Soi Gương Rửa Mặt - Lửa Cháy Trên Đầu 1 - Kinh Tổn Giảm -Tăng Chi Bộ
Kinh Nikāya Giảng Giải
SOI GƯƠNG RỬA MẶT LỬA CHÁY TRÊN ĐẦU 1
KINH TỔN GIẢM - TĂNG CHI BỘ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khéo léo trong tu học PAGEREF _Toc114152245 \h 1
II. Tổn giảm và không tổn giảm PAGEREF _Toc114152246 \h 2
I. Khéo léo trong tu học
Chúng ta tu học rất tích cực trong thời khóa, một ngày tu học đầy đủ tám tiếng. Bắt đầu lúc 7h30 nhưng đã tập trung trước 7h30 và chúng ta tu học liên tục suốt năm tiếng, buổi chiều bắt đầu từ 2h-5h, vậy là đủ tám tiếng, nếu khéo léo thì giờ nghỉ vẫn thực tập thì giờ tu được nhiều thêm, giờ nghỉ không phải là buông xả mà đó vẫn là giờ để hành trì, như vậy tổng cộng chúng ta tu học được khoảng mười tiếng, trong khóa tu chúng ta thực tập chánh niệm và tỉnh giác khoảng mười tiếng.
Thưa đại chúng, để sắp xếp được thời khóa không phải chuyện đơn giản, chúng ta phải nhớ không được cho ngồi liên tục ba bốn tiếng mà phải đổi oai nghi, Minh Thành chia sẻ kinh nghiệm cho những vị tự tu ở nhà cũng như khi vào đạo tràng hoặc các vị có trách nhiệm phải nhớ không cho ngồi liên tục ba bốn tiếng mà phải đổi oai nghi, vì khi ngồi liên tục như vậy thì người đó sẽ không tiếp nhận pháp được nữa hoặc tiếp nhận rất ít.
Sáng nay sau khi nghe pháp một tiếng rưỡi là chúng ta có thời đảnh lễ ngài Xá-lợi-phất, mọi người phải nhớ điều này vì không phải lúc nào chúng ta cũng đến dự khóa tu được và có khi trong khóa tu bận công việc không đến chùa được thì ở nhà tự lập thời khóa, ở đây có nhiều vị lớn tuổi thì mỗi ngày phải có thời khóa cho mình, có những vị tu giống như trong đạo tràng Nikāya.
Tu một mình cảm thấy khó khăn cho nên lực của chư Tăng Ni và các đạo hữu, các bậc đồng phạm hạnh cùng tu với nhau rất quan trọng, vì thế đến đạo tràng tu liên tục mười tiếng mà mình vẫn hỷ lạc, hân hoan là do sự khéo léo sắp xếp thời khóa. Bảy ngày các vị tu là Minh Thành đi ở ngoài để xem xét, cho nên khoảng thời gian ở giữa từ 2h-5h nên có chừng mười lăm phút để lễ lạy hoặc đi thiền hành, nếu không thì nên giãn cách thời gian một chút.
Các vị có lập một nhóm đạo tràng Nikāya để tu tập thì hãy nhớ điều này, phải có thiền hành, thiền tọa, lạy sám hối, nghe pháp và trình pháp, như vậy ngày tu rất phong phú, có nhiều thể loại sẽ không thấy chán ngán, không thấy mệt, tuy là tu học nhưng khéo léo thay đổi oai nghi để máu huyết lưu thông. Các vị lớn tuổi hoặc bệnh không thể ngồi thiền bằng bồ đoàn vì đau chân thì vẫn được ngồi ghế ở phía sau, có những vị không ngồi lâu được nhưng muốn đi tu nhưng không đi được vì ngại ngùng, mắc cỡ nên mình phải để ý những người đặc biệt.
Đức Phật nói rằng chúng ta phải nếm được vị ngọt của pháp, nếm được vị giải thoát của Giáo Pháp, chúng ta phải nếm được đích đến của Chánh Pháp nên ngoài việc khóc thì phải có những giây phút hỷ lạc, hai cái hỷ và ưu đó đều là thiện pháp, hai cái này đều thân cận thiện pháp, hỷ trong thiện pháp và ưu trong thiện pháp. Người bên ngoài nhìn vào sẽ thấy lạ vì tu mà khóc nhưng đó lại là những giọt nước mắt hạnh phúc.
Cái cười, cái vui ai cũng thích nhưng sự vui cười đó có phải là thiện pháp không mới là điều quan trọng, cho nên trong sự tu sanh ra được những cảm xúc sẽ rất tốt, còn tu mà cứ đơ ra, học ba tháng, sáu tháng, một năm vẫn trơ ra như khúc gỗ thì sự tu đó không đưa đến sự tăng thượng, hướng thượng trong thiện pháp. Vì thế đừng sợ khóc nhưng hãy khóc trong đạo tràng, khóc khi trình pháp, khi quán chiếu, khi thiền quán mà khóc thì hãy để cảm xúc bung ra, đó là sự vỡ òa những sự si mê, vô minh, bóng đêm và nay được đem đèn sáng vào bóng tối nên hãy cứ khóc.
II. Tổn giảm và không tổn giảm
Trong bài kinh Tổn giảm của Tăng Chi Bộ ngài Xá-lợi-phất đã nói như sau:
“Tôn giả Sàriputta nói như sau:
- Cho đến như thế nào, này chư Hiền, người bản tánh là tổn giảm được Thế Tôn nói đến?
Ở đây, này chư Hiền, Tỳ-kheo không nghe pháp chưa được nghe, và pháp đã được nghe đi đến bị quên; các pháp trước kia tâm đã có cảm xúc, những pháp ấy không được hiện hành, và không thức tri những pháp chưa được thức tri.”
(Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V) Tổn Giảm)
Ở đây ngài Xá-lợi-phất nhắc lại lời của Thế Tôn dạy về người có bản tánh tổn giảm và người có bản tánh không tổn giảm. Giảm là giảm xuống, tổn là hao tốn, là bị mất đi, tức là tu mà không được tăng thượng, phát triển còn bị hao mất. Người có bản tánh tổn giảm là người không nghe pháp chưa được nghe, nghe bao nhiêu đó đủ rồi, nghe vậy là thấy thỏa mãn rồi thì đó là người có bản tánh tổn giảm trong Chánh Pháp, không chịu nghe những điều chân chánh, chân thật, chân lý của Đức Phật giảng, Đức Phật gọi đệ tử của ngài là Đa văn Thánh đệ tử, Thánh là Đức Phật, đệ tử là chúng ta, đa văn là bậc nghe nhiều Chánh Pháp.
Người có bản tánh tổn giảm là pháp đã được nghe đi đến bị quên, tức là nghe xong rồi quên hết, lúc đầu học nhận diện năm uẩn kĩ nhưng sau một năm lại quên mất, nhận diện ba pháp thì lẫn lộn cho nên những pháp đã được nghe phải được ghi nhớ. Người không có bản tánh tổn giảm là tu tập được tăng thượng, thêm lên, được lớn mạnh phát triển trong Chánh Pháp cho nên chúng ta phải trả bài nhưng không giống trong trường, khi được yêu cầu nhận diện sân mà nếu có thực tập thì trả bài được ngay hoặc được yêu cầu nhận diện bản ngã khi sanh khởi ra sao thì đó là trả bài.
Cả sự tu tập của chúng ta đều nhằm mục đích nhiếp phục và đoạn tận dục tham ái, vô minh, bản ngã, sân hận nhưng nếu không thấy, không biết mặt mũi, tánh tình, sự hoạt động của nó thì làm sao nhiếp phục và đoạn tận nó? Cho nên chúng ta trả bài bằng cách thường xuyên nhận diện ngũ uẩn, thường xuyên trú trong cảm giác toàn thân.
Các pháp trước kia tâm đã có cảm xúc, những pháp ấy không được hiện hành nghĩa là ngày xưa nghe thì cảm nhận, cảm xúc, cảm động nhưng bây giờ nghe lại thì không có cảm xúc, đơ ra, đó là bị tổn giảm. Chúng ta cần phân biệt các dạng người, dạng thứ nhất là người không biết gì cả, chúng ta nói về tứ đại, ba mươi hai thể trược, tội lỗi của bản ngã làm đau khổ mà họ cho rằng những điều này không có sự liên quan đến họ thì dạng này không nói đến. Dạng người thứ hai là có biết, có nghe, có học.
Hạng thứ ba là nghe pháp thì xúc động, nước mắt tuôn trào, vỡ òa trước sự thật về những cảm thọ sân hận, bực bội, bốc cháy, những cảm giác bản ngã, ta đây, tham dục làm đau khổ mà đến giờ mới nhìn ra nó ở trong người, vừa đau đớn xót xa vừa hoan hỉ, đau đớn do bị hành hạ, chà đạp, đè đầu cưỡi cổ mình từ trẻ đến lớn, từ lớn đến già nhưng vui vì mình đã thấy được nó, lúc đó cảm thọ được khai mở, có khi tuôn trào ồ ạt, bản thân Minh Thành và có những vị cùng tu và thậm chí các Phật tử nước mắt tuôn trào khi nghe pháp, điều này rất tốt vì cảm thọ được khai thông nên đừng sợ, tức là mình không thể tưởng tượng được một sự thật bị che giấu từ nhiều đời và giờ đã được thấy.
Mọi người về nghe thêm bài "Với khổ, với ưu, nước mắt đầy mặt khóc than", vừa nghe vừa nhìn vào cảm thọ để huấn luyện tâm "mày tham muốn hoài đó, đã thấy khổ chưa". Tất cả tin tức trên thế giới này chỉ toàn là tham sân si, bản ngã, mình đừng xem cho có mà khi đọc hãy để từng câu từng chữ ngấm vào cảm thọ, sau đó mình nói chuyện với cảm thọ "Mày đã thấy cái dục, cái tham, cái ái hành hạ, chà đạp chúng sanh chưa".
Mỗi lần mình nghe, đọc, nghiền ngẫm và tác ý như vậy là mỗi lần cảm thọ của mình được mở ra như khai thông kinh mạch, cho nên khi tu mà đi đến tận cùng gọi là tâm giải thoát, tuệ giải thoát, còn giờ tâm không được giải thoát vì nó bị tham ái, tham muốn, ước mơ, ảo vọng trói cột rất kĩ.
Xin đừng đem dạ tưởng mà mơ
Trăm năm cuộc thế như cờ bị vây
Rút gươm huệ dứt dây tham ái
Kiếp tìm thầy cầu phái quy y.
Kiên trì ngũ giới tam quy,
Mở lòng từ nhẫn sân si phải chừa.
Sám Thảo Lư - Sám Hồi Tâm I (Tổ Huệ Đăng)
Phải biết quở trách tâm mình, trong kinh Pháp Cú Đức Phật cũng đã nói:
Tự mình chỉ trích mình,
Tự mình dò xét mình,
Tỳ-kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc.
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 379)
Đây cũng chính là Tứ Niệm Xứ, dò xét thân tâm, cảm thọ và dò xét trong nội tâm đang có ác bất thiện pháp hay là thiện pháp, đó là thân – thọ – tâm – pháp. Tự mình nhiếp phục mình, tự mình chế ngự mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình và mình sẽ được an lạc, còn buông lung phóng dật là khổ đau. Ai biết phòng hộ, hộ trì, bảo vệ, ai biết canh chừng, dò xét các căn thì người đó giảm đau khổ, bớt đau khổ và hết đau khổ, ngược lại sẽ đau khổ dài dài, đau khổ trong từng cái nhìn, cái nghe, cái nghĩ, cái làm, cái nói, ăn, nếm… cái nào cũng ở trong bóng đêm, ham muốn, nóng giận, si mê, bản ngã rồi lại tiếp tục đau khổ.
Cần phân biệt hai trạng thái, một người sau khi học pháp có những cảm xúc tột độ trào dâng thì người này vẫn tinh tấn tu học, sau đó cảm thọ này sẽ an tịnh, lắng dịu lại, còn một dạng người sau khi có cảm xúc lại thả lỏng, không tu học tinh tấn nữa thì cảm thọ đó bị mất luôn. Ngày xưa nghe vô thường, khổ thì xúc động, nước mắt tràn ra còn giờ nghe khổ lại thấy bình thường, đó là bị tổn giảm, có người nào tu lâu thấy mình bị tổn giảm không?
Cho nên chúng ta cần 'giữ lửa' tu học, ở nhà vẫn tu nhưng sẽ khác rất nhiều với khi mình đến chùa gặp quý thầy, quý cô, bạn đồng tu cho nên đừng để tổn giảm mà phải tăng thượng, hướng thượng. Điều cuối là không thức tri những pháp chưa được thức tri, tức là không rõ biết những pháp mà mình không được rõ biết, tức là không muốn biết thêm về ngũ uẩn nữa, học vậy đủ rồi, như vậy là tổn giảm trong thiện pháp, Thánh Pháp vì nhận diện ngũ uẩn không đơn thuần chỉ là nhận diện sắc; thọ; tưởng; hành; thức là xong mà nhận diện ngũ uẩn có rất nhiều cấp độ khác nhau, vì thế trong kinh Đức Phật nói vị nào liễu tri sắc; thọ; tưởng; hành; thức là vị đó Nhập Lưu Tu-đà-hoàn.
Bây giờ mình cũng biết ngũ uẩn rồi nhưng mình đã Nhập Lưu được chưa? Vì thế chữ "liễu tri", "tuệ tri", "thắng tri" trong đạo Phật rất thâm sâu, chúng ta chỉ mới biết bằng sự suy tưởng (tưởng tri), biết bằng tri thức, kiến thức, kinh nghiệm (thức tri), còn liễu tri, thắng tri, tuệ tri là biết bằng trí tuệ và cái biết đó thuận dòng, xuôi dòng và ngược dòng. Nhưng thuận dòng và xuôi dòng như thế nào? Chính là đi ngược dòng đời và thuận dòng đạo, ngược dòng mê và thuận dòng tỉnh, ngược dòng vô minh và thuận dòng minh trí của giác ngộ.
Vị nào đi vào dòng là vị này lúc nào cũng thấy sắc là vô thường, khổ, vô ngã, tất cả mọi cảm giác cũng thấy là vô thường, khổ, vô ngã, mọi sự suy tưởng, hình bóng, nhận thức đều biết nó là vô thường, khổ, vô ngã, không thay đổi cái biết đó mới gọi là Nhập Lưu, còn mình khi nghe, khi quán thì thấy là vô thường, khổ, vô ngã, còn khi hướng ngoại hoặc không có sự an trú trong pháp thì cái biết của mình bị thay đổi, như vậy là chưa thể nhập được trí tuệ.
Vì thế không thức tri những pháp chưa được thức tri, tức là không muốn biết những pháp mình chưa biết trong Chánh Pháp thì người này bị tổn giảm, ngược lại mình cần phải biết những điều chưa biết trong Chánh Pháp và cái biết khi thực tập kinh Nikāya này rất tuyệt diệu, tu học đi rồi sẽ thấy dòng cảm thọ trong người mình được thay đổi. Ngày xưa chưa tu pháp này thì thấy hội chợ, đám cưới, chợ hoa tết thì mình phấn khởi, hân hoan nhưng tu lâu dài thì cảm thọ chuyển biến theo chiều hướng thấy vui nhưng cái vui đó cũng đưa đến khổ, cũng tan nát, hoại diệt, héo tàn ở sâu trong cảm thọ, nhận thức, suy nghĩ của mình và từ từ mình thấy cuộc đời này không có gì đáng giá, không có gì có thể so sánh được Thánh Pháp tối thượng vi diệu này, chỉ có Thánh Pháp mới đưa đến hết khổ, ngoài ra tất cả những thứ còn lại chỉ toàn là tham sân si, chức quyền cao đến cỡ nào cũng chỉ thấy khổ đau, hôm nay đứng trên đỉnh cao nhưng ngày mai ở trong ngục tù, sắc đẹp vang danh khắp phương trời nhưng lại tự tử dù chỉ mới ngoài ba mươi tuổi, những người thành đạt, tiếng tăm lừng lẫy mà còn vậy thì huống hồ gì vô danh tiểu tốt, nhỏ bé như hạt bụi như mình thì như thế nào?
Cho nên mình phải nghe pháp rồi suy nghĩ, tác ý, sanh ra cảm thọ rồi trú trong đó. Trong cái ung nhọt chín lỗ này hằng ngày rỉ chảy phân và nước tiểu, nước bọt, mồ hôi, cứt ráy… và bao nhiêu những thứ bệnh hoạn đầy nguy hiểm, một người thanh niên bị giật mất ba lô chỉ trong tích tắc, đầy rẫy sự tham lam, sân hận, mẹ con, anh em, vợ chồng với nhau nhưng chỉ vì đồng tiền mà có thể lấy cả sinh mạng nhau, như vậy thì cuộc đời này còn tình nghĩ, tình thân gì nữa? Vì thế Minh Thành mới nói đời sống này là vô nghĩa, chồng chất những sự tham lam, sân hận, chấp ngã, bao trùm địa cầu này là bóng đêm của vô minh và tham ái. Phải nhìn thấy những điều này để mình xuyên thấu sự thật, không có gì đáng lưu luyến trên đời này.
Buổi trưa hôm nay khi ở trong phòng một mình, hình ảnh con đưa di hài mẹ vào lò thiêu hiện về. Minh Thành suy nghĩ "Tại sao lại đưa người mình thương yêu nhất đi hỏa thiêu? Đó là người thương yêu, quý trọng, ân nghĩa nhất trên đời mà nỡ lòng nào mình đưa vào lò thiêu?" Trống rỗng là đời sống này, sau này cũng sẽ đến lượt mình được đẩy vào như thế, họ quấn mình lại, buộc chặt mình rồi đóng chặt nắp quan tài, đưa mình ra huyệt mộ hoặc và lò thiêu.
Vì thế sanh ra để chết đi, ngoài điều này ra không có gì khác hơn nữa, ngọn lửa được đốt lên để đi đến chỗ tàn lụi, đóa hoa nở ra để rồi héo úa và con người sanh ra để rồi cuối cùng chấm dứt sanh mạng, nhưng ở chặng giữa từ sanh đến tử là một chặng dài chứa biết bao ác nghiệp, tội lỗi. Nếu không biết tu thì bóng đêm trùm lên bóng đêm, ác chồng lên ác, tội chồng lên tội, làm khổ mình khổ người thân, hại mình hại người, hành hạ mình hành hạ người.
Ngồi một mình là biết bao cảm giác, nghĩ tưởng bên trong hành hạ mình, khi nhớ lại quá khứ buồn giận hoặc yêu thương ai đó thì cảm giác đó lại giày xéo tâm can mình, chúng ta hãy thử hỏi đời sống này sanh ra để làm gì? Sanh ra để chạy tìm, cạnh tranh, đấu tranh, sanh ra để hơn thua, thị phi, soi mói người khác. Thật là đau khổ cho chúng ta! Đáng thương xót cho tâm ngu si này, cứ lặp tới lặp lui như vậy trong vô thỉ kiếp.
Ngay trong gia đình mình, vợ chồng, anh chị em, mẹ con, chỉ do ích kỉ, tham sân si mà chúng ta hành hạ nhau vì thế mỗi người một nỗi khổ, mỗi người một niềm đau nên hãy cùng nhau thấu hiểu, tha thứ lỗi cho nhau. Nếu không tu tập tâm hiền, tâm từ cho sung mãn sẽ rất khổ đau, mình ngồi đây ăn uống, nói năng nhưng chớp mắt thôi là chúng ta sẽ qua một đời sống khác, tất cả những gì mình tích lũy, gom góp, chất chứa, tất cả công danh sự nghiệp, những gì mình ái luyến, thương yêu chỉ trong tích tắc phải từ bỏ hết tất cả, phải ra đi một mình trong bóng đêm lẻ loi cô độc mà lại không biết đi về đâu, thế mà không biết suy tư, lo lắng hay sợ hãi gì cả. Thật là đau xót cho chúng ta!
Cái cần lo lại không chịu lo, cái cần suy ngẫm lại không suy ngẫm, cái cần sợ hãi lại không sợ hãi mà lại để tâm vào những chuyện nhỏ nhặt rồi tham sân si, làm khổ mình khổ người. Chúng ta đang làm chuyện vô nghĩa, giành sự hơn thua trong từng tiếng nói, ánh mắt, hành động để được nắm tro tàn, để được những dòng nước mắt, khi ra đi hai khóe mắt chảy ra vì tiếc nuối, hối hận, lo lắng, sợ hãi. Chúng ta phải có nhiều thời gian để chiêm nghiệm điều ý nghĩa thật sự của đời sống này là gì, không phải chỉ sanh ra rồi làm việc, ăn chơi, già cỗi và chết mà phải tìm ra ý nghĩa thật sự của đời sống này là gì.
Vô nghĩa, vô tình, trống rỗng là đời sống này. Mới thân đó rồi lại sơ đó, mới là bạn mà giờ thành thù, mới là vợ chồng vậy là giờ hận nhau, mới thương rồi lại ghét… Đó là sự vô thường của ngũ uẩn, đầy sự bất trắc, bất an, bất ổn. Vậy là cứ đau khổ, nắm chặt, lưu luyến, lúc nào cũng "tôi" và "của tôi" cho nên chúng ta phải thiền quán, tác ý, huấn luyện tâm thật nhiều, mới đậu xe chặn lối đi là lấy nùi giẻ nhúng xăng quăng vào làm chết mấy mạng người, ác tâm, sát hại, hại tâm thật ghê sợ, ngay hiện tại phải vào tù, sau khi chết phải xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Kẻ thù hại kẻ thù,
Oan gia hại oan gia,
Không bằng tâm hướng tà,
Gây ác cho tự thân.
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 42)
Kẻ thù hại kẻ thù, oan gia hại oan gia nhưng cái thật sự làm cho mình đau khổ là tâm hướng tà, tâm tà ác làm cho chúng sanh đau khổ vô lượng vô biên kiếp. Người thân trong gia đình ra đi mình cũng khóc lóc, buồn bã, ăn không ngon ngủ không yên nhưng thời gian sau tham ái, vô minh trở lại, không thức tỉnh mãnh liệt trước sự vô thường, biến hoại đó. Do vì nhìn thấy cảnh già, bệnh, chết mà Thái tử Tất-đạt-đa bị chấn động, suy tư mãi không quên được, phải tìm con đường thoát ra, ngài đi tìm cái không bị già, không bị bệnh, không bị chết.
“Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo không thiện xảo trong hành tướng tâm của người khác, thời cũng phải nguyện rằng: "Ta sẽ thiện xảo trong hành tướng tâm của ta". Như vậy, này chư Hiền, chư Hiền cần phải học tập.”
(Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V) Tổn Giảm)
Nếu không khéo léo trong việc hiểu sự vận hành tâm tư của người khác thì phải nguyện rằng mình sẽ khéo léo trong sự vận hành của tâm mình.
“Và này chư Hiền, thế nào là Tỳ-kheo thiện xảo trong hành tướng tâm của mình?
Ví như, này chư Hiền, một người đàn bà hay một người đàn ông, còn trẻ, trong tuổi thanh niên, tánh ưa trang điểm, quán sát hình ảnh mặt của mình trong tấm gương thanh tịnh trong sáng, hay trong một bát nước trong, nếu thấy trên mặt có hột bụi hay dấu nhớp gì, người ấy cố gắng đoạn trừ hột bụi hay dấu nhớp ấy. Nếu không thấy hột bụi hay dấu nhớp người ấy hoan hỉ thỏa mãn: "Thật lợi đắc cho ta! Ta thật là trong sạch!"”
(Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V) Tổn Giảm)
Đây là ví dụ soi gương tâm.
“ Cũng vậy, này chư Hiền, Tỳ-kheo có quán sát như vậy, được nhiều lợi ích trong các thiện pháp: "Có phải ta sống nhiều với không tham, không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với tâm không sân? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với hôn trầm thụy miên đã từ bỏ? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với không trạo cử? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với nghi ngờ đã được vượt qua? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với không phẫn nộ? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với tâm không nhiễm ô? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta có được nội tâm pháp hỷ? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta đã được nội tâm an chỉ? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta đã có được tối thắng tuệ pháp quán? Không biết trong ta có pháp này hay không có?"”
(Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V) Tổn Giảm)
Phải thường xuyên xem lại bản thân có tham nhiều không hay là không có tham. Hằng ngày xem lại mình có sống với tâm nóng giận nhiều không, nếu có phải tác ý quét rác, tẩy sạch, lau chùi như khi soi gương thấy gương mặt bị dơ phải biết lau chùi. Xem lại mình ngồi chỗ nào cũng lờ đờ, ngủ gục không, nếu có thì tác ý đánh đuổi. Xem mình có sống nhiều với trạo cử, sự dao động của thân và sự dao động của tâm, không có sự an tịnh, không cho mình ngồi yên một chỗ, nếu có phải đánh đuổi.
Có phải mình sống với nhiều nghi ngờ hay mình không có nghi ngờ, đây là năm triền cái. Phẫn nộ là giận dữ, dễ nổi giận, những cái tâm này rất dễ đọa lạc, chính vì vậy thanh quy của đạo tràng Nikāya là tâm hiền tịnh, tâm lắng dịu, dễ chịu, dễ thương đều nhằm mục đích để tâm tức giận lắng xuống vì người dễ phẫn nộ sẽ đi vào con đường súc sanh cho nên tâm hiền ngoan, dễ thương là dù có gì xảy ra cũng phải từ từ, không được nóng vội, thô tháo.
Không biết trong ta có nhiều niềm vui trong pháp không, nếu có thì phát huy, còn chưa có thì tưới tẩm để phát triển, lúc ngồi thiền hoặc học pháp mà kêu gọi hoan hỉ thì không thấy nhưng khi thấy có đồ ăn ngon là cười ngay, đó là cái hỷ liên hệ đến vật chất không phải là cái hỷ không liên hệ đến vật chất cho nên khi tu đến những tầng thiền cao cấp thì người này trú trong tâm hỷ, là người an lạc, không cần tìm những đối tượng, cảnh vật bên ngoài mà tự tâm người đó hỷ lạc trong pháp hỷ, trong ly dục sanh hỷ lạc hoặc trong trạng thái nội tâm an tịnh, còn mình chưa có cái hỷ này mà bắt ngồi thiền, nghe pháp nhiều là thấy khổ, còn đã có cái hỷ này thì có ngồi thiền hay nghe pháp nhiều bao lâu cũng thấy hỷ lạc.
Nội tâm an chỉ là trong tâm có sự dừng lặng, an là yên, chỉ là dừng, nghĩa là dừng yên, xem trong tâm mình có dừng yên không, nếu chưa có thì tập cho có, dừng yên ngay tại ba pháp: Nội tâm tỉnh giác, chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân. Tối thắng tuệ pháp quán là pháp quán tối thắng trí tuệ, tức là những thứ mà chúng ta đang học, quán tứ đại, ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn của một tử thi, quán vô ngã, vô thường, quán khổ… đây là tối thắng tuệ pháp quán, xem lại trong tâm mình có những pháp quán này không.
“Này chư Hiền, nếu vị Tỳ-kheo trong khi quán sát, không thấy có trong tự ngã tất cả thiện pháp này, thời Tỳ-kheo ấy cần phải quyết định ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác, để có được tất cả thiện pháp này. Ví như, này chư Hiền, khi khăn bị cháy hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác, để dập tắt khăn hay đầu bị cháy ấy.”
(Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V) Tổn Giảm)
Chúng ta đã nghe rất nhiều lần câu nói "Tu như lửa cháy đầu", câu nói đó xuất phát từ bài kinh Tổn giảm, Tăng Chi Bộ, tập IV. Nếu xem lại trong tâm không có những pháp đã nói ở trên, trong tâm còn năm triền cái, còn phẫn nộ, còn ô nhiễm, không có pháp hỷ, không an tịnh và không có tối thắng tuệ pháp quán thì mình phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác để được những thiện pháp đã nói ở trên. Giống như một người quấn khăn hay đội nón mà khăn và nón bị cháy thì người đó không thể ngồi yên mà phải dùng mọi cách dập lửa, cho nên Đức Phật nói khi cháy như vậy thì người này nhanh chóng, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối dập ngọn lửa đó lập tức để cứu mình.
“Cũng vậy, này chư Hiền, Tỳ-kheo ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dũng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác, để có được tất cả thiện pháp này.”
(Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V) Tổn Giảm)
Ngài Xá-lợi-phất nhắc lại lời của Đức Phật để dạy cho chúng ta.
“Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo trong khi quán sát, thấy trong tự ngã có một số thiện pháp và không thấy có một số thiện pháp, thời này chư Hiền, đối với các thiện pháp nào vị ấy thấy có trong tự ngã, vị ấy an trú trong các thiện pháp ấy. Đối với các thiện pháp nào, vị ấy không thấy có trong tự ngã, vị ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác để có được tất cả thiện pháp này. Ví như, này chư Hiền, khi khăn bị cháy hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác để dập tắt khăn hay đầu bị cháy ấy.”
(Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V) Tổn Giảm)
Tức là không có thiện pháp được đầy đủ mà chỉ có một phần nào đó thôi thì vẫn phải nỗ lực như lửa cháy trên đầu.
“Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo trong khi quán sát, thấy tất cả pháp này đều có trong tự ngã, thời này chư Hiền, Tỳ-kheo ấy sau khi an trú trong tất cả thiện pháp này, cần phải nỗ lực chú tâm để đoạn diệt các lậu hoặc.”
(Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V) Tổn Giảm)
Đức Phật và ngài Xá-lợi-phất không cho mình dừng lại ở chỗ nào hết, vì tuy có những pháp thiện rồi nhưng lậu hoặc vẫn còn, lậu hoặc là tầng sâu thẳm trong những lớp rất vi tế trong cảm thọ, chính nó mới có ra tham sân si, chấp ngã. Nghĩa là sau khi an trú trong thiện pháp thì vẫn cần phải nỗ lực chú tâm để đoạn diệt các lậu hoặc, đào sâu xuống cảm thọ để trừ diệt những hang ổ vi tế nhất phát sanh ra dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.
Mọi người cần soi gương nội tâm hằng ngày, hằng giờ để xem lại đã phá năm triền cái chưa, tâm phẫn nộ, ô nhiễm có hay không, nhiều hay ít, tiếp theo kiểm tra pháp hỷ có chưa, tâm an tịnh, dừng yên có làm được không, những pháp quán thâm sâu được Đức Phật dạy có hay không, được hay chưa, sâu hay cạn, thành tựu hay chưa thành tựu, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dũng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác, để có được tất cả thiện pháp này. Điều quan trọng là cần phải nhìn ra ngũ uẩn mới đọc được kinh, nếu không học nhận diện năm uẩn, không nhìn rõ được những cảm giác, nghĩ tưởng, rõ biết bên trong thì làm sao mình thấy ra hết những thứ này?
Cho nên điều đầu tiên cần nhận diện ngũ uẩn, sau đó mới đến quét dọn, lau chùi, tẩy rửa để căn nhà nội tâm sạch sẽ, từ đó mới có an bình thật sự. Hiện tại mình đang ở trong phạm trù của hiểm nguy và tất cả chúng sanh hữu tình đang bị nguy hiểm của tham sân si, vô minh, bản ngã nên mọi người cần cố gắng tinh tấn.
./.
SOI GƯƠNG RỬA MẶT LỬA CHÁY TRÊN ĐẦU 1
KINH TỔN GIẢM - TĂNG CHI BỘ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khéo léo trong tu học PAGEREF _Toc114152245 \h 1
II. Tổn giảm và không tổn giảm PAGEREF _Toc114152246 \h 2
I. Khéo léo trong tu học
Chúng ta tu học rất tích cực trong thời khóa, một ngày tu học đầy đủ tám tiếng. Bắt đầu lúc 7h30 nhưng đã tập trung trước 7h30 và chúng ta tu học liên tục suốt năm tiếng, buổi chiều bắt đầu từ 2h-5h, vậy là đủ tám tiếng, nếu khéo léo thì giờ nghỉ vẫn thực tập thì giờ tu được nhiều thêm, giờ nghỉ không phải là buông xả mà đó vẫn là giờ để hành trì, như vậy tổng cộng chúng ta tu học được khoảng mười tiếng, trong khóa tu chúng ta thực tập chánh niệm và tỉnh giác khoảng mười tiếng.
Thưa đại chúng, để sắp xếp được thời khóa không phải chuyện đơn giản, chúng ta phải nhớ không được cho ngồi liên tục ba bốn tiếng mà phải đổi oai nghi, Minh Thành chia sẻ kinh nghiệm cho những vị tự tu ở nhà cũng như khi vào đạo tràng hoặc các vị có trách nhiệm phải nhớ không cho ngồi liên tục ba bốn tiếng mà phải đổi oai nghi, vì khi ngồi liên tục như vậy thì người đó sẽ không tiếp nhận pháp được nữa hoặc tiếp nhận rất ít.
Sáng nay sau khi nghe pháp một tiếng rưỡi là chúng ta có thời đảnh lễ ngài Xá-lợi-phất, mọi người phải nhớ điều này vì không phải lúc nào chúng ta cũng đến dự khóa tu được và có khi trong khóa tu bận công việc không đến chùa được thì ở nhà tự lập thời khóa, ở đây có nhiều vị lớn tuổi thì mỗi ngày phải có thời khóa cho mình, có những vị tu giống như trong đạo tràng Nikāya.
Tu một mình cảm thấy khó khăn cho nên lực của chư Tăng Ni và các đạo hữu, các bậc đồng phạm hạnh cùng tu với nhau rất quan trọng, vì thế đến đạo tràng tu liên tục mười tiếng mà mình vẫn hỷ lạc, hân hoan là do sự khéo léo sắp xếp thời khóa. Bảy ngày các vị tu là Minh Thành đi ở ngoài để xem xét, cho nên khoảng thời gian ở giữa từ 2h-5h nên có chừng mười lăm phút để lễ lạy hoặc đi thiền hành, nếu không thì nên giãn cách thời gian một chút.
Các vị có lập một nhóm đạo tràng Nikāya để tu tập thì hãy nhớ điều này, phải có thiền hành, thiền tọa, lạy sám hối, nghe pháp và trình pháp, như vậy ngày tu rất phong phú, có nhiều thể loại sẽ không thấy chán ngán, không thấy mệt, tuy là tu học nhưng khéo léo thay đổi oai nghi để máu huyết lưu thông. Các vị lớn tuổi hoặc bệnh không thể ngồi thiền bằng bồ đoàn vì đau chân thì vẫn được ngồi ghế ở phía sau, có những vị không ngồi lâu được nhưng muốn đi tu nhưng không đi được vì ngại ngùng, mắc cỡ nên mình phải để ý những người đặc biệt.
Đức Phật nói rằng chúng ta phải nếm được vị ngọt của pháp, nếm được vị giải thoát của Giáo Pháp, chúng ta phải nếm được đích đến của Chánh Pháp nên ngoài việc khóc thì phải có những giây phút hỷ lạc, hai cái hỷ và ưu đó đều là thiện pháp, hai cái này đều thân cận thiện pháp, hỷ trong thiện pháp và ưu trong thiện pháp. Người bên ngoài nhìn vào sẽ thấy lạ vì tu mà khóc nhưng đó lại là những giọt nước mắt hạnh phúc.
Cái cười, cái vui ai cũng thích nhưng sự vui cười đó có phải là thiện pháp không mới là điều quan trọng, cho nên trong sự tu sanh ra được những cảm xúc sẽ rất tốt, còn tu mà cứ đơ ra, học ba tháng, sáu tháng, một năm vẫn trơ ra như khúc gỗ thì sự tu đó không đưa đến sự tăng thượng, hướng thượng trong thiện pháp. Vì thế đừng sợ khóc nhưng hãy khóc trong đạo tràng, khóc khi trình pháp, khi quán chiếu, khi thiền quán mà khóc thì hãy để cảm xúc bung ra, đó là sự vỡ òa những sự si mê, vô minh, bóng đêm và nay được đem đèn sáng vào bóng tối nên hãy cứ khóc.
II. Tổn giảm và không tổn giảm
Trong bài kinh Tổn giảm của Tăng Chi Bộ ngài Xá-lợi-phất đã nói như sau:
“Tôn giả Sàriputta nói như sau:
- Cho đến như thế nào, này chư Hiền, người bản tánh là tổn giảm được Thế Tôn nói đến?
Ở đây, này chư Hiền, Tỳ-kheo không nghe pháp chưa được nghe, và pháp đã được nghe đi đến bị quên; các pháp trước kia tâm đã có cảm xúc, những pháp ấy không được hiện hành, và không thức tri những pháp chưa được thức tri.”
(Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V) Tổn Giảm)
Ở đây ngài Xá-lợi-phất nhắc lại lời của Thế Tôn dạy về người có bản tánh tổn giảm và người có bản tánh không tổn giảm. Giảm là giảm xuống, tổn là hao tốn, là bị mất đi, tức là tu mà không được tăng thượng, phát triển còn bị hao mất. Người có bản tánh tổn giảm là người không nghe pháp chưa được nghe, nghe bao nhiêu đó đủ rồi, nghe vậy là thấy thỏa mãn rồi thì đó là người có bản tánh tổn giảm trong Chánh Pháp, không chịu nghe những điều chân chánh, chân thật, chân lý của Đức Phật giảng, Đức Phật gọi đệ tử của ngài là Đa văn Thánh đệ tử, Thánh là Đức Phật, đệ tử là chúng ta, đa văn là bậc nghe nhiều Chánh Pháp.
Người có bản tánh tổn giảm là pháp đã được nghe đi đến bị quên, tức là nghe xong rồi quên hết, lúc đầu học nhận diện năm uẩn kĩ nhưng sau một năm lại quên mất, nhận diện ba pháp thì lẫn lộn cho nên những pháp đã được nghe phải được ghi nhớ. Người không có bản tánh tổn giảm là tu tập được tăng thượng, thêm lên, được lớn mạnh phát triển trong Chánh Pháp cho nên chúng ta phải trả bài nhưng không giống trong trường, khi được yêu cầu nhận diện sân mà nếu có thực tập thì trả bài được ngay hoặc được yêu cầu nhận diện bản ngã khi sanh khởi ra sao thì đó là trả bài.
Cả sự tu tập của chúng ta đều nhằm mục đích nhiếp phục và đoạn tận dục tham ái, vô minh, bản ngã, sân hận nhưng nếu không thấy, không biết mặt mũi, tánh tình, sự hoạt động của nó thì làm sao nhiếp phục và đoạn tận nó? Cho nên chúng ta trả bài bằng cách thường xuyên nhận diện ngũ uẩn, thường xuyên trú trong cảm giác toàn thân.
Các pháp trước kia tâm đã có cảm xúc, những pháp ấy không được hiện hành nghĩa là ngày xưa nghe thì cảm nhận, cảm xúc, cảm động nhưng bây giờ nghe lại thì không có cảm xúc, đơ ra, đó là bị tổn giảm. Chúng ta cần phân biệt các dạng người, dạng thứ nhất là người không biết gì cả, chúng ta nói về tứ đại, ba mươi hai thể trược, tội lỗi của bản ngã làm đau khổ mà họ cho rằng những điều này không có sự liên quan đến họ thì dạng này không nói đến. Dạng người thứ hai là có biết, có nghe, có học.
Hạng thứ ba là nghe pháp thì xúc động, nước mắt tuôn trào, vỡ òa trước sự thật về những cảm thọ sân hận, bực bội, bốc cháy, những cảm giác bản ngã, ta đây, tham dục làm đau khổ mà đến giờ mới nhìn ra nó ở trong người, vừa đau đớn xót xa vừa hoan hỉ, đau đớn do bị hành hạ, chà đạp, đè đầu cưỡi cổ mình từ trẻ đến lớn, từ lớn đến già nhưng vui vì mình đã thấy được nó, lúc đó cảm thọ được khai mở, có khi tuôn trào ồ ạt, bản thân Minh Thành và có những vị cùng tu và thậm chí các Phật tử nước mắt tuôn trào khi nghe pháp, điều này rất tốt vì cảm thọ được khai thông nên đừng sợ, tức là mình không thể tưởng tượng được một sự thật bị che giấu từ nhiều đời và giờ đã được thấy.
Mọi người về nghe thêm bài "Với khổ, với ưu, nước mắt đầy mặt khóc than", vừa nghe vừa nhìn vào cảm thọ để huấn luyện tâm "mày tham muốn hoài đó, đã thấy khổ chưa". Tất cả tin tức trên thế giới này chỉ toàn là tham sân si, bản ngã, mình đừng xem cho có mà khi đọc hãy để từng câu từng chữ ngấm vào cảm thọ, sau đó mình nói chuyện với cảm thọ "Mày đã thấy cái dục, cái tham, cái ái hành hạ, chà đạp chúng sanh chưa".
Mỗi lần mình nghe, đọc, nghiền ngẫm và tác ý như vậy là mỗi lần cảm thọ của mình được mở ra như khai thông kinh mạch, cho nên khi tu mà đi đến tận cùng gọi là tâm giải thoát, tuệ giải thoát, còn giờ tâm không được giải thoát vì nó bị tham ái, tham muốn, ước mơ, ảo vọng trói cột rất kĩ.
Xin đừng đem dạ tưởng mà mơ
Trăm năm cuộc thế như cờ bị vây
Rút gươm huệ dứt dây tham ái
Kiếp tìm thầy cầu phái quy y.
Kiên trì ngũ giới tam quy,
Mở lòng từ nhẫn sân si phải chừa.
Sám Thảo Lư - Sám Hồi Tâm I (Tổ Huệ Đăng)
Phải biết quở trách tâm mình, trong kinh Pháp Cú Đức Phật cũng đã nói:
Tự mình chỉ trích mình,
Tự mình dò xét mình,
Tỳ-kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc.
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 379)
Đây cũng chính là Tứ Niệm Xứ, dò xét thân tâm, cảm thọ và dò xét trong nội tâm đang có ác bất thiện pháp hay là thiện pháp, đó là thân – thọ – tâm – pháp. Tự mình nhiếp phục mình, tự mình chế ngự mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình và mình sẽ được an lạc, còn buông lung phóng dật là khổ đau. Ai biết phòng hộ, hộ trì, bảo vệ, ai biết canh chừng, dò xét các căn thì người đó giảm đau khổ, bớt đau khổ và hết đau khổ, ngược lại sẽ đau khổ dài dài, đau khổ trong từng cái nhìn, cái nghe, cái nghĩ, cái làm, cái nói, ăn, nếm… cái nào cũng ở trong bóng đêm, ham muốn, nóng giận, si mê, bản ngã rồi lại tiếp tục đau khổ.
Cần phân biệt hai trạng thái, một người sau khi học pháp có những cảm xúc tột độ trào dâng thì người này vẫn tinh tấn tu học, sau đó cảm thọ này sẽ an tịnh, lắng dịu lại, còn một dạng người sau khi có cảm xúc lại thả lỏng, không tu học tinh tấn nữa thì cảm thọ đó bị mất luôn. Ngày xưa nghe vô thường, khổ thì xúc động, nước mắt tràn ra còn giờ nghe khổ lại thấy bình thường, đó là bị tổn giảm, có người nào tu lâu thấy mình bị tổn giảm không?
Cho nên chúng ta cần 'giữ lửa' tu học, ở nhà vẫn tu nhưng sẽ khác rất nhiều với khi mình đến chùa gặp quý thầy, quý cô, bạn đồng tu cho nên đừng để tổn giảm mà phải tăng thượng, hướng thượng. Điều cuối là không thức tri những pháp chưa được thức tri, tức là không rõ biết những pháp mà mình không được rõ biết, tức là không muốn biết thêm về ngũ uẩn nữa, học vậy đủ rồi, như vậy là tổn giảm trong thiện pháp, Thánh Pháp vì nhận diện ngũ uẩn không đơn thuần chỉ là nhận diện sắc; thọ; tưởng; hành; thức là xong mà nhận diện ngũ uẩn có rất nhiều cấp độ khác nhau, vì thế trong kinh Đức Phật nói vị nào liễu tri sắc; thọ; tưởng; hành; thức là vị đó Nhập Lưu Tu-đà-hoàn.
Bây giờ mình cũng biết ngũ uẩn rồi nhưng mình đã Nhập Lưu được chưa? Vì thế chữ "liễu tri", "tuệ tri", "thắng tri" trong đạo Phật rất thâm sâu, chúng ta chỉ mới biết bằng sự suy tưởng (tưởng tri), biết bằng tri thức, kiến thức, kinh nghiệm (thức tri), còn liễu tri, thắng tri, tuệ tri là biết bằng trí tuệ và cái biết đó thuận dòng, xuôi dòng và ngược dòng. Nhưng thuận dòng và xuôi dòng như thế nào? Chính là đi ngược dòng đời và thuận dòng đạo, ngược dòng mê và thuận dòng tỉnh, ngược dòng vô minh và thuận dòng minh trí của giác ngộ.
Vị nào đi vào dòng là vị này lúc nào cũng thấy sắc là vô thường, khổ, vô ngã, tất cả mọi cảm giác cũng thấy là vô thường, khổ, vô ngã, mọi sự suy tưởng, hình bóng, nhận thức đều biết nó là vô thường, khổ, vô ngã, không thay đổi cái biết đó mới gọi là Nhập Lưu, còn mình khi nghe, khi quán thì thấy là vô thường, khổ, vô ngã, còn khi hướng ngoại hoặc không có sự an trú trong pháp thì cái biết của mình bị thay đổi, như vậy là chưa thể nhập được trí tuệ.
Vì thế không thức tri những pháp chưa được thức tri, tức là không muốn biết những pháp mình chưa biết trong Chánh Pháp thì người này bị tổn giảm, ngược lại mình cần phải biết những điều chưa biết trong Chánh Pháp và cái biết khi thực tập kinh Nikāya này rất tuyệt diệu, tu học đi rồi sẽ thấy dòng cảm thọ trong người mình được thay đổi. Ngày xưa chưa tu pháp này thì thấy hội chợ, đám cưới, chợ hoa tết thì mình phấn khởi, hân hoan nhưng tu lâu dài thì cảm thọ chuyển biến theo chiều hướng thấy vui nhưng cái vui đó cũng đưa đến khổ, cũng tan nát, hoại diệt, héo tàn ở sâu trong cảm thọ, nhận thức, suy nghĩ của mình và từ từ mình thấy cuộc đời này không có gì đáng giá, không có gì có thể so sánh được Thánh Pháp tối thượng vi diệu này, chỉ có Thánh Pháp mới đưa đến hết khổ, ngoài ra tất cả những thứ còn lại chỉ toàn là tham sân si, chức quyền cao đến cỡ nào cũng chỉ thấy khổ đau, hôm nay đứng trên đỉnh cao nhưng ngày mai ở trong ngục tù, sắc đẹp vang danh khắp phương trời nhưng lại tự tử dù chỉ mới ngoài ba mươi tuổi, những người thành đạt, tiếng tăm lừng lẫy mà còn vậy thì huống hồ gì vô danh tiểu tốt, nhỏ bé như hạt bụi như mình thì như thế nào?
Cho nên mình phải nghe pháp rồi suy nghĩ, tác ý, sanh ra cảm thọ rồi trú trong đó. Trong cái ung nhọt chín lỗ này hằng ngày rỉ chảy phân và nước tiểu, nước bọt, mồ hôi, cứt ráy… và bao nhiêu những thứ bệnh hoạn đầy nguy hiểm, một người thanh niên bị giật mất ba lô chỉ trong tích tắc, đầy rẫy sự tham lam, sân hận, mẹ con, anh em, vợ chồng với nhau nhưng chỉ vì đồng tiền mà có thể lấy cả sinh mạng nhau, như vậy thì cuộc đời này còn tình nghĩ, tình thân gì nữa? Vì thế Minh Thành mới nói đời sống này là vô nghĩa, chồng chất những sự tham lam, sân hận, chấp ngã, bao trùm địa cầu này là bóng đêm của vô minh và tham ái. Phải nhìn thấy những điều này để mình xuyên thấu sự thật, không có gì đáng lưu luyến trên đời này.
Buổi trưa hôm nay khi ở trong phòng một mình, hình ảnh con đưa di hài mẹ vào lò thiêu hiện về. Minh Thành suy nghĩ "Tại sao lại đưa người mình thương yêu nhất đi hỏa thiêu? Đó là người thương yêu, quý trọng, ân nghĩa nhất trên đời mà nỡ lòng nào mình đưa vào lò thiêu?" Trống rỗng là đời sống này, sau này cũng sẽ đến lượt mình được đẩy vào như thế, họ quấn mình lại, buộc chặt mình rồi đóng chặt nắp quan tài, đưa mình ra huyệt mộ hoặc và lò thiêu.
Vì thế sanh ra để chết đi, ngoài điều này ra không có gì khác hơn nữa, ngọn lửa được đốt lên để đi đến chỗ tàn lụi, đóa hoa nở ra để rồi héo úa và con người sanh ra để rồi cuối cùng chấm dứt sanh mạng, nhưng ở chặng giữa từ sanh đến tử là một chặng dài chứa biết bao ác nghiệp, tội lỗi. Nếu không biết tu thì bóng đêm trùm lên bóng đêm, ác chồng lên ác, tội chồng lên tội, làm khổ mình khổ người thân, hại mình hại người, hành hạ mình hành hạ người.
Ngồi một mình là biết bao cảm giác, nghĩ tưởng bên trong hành hạ mình, khi nhớ lại quá khứ buồn giận hoặc yêu thương ai đó thì cảm giác đó lại giày xéo tâm can mình, chúng ta hãy thử hỏi đời sống này sanh ra để làm gì? Sanh ra để chạy tìm, cạnh tranh, đấu tranh, sanh ra để hơn thua, thị phi, soi mói người khác. Thật là đau khổ cho chúng ta! Đáng thương xót cho tâm ngu si này, cứ lặp tới lặp lui như vậy trong vô thỉ kiếp.
Ngay trong gia đình mình, vợ chồng, anh chị em, mẹ con, chỉ do ích kỉ, tham sân si mà chúng ta hành hạ nhau vì thế mỗi người một nỗi khổ, mỗi người một niềm đau nên hãy cùng nhau thấu hiểu, tha thứ lỗi cho nhau. Nếu không tu tập tâm hiền, tâm từ cho sung mãn sẽ rất khổ đau, mình ngồi đây ăn uống, nói năng nhưng chớp mắt thôi là chúng ta sẽ qua một đời sống khác, tất cả những gì mình tích lũy, gom góp, chất chứa, tất cả công danh sự nghiệp, những gì mình ái luyến, thương yêu chỉ trong tích tắc phải từ bỏ hết tất cả, phải ra đi một mình trong bóng đêm lẻ loi cô độc mà lại không biết đi về đâu, thế mà không biết suy tư, lo lắng hay sợ hãi gì cả. Thật là đau xót cho chúng ta!
Cái cần lo lại không chịu lo, cái cần suy ngẫm lại không suy ngẫm, cái cần sợ hãi lại không sợ hãi mà lại để tâm vào những chuyện nhỏ nhặt rồi tham sân si, làm khổ mình khổ người. Chúng ta đang làm chuyện vô nghĩa, giành sự hơn thua trong từng tiếng nói, ánh mắt, hành động để được nắm tro tàn, để được những dòng nước mắt, khi ra đi hai khóe mắt chảy ra vì tiếc nuối, hối hận, lo lắng, sợ hãi. Chúng ta phải có nhiều thời gian để chiêm nghiệm điều ý nghĩa thật sự của đời sống này là gì, không phải chỉ sanh ra rồi làm việc, ăn chơi, già cỗi và chết mà phải tìm ra ý nghĩa thật sự của đời sống này là gì.
Vô nghĩa, vô tình, trống rỗng là đời sống này. Mới thân đó rồi lại sơ đó, mới là bạn mà giờ thành thù, mới là vợ chồng vậy là giờ hận nhau, mới thương rồi lại ghét… Đó là sự vô thường của ngũ uẩn, đầy sự bất trắc, bất an, bất ổn. Vậy là cứ đau khổ, nắm chặt, lưu luyến, lúc nào cũng "tôi" và "của tôi" cho nên chúng ta phải thiền quán, tác ý, huấn luyện tâm thật nhiều, mới đậu xe chặn lối đi là lấy nùi giẻ nhúng xăng quăng vào làm chết mấy mạng người, ác tâm, sát hại, hại tâm thật ghê sợ, ngay hiện tại phải vào tù, sau khi chết phải xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Kẻ thù hại kẻ thù,
Oan gia hại oan gia,
Không bằng tâm hướng tà,
Gây ác cho tự thân.
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 42)
Kẻ thù hại kẻ thù, oan gia hại oan gia nhưng cái thật sự làm cho mình đau khổ là tâm hướng tà, tâm tà ác làm cho chúng sanh đau khổ vô lượng vô biên kiếp. Người thân trong gia đình ra đi mình cũng khóc lóc, buồn bã, ăn không ngon ngủ không yên nhưng thời gian sau tham ái, vô minh trở lại, không thức tỉnh mãnh liệt trước sự vô thường, biến hoại đó. Do vì nhìn thấy cảnh già, bệnh, chết mà Thái tử Tất-đạt-đa bị chấn động, suy tư mãi không quên được, phải tìm con đường thoát ra, ngài đi tìm cái không bị già, không bị bệnh, không bị chết.
“Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo không thiện xảo trong hành tướng tâm của người khác, thời cũng phải nguyện rằng: "Ta sẽ thiện xảo trong hành tướng tâm của ta". Như vậy, này chư Hiền, chư Hiền cần phải học tập.”
(Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V) Tổn Giảm)
Nếu không khéo léo trong việc hiểu sự vận hành tâm tư của người khác thì phải nguyện rằng mình sẽ khéo léo trong sự vận hành của tâm mình.
“Và này chư Hiền, thế nào là Tỳ-kheo thiện xảo trong hành tướng tâm của mình?
Ví như, này chư Hiền, một người đàn bà hay một người đàn ông, còn trẻ, trong tuổi thanh niên, tánh ưa trang điểm, quán sát hình ảnh mặt của mình trong tấm gương thanh tịnh trong sáng, hay trong một bát nước trong, nếu thấy trên mặt có hột bụi hay dấu nhớp gì, người ấy cố gắng đoạn trừ hột bụi hay dấu nhớp ấy. Nếu không thấy hột bụi hay dấu nhớp người ấy hoan hỉ thỏa mãn: "Thật lợi đắc cho ta! Ta thật là trong sạch!"”
(Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V) Tổn Giảm)
Đây là ví dụ soi gương tâm.
“ Cũng vậy, này chư Hiền, Tỳ-kheo có quán sát như vậy, được nhiều lợi ích trong các thiện pháp: "Có phải ta sống nhiều với không tham, không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với tâm không sân? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với hôn trầm thụy miên đã từ bỏ? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với không trạo cử? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với nghi ngờ đã được vượt qua? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với không phẫn nộ? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với tâm không nhiễm ô? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta có được nội tâm pháp hỷ? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta đã được nội tâm an chỉ? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta đã có được tối thắng tuệ pháp quán? Không biết trong ta có pháp này hay không có?"”
(Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V) Tổn Giảm)
Phải thường xuyên xem lại bản thân có tham nhiều không hay là không có tham. Hằng ngày xem lại mình có sống với tâm nóng giận nhiều không, nếu có phải tác ý quét rác, tẩy sạch, lau chùi như khi soi gương thấy gương mặt bị dơ phải biết lau chùi. Xem lại mình ngồi chỗ nào cũng lờ đờ, ngủ gục không, nếu có thì tác ý đánh đuổi. Xem mình có sống nhiều với trạo cử, sự dao động của thân và sự dao động của tâm, không có sự an tịnh, không cho mình ngồi yên một chỗ, nếu có phải đánh đuổi.
Có phải mình sống với nhiều nghi ngờ hay mình không có nghi ngờ, đây là năm triền cái. Phẫn nộ là giận dữ, dễ nổi giận, những cái tâm này rất dễ đọa lạc, chính vì vậy thanh quy của đạo tràng Nikāya là tâm hiền tịnh, tâm lắng dịu, dễ chịu, dễ thương đều nhằm mục đích để tâm tức giận lắng xuống vì người dễ phẫn nộ sẽ đi vào con đường súc sanh cho nên tâm hiền ngoan, dễ thương là dù có gì xảy ra cũng phải từ từ, không được nóng vội, thô tháo.
Không biết trong ta có nhiều niềm vui trong pháp không, nếu có thì phát huy, còn chưa có thì tưới tẩm để phát triển, lúc ngồi thiền hoặc học pháp mà kêu gọi hoan hỉ thì không thấy nhưng khi thấy có đồ ăn ngon là cười ngay, đó là cái hỷ liên hệ đến vật chất không phải là cái hỷ không liên hệ đến vật chất cho nên khi tu đến những tầng thiền cao cấp thì người này trú trong tâm hỷ, là người an lạc, không cần tìm những đối tượng, cảnh vật bên ngoài mà tự tâm người đó hỷ lạc trong pháp hỷ, trong ly dục sanh hỷ lạc hoặc trong trạng thái nội tâm an tịnh, còn mình chưa có cái hỷ này mà bắt ngồi thiền, nghe pháp nhiều là thấy khổ, còn đã có cái hỷ này thì có ngồi thiền hay nghe pháp nhiều bao lâu cũng thấy hỷ lạc.
Nội tâm an chỉ là trong tâm có sự dừng lặng, an là yên, chỉ là dừng, nghĩa là dừng yên, xem trong tâm mình có dừng yên không, nếu chưa có thì tập cho có, dừng yên ngay tại ba pháp: Nội tâm tỉnh giác, chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân. Tối thắng tuệ pháp quán là pháp quán tối thắng trí tuệ, tức là những thứ mà chúng ta đang học, quán tứ đại, ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn của một tử thi, quán vô ngã, vô thường, quán khổ… đây là tối thắng tuệ pháp quán, xem lại trong tâm mình có những pháp quán này không.
“Này chư Hiền, nếu vị Tỳ-kheo trong khi quán sát, không thấy có trong tự ngã tất cả thiện pháp này, thời Tỳ-kheo ấy cần phải quyết định ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác, để có được tất cả thiện pháp này. Ví như, này chư Hiền, khi khăn bị cháy hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác, để dập tắt khăn hay đầu bị cháy ấy.”
(Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V) Tổn Giảm)
Chúng ta đã nghe rất nhiều lần câu nói "Tu như lửa cháy đầu", câu nói đó xuất phát từ bài kinh Tổn giảm, Tăng Chi Bộ, tập IV. Nếu xem lại trong tâm không có những pháp đã nói ở trên, trong tâm còn năm triền cái, còn phẫn nộ, còn ô nhiễm, không có pháp hỷ, không an tịnh và không có tối thắng tuệ pháp quán thì mình phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác để được những thiện pháp đã nói ở trên. Giống như một người quấn khăn hay đội nón mà khăn và nón bị cháy thì người đó không thể ngồi yên mà phải dùng mọi cách dập lửa, cho nên Đức Phật nói khi cháy như vậy thì người này nhanh chóng, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối dập ngọn lửa đó lập tức để cứu mình.
“Cũng vậy, này chư Hiền, Tỳ-kheo ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dũng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác, để có được tất cả thiện pháp này.”
(Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V) Tổn Giảm)
Ngài Xá-lợi-phất nhắc lại lời của Đức Phật để dạy cho chúng ta.
“Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo trong khi quán sát, thấy trong tự ngã có một số thiện pháp và không thấy có một số thiện pháp, thời này chư Hiền, đối với các thiện pháp nào vị ấy thấy có trong tự ngã, vị ấy an trú trong các thiện pháp ấy. Đối với các thiện pháp nào, vị ấy không thấy có trong tự ngã, vị ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác để có được tất cả thiện pháp này. Ví như, này chư Hiền, khi khăn bị cháy hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác để dập tắt khăn hay đầu bị cháy ấy.”
(Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V) Tổn Giảm)
Tức là không có thiện pháp được đầy đủ mà chỉ có một phần nào đó thôi thì vẫn phải nỗ lực như lửa cháy trên đầu.
“Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo trong khi quán sát, thấy tất cả pháp này đều có trong tự ngã, thời này chư Hiền, Tỳ-kheo ấy sau khi an trú trong tất cả thiện pháp này, cần phải nỗ lực chú tâm để đoạn diệt các lậu hoặc.”
(Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V) Tổn Giảm)
Đức Phật và ngài Xá-lợi-phất không cho mình dừng lại ở chỗ nào hết, vì tuy có những pháp thiện rồi nhưng lậu hoặc vẫn còn, lậu hoặc là tầng sâu thẳm trong những lớp rất vi tế trong cảm thọ, chính nó mới có ra tham sân si, chấp ngã. Nghĩa là sau khi an trú trong thiện pháp thì vẫn cần phải nỗ lực chú tâm để đoạn diệt các lậu hoặc, đào sâu xuống cảm thọ để trừ diệt những hang ổ vi tế nhất phát sanh ra dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.
Mọi người cần soi gương nội tâm hằng ngày, hằng giờ để xem lại đã phá năm triền cái chưa, tâm phẫn nộ, ô nhiễm có hay không, nhiều hay ít, tiếp theo kiểm tra pháp hỷ có chưa, tâm an tịnh, dừng yên có làm được không, những pháp quán thâm sâu được Đức Phật dạy có hay không, được hay chưa, sâu hay cạn, thành tựu hay chưa thành tựu, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dũng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác, để có được tất cả thiện pháp này. Điều quan trọng là cần phải nhìn ra ngũ uẩn mới đọc được kinh, nếu không học nhận diện năm uẩn, không nhìn rõ được những cảm giác, nghĩ tưởng, rõ biết bên trong thì làm sao mình thấy ra hết những thứ này?
Cho nên điều đầu tiên cần nhận diện ngũ uẩn, sau đó mới đến quét dọn, lau chùi, tẩy rửa để căn nhà nội tâm sạch sẽ, từ đó mới có an bình thật sự. Hiện tại mình đang ở trong phạm trù của hiểm nguy và tất cả chúng sanh hữu tình đang bị nguy hiểm của tham sân si, vô minh, bản ngã nên mọi người cần cố gắng tinh tấn.
./.