, được thả tim nhiều thì thích thì tất cả những việc đó đều là thọ liên hệ đến vật chất, là cái vui của vô văn phàm phu, không phải cái vui của Đa văn Thánh đệ tử. Còn cái thọ không liên hệ đến vật chất là ngồi thiền một mình nhưng an lạc, thảnh thơi, tự tại, xa lìa, viễn ly, thanh tịnh, cao thượng, nghe pháp mà tâm hồn hân hoan, toàn cơ thể đều thấm nhuần pháp hỷ, pháp lạc, thiền duyệt. Về cái buồn (ưu) cũng có cái buồn liên hệ đến vật chất và cái buồn không liên hệ đến vật chất chứ không phải buồn là xấu vì buồn cũng rất cần, không có buồn lo là không tu được. Nếu có suy nghĩ đi tu rồi không còn buồn lo gì nữa là sai hết, người nào nói như vậy là không hiểu gì hết, người tu còn lo nhiều hơn, đó là gánh nặng của thiện pháp, lo tẩy sạch dục, tham, ái, sân si, vô minh và bản ngã. Nếu không biết lo những điều này là mình chết dài dài trong vòng luân hồi sanh tử, sầu, bi, khổ, ưu, não dài dài, còn nếu lo những thứ liên hệ đến vật chất là không đúng, đừng mang cái tâm mong cầu vật chất, cứ tu rồi đúng phước, đúng duyên thì được đầy đủ, vì mình đã bỏ mọi thứ để đi tu mà giờ lại đi tìm, đi kiếm để làm gì? Bây giờ phải lo tham dục trong tâm chưa nhiếp phục được, thấy cảnh đẹp còn thích, thấy đồ đẹp còn khoái, thấy người đẹp còn mê, những thứ này phải lo sợ, bất an, đó là cái lo không liên hệ đến vật chất. Thấy xe đẹp là khoái thì phải lo "tại sao mình còn tham dục như vậy?", vào ngồi thiền không được, không vào định được phải lo vì không tăng thượng tâm học, nhìn lại giới đức không viên mãn, không đầy đủ, sai phạm quá nhiều cũng phải lo lắng thì cái lo này rất cần và cái lo này càng mạnh chừng nào thì người này tu mau thành công chừng đó, đó là phát sanh ra tàm quý, xấu hổ và sợ hãi đối với ác bất thiện pháp cho nên tu phải biết lo lắng, suy tư, trăn trở chứ không phải tu là hết lo, Đức Phật dùng từ nước mắt đầy mặt, đấm ngực và thậm chí có những cảm thọ gần như chết, chiến đấu với chính mình trong sự tu chứ nói tu mà không cần lo gì nữa là không bao giờ tiến bộ.
Cảm giác lạc thọ khi ngồi thiền nghĩa là lâu lâu mình có được trạng thái hỷ lạc, nhẹ nhàng, thư thái, lâng lâng vậy mà thích, cứ muốn tìm lại cảm giác này nữa. Vào tu cứ ráng để tìm cảm giác này mà không được vậy là bị dính mắc với thọ uẩn trong khi nó là vô thường, đương nhiên tu có những thân tâm nhẹ nhàng chính là khinh an trong thất giác chi, nó cũng tốt nhưng đừng để dính mắc, tham đắm vào cảm giác đó, vì chỉ cần dính mắc vào bất kì uẩn nào là mình sầu, bi, khổ, ưu, não với uẩn đó, dính mắc vào món đồ nào là khổ với món đồ đó, dính mắc vào con người nào thì mình khổ dài dài với con người đó, mình dính vào mắc cảm thọ nào là mình đau khổ với cảm thọ đó vì nó vô thường, nó chịu sự biến hoại, nó tan nát, hoại diệt thì tại sao mình lại nắm cái hoại diệt đó được, trong tâm mình yêu thích hình bóng nào đó thì chính hình bóng đó làm cho mình khổ, dù cho không có người bên ngoài mà chỉ là những cái tưởng của quá khứ vẫn làm đau khổ, hình bóng trong tâm vẫn làm cho mình khổ. Mình dính mắc trong suy nghĩ nào đó thì chính suy nghĩ đó sẽ làm mình khổ "tại sao lại nói tôi như vậy?", cứ suy nghĩ tới suy nghĩ lui hoài mà càng suy nghĩ thì càng đau đớn, càng nhức nhối, càng tức tối, bức xúc, tan nát cõi lòng nhưng cứ dính mắc vào suy nghĩ hoài nên mình khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ, cho nên được cái gì thì biết trạng thái nó như thế nhưng không tham đắm, không dính mắc và cũng không tìm kiếm thì cái tu mới đi đến chỗ thành công giải thoát. Cần suy tư, nghiền ngẫm, quán chiếu để sanh khởi thọ; tưởng; hành để mình quán "người bệnh nằm đó còn những người xung quanh đau khổ, lo lắng, sợ hãi", sanh ra cảm thọ ngao ngán, nhàm chán và có suy nghĩ tu làm sao để thoát ra khỏi sanh, già, bệnh, chết này, đó là phương pháp để mình thực tập quán chiếu sự nguy hại của thân xác này, của đời sống này, còn vị ngọt, dục, hỷ phải xả bỏ.
Khi con mắt tiếp xúc với cảnh sắc bên ngoài mà đẹp thì mình vui, còn thấy cảnh không ưa thích thì khổ nhưng không tiếp xúc cảnh thì trong tâm khởi lên sự lo lắng, bất an, làm sao để chuyển hóa và diệt trừ cảm giác bất an, lo lắng này? Lo lắng cái gì, phải tìm ra nguyên nhân của sự lo lắng đó, để tâm yên tịnh, lắng dịu rồi mình kiểm tra, rà soát sâu vào để xem nguồn cội, căn nguyên của vấn đề lo lắng là gì. Lo tình cảm, lo danh lợi hay lo cho tương lai của thân ngũ uẩn này? Sau khi đã tìm hiểu thì dùng Như lý tác ý giải phá ra "có cái gì trong này, ta ở đâu, của ta ở đâu trong xác thân vô thường này, trong cảm giác mây khói hư ảo này có ai ở đây?", sau đó chúng ta trải tâm từ mới hóa giải được tâm lo sợ này, tâm từ là vua để giải tỏa tâm lo lắng và sợ hãi. Khi Đức Phật còn tại thế ngài thường xuyên nhắc các vị Tỳ-kheo phải quán tâm từ, trải tâm từ, do các vị ở trong rừng, bãi tha ma nên họ sẽ sợ rắn, sợ ma vì thế Đức Phật đã dạy phải trải tâm từ sẽ hết sợ hãi, tâm được bình an. Trước tiên phải tìm ra nguyên nhân của cơn sợ đó trước rồi mình giải phá cảm thọ, suy nghĩ, hình bóng đó, tại sao mình lại sợ rồi sau cùng là trải tâm từ, giải thoát khỏi những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ bất an đó. Tất cả đều phải trở về ngũ uẩn, xem lại cảm giác, hình bóng, suy nghĩ ngay trong con người mình chứ không có ai bên ngoài giải quyết được giùm kể cả Đức Phật vì Đức Phật chỉ là người hướng dẫn cách giải quyết còn người giải quyết phải là chính mình.
Vấn đề học pháp rất sâu sắc chứ không đơn giản như mình suy nghĩ, cái suy nghĩ, cái thấy biết của mình, cảm xúc, nhận thức của mình bị bao trùm trong bóng đêm của vô minh và tham ái. Chúng ta chỉ có phương pháp duy nhất là y cứ theo lời của Đức Phật, nếu chúng ta vừa ra khỏi lời Đức Phật là lập tức rớt xuống vực sâu. Tại sao Đức Phật nói vô thường? Đức Phật là người "dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc", nếu mình cho rằng nhờ có vô thường mà mình mới lớn lên, nhờ có vô thường nên mới có sự phát triển thay đổi là mình yêu thích vô thường, như vậy làm sao mình thoát khỏi sanh, lão, bệnh, tử? Đức Phật nói vô thường để mình nhàm chán sự tàn lụn, hủy diệt, tan rã, tất cả đều nằm trong trạng thái bất an để mình đừng yêu thích nó nữa vì còn đam mê, yêu thích là còn khổ. Đức Phật nói đó là đồ giả, là vàng giả mà mình đem hết cả tiền mấy mươi năm để mua đồ giả về là mình sẽ khóc lóc, đau khổ, đó là Đức Phật chỉ cho mình thấy tính chất của ngũ uẩn này, bản chất, bản tánh của ngũ uẩn là biến hoại, phiền não, bất an, sợ hãi để mình nhàm chán mới thoát ra, đó là ý nghĩa của pháp vô thường. Chúng ta cần phân biệt rõ nhân thiên pháp và bất tử pháp, nhân thiên pháp là pháp Đức Phật nói cho người cư sĩ, họ không muốn giải thoát rốt ráo, họ muốn có đời sau để hưởng tiếp nên Đức Phật nói về phước báo, những nghiệp thiện lành, đối với những người xuất gia muốn giải thoát cứu cánh thì Đức Phật nói về bất tử pháp, tất cả ngũ uẩn đều là khổ đau, dù cho ngũ uẩn gì đi nữa cũng là sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não để giải thoát khỏi cái vô thường này, để đạt đến cái bất tử, còn nếu vẫn thích vô thường thì hãy ở với vô thường, làm việc thiện lành để đời sau sanh ra hưởng thụ, còn ở đây là pháp bất tử của Niết-bàn, tức là vượt ra khỏi cái vô thường để thể nhập thế giới của bất tử, vấn đề này rất quan trọng vì nếu không nắm rõ thì mình không hiểu chính xác vô thường là như thế nào. Sắc; thọ; tưởng; hành; thức là vô thường, sắc; thọ; tưởng; hành; thức là khổ, tất cả đều là biến hoại để nhàm chán, ly tham, từ bỏ, xuất ly khỏi ngũ uẩn chứng nhập Niết-bàn, là sự dập tắt hoàn toàn tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dập tắt hoàn toàn nguyên nhân thúc đẩy tạo thành những đời sống vô minh, tham ái trong ngũ uẩn. Đây là chỗ tối cao, tối thượng, cực kì thâm sâu của đạo Phật, đó là Niết-bàn giới, bất tử.
"Không bệnh, lợi tối thắng,
Niết-bàn, lạc tối thắng,
Bát chánh là độc đạo,
An ổn và bất tử". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Tâm không bị bệnh là lợi tối thượng, niềm vui tối thượng là Niết-bàn tức là không còn tái sanh trong ngũ uẩn này nữa, con đường duy nhất là Bát Chánh Đạo, an ổn và bất tử. Cho nên chúng ta tu mà không nhàm chán ngũ uẩn vô thường, đau khổ, vô ngã này thì chúng ta sẽ rất khổ đau, phải nhìn thấy tính chất vô thường, đau khổ, tan hoại của nó để nhàm chán từ từ rồi thoát ra, mình bớt dục, tham, ái thì mình bớt khổ, hết dục, tham, ái thì dứt khổ, còn tham, ái, dục đối với ngũ uẩn thì mình còn sầu, bi, khổ, ưu, não miên viễn bất tận không có ngày chấm dứt.
Kính chúc các thầy, các cô trong ba tháng An cư tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.
QUÁN NGUY HẠI
THỌ THÂN VÀ THỌ TÂM
LÀM SAO HẾT LO LẮNG BẤT AN
HIỂU VÔ THƯỜNG NHƯ THẾ NÀO CHÍNH XÁC
Thích Minh Thành
Cảm giác không khổ không vui rất nguy hiểm vì cảm giác vui không kéo dài mà có rồi sẽ mất, cảm giác khổ cũng vậy nhưng cảm giác không vui không khổ, đều đều này thường xuyên có mặt và đại đa số chúng ta thường có mặt trong cảm giác này. Cảm giác không khổ không vui còn gọi là xả thọ, tức là mình không lấy cũng không bỏ, không thích cũng không ghét. Xả thọ này khác hoàn toàn với chánh niệm tỉnh giác trú xả, xả thọ là một cảm giác mình không thích cũng không ghét, đó là cảm giác thường thường, không dễ chịu cũng không khó chịu, còn nếu mình nói tu buông xả thì lại khác hơn nữa. Cho nên xả thọ giống cảm giác không khổ không vui và chúng ta cần tu cảm giác này vì nó rất nhiều, nhưng tu như thế nào đối với cảm giác này? Trong cảm giác này chúng ta phải quán chiếu tính nguy hại, tại sao lại nguy hiểm? Vì cảm giác không phải như vầy hoài mà nó vô thường, cảm giác này sẽ biến đổi, tan hoại mà Minh Thành thường dùng từ đột ngột, đột biến, đột tử, đột quỵ (tứ đột), đột ngột mình nghe tin người thân xảy ra chuyện, đột ngột nghe tin mẹ mình hoặc ông bà qua đời, mình dùng sự quán chiếu về sự nguy hiểm và tác hại của vô thường để mình phá vỡ nó, còn không cứ để nó đều đều là mình không có tu. Lúc Thái tử Tất-đạt-đa đi dạo qua bốn cửa thành thì ngài có cảm giác bất khổ bất lạc nhưng ngài lại thấy sự nguy hiểm và tai hại trong đời sống thường thường, đều đều đó, vì thế quán ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn của một tử thi chính là quán nguy hại của thân thể này. Nếu chúng ta không quán sự nguy hiểm và tác hại của vô thường, tan hoại, biến hoại, hủy hoại thì chúng ta không có tu, chúng ta sẽ sống buông lung, lãng quên, gọi là thối đọa cho nên phải phá tan cảm giác bất khổ bất lạc, không được ở trong cảm giác đó mà phải trú vào vô thường tưởng, vô ngã tưởng, khổ tưởng. Ví dụ khi thấy xe cứu thương chạy ngang hụ còi thì phải thấy đó là khổ, nguy hiểm, nguy nan, đau khổ đang ở trước mắt, cuộc đời là như vậy đó. Mình nắm bắt âm thanh, cảm thọ, cảm xúc đó làm cơ hội phát huy thọ; tưởng; hành trở thành thiền quán, quán khổ trong vô thường, quán khổ trong vô ngã, quán vô ngã trong khổ, quán vô ngã trong vô thường, quán vô thường trong cái khổ… mình khai triển tất cả những pháp quán, đại đa số trong kinh Nikāya đều là thiền quán để mình khai triển trí tuệ, nếu không quán thì không thể sanh trí tuệ. Ví dụ hôm nay có sư cô phải đi cấp cứu thì mình quay trở về trên thân quán chiếu "mình cũng sẽ như vậy, đó chính là Tứ Niệm Xứ, bản tánh thân này là như vậy, bản chất thân này là như thế, không thể vượt khỏi bản tánh ấy". Khi thấy người thân đang bệnh nặng thì mình phải đặt mình vào trong trường hợp đó để quán chiếu thì mới phá tung được cảm giác bất khổ bất lạc này để sanh khởi lên cảm giác lo lắng, sợ hãi, nỗ lực, tinh tấn tu học.
Ngồi thiền cảm thấy mệt, bệnh nên phải đem hết sức trú vào hơi thở. Khi đem hết sức của mình nhiếp tâm vào hơi thở giống như bệnh đó nhẹ ra, khỏe ra nhưng chỉ cần trở về thân mà không trú vào hơi thở nữa thì cảm thấy quá mệt, không ngồi nổi được nữa thì đó là minh chính cho thọ thân với thọ tâm khác nhau. Khi ngồi thiền mà có cảm giác mệt quá rồi, chịu không nổi nữa là lúc đó mình đang trú vào thọ thân cộng với cái tưởng phóng đại ra "mình ngồi nữa chắc chết quá", hoặc mới đau chân một chút thôi mà tưởng ra "chết rồi, chắc gãy chân luôn quá", đó là sự tưởng tượng chứ thực tế không có gì hết, mình đau chỉ có một chỗ nơi cái chân thôi mà tưởng uẩn phóng đại mọi thứ lên thành đau khắp người từ đầu đến chân, chỗ nào cũng thấy đau. Do không nhận diện ngũ uẩn, không thấy sự vận hành của năm uẩn nên đau có một chỗ thôi nhưng tưởng uẩn phóng đại đau hết thân thể. Sự tu của mình là nhận diện ngũ uẩn phải thật trong sáng để biết đau ở đau, đau cái gì và mức độ đau là bao nhiêu và phải an trú trong thực tại, tức là sự thật ngay trong giây phút hiện tại chứ đừng sống trong cái tưởng vì cái tưởng rất khủng khiếp, vì nó mà vợ chồng tan vỡ, huynh đệ tương tàn, thầy trò chia tay. Khi nhiếp tâm vào hơi thở, tập trung vào hơi thở thì không đi theo cái tưởng nữa, mình thu nhiếp vào một pháp chứ không đi mông lung nên lúc đó cảm thấy khỏe nhưng khi không chú tâm vào hơi thở nữa mà để phóng ra theo tưởng thì bắt đầu thấy mệt, bệnh, cảm thấy chịu hết nổi. Cho nên người tu sâu sắc là người tách riêng thọ thân và thọ tâm, đây là sự tu có công phu vì người ta biết đó chỉ là thọ thân và cái này là thọ tâm, người ta muốn tiếp nhận cái nào thì nhận, không muốn thì thôi. Chỗ này hơi sâu sắc, ví dụ mình là người tu mà đi ngang một người đẹp, dễ thương thì cảm thọ lạc sanh khởi nhưng mình không thọ nhận cảm thọ này, tẩy sạch, diệt tận cảm thọ này, muốn như vậy phải nhận diện ngũ uẩn sâu sắc. Vì khi thọ nhận thì cảm giác sẽ đi vào kho tâm thức và cái kho này nằm ngay cảm thọ cho nên mình nhận cái nào thì mình sẽ cất vào đó, mình giận người kia đã một tháng nhưng mỗi khi nhớ lại thì cảm giác tức giận vẫn còn vì sự tức giận được cất vào cảm thọ nên mỗi khi nhớ lại hình bóng và có suy nghĩ về người đó thì sự tức giận sẽ trổi dậy. Vì thế mình cần phân biệt cái nào thọ thân, cái nào thọ tâm và cái nào thọ thiện, cái nào thọ bất thiện, thọ nào mình nhận và thọ nào không nhận chứ không phải thọ nào khởi lên cũng nhận là mình sẽ chết với nó, vì mình cứ nhận vào rồi sầu, bi, khổ, ưu, não cho nên từ đây về sau không nhận nữa. Đức Thế Tôn bưng bình bát đi khất thực trong chánh niệm ung dung, tự tại, sau lưng ngài có đệ tử của vị Bà-la-môn hết lời tán thán Đức Phật trong khi người sư phụ của vị ấy dùng mọi từ ngữ nói xấu Đức Phật nhưng ngài vẫn ung dung. Vị thầy Bà-la-môn quá tức giận nên chạy ra trước mặt Đức Phật hỏi ngài có nghe những lời chửi rủa đó không thì Đức Phật nói "ông tặng quà nhưng tôi không nhận", đó là Đức Phật đóng tâm lại không thọ nhận những lời nói đó, còn mình không cần nói trực tiếp trước mặt mà chỉ nghe qua người khác nói lại thôi thì mình cũng thọ nhận, cái gì mình cũng gom góp, chất chứa nên tâm mình như hàng tồn kho, cho nên ngồi lại chỉ toàn nói chuyện sân si, thị phi, hơn thua, đó là đang bốc mùi bãi rác thối cho nên không phải cái nào mình cũng thọ nhận vào tâm. Phải nhớ tập trung tâm ý trú vào cảm giác toàn thân, đừng để ý bên ngoài cũng để đừng để ý thân này, hãy trú trong pháp chứ đừng trú trong thân.
Như thế nào là cảm thọ liên hệ đến vật chất và như thế nào là cảm thọ không liên hệ đến vật chất? Có những cảm giác liên hệ đến vật chất như ăn ngon thì thấy vui, được khen thì thích, được đi chơi thì khoái, đó là cảm thọ liên hệ đến vật chất. Còn cảm thọ không liên hệ đến vật chất là nghe pháp thấy dào dạt, hoan hỉ, ngồi thiền mà thấy an lạc, không cần chạy theo sắc; thanh; hương; vị; xúc bên ngoài thì đó là cảm thọ không liên hệ đến vật chất. Người tu phải đi theo cảm thọ không liên hệ đến vật chất, còn nếu tu mà cứ dính vào vật chất thì cái tu của mình không có sâu sắc, suốt ngày cứ tìm sắc đẹp để nhìn, thích chùa đẹp, thích cây đẹp, thích cảnh đẹp, chưng hoa trồng bông rồi đứng ngắm nghía, xong lại chụp hình khoe lên mạng xã hội, được thả tim nhiều thì thích thì tất cả những việc đó đều là thọ liên hệ đến vật chất, là cái vui của vô văn phàm phu, không phải cái vui của Đa văn Thánh đệ tử. Còn cái thọ không liên hệ đến vật chất là ngồi thiền một mình nhưng an lạc, thảnh thơi, tự tại, xa lìa, viễn ly, thanh tịnh, cao thượng, nghe pháp mà tâm hồn hân hoan, toàn cơ thể đều thấm nhuần pháp hỷ, pháp lạc, thiền duyệt. Về cái buồn (ưu) cũng có cái buồn liên hệ đến vật chất và cái buồn không liên hệ đến vật chất chứ không phải buồn là xấu vì buồn cũng rất cần, không có buồn lo là không tu được. Nếu có suy nghĩ đi tu rồi không còn buồn lo gì nữa là sai hết, người nào nói như vậy là không hiểu gì hết, người tu còn lo nhiều hơn, đó là gánh nặng của thiện pháp, lo tẩy sạch dục, tham, ái, sân si, vô minh và bản ngã. Nếu không biết lo những điều này là mình chết dài dài trong vòng luân hồi sanh tử, sầu, bi, khổ, ưu, não dài dài, còn nếu lo những thứ liên hệ đến vật chất là không đúng, đừng mang cái tâm mong cầu vật chất, cứ tu rồi đúng phước, đúng duyên thì được đầy đủ, vì mình đã bỏ mọi thứ để đi tu mà giờ lại đi tìm, đi kiếm để làm gì? Bây giờ phải lo tham dục trong tâm chưa nhiếp phục được, thấy cảnh đẹp còn thích, thấy đồ đẹp còn khoái, thấy người đẹp còn mê, những thứ này phải lo sợ, bất an, đó là cái lo không liên hệ đến vật chất. Thấy xe đẹp là khoái thì phải lo "tại sao mình còn tham dục như vậy?", vào ngồi thiền không được, không vào định được phải lo vì không tăng thượng tâm học, nhìn lại giới đức không viên mãn, không đầy đủ, sai phạm quá nhiều cũng phải lo lắng thì cái lo này rất cần và cái lo này càng mạnh chừng nào thì người này tu mau thành công chừng đó, đó là phát sanh ra tàm quý, xấu hổ và sợ hãi đối với ác bất thiện pháp cho nên tu phải biết lo lắng, suy tư, trăn trở chứ không phải tu là hết lo, Đức Phật dùng từ nước mắt đầy mặt, đấm ngực và thậm chí có những cảm thọ gần như chết, chiến đấu với chính mình trong sự tu chứ nói tu mà không cần lo gì nữa là không bao giờ tiến bộ.
Cảm giác lạc thọ khi ngồi thiền nghĩa là lâu lâu mình có được trạng thái hỷ lạc, nhẹ nhàng, thư thái, lâng lâng vậy mà thích, cứ muốn tìm lại cảm giác này nữa. Vào tu cứ ráng để tìm cảm giác này mà không được vậy là bị dính mắc với thọ uẩn trong khi nó là vô thường, đương nhiên tu có những thân tâm nhẹ nhàng chính là khinh an trong thất giác chi, nó cũng tốt nhưng đừng để dính mắc, tham đắm vào cảm giác đó, vì chỉ cần dính mắc vào bất kì uẩn nào là mình sầu, bi, khổ, ưu, não với uẩn đó, dính mắc vào món đồ nào là khổ với món đồ đó, dính mắc vào con người nào thì mình khổ dài dài với con người đó, mình dính vào mắc cảm thọ nào là mình đau khổ với cảm thọ đó vì nó vô thường, nó chịu sự biến hoại, nó tan nát, hoại diệt thì tại sao mình lại nắm cái hoại diệt đó được, trong tâm mình yêu thích hình bóng nào đó thì chính hình bóng đó làm cho mình khổ, dù cho không có người bên ngoài mà chỉ là những cái tưởng của quá khứ vẫn làm đau khổ, hình bóng trong tâm vẫn làm cho mình khổ. Mình dính mắc trong suy nghĩ nào đó thì chính suy nghĩ đó sẽ làm mình khổ "tại sao lại nói tôi như vậy?", cứ suy nghĩ tới suy nghĩ lui hoài mà càng suy nghĩ thì càng đau đớn, càng nhức nhối, càng tức tối, bức xúc, tan nát cõi lòng nhưng cứ dính mắc vào suy nghĩ hoài nên mình khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ, cho nên được cái gì thì biết trạng thái nó như thế nhưng không tham đắm, không dính mắc và cũng không tìm kiếm thì cái tu mới đi đến chỗ thành công giải thoát. Cần suy tư, nghiền ngẫm, quán chiếu để sanh khởi thọ; tưởng; hành để mình quán "người bệnh nằm đó còn những người xung quanh đau khổ, lo lắng, sợ hãi", sanh ra cảm thọ ngao ngán, nhàm chán và có suy nghĩ tu làm sao để thoát ra khỏi sanh, già, bệnh, chết này, đó là phương pháp để mình thực tập quán chiếu sự nguy hại của thân xác này, của đời sống này, còn vị ngọt, dục, hỷ phải xả bỏ.
Khi con mắt tiếp xúc với cảnh sắc bên ngoài mà đẹp thì mình vui, còn thấy cảnh không ưa thích thì khổ nhưng không tiếp xúc cảnh thì trong tâm khởi lên sự lo lắng, bất an, làm sao để chuyển hóa và diệt trừ cảm giác bất an, lo lắng này? Lo lắng cái gì, phải tìm ra nguyên nhân của sự lo lắng đó, để tâm yên tịnh, lắng dịu rồi mình kiểm tra, rà soát sâu vào để xem nguồn cội, căn nguyên của vấn đề lo lắng là gì. Lo tình cảm, lo danh lợi hay lo cho tương lai của thân ngũ uẩn này? Sau khi đã tìm hiểu thì dùng Như lý tác ý giải phá ra "có cái gì trong này, ta ở đâu, của ta ở đâu trong xác thân vô thường này, trong cảm giác mây khói hư ảo này có ai ở đây?", sau đó chúng ta trải tâm từ mới hóa giải được tâm lo sợ này, tâm từ là vua để giải tỏa tâm lo lắng và sợ hãi. Khi Đức Phật còn tại thế ngài thường xuyên nhắc các vị Tỳ-kheo phải quán tâm từ, trải tâm từ, do các vị ở trong rừng, bãi tha ma nên họ sẽ sợ rắn, sợ ma vì thế Đức Phật đã dạy phải trải tâm từ sẽ hết sợ hãi, tâm được bình an. Trước tiên phải tìm ra nguyên nhân của cơn sợ đó trước rồi mình giải phá cảm thọ, suy nghĩ, hình bóng đó, tại sao mình lại sợ rồi sau cùng là trải tâm từ, giải thoát khỏi những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ bất an đó. Tất cả đều phải trở về ngũ uẩn, xem lại cảm giác, hình bóng, suy nghĩ ngay trong con người mình chứ không có ai bên ngoài giải quyết được giùm kể cả Đức Phật vì Đức Phật chỉ là người hướng dẫn cách giải quyết còn người giải quyết phải là chính mình.
Vấn đề học pháp rất sâu sắc chứ không đơn giản như mình suy nghĩ, cái suy nghĩ, cái thấy biết của mình, cảm xúc, nhận thức của mình bị bao trùm trong bóng đêm của vô minh và tham ái. Chúng ta chỉ có phương pháp duy nhất là y cứ theo lời của Đức Phật, nếu chúng ta vừa ra khỏi lời Đức Phật là lập tức rớt xuống vực sâu. Tại sao Đức Phật nói vô thường? Đức Phật là người "dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc", nếu mình cho rằng nhờ có vô thường mà mình mới lớn lên, nhờ có vô thường nên mới có sự phát triển thay đổi là mình yêu thích vô thường, như vậy làm sao mình thoát khỏi sanh, lão, bệnh, tử? Đức Phật nói vô thường để mình nhàm chán sự tàn lụn, hủy diệt, tan rã, tất cả đều nằm trong trạng thái bất an để mình đừng yêu thích nó nữa vì còn đam mê, yêu thích là còn khổ. Đức Phật nói đó là đồ giả, là vàng giả mà mình đem hết cả tiền mấy mươi năm để mua đồ giả về là mình sẽ khóc lóc, đau khổ, đó là Đức Phật chỉ cho mình thấy tính chất của ngũ uẩn này, bản chất, bản tánh của ngũ uẩn là biến hoại, phiền não, bất an, sợ hãi để mình nhàm chán mới thoát ra, đó là ý nghĩa của pháp vô thường. Chúng ta cần phân biệt rõ nhân thiên pháp và bất tử pháp, nhân thiên pháp là pháp Đức Phật nói cho người cư sĩ, họ không muốn giải thoát rốt ráo, họ muốn có đời sau để hưởng tiếp nên Đức Phật nói về phước báo, những nghiệp thiện lành, đối với những người xuất gia muốn giải thoát cứu cánh thì Đức Phật nói về bất tử pháp, tất cả ngũ uẩn đều là khổ đau, dù cho ngũ uẩn gì đi nữa cũng là sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não để giải thoát khỏi cái vô thường này, để đạt đến cái bất tử, còn nếu vẫn thích vô thường thì hãy ở với vô thường, làm việc thiện lành để đời sau sanh ra hưởng thụ, còn ở đây là pháp bất tử của Niết-bàn, tức là vượt ra khỏi cái vô thường để thể nhập thế giới của bất tử, vấn đề này rất quan trọng vì nếu không nắm rõ thì mình không hiểu chính xác vô thường là như thế nào. Sắc; thọ; tưởng; hành; thức là vô thường, sắc; thọ; tưởng; hành; thức là khổ, tất cả đều là biến hoại để nhàm chán, ly tham, từ bỏ, xuất ly khỏi ngũ uẩn chứng nhập Niết-bàn, là sự dập tắt hoàn toàn tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dập tắt hoàn toàn nguyên nhân thúc đẩy tạo thành những đời sống vô minh, tham ái trong ngũ uẩn. Đây là chỗ tối cao, tối thượng, cực kì thâm sâu của đạo Phật, đó là Niết-bàn giới, bất tử.
"Không bệnh, lợi tối thắng,
Niết-bàn, lạc tối thắng,
Bát chánh là độc đạo,
An ổn và bất tử". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Tâm không bị bệnh là lợi tối thượng, niềm vui tối thượng là Niết-bàn tức là không còn tái sanh trong ngũ uẩn này nữa, con đường duy nhất là Bát Chánh Đạo, an ổn và bất tử. Cho nên chúng ta tu mà không nhàm chán ngũ uẩn vô thường, đau khổ, vô ngã này thì chúng ta sẽ rất khổ đau, phải nhìn thấy tính chất vô thường, đau khổ, tan hoại của nó để nhàm chán từ từ rồi thoát ra, mình bớt dục, tham, ái thì mình bớt khổ, hết dục, tham, ái thì dứt khổ, còn tham, ái, dục đối với ngũ uẩn thì mình còn sầu, bi, khổ, ưu, não miên viễn bất tận không có ngày chấm dứt.
Kính chúc các thầy, các cô trong ba tháng An cư tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.