Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thiền Quán - 10 Cách Quán Tưởng Trị Bệnh 4 - Từ Bỏ - Đoạn Tận - Nhàm Chán Với Tất Cả Thế Giới

2026-03-03 00:52:25
Nikāya Thiền Quán

10 Cách Quán Tưởng Trị Bệnh 4

Từ Bỏ - Đoạn Tận

Nhàm Chán Với Tất Cả Thế Giới

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Không chấp nhận dục tầm PAGEREF _Toc182931087 \h 1

II. Tứ vô lượng tâm PAGEREF _Toc182931088 \h 3

III. Tưởng đoạn diệt PAGEREF _Toc182931089 \h 4

IV. Tưởng vô thường PAGEREF _Toc182931090 \h 7

V. Tác ý hỷ lạc PAGEREF _Toc182931091 \h 11

VI. Tưởng nhàm chán với tất cả thế giới PAGEREF _Toc182931092 \h 12

I. Không chấp nhận dục tầm

Kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, hôm nay chúng ta tiếp tục nghe Đức Phật dạy về mười pháp quán tưởng trị bệnh. Hôm qua chúng ta đã nghe về quán bất tịnh, quán nguy hại, bệnh khổ của thân này.

"Tỳ-kheo, không có chấp nhận dục tầm đã sanh, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không sanh trưởng; không có chấp nhận sân tầm đã sanh, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không sanh trưởng; không có chấp nhận hại tầm... đã sanh...; không có chấp nhận các ác bất thiện pháp tiếp tục khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không sanh trưởng". (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (X). Girimananda)

Trong phần quán tưởng đoạn tận Thế Tôn dạy không chấp nhận tâm hướng đến dục, tâm hướng đến tham ái, không chấp nhận những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng hướng đến cái dục, cái tham, cái ái, nếu nó đã sanh thì người tu phải từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đoạn tận nó, làm cho nó không sanh khởi lên nữa và không lớn mạnh lên nữa. Nếu tâm mình hướng về sự tức giận, bực bội, sân hận với một đối tượng nào đó, tâm đang nghĩ về đối tượng đó, đang có hình bóng về đối tượng bực đó thì ngay đó mình phải từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, làm cho nó đi đến không sanh khởi lên thêm nữa cũng không tăng trưởng lên thêm nữa.

Người tu không chấp nhận những suy nghĩ, cảm giác, tư tưởng hại người khác, nếu có những cái tưởng đó, hình bóng đó, cảm giác đó sanh khởi lên thì người tu lập tức từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt. Chúng ta phải thuộc lòng ba pháp lệnh "từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt" để tác ý, đây đều là pháp lệnh của Đức Thế Tôn, là tuệ lực, là Thánh lệnh của Thế Tôn, khi nó sanh khởi là mình niệm "từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt" như vậy gọi là tưởng đoạn tận.

Đoạn tận là dứt hết những cảm giác về dục, dứt hết những cảm giác, nghĩ tưởng về sân giận, về làm hại người ta, hại ở đây là có hại mình lẫn hại người. Có những người nhảy lầu tự tử, nhảy cầu tự tử, uống thuốc trừ sâu tự tử… thì đó chính là hại mình, có những lúc mình có ý nghĩ buông thả, không tinh tấn tu nữa, đó là ý nghĩ buông lung phóng dật làm hại mình.

Học rồi mình mới thấy sự nhận diện ngũ uẩn giúp phá bỏ tất cả cánh cửa của thân tâm, nếu chúng ta không nhận diện thì làm sao chúng ta biết lúc đó đang có dục tầm? Tất cả các vị mới lên tu đều phải học cho kĩ nhận diện ngũ uẩn, thực hành ba pháp, cảm giác toàn thân, nếu không biết những pháp này, nếu không rõ được những pháp này, không thực tập những pháp này thì không đi vào pháp hành của Nikāya được.

Nếu không biết lúc đó đang có thọ gì, tưởng ra sao, hành thế nào thì làm sao mình biết đang có sự hướng tâm về dục? Nếu không quán chiếu nhận diện cảm giác toàn thân thì làm sao mình biết lúc đó ở lồng ngực đang nóng, đang có thọ khổ, cảm giác thuộc về sân, tâm đang hướng đến đối tượng giận đó, làm sao mình biết lúc đó đang có sân tầm? Trong khi đang hướng tâm về sự hận thù đó lại kèm theo hại tầm, những suy nghĩ muốn làm hại người ta, muốn làm cho người ta đau đớn, nhức nhối hoặc là suy nghĩ hại mình không muốn tu nữa, không muốn tiến nữa, muốn bỏ luôn, những suy nghĩ đó hại mình hại người phải thấy được nó. Nếu không nhận diện sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì làm sao mình biết lúc đó đang có dục tầm, sân tầm, hại tầm đó?

Vì thế không nhận diện là không thấy, mà không thấy thì mình không phát giác ra nó đang có mặt, không phát hiện nó có mặt thì làm sao tẩy sạch, chấm dứt, từ bỏ cho nên sự nhận diện ngũ uẩn là một cách soi gương, sau khi soi gương phát hiện ra mặt dính dơ, đầu dơ, cổ dơ, sau khi phát hiện cái dơ ở chỗ nào, cái gì làm cho dơ, cái dơ đó là do dầu, bùn, sình, hay máu, ghèn, nước mũi thì đó là phân loại các lậu hoặc, phiền não, nó thuộc về dục hay nó thuộc về sân hay thuộc về hại. Sau đó mình mới sử dụng những phương tiện thích ứng, phù hợp để tẩy sạch, từ bỏ, chấm dứt, ví dụ dính dầu thì không thể rửa bằng nước được hoặc là trên mặt có mụn thì phải nặn ra nữa, cho nên ví dụ đó cho mình thấy trình tự của pháp hành.

Nhận diện ngũ uẩn tức là soi gương, nhìn thấy lậu hoặc là thấy ra những chỗ dơ bẩn rồi phân loại nó thuộc loại gì, là sình bùn, dầu mỡ hay dính lọ nồi hay là vết thương trên mặt bị trầy xước hay mụn nứt ra, sau đó mới tìm cách tẩy sạch, từ bỏ, chấm dứt, đi đến không cho nó tăng trưởng, sanh khởi nữa. Vì vậy cần nắm thật vững nhận diện ngũ uẩn và thực hành ba pháp, cảm giác toàn thân vì đây là pháp hành quyết định trong Nikāya, nếu không nắm vững cái này thì không có chỗ đứng để tu, không biết gì để tu, chúng ta phải nhìn ra vấn đề, nhận diện ngũ uẩn, thấy được lậu hoặc và có những phương pháp xử lý thích ứng, phù hợp tùy theo từng loại.

II. Tứ vô lượng tâm

Hôm qua chúng ta đã quán bất tịnh để trị tham dục, quán bệnh khổ nguy hại của thân này để phá thân kiến, chúng ta thực tập tâm từ, tâm hiền cho đến tâm từ rộng lớn và cuối cùng là tâm từ vô lượng nhằm đối trị triệt để, diệt tận mầm móng của sân. Chúng ta tu tập tâm bi thâm sâu viên mãn để bứng gốc tâm hại vì lòng bi mẫn, xót thương mình và người sẽ không còn hại mình và người nữa. Chúng ta tu tập tâm hỷ để mình hoan hỉ, thích thú, vui mừng, hạnh phúc trong sự tu học Thánh pháp ly tham. Chúng ta tu tập tâm xả để xả đi gánh nặng, những sự chất chứa, những cái căng thẳng, những cái áp lực.

Lòng ta sao nặng quá,

Như xe chở quá nhiều.

Xe ơi, tội xe quá!

Xả bớt hàng đi xe.

Năm tháng trôi qua mình đã chất biết bao thứ lên chiếc xe tâm hồn của mình, buồn giận nào cũng chứa, thương ghét nào cũng ôm, hơn thua nào cũng giành, phải quấy nào cũng nhảy vô nên cái xe tâm hồn bị quá tải, bị nặng nề, áp lực, quá khổ cho nên tu tập tâm xả để tâm của mình buông bỏ bớt để có sự nhẹ nhàng, thư thái, thảnh thơi thì mới có thể bước lên cao thượng.

Như vậy mỗi pháp hành của chúng ta có sự thích ứng đối trị với những trạng thái tâm, đó là hành tướng của ngũ uẩn, hành tướng của lậu hoặc, hành tướng của phiền não, cái tướng trạng vận hành của tham dục, tướng trạng vận hành của sân hận, tướng trạng vận hành của hại mình hại người, tướng trạng vận hành của tâm bản ngã, ta đây, đó là hành tướng của tham, sân, si, của vô minh, bản ngã. Chúng ta học sâu và tu tập kĩ thì chúng ta mới nhận diện hành tướng của vô minh, nhận diện hành tướng của bản ngã, tức là chúng ta nhận diện rác, phân loại rác chứ không phải cái nào cũng chung chung.

III. Tưởng đoạn diệt

"Và này Ananda, thế nào là tưởng đoạn diệt?

Ở đây, này Ananda, Tỳ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, suy xét như sau: Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, Niết bàn".(Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (X). Girimananda)

Thù là đặc thù, đặc biệt, riêng biệt, thắng là siêu thắng, thù thắng, vượt hơn mọi thứ, đây là sự đặc biệt tối thượng tức là sự an chỉ tất cả hành. An là yên, chỉ là dừng, an chỉ là dừng yên tất cả sự vận hành của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, sự dừng yên của tất cả sự vận hành ngũ uẩn là sự tối thượng, là sự thù thắng, là siêu việt cho nên giờ chúng ta ngồi thiền là giờ an tịnh thù thắng, khi đó thân hành, khẩu hành của chúng ta an chỉ, giờ nghe pháp cũng là giờ thù thắng. Ý của chúng ta duyên vào thượng nhân pháp, duyên vào Thánh trí, duyên vào sự thật tối tôn, tối thượng của bậc Chánh Đẳng Giác.

Phải biết quán như vậy để khi ngồi thiền thấy hạnh phúc, khi nghe pháp cũng thấy hạnh phúc, thậm chí là đi qua đi lại một mình dưới gốc cây, trong Tăng xá, Ni xá hay trong căn nhà trống, tịnh thất cũng thấy hạnh phúc. Đó là sự thù thắng, là sự an tịnh, mình tập từ cái ở ngoài rồi từ từ mới đi vào bên trong, mình mượn cảnh an tịnh, thân ngồi yên an tịnh, miệng lúc đó không nói chuyện là khẩu an tịnh, chúng ta mới đi vào trong tâm, lúc đó tâm cũng lắng yên để mình nhìn kĩ, đó là quán pháp trong các pháp, nội pháp, ngoại pháp để chúng ta an chỉ các hành.

Các hành này nói đơn giản là sự vận hành của thân đi, đứng, ngồi, nằm, làm việc, nói chuyện. Các cảm giác an tịnh lại cho nên mình tác ý "niệm tâm lặng yên, tâm dễ chịu", mình làm cho thọ; tưởng; hành của mình an tịnh, lắng dịu, an chỉ, an yên, dừng yên. Cái này rất vi tế, người thông thường không tu thì dễ ngủ gật cho nên phải phá được năm triền cái thì mới vào các thiền chi rồi mới tu tập thiền quán, thiền tuệ, cho nên một là lăng xăng, dao động, trạo cử và hai là bị hôn trầm ngồi gục lên gục xuống nhưng phải phá được hai cái lăng xăng và buồn ngủ này thì tu mới tiến, như vậy sự chánh niệm tỉnh giác là chúng ta an tịnh, an chỉ, an yên, dừng yên tất cả các hành. Chữ "an tịnh", "an chỉ" này dùng cho các tầng thiền sâu sắc, từ sơ thiền đã an chỉ với năm dục bên ngoài, là những dục tầm bên ngoài, sự hướng tâm về những sắc đẹp, âm thanh, mùi vị, những sự xúc chạm không có nữa, lúc đó ly dục, ly ác bất thiện pháp nên tâm được tịnh chỉ, dừng yên. Chỗ dừng yên đó là an tịnh, là thù thắng, là tối thượng.

Sanh y là chỗ y cứ của tái sanh, y cứ là chỗ dựa, tái sanh là sanh lại, sanh ra. Chỗ dựa để mình sanh ra trên cuộc đời này chính là ái, nói đầy đủ là vô minh và khát ái, vô minh là không thấy không biết ngũ uẩn, vô minh là không biết bản chất của ngũ uẩn là vô thường, khổ, vô ngã, không thấy không biết tính chất vô thường, tính chất khổ đau, tính chất bất an, bất tịnh của thân tâm, thế giới này. Những gì chúng ta học từ trước giờ là để phá vô minh và tham ái cũng như hôm qua nói về bản chất bất tịnh của thân để phá tham ái, chúng ta nói về tính chất nguy hiểm tác hại của nó là bệnh khổ của thân này để phá vô minh, mê lầm cho rằng vui, cho rằng tôi và của tôi.

Niệm ngũ uẩn duyên sanh:

Thân là duyên sanh.

Thọ, tưởng, hành, thức cũng là duyên sanh.

Thân là vô thường.

Thọ, tưởng, hành, thức cũng là vô thường.

Thân là phiền não.

Thọ, tưởng, hành, thức cũng là phiền não.

Thân không là mình.

Thọ, tưởng, hành, thức cũng không là mình.

Thân này từ bỏ.

Thọ, tưởng, hành, thức cũng xin từ bỏ.

Thân xả, tâm xả - Dễ chịu, dễ chịu.

Buông xả, buông xả - Dễ chịu, dễ chịu.

Đó chính là sự từ bỏ tất cả sanh y, cái thâm sâu ở chỗ dựa của tái sanh tức là ái, ái ở đây là ái ngũ uẩn nên tất cả những gì chúng ta học đều là Thánh trí ngũ uẩn, tức là chúng ta biết được tên tuổi ngũ uẩn, chúng ta biết được mặt mũi ngũ uẩn, chúng ta biết được tính chất, tánh tình, bản chất của ngũ uẩn, sau đó chúng ta mới nhàm chán, ly tham đối với ngũ uẩn, ái diệt, ly tham, Niết bàn.

Có một hệ thống nhất quán, rành rõ, đầy đủ, có liên hệ với nhau, chúng ta biết được tên tuổi ngũ uẩn nghĩa là biết được danh nghĩa về ngũ uẩn, tiếp theo là nhận diện ngũ uẩn là biết được mặt mũi của ngũ uẩn, sau khi nhận diện được ngũ uẩn thì nhận diện những cái bên trong ngũ uẩn tức là lậu hoặc, mê lầm, những sự thúc giục, say mê, tham đắm trong đó, chúng ta nhìn ra được bực bội, sân hận khi bị ai chạm vào, khi bị xem thường thì thù hận người đó "dám xem thường tôi hả? Biết tôi là ai không".

Từ từ chúng ta nhìn ra được tánh tình của nó rồi nhìn ra cả bản chất của nó là đổi thay, là lắp ráp, là nương dựa, là duyên sanh, là bất an, bất tịnh, bất ổn, bất trắc, bất định, là không kiên cố, là pháp bại hoại, pháp đoạn diệt, đoạn tận, pháp khổ đau. Chúng ta phải khai thác hết tất cả góc độ, phương diện khía cạnh của nó, nhìn sâu vào mới thấy sự thật của ngũ uẩn, trong kinh dùng từ "các hành" nghĩa là sự vận hành của sắc; thọ; tưởng; hành; thức.

Sau khi nhìn thì trí huệ chúng ta càng rõ thêm, càng sâu thêm, càng lớn rộng thêm trong bản chất của ngũ uẩn thì chúng ta đi đến từ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, Niết-bàn. Lúc mới quen nhìn nhau tưởng là thần tiên, tưởng tượng ra đủ chuyện nhưng đến khi rước về ở chung thì cái gì cũng lộ ra, tánh ích kỷ, ngã mạn, so đo lộ ra hết, tất cả tật xấu đều hiện ra. Như vậy mặt mũi cũng biết rồi, tánh tình cũng biết rồi, bản chất cũng biết rồi nên giờ chịu hết nổi thì ly dị, "đường anh anh đi còn đường tôi tôi đi, tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi", thậm chí còn thành kẻ thù, lúc trước yêu bao nhiêu thì bây giờ thành hận bấy nhiêu vì "bây giờ tôi mới biết được bản mặt của ông" hoặc là "bây giờ tôi mới biết được bản mặt của bà".

Khi mình nhìn thấy được ngũ uẩn, nhìn thấy được hết tính chất của nó thì cuối cùng là tránh xa ngũ uẩn, nhìn thấy được tính ác độc, nham hiểm của nó, tính bất tịnh, bất ổn, bất an của nó, tính đau khổ, hoại diệt, tiêu ma, quỷ quyệt, xảo trá của nó, chúng ta vạch mặt ra được bộ mặt yêu tinh quỷ quái của nó. Trong Tây Du Kí Đường Tây chỉ thấy một em bé ngây thơ nhưng với đôi mắt của Tôn Ngộ Không lại nhìn xuyên thấu bên trong em bé đó là bụng lửa chính là Hồng Hài Nhi, chúng ta cũng phải nhìn ra được như vậy, thấy tới đó là chúng ta thành tựu chánh tri kiến, là cái thấy biết của bậc Thánh.

Khi bệnh thì chúng ta chỉ nhìn được một khía cạnh bệnh thôi, chúng ta phải thể nhập trọn vẹn vào bệnh khổ đó, nằm đó cảm thọ sâu sắc cảm thọ khổ đau để thấm thía chứ đừng chạy trốn, hãy thể nhập trọn vẹn sự đau đớn đó để phát sanh ra sự nhàm chán, ly tham, từ bỏ, đừng chống cự lại cái đau đó mà hãy cảm nhận sâu sắc, trọn vẹn, cảm nhận bằng tất cả tấm lòng sự khốn khổ của nó.

IV. Tưởng vô thường

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tưởng vô thường trong tất cả hành?

Ở đây, này Ananda, Tỳ-kheo bực phiền, xấu hổ, nhàm chán đối với tất cả hành. Này Ananda, đây gọi là vô thường trong tất cả hành". (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (X). Girimananda)

Bực phiền là phiền phức, phiền não, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là thứ đáng phải nhàm chán.

"Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở giữa dân chúng Magadha, tại làng Nàlàka. Rồi du sĩ Sàmandakàni đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Sámandakàni nói với Tôn giả Sàriputta:

- Thưa Hiền giả Sàriputta, thế nào là lạc, thế nào là khổ?

- Này Hiền giả, tái sanh là khổ, không tái sanh là lạc. Khi có tái sanh, này Hiền giả, chờ đợi là khổ này: Lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện, xúc chạm với lửa, xúc chạm với trượng, xúc chạm với kiếm. Cho đến bà con và bạn bè, khi gặp nhau, hội ngộ với nhau cũng não hại.

Này Hiền giả, tái sanh là khổ, khi có tái sanh, chờ đợi là khổ này.

Khi không có tái sanh, này Hiền giả, chờ đợi là lạc này: Không lạnh, không nóng, không đói, không khát, không đại tiện, không tiểu tiện, không có xúc chạm với lửa, không có xúc chạm với trượng, không có xúc chạm với kiếm. Cho đến bà con bạn bè, khi gặp nhau, khi hội ngộ với nhau không có não hại.

Này Hiền giả, khi không có tái sanh, chờ đợi là lạc này". (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VII. Phẩm Song Ðôi, V. Lạc Và Khổ (1))

Nếu mình sẽ trả lời được ăn ngon mặc đẹp là vui, được đi chơi là vui còn ngài trả lời rằng bị sanh là khổ, tái sanh là khổ, còn không sanh tử nữa là vui. Tất cả nỗi khổ của mình là do mình bị sanh.

" -- Này các Tỳ-kheo, mắt sanh khởi, chỉ trú, xuất sanh, xuất hiện là khổ sanh khởi, tật bệnh chỉ trú, già chết xuất hiện.

Tai... Mũi... Lưỡi... Thân...

Ý sanh khởi, chỉ trú, xuất sanh, xuất hiện là khổ sanh khởi, tật bệnh chỉ trú, già chết xuất hiện.

Và này các Tỳ-kheo, mắt đoạn diệt, chỉ tức, diệt tận là khổ đoạn diệt, bệnh tật chỉ tức, già chết diệt tận.

... Tai... Mũi... Lưỡi... Thân... Ý đoạn diệt, chỉ tức, diệt tận là khổ đoạn diệt, bệnh tật chỉ tức, già chết diệt tận". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, I. Phẩm Vô Thường, IX. Sự Sanh Khởi (1))

Con mắt này có ra, tồn tại, xuất sanh, xuất hiện là khổ sanh khởi, là chỗ cư trú của bệnh tật, là sự xuất hiện của già nua và chết chóc. Lỗ tai, mũi, lưỡi, thân, ý này sanh khởi, tồn tại, xuất sanh, xuất hiện là khổ sanh khởi, là chỗ cư trú của bệnh tật, là sự xuất hiện của già nua và chết chóc. Ngày xưa đọc bài kinh này con vô cảm nhưng đến giờ nghe lại thì rung chấn toàn thân, cảm xúc chấn động vì quả thật là như vậy. Sự có mặt của con mắt này, của lỗ tai này, cái mũi, cái lưỡi, cái miệng và thân này là sự có mặt của khổ, là sự tồn tại của khổ, là sự xuất hiện của khổ, là sự hiện hữu của bệnh tật, già nua, chết chóc, của những nấm mồ, của những hủ cốt. Khi con mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý này không còn nữa thì khổ căn được dứt trừ, không còn sanh ra ở đời sau nữa, nguyên nhân của một đời sống khác không còn nữa.

"-- Này các Tỳ-kheo, các sắc sanh khởi, chỉ trú, xuất sanh, xuất hiện là khổ sanh khởi, bệnh tật chỉ trú, già chết xuất hiện.

Các tiếng... Các hương...

Các vị... Các xúc...

Các pháp sanh khởi, chỉ trú, xuất sanh, xuất hiện là khổ sanh khởi, bệnh tật chỉ trú, già chết xuất hiện.

Và này các Tỳ-kheo, các sắc đoạn diệt, chỉ tức, diệt tận là khổ đoạn diệt, bệnh tật chỉ tức, già chết tận diệt.

Các tiếng... Các hương... Các vị... Các xúc...

Các pháp đoạn diệt, chỉ tức, diệt tận là khổ đoạn diệt, bệnh tật chỉ tức, già chết diệt tận". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, I. Phẩm Vô Thường, X. Sự Sanh Khởi (2))

Sự xuất hiện của sáu căn, sáu trần là sự xuất hiện của khổ, tái sanh là khổ, không tái sanh là vui. Khi có tái sanh thì chờ đợi là 10 cái khổ, nửa diện tích ở Trung Quốc bị khô cằn, nứt nẻ, các dòng sông lớn nhất đều khô kiệt, bình quân một ngày hơn 40 độ, ở Châu Âu chết người hàng loạt vì nóng, 500 năm qua chưa từng có hạn hán như vậy, đó là mới chỉ nói sơ qua về cái nóng đã vậy, chỉ riêng bốn chữ "lạnh, nóng, đói, khát" mà chiêm nghiệm thì mấy ngày cũng chưa hết cái khổ. Mình sốt siêu vi hoặc nhiễm Covid sốt lên là nóng, Thánh pháp này là sự thật của tất cả thế giới, cần phải vang dội âm thanh chánh pháp này ra vô lượng hành tinh, ước nguyện Thánh pháp này, sự thật này, trí tuệ này sẽ được vang xa truyền rộng khắp vô lượng hành tinh để chúng sanh bớt khổ, để hữu tình thấy được ánh sáng, chạm được sự thật, ngăn những dòng nước mắt tận cùng thương đau.

Chỉ một chữ nóng hay lạnh là có biết bao nước mắt, sinh mạng con người, có biết bao tật bệnh, cái chết chứ không phải đọc sơ qua rồi thôi, mọi thứ trong Nikāya đều phải có sự thiền quán. Nếu đang muốn đại tiểu tiện mà không đi được thì khổ đến dường nào? Mình đã từng trải qua chuyện này bao giờ chưa? Hoặc như bị tiêu chảy một ngày mấy chục lần thì rã rời tay chân, ngoài ra còn bị hỏa hoạn chết người cho nên phải cẩn thận, phải chánh niệm.

Có vài chùa cúng rằm tháng bảy đốt tiền vàng mã rồi cháy nhà luôn, chỉ một chút thôi là tất cả đều trở thành mây khói, tòa nhà cả trăm tỉ bị hỏa hoạn làm chủ nhà chết trong đó, không có gì chắc chắn, không có gì kiên cố, ngoài bắc có người dân vào rừng nướng đồ ăn không cẩn thận làm cháy rừng bị phạt ở tù, có ai nghĩ rằng đi nướng đồ ăn mà phải ở tù không, đó là nghiệp quả dị thục bất khả tư nghì, không thể tưởng tượng được khi cái nghiệp chín muồi. Có ai nghĩ rằng đi phơi đồ mà tan xương nát thịt không?

Một người dân đang phơi đồ ở đường ray xe lửa thì xe lửa tới cô chạy không kịp nên bị cán nát người. Bà con gặp mặt nhau cũng não hại, ngay ngày đám giỗ cha mà hai anh em ruột cãi nhau rồi lấy dao đâm nhau chết. Phải có cái nhìn xuyên thủng, xuyên thấu rộng lớn trùm khắp trời đất này, thế giới này, hành tinh này về cái khổ của hữu tình chúng sanh vạn loại. Khi không có sanh là bất tử, không còn mang những tấm thân bẩn thỉu, hôi thối, bệnh hoạn, nhơ nhớp, tanh hôi cho nên mình thấy hạnh phúc, thích thú vô cùng.

V. Tác ý hỷ lạc

Khi quý vị về tới núi thì phải tác ý "đây thật sự là an tịnh, đây là thù thắng"

"Khả ái thay núi rừng,

Chỗ người phàm không ưa,

Vị ly tham ưa thích,

Vì không tìm dục lạc"

(Kinh Pháp Cú 07 – Phẩm A-la-hán, kệ 99)

Đẹp thay núi rừng này! Đẹp thay khóm trúc xanh này! Đẹp thay đám mây trắng bồng bềnh! Đẹp thay ngọn núi trải dài vô tận! Đẹp thay bầu trời rộng lớn thênh thang vô lượng! Vui thay không khí trong lành mát mẻ của đồi núi Lâm Đồng, Bảo Lộc!

"Vui thay, Phật ra đời!

Vui thay, Pháp được giảng!

Vui thay, Tăng hòa hợp!

Hòa hợp tu, vui thay!"

(Kinh Pháp Cú 14 – Phẩm Phật Đà, kệ 194)

Không có hạnh phúc nào bằng buổi sáng được tưới nước bất tử, không có hạnh phúc nào mỗi ngày được uống vào những dòng Thánh nhũ vi diệu, pháp nhũ của bậc Thánh, sữa pháp để nuôi lớn thân xác trí tuệ tối thượng này. Thật là lợi đắc cho ta! Thật là lợi ích cho ta! Thật là phước báo cho ta! Thật là tối thượng, thù thắng, thần thánh khi ta có mặt ở non thiêng đất Thánh này, khi ta được nghe Thánh trí tuệ, khi ta được ở trong hội chúng hiền thiện, hiền lành, hiền hòa này.

Phải tác ý như vậy khi đi một mình trên đỉnh đồi, khi ngồi một mình bên khóm trúc, khi đứng một mình bên Thánh pháp viện, trải tâm từ vô lượng này, tâm thương cùng khắp này cho tự thân mình, đến gia đình mình, đến hữu tình chúng sanh để mình thưởng thức hương vị ngọt ngào, mát mẻ, màu nhiệm của pháp nhũ, của Thánh trí, của tâm an tịnh, thù thắng, tức là sự tịnh chỉ các hành, tức là sự từ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, Niết-bàn, diệt tận tất cả mọi sự yêu thích, tham ái ở đời, không còn tham muốn, tâm hoàn toàn tịch tịnh, tĩnh lặng, dập tất cả ngọn lửa tham, sân, si, vô minh, bản ngã, cái tâm mát lạnh, thanh lương. Còn hạnh phúc nào bằng cái này nữa? Còn niềm vui nào hơn như vậy nữa? Còn công đức nào có thể so sánh với cảm thọ chúng ta đang thưởng thức ngây giờ phút này?

VI. Tưởng nhàm chán với tất cả thế giới

"Và này Ananda, thế nào là tưởng không ưa thích trong tất cả thế giới?

Ở đây, này Ananda, phàm ở đời có những chấp thủ phương tiện, tâm quyết định, thiên kiến, tùy miên nào, Tỳ-kheo từ bỏ chúng, không ưa thích, không chấp thủ. Này Ananda, đây gọi là tưởng không hoan hỉ đối với tất cả thế giới". (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (X). Girimananda)

Phương tiện là những thứ mà tâm mình nắm giữ trong đó, ví dụ như nhà cửa, xe cộ, vườn cảnh đẹp, căn phòng, món đồ quý. Tâm quyết định cái đó là đẹp, cái đó là của mình, quyết định yêu thích, trân trọng cái đó. Thiên kiến là mình nghiêng lệch về nó, mình cho rằng cái đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, cái này là đẹp, cái này là mắc, cái này là hàng tốt. Tùy miên là nó đi theo mình một cách miên man. Tất cả thế giới nghĩa là tất cả ngũ uẩn, không hoan hỉ với tất cả sắc dù cho sắc quá khứ, hiện tại hay vị lai, thô tế, thắng liệt, xa gần, từ bỏ chúng, không ưa thích, không chấp thủ.

Mình đi tu đã lâu rồi nhưng lâu lâu lấy tấm hình hồi còn 18-20 ra xem rồi thích thú, đó là mình chấp vào phương tiện là tấm hình đó, mình yêu thích tấm hình đó, mình yêu thích sắc tưởng đó, cái hình bóng của mình ngày xưa thuộc về sắc tưởng quá khứ, còn tấm hình hiện tại là sắc pháp. Cũng là người trong tấm hình đó nhưng bây giờ nhìn thấy tàn tạ, đổi thay, biến hoại thì cái đó trở thành trí huệ nhưng nhìn vào thấy tiếc nuối thì cái nhìn đó trở thành ác bất thiện pháp. Có một ông già 70 tuổi lên núi gặp con nói rằng mình đã già không còn nhiều thời gian nữa, thầy chỉ cách tu nhanh gọn để tu mau giải thoát, con hỏi ông cụ có tấm hình lúc trẻ không thì ông nói có, con hỏi tiếp ông có tấm hình nào bây giờ không thì ông cũng nói có, con lại hỏi ông có chụp X-quang lần nào không thì ông nói có.

Sau đó con nói ông để tấm hình lúc trẻ ra, kế đó là hình bây giờ, cuối cùng là tấm hình X-quang, nhìn vào ba tấm hình đó để buông xả sắc uẩn này đi, lúc đó ông cụ nói "cái này hay đó thầy, cái này hay đó". Nhìn vào lúc trẻ rồi bây giờ là 70 tuổi da mặt nhăn nheo, tàn tạ, biến hoại, nhìn vào phim X-quang hiện ra bộ xương, trong 3 tấm hình này ai là ông, ông là ai, sự thật là gì. Không hoan hỉ với tất cả ngũ uẩn, tất cả mọi thứ xung quanh, phải từ bỏ chúng, không ưa thích, không chấp thủ, không cho nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình.

Khi có tư tưởng "cái này là của tôi" thì phải dẹp nó liền, không nắm giữ tư tưởng đó, thẳng tay sát phạt trong suy nghĩ của mình tức là mình không chấp nhận suy nghĩ đó. Ví dụ khi con nhìn cái chùa mình xây lên mà có suy nghĩ "cái chùa này đẹp quá" thì lập tức con phải từ bỏ ý nghĩ đó, "không có cái này của cái nùi giẻ này cả, không có cái nào của bộ xương này cả, không có cái nào của hủ cốt này cả, không có cái nào của đống tro tàn này. Mày đừng có ngu si suy nghĩ như vậy". Đó là mình giáo dục, mình huấn luyện trong suy nghĩ, cảm thọ và tư tưởng, nhận thức của mình.

Đi tu mà nhớ vợ là từ bỏ suy nghĩ đó ngay, "không có vợ nào của mình cả, cái này chỉ là nghiệp quả ràng buộc nhau thôi, bây giờ còn ràng buộc nhau đến chết nữa hay sao, thôi hãy từ bỏ đi", mình tác ý từ bỏ ý niệm nhớ vợ đó.

"Con tôi, tài sản tôi,

Người ngu sanh ưu não,

Tự ta, ta không có,

Con đâu, tài sản đâu"

(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 62)

Từ bỏ ý nghĩ đó, cảm giác đó, nhận thức đó, từ bỏ không chấp nhận, tẩy sạch nó, đoạn tận nó, làm được là Nhập Lưu vào dòng trí huệ của Đức Phật, tập từ bỏ từ từ cái tưởng đó, tập từ bỏ cái nhận thức đó, không ưa thích tất cả thế giới, quán tưởng từ bỏ, quán tưởng chấm dứt. Đó là lý do con ít gặp ai vì gặp là phiền, nếu người đó tha thiết, chân thành cầu đạo thì được, còn gặp mà sân si, bản ngã, tham lam thì không muốn gặp, bây giờ chỉ muốn độc cư ở một mình giảng kinh Nikāya thôi, không muốn làm gì nữa, không muốn gặp ai nữa trừ những người cầu pháp, cùng chung tu tưởng tu tập, gặp nhau mà so đo, ganh tỵ sẽ rất phiền bực, nhàm chán. Quán chiếu chữ phiền bực này sẽ thấy rất hay, đi tiểu cũng phiền, đi đại tiện cũng phiền, có ngày đi 3-4 lần, ăn vô cũng phiền.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tưởng vô thường trong tất cả hành?

Ở đây, này Ananda, Tỳ-kheo bực phiền, xấu hổ, nhàm chán đối với tất cả hành. Này Ananda, đây gọi là vô thường trong tất cả hành". (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (X). Girimananda)

Khi sanh ra cảm giác tham ăn thì thấy chán nản, bực phiền "ăn mấy chục năm rồi vẫn đói hoài, thèm hoài", có khi trên lầu đi xuống mua đồ ăn mà con cũng không đi, chế nước nóng ăn mì là xong, ai đem đồ ăn cho thì ăn còn không có thì thôi, ăn mì gói cho nhanh. Có khi ăn vào lại không tiêu thì khổ nữa, mình có ba bộ đồ mặc thôi nên khỏe lắm, còn có chừng ba chục bộ thôi là phiền vì không biết mặc cái gì, phải mua tủ đựng rồi giặt ủi, xếp đồ, rất nhiều chuyện phiền phức với sắc này, với thọ; tưởng; hành; thức này. Suy nghĩ một hồi là buồn người này, giận người kia, tủi thân người nọ, rất phiền phức nên hãy an tịnh cho khỏe người, buông xả cho khỏe, còn nếu cứ hờn mác là tự tìm phiền não, tự tìm khổ đau, tự tìm những cái nhọc nhằn, bất an cho nên trở về tìm sự an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, thù thắng.

Tâm thương này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.