Kinh Nikāya Giảng Giải - Thánh Tăng Khuyến Tấn - Gương Sáng Thánh Tăng Maha Kassapa
Kinh Nikāya Giảng Giải
Thánh Tăng Khuyến Tấn
Gương Sáng Thánh Tăng Maha Kassapa
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hạnh tri túc PAGEREF _Toc179556915 \h 1
II. Trí tuệ xuất ly PAGEREF _Toc179556916 \h 3
III. Tứ Chánh Cần PAGEREF _Toc179556917 \h 9
IV. Luôn an trú dè dặt PAGEREF _Toc179556918 \h 14
V. Không dính mắc với cư sĩ PAGEREF _Toc179556919 \h 19
I. Hạnh tri túc
Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta tìm hiểu tiếp về phần xuất gia phản tỉnh với chủ đề gương sáng Thánh Tăng, Tương Ưng Bộ kinh, tập II, Thiên Nhân Duyên, chương V, Tương Ưng Kassapa, tức là ngài Ma-ha Ca-diếp.
Đức Phật nói với ngài Ca-diếp đối với bất cứ loại y nào ngài cũng luôn biết đủ, bằng lòng, hài lòng, ngài vừa lòng và khen ngợi hạnh biết đủ đối với bất cứ loại y nào. Không vì y áo mà làm điều bất chánh, bất xứng, nếu không được y thì ngài không dao động, nếu được y thì ngài dùng y mà không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.
"-- Tri túc, này các Tỳ-kheo, là Kassapa này, với bất cứ loại y nào, và tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại y nào; không vì y làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được y, vị này không có dao động. Và nếu được y, vị này dùng y không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), I. Tri Túc)
Đối với bất cứ loại y nào ngài cũng biết đủ, mình liên hệ cái hạnh này của ngài đến đời sống của mình. Khi mình được Phật tử cho y áo hoặc là khúc vải thì đối với bất cứ loại vải nào mình cũng phải biết đủ chứ mình không có so sánh huynh kia được vải tốt, còn mình vải xấu.
"Tri túc, này các Tỳ-kheo, là Kasssapa này, với bất cứ đồ ăn khất thực nào, tán thán hạnh tri túc với bất cứ đồ ăn khất thực nào; không vì đồ ăn khất thực, làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được đồ ăn khất thực, vị này không có dao động. Và nếu được đồ ăn khất thực, vị này dùng đồ ăn khất thực ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), I. Tri Túc)
Đức Phật nói thêm đối với bất cứ loại đồ ăn khất thực nào ngài Ca-diếp cũng biết đủ, không vì đồ ăn nước uống mà làm điều bất chánh, bất xứng, không xứng đáng. Nếu không được đồ ăn khất thực thì tâm không dao động, nếu được đồ ăn khất thực thì không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.
"Tri túc, này các Tỳ-kheo, là Kassapa này, với bất cứ loại sàng tọa nào, và tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại sàng tọa nào; và không vì sàng tọa, làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được sàng tọa, vị này không có dao động. Và nếu được sàng tọa, vị này dùng sàng tọa ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), I. Tri Túc)
Sàng tọa là gường chõng, ghế gường. Đối với bất cứ loại gường ghế nào cũng biết đủ.
"Tri túc, này các Tỳ-kheo, là Kassapa này, với bất cứ thuốc men trị bệnh nào. Và vị này tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào; và không vì duyên với thuốc men trị bệnh, làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được thuốc men trị bệnh, vị này không có dao động. Và nếu được thuốc men trị bệnh, vị này dùng thuốc men trị bệnh ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), I. Tri Túc)
Đối với bất cứ thuốc men trị bệnh nào cũng vậy, đây là tứ sự cúng dường. Đây là bốn thứ mà mình thường được nhận lãnh, thường được Phật tử cúng dường, tức là ăn, mặc, gường chõng là chỗ ở và thuốc men trị bệnh. Tại sao đối với thuốc men cũng phải biết đủ? Khi mình nhận thuốc men lúc bệnh cũng phải có chánh niệm tỉnh giác chứ không phải nghĩ rằng bệnh rồi là hết tu, nếu không được thuốc thì tâm cũng không dao động, nếu được thuốc tốt, thuốc quý cũng không tham lam, say đắm trong đó. Mình bệnh thì Phật tử hay tin rồi nấu cái này cái kia cho mình ăn, đem sữa cho mình uống, mình nghĩ mình bệnh thì họ đem đồ ăn, thức uống hay thuốc cho là chuyện bình thường, lúc đó mình không quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trong pháp.
Khi xưa có một thầy tu rất nổi tiếng về đức hạnh, có năng lực đặc biệt, thầy ở trên núi cao một mình. Có cô Phật tử tới lui chăm lo, bất ngờ thầy bệnh lại ở trên núi cao nên được cô này cạo gió cho, thế là cạo gió một thời gian là thầy này hoàn tục, đó là phải thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ. Đối với Ni cũng vậy, có những Phật tử nam tội nghiệp sư cô, thấy thương sư cô, thấy quý sư cô.
Hôm nay mình thấy được đức hạnh của ngài Ca-diếp, thấy được ngài tu như thế nào, dù cho được bất cứ loại y nào, bất cứ loại vải nào, loại áo nào, loại khăn, nón nào, ngày xưa ở Ấn Độ không có những cái này nhưng bây giờ có thì phải nói rộng ra nữa. Áo thun, áo lạnh, áo gió, y hậu, nón, khăn, tất vớ… tất cả những cái đó phải biết đủ, phải thấy được mục đích, công năng, tác dụng của những thứ đó là gì, chỉ là che đậy thân thể cho khỏi nắng táp mưa sa, chỉ là che đậy sự xấu hổ. Mục đích của nó chỉ có vậy thôi, áo ấm để ngăn cái lạnh, tất cả mọi loại y phục, quần áo, khăn, nón, tất vớ, áo ấm, áo thun đều phải sử dụng với mục đích là che đậy, giữ ấm, ngoài ra không có gì khác, những thứ này phải phục vụ cho ly tham, cho xuất ly, phục vụ cho Thánh đạo, Thánh trí, đó là người trí sử dụng tứ sự cúng dường.
II. Trí tuệ xuất ly
Khi mình được cúng nhiều thì mình phải thí xả, không được chất chứa, không được tích lũy, mình đã học trí năm uẩn thì phải tổn giảm chứ không cho tăng trưởng những món đồ vật chất này, xả ly chứ không cho tích lũy, từ bỏ chứ không chấp thủ đối với sắc uẩn, sắc pháp, bây giờ là tất cả sàng tọa, gường chõng, nói rộng ra là phòng ốc. Minh Thành có đi thăm một ngôi chùa của một thầy trụ trì cũng là huynh đệ, thầy mời Minh Thành ngồi trên bộ salon, thầy nói rằng salon này chỉ có hai bộ thôi, một bộ là của một vị nào đó lớn lắm, một bộ ở trong chùa này, toàn quốc chỉ có hai bộ thôi, rất mắc tiền.
Con ngồi cũng cười và nói rằng tốt lắm nhưng trong lòng thật sự xót xa, đó không phải là tâm của người tu, phải biết đủ đối với tất cả loại bàn ghế, gường chõng, phòng ốc, không được những thứ này thì tâm cũng không được dao động, còn nếu được cũng không tham lam, không say đắm, không phạm tội, phải quán nguy hại, quán xuất ly, hai cái này là cực kì quan trọng vì không có hai cái này là không phải người tu.
Phải thấy nguy hại và quán xuất ly với trí tuệ đối với mọi thứ, phải thấy hiểm họa trong tấm y gấm, phải thấy tai nạn trong khúc vải đẹp này, phải thấy mầm móng sa đọa trong chiếc áo đẹp này, dục sanh khởi, tham sanh khởi, sự chấp thủ vào năm uẩn sanh khởi, như vậy là đau khổ sanh khởi, sầu, bi, ưu, não sanh khởi. Những bậc Thánh Tăng họ tu như vậy đó, thấy nguy hại và quán xuất ly với trí tuệ đối với tất cả món ăn, tất cả y áo, tất cả gường chõng, tất cả phòng ốc và tất cả thuốc men vật dụng.
Ba mẹ hoặc chị con thương con rồi đem cho đồ ăn buổi chiều là con không đồng ý, đó không phải thương, đó là thương của phàm phu vì không biết gì cả, con nhập thất mà đưa đồ ăn vào nhiều con cũng mệt lắm, không ăn thì bỏ hư, còn ăn thì ngồi thiền không được cho nên có những khi đem đồ ăn buổi trưa thôi mà ăn đến chiều, đến sáng mai cũng không hết đồ ăn, người ngoài thấy đó là vui nhưng người tu thấy đó là khổ vì thế chỉ có người tu hiểu cho nhau, cho nên không phải lúc nào con cũng nói, có những cái con nói, có những cái con không nói. Thành ra, để tâm, ưa thích, tham đắm trong những thứ vật chất sinh hoạt đời thường là sự lui sụp, thốt thất, thối đọa của người xuất gia.
Một người không tinh vi, không cẩn trọng, không sâu sắc thì không thể thực tập được những cái này. Khi mình nhận một món ăn, một y áo, một cái gường, ghế, khi mình nhận thuốc, sữa, ngũ cốc dinh dưỡng thì mình phải rà soát tâm mình để xem có ưa thích không những với món đồ mà còn phải xem coi có ưa thích đối với người đem cho món đồ đó không, vì sẽ sanh ra phàm tình, thân với người này hơn những người kia, người nào lo cho mình nhiều thì mình sẽ có tình cảm, sẽ thiên vị hơn những người khác, đó là phàm tình.
Nếu người đó có tu học thì mình sẵn sàng chia sẻ pháp nhiều hơn những người khác vì đương nhiên thân cận thì họ sẽ được nghe pháp nhiều hơn, được hướng dẫn nhiều hơn nhưng cái gì cũng phải có chừng mực, không quá đà nhận anh em, chị em hoặc là cha nuôi, mẹ nuôi. Trong Phật pháp không có những cái này nhưng người xuất gia bị vướng cái này rất nhiều, Phật tử nào tới lui lo nhiều thì nhận là mẹ nuôi trong khi cha mẹ ruột lại bỏ, đó là chuyện cực kì sai quấy nặng đối với cha mẹ của mình, chưa biết người đó đến với mình vì mục đích gì, mình có đủ trí huệ để nhìn ra tâm tư của họ không, họ đến vì pháp hay vì tình cảm, hay vì danh vị, danh vọng.
Có nhiều người thích có sư phụ chức lớn, danh tiếng cho nên mình phải có trí soi rọi vào đó, rà soát tất cả mới tìm ra được lậu hoặc chứ không phải tu rồi ngơ ngơ, không phải tu rồi trở thành vô tư, ngáo ngơ, bên ngoài nhìn hiền nhưng bên trong soi thấu tâm can không có kẽ hở, như vậy mới gọi là bậc pháp nhãn, bậc minh nhãn, kiến đạo. Tuy rằng mình chưa sạch hết lậu hoặc nhưng những gì sanh khởi lên phải thấy, phải biết, phải kiểm tra, dè chừng, đề phòng thì mới gọi là đang tu tập Thánh đạo, ngược lại chỉ là kẻ vô văn phàm phu dù cho hình thức là tu sĩ vì không hướng đến xuất ly, không thấy được tính nguy hại, không quán xuất ly với trí tuệ thì sao được gọi là người tu.
Nguy hại là dục sanh khởi, ái sanh khởi đối với mấy món đồ, tham sanh khởi, bản ngã sanh khởi khi lên mặt, ta đây vì được cúng dường nhiều hơn người khác, ta đây có phước đức hơn, ta đây cúng nhiều còn những người kia không được cúng. Cái này đã được ghi trong Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính rất nhiều, đọc vào rất khiếp đảm, Đức Phật ví dụ rất sợ, những từ đó ngày xưa đã là nặng rồi cho nên bây giờ phải tác ý thật mạnh mẽ giống như vậy. Đức Phật nói con giòi ở trong đống phân này rồi nhìn sang những con giòi khác thì nói rằng tụi nó ở trong đống phân nhỏ hơn mình hoặc là lên mặt ta đây có đống phân to còn tụi bây không có, đối với người xuất gia cũng vậy, tự cho mình có phước đức nhiều, được cúng dường nhiều hơn người khác cũng giống như những con giòi.
"-- Khổ lụy, này các Tỳ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
Ví như, này các Tỳ-kheo, một con trùng phẩn, ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt có một đống phân lớn.
Nó khinh miệt các con trùng phẩn khác và nói: 'Ta ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt ta, có đống phân lớn này'.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, có Tỳ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào làng hay thị trấn để khất thực. Vị ấy tại đây đã ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát của vị ấy được tràn đầy.
Vị ấy đi đến ngôi vườn (tịnh xá) và giữa chúng Tỳ-kheo khoe khoang như sau: 'Ta ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát này của ta tràn đầy. Ta nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bịnh. Nhưng các Tỳ-kheo khác công đức ít, ảnh hưởng ít, không nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh'.
Vị ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, khinh miệt các Tỳ-kheo chánh hạnh khác. Này các Tỳ-kheo, như vậy sẽ đem lại bất hạnh, đau khổ lâu dài cho kẻ ngu si ấy". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Ðắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, V. Trùng Phẩn)
Cho nên chỉ có Thánh trí mới từ từ cách ly được phàm tình, không nghe Thánh trí, không chiêm nghiệm Thánh trí, không tu tập Thánh trí, không phát huy Thánh trí, không sống bằng Thánh trí thì cái phàm tình của mình không giảm thiểu, chỉ sống bằng phàm tình với vô minh và tham ái, cái gì cũng dính mắc. Có khi nhiều người nghĩ rằng thầy không thương mình nhưng thực ra thầy thương còn hơn mình tưởng nhưng thương bằng Thánh trí, trong khi mình lại muốn thương theo kiểu phàm tình, còn thầy thương theo kiểu đó thì thất bại.
Nếu mình quan tâm theo kiểu thông thường, thân cận ngọt ngào thì chết cả thầy lẫn trò, trừ bậc Nhị quả, Tam quả hoặc Tứ quả Thánh nhân, đó là những bậc tham sân muội lược, sạch hết tham, sân, si, còn những quả vị thấp thì vẫn còn tham, sân, si cho nên tối thiểu phải Dự Lưu Thánh quả thì mới thấy cái nào là ái, cái nào là từ, nếu không là lẫn lộn hết, mình cứ nghĩ là từ tâm nhưng thật ra là ái luyến cho nên phải cẩn thận.
Câu tuyệt diệu là không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ, dù được những cái ngon, cái tốt, cái quý cũng phải thấy sự nguy hại trong những cái đó và quán xuất ly với trí tuệ. Bất cứ cái nào có dục, tham, ái thì cái đó là nguy hiểm, là tai hại, là hiểm họa, sống với tâm đó thì mới được an ổn, nhìn cái gì trong ngũ uẩn lục trần cũng thấy tai họa trong đó.
Thích chạy xe xuống núi thì đó là nguy hiểm, thích cô bán rau là nguy hiểm, ngồi thiền thấy hiện ra gương mặt cô dễ thương, khả ái là nguy hiểm, phải phát hiện ra dục, tham, ái sâu sắc trong cảm thọ. Đối với món đồ cũng vậy, gường chõng cũng vậy, y áo cũng vậy, tập thí xả bất cứ lúc nào, con thường thí xả những món đồ quý nên con mới vào được dòng Thánh pháp này. Có một thầy ở Thường Chiếu, khi thầy vào phòng của con ở Bửu Liên, lúc đó con chưng hạt châu bằng pha lê trong suốt, ở dưới có bông sen đỡ hạt châu đó, thầy đó thấy thì nói cho thầy nên con nói "nếu thầy thích thì con cúng dường thầy", trong bụng mình cũng thấy tiếc chứ không phải là không nhưng đang tập thí xả nên cho luôn.
Những món đồ Phật tử cúng dường quý con không dùng mà để cúng dường cho các Hòa Thượng lớn hoặc những vị mà mình thấy đúng là đem ra cúng. Một người làm tượng Phật tạc tượng Thích-ca Mâu-ni bằng gỗ đẹp vô cùng, con rất hài lòng, ưng ý nhưng khi gặp cô Toàn chuẩn bị về Pháp thì con tặng cô, khi đó cô đã giới thiệu về pháp nhưng con chưa vào. Thường thì con có hai nguyện tuy chưa làm viên mãn nhưng vẫn cố gắng làm, thứ nhất là gặp bất cứ ai khổ cũng phải giúp đỡ dù nhiều hay ít, lúc kẹt không có thì thôi nhưng có tiền là cho, thứ hai là cho những đồ quý giá của mình, đem bố thí, cúng dường hết.
Không được để cho mình mất phước cho nên phải tập thí xả, mỗi lần con cúng dường cho ai là con sẽ được người khác cúng dường lại gấp hai, gấp ba lần. Con không có ý là cúng để được người khác cúng lại nhiều hơn cho mình, cũng như chùa Hoằng Pháp xây chi nhánh hay tòa nhà đa năng gì đó, con về thăm thầy trụ trì thì nghe như vậy, con nghĩ rằng từ mái chùa này giúp cho mình có cơ hội chia sẻ chánh pháp đến mọi người, từ ngôi chùa này mà mọi người biết mình tuyên giảng giáo pháp, không có ngôi chùa này thì mình có giảng 20 năm cũng không ai biết, từ ngôi chùa đó thì Phật tử mới biết rồi mới hỗ trợ Linh Quy Pháp Ấn cho nên con nhớ ơn chùa Hoằng Pháp, dù cho chùa đó rất lớn và Phật tử ở đó rất đông, mình ở đây chẳng là gì cả nhưng con vẫn cúng dường cho chùa 50 triệu. Con đưa tiền thì thầy trụ trì từ chối, bảo giữ tiền lo xây cất trên Linh Quy, con bảo rằng chưa xây, chừng nào xây thì tính, còn ở đây đang xây nên cho con tùy hỷ một chút phước báo, ân đức của sư phụ trên mái chùa này, con cúng như vậy thì về vài hôm sau con được cúng lại gấp 2-3 lần như vậy.
Mình phải tập thí xả, bố thí, cúng dường thật nhiều và tập cho những cái khó cho, chính vì vậy từ am tranh mà ra gần cả núi, con không mong cầu mà tự động như vậy. Tất cả mọi cái trên cuộc đời này đều có nhân quả, điều đặc biệt là có phước nhưng không tham đắm cái phước, cái này mới thành trí huệ. Không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ thì cái phước đó tăng trưởng thành vô lậu, còn làm phước mà chấp vào cái phước đó, bị say đắm trong đó thì cái phước đó thành tai họa, nguy hại, chính vì vậy mình vẫn làm phước, tích lũy phước, bòn phước, làm tăng trưởng phước nhưng những cái phước đó nhằm đầu tư cho trí tuệ nhàm chán, ly tham, xuất ly và đoạn diệt, đây là chỗ thâm sâu của Thánh trí.
Không phải không làm phước, bảo rằng "giờ tôi tu dứt ngũ uẩn nên không cần phước nữa nên kêu tôi làm phước chi nữa", hoàn toàn sai lầm, không có phước sẽ bị chướng ngại không tu được, vài bữa là bệnh, bị què chân ngồi thiền không được, vài bữa gia đình có chuyện bắt phải về lo, xảy ra đủ thứ chuyện, người nào thiếu phước, vô phước, không có phước là tu không được cho nên muốn ngồi thiền hoặc nghe pháp thông thường thôi cũng phải tích lũy rất nhiều phước đức, đừng nói gì thấy được Thánh pháp này là phải tích lũy vô lượng vô biên phước trí trong quá khứ, không phải là chuyện đơn giản.
Một người chịu quy y tam bảo thôi là cả một vấn đề chứ đừng nói gì một người chịu ở trong chùa hằng tháng để tu tập, đừng nói chi tập sự xuất gia, đừng nói chi là xuất gia, đừng nói chi xuất gia dám bỏ thành thị chịu ở trong núi cao hẻo lánh, đừng nói gì gặp được Thánh pháp, đừng nói gì vào sâu trong Thánh pháp đánh phá thẳng trực diện vào tham dục, sân si, vô minh, bản ngã, từ bỏ ngũ uẩn thì còn khủng khiếp đến nỗi nào. Phải quán chiếu như vậy để thấy rằng không phải dễ để gặp được Thánh pháp, càng không phải dễ để thâm nhập vào đó để mình không được xem thường những phước đức trí tuệ mình đã vun bồi cho đến ngày nay. Thành ra, học được những cái này rất hay và tuyệt vời.
"Do vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học tập như sau: 'Chúng tôi sẽ tri túc với bất cứ loại y nào, và chúng tôi sẽ là người tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại y nào. Và không vì y, chúng tôi sẽ làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được y, chúng tôi sẽ không dao động. Và nếu được y, chúng tôi sẽ dùng y ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy sự nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ. Chúng tôi sẽ tri túc với bất cứ loại đồ ăn khất thực nào... với bất cứ loại sàng tọa nào... với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào, và chúng tôi sẽ là người tán thán sự tri túc với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào. Và không vì thuốc men trị bệnh, chúng tôi sẽ làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được thuốc men trị bệnh, chúng tôi sẽ không dao động. Và nếu được thuốc men trị bệnh, chúng tôi sẽ dùng thuốc men trị bệnh ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các ông cần phải học tập'". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), I. Tri Túc)
Chẳng những mình thực hành hạnh biết đủ mà còn tán thán, khen ngợi hạnh biết đủ, truyền bá hạnh biết đủ đối với những người muốn tu tập, khuyến khích, khích lệ, hướng dẫn mọi người tu học hạnh biết đủ. Đó là cái hạnh biết đủ của Thánh Tăng.
III. Tứ Chánh Cần
Sau đây là bài kinh Không Biết Sợ, ngược với không biết sợ là phải biết sợ, tức là hạnh tàm quý.
"Một thời Tôn giả Mahà Kassapa (Ðại Ca-diếp), và Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) trú ở Barànasi (Ba-la-nại), chỗ Isipatana (chư Tiên đọa xứ), tại Migadàya (Lộc Uyển).
Rồi Tôn giả Sàriputta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Kassapa những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Mahà Kassapa:
-- Này Hiền giả Kassapa, được nói rằng không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; và có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
Như thế nào, này Hiền giả, là không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách? Và như thế nào là có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách?" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Văn ngày xưa rất khó hiểu, đảo qua đảo lại vì thế nếu không đọc kĩ là không thể hiểu được, cái này chính là Tứ Chánh Cần.
"-- Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không khởi nhiệt tâm". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Nếu là cái ác, bất thiện pháp, những cấu nhiễm khởi lên sẽ làm mình gặp bất lợi, những cái tham, sân, si, vô minh, bản ngã sanh khởi lên không đưa đến lợi ích cho chúng ta.
"Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, chúng có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Cái ác không bị diệt đi thì đưa đến bất lợi.
"Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm".(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Những thiện pháp không khởi lên cũng là sự bất lợi.
"Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Nếu cái ác khởi lên mà mình không diệt nó thì nó có hại, còn nếu cái thiện không sanh khởi thì có hại. Bây giờ mình phải có nhiệt tâm đối với đoạn ác và nhiệt tâm đối với sanh thiện. Nhiệt tâm nghĩa là phải nỗ lực, phải mạnh mẽ, phải nhiệt huyết để đoạn trừ những pháp ác trong tâm, bây giờ mình thấy có dục khởi, có sân khởi mà mình mặc kệ, bỏ qua, đi tìm chuyện khác làm thì đối với người tu thông thường là đã tốt, còn đối với người tu chánh pháp là không được, người đó không có nhiệt tâm.
Đối với tứ sự cúng dường khi nãy mà mình có tâm tham, tâm thích, tâm khoái trong đó, ưa thích trong đó, khi đó mình thấy được những tâm này nhưng mình làm biếng không tác ý, quán chiếu để tẩy sạch những cảm thọ đó mà mình bỏ qua hoặc là mình sân, khó chịu với người nào đó, mình biết mình có sân nhưng mình bỏ qua, mình làm biếng quán chiếu tâm từ để giải phá cảm thọ sân đó, hành sân, tưởng sân đó thì đó là không có nhiệt tâm, mà không có nhiệt tâm thì ác bất thiện pháp này sẽ sanh khởi, an trú, tồn chỉ, trở thành hàng tồn kho trong tâm mình, người này không có nhiệt tâm tu tập.
Mỗi ngày nó sanh khởi một chút thì lâu ngày nó sẽ tăng trưởng, phát triển, xâm chiếm, áp đảo và cuối cùng người này ra đời, cho nên có xác mà không có hồn, có tu đi nữa nhưng lại không có nhiệt tâm trong tu tập, sống lơ lững như lục bình trôi sông không có mục đích, không hướng đến cứu cánh phạm hạnh, đó là không có nhiệt tâm tu tập, gọi là hạ liệt trong pháp và luật.
Nếu đang đi, đang đứng, đang ngồi, đang nằm mà sanh khởi ác bất thiện pháp, dục tầm, sân tầm, hại tầm sanh khởi mà người này không nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn trừ diệt thì Đức Phật nói người này giải đãi, thấp kém trong pháp và luật. Những điều vi tế này chỉ có mình biết chứ người ngoài không thể biết, người ngoài chỉ có thể thấy những cái thô thôi, thậm chí nếu mình không để ý là mình không thể thấy được, phải là người có thực tập trí năm uẩn mới nhìn thấy được, còn không nhận diện năm uẩn là không thể thấy và nhận diện năm uẩn ở cấp độ nào sẽ thấy được lậu hoặc ở cấp độ đó.
Những hành động phùng mang trợn mắt, quơ tay múa chân là phàm phu, không cần tu cũng biết đó là sân, còn ở đây là nhìn thấy được những lậu hoặc sanh khởi, vận hành thì mới gọi là quán tâm trên tâm, quán thọ trên các cảm thọ, quán pháp trên pháp. Ngược lại nói rằng không thấy có tham, sân, si gì cả thì đó là vô minh chứ không phải Thánh nhân, người mà sạch hết tham, sân, si, lậu tận là các bậc A-la-hán còn mình nói rằng trước giờ không thấy tham, sân, si gì cả thì đó là vô minh.
Cho nên người tu chân thật, nhiệt tâm là không bỏ qua cũng như một người canh phòng cửa khẩu thì không được bỏ trót lọt bất cứ người nào, phải kiểm tra đầy đủ, có đem đồ lậu không. Nếu người phòng thủ biên giới, biên cương mà cho qua trót lọt không kiểm tra thì hậu quả khôn lường, người tu cũng giống như vậy. Đó là nhiệt tâm, cái thứ hai là không biết sợ, ngài Xá-lợi-phất hỏi ngài Ma-ha Ca-diếp thế nào là không biết sợ.
"Và này Hiền giả, như thế nào là không biết sợ?
"Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không có biết sợ. 'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không biết sợ. 'Các thiện pháp không khởi lên ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không biết sợ. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không biết sợ.
Như vậy, này Hiền giả, là không biết sợ". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Mình phải biết sợ đối với ác pháp, cái này là Tứ Chánh Cần nhưng khai triển rộng hơn, sâu sắc hơn. Thứ nhất nếu cái ác khởi lên thì có thể đưa đến bất lợi mà vị này không sợ, tức là canh phòng khi nó chưa khởi. Thứ hai là nếu cái ác không bị đoạn diệt có thể đưa đến bất lợi, tức là khi nãy chưa khởi thì mình phải canh chừng, còn bây giờ đã khởi mà mình vừa không đoạn diệt vừa không sợ. Thứ ba là thiện pháp không khởi lên thì ác pháp sẽ sanh nhưng vị này không biết sợ, khi thiện pháp chưa sanh thì phải làm cho nó sanh.
Tiếp theo là nếu thiện pháp bị đoạn diệt sẽ đưa đến bất lợi thì mình phải biết sợ, ví dụ ngày nào cũng đúng giờ đánh kẻng là mình có mặt vậy mà bây giờ thầy và đại chúng đều có mặt hết mình mới lên, như vậy là ác pháp sanh thiện pháp giảm mà mình vẫn thấy bình thường, người này mất hết nhiệt tình, không thấy sợ, sau đó là nằm ngủ luôn không lên tu học nữa mà cũng thấy bình thường. Lúc đầu thì tu đều đều, sau đó là thưa dần rồi cuối cùng là nằm ngủ đến sáng luôn, sau đó là xuống núi luôn, từ những cái nhỏ như vậy mà không biết sợ rồi tăng trưởng thành chuyện lớn, không có nhiệt tâm tu học. Ở đây mình thấy được đây là Tứ Chánh Cần nhưng được khai triển ở phương diện rộng hơn.
Một là thiện pháp chưa sanh thì phải làm cho nó sanh, còn khi nó đã sanh thì phải làm cho tăng trưởng. Ác pháp đã sanh thì phải làm cho nó đoạn diệt, còn ác pháp chưa sanh thì đừng làm cho nó sanh. Như vậy phải canh phòng từ lúc chưa sanh, còn khi đã sanh thì phải diệt tận, mình phải hiểu ý là phải canh phòng từ lúc chưa sanh.
Cũng như đang bị dịch bệnh mà mình ở trên núi đã thông báo cách ly, phong tỏa Linh Quy Pháp Ấn, còn khi đã bị lây bệnh mới đề thông báo thì đã muộn màng. Khi chưa sanh phải biết sợ chứ đợi đến khi bị lây bệnh nằm trên gường thì còn thông báo gì nữa, sự tu cũng phải như vậy, phải chặn từ trước khi nó chưa sanh khởi, thấy được mầm móng sanh ra của nó thì phải chặn ngay lập tức. Trong tâm mình cũng phải vậy, cái ác chưa sanh thì phải đề phòng, trừ bỏ, nếu lỡ đã sanh thì phải tìm đủ mọi cách dập tắt nó, như vậy vừa phải có nhiệt tâm vừa phải lo lắng sợ hãi.
Cái thiện chưa sanh thì phải làm cho nó sanh, phải nhiệt tâm làm cho nó sanh, ngồi thiền im re chánh niệm trước mặt, rõ biết toàn thân, nội tâm tỉnh giác là đủ rồi, cứ ngồi trơ ra an tịnh, lắng dịu là thấy khỏe rồi không muốn làm gì nữa là không được mà phải quán bất tịnh, quán chín giai đoạn của một tử thi, quán tứ đại, quán cảnh mình bị trúng dịch bệnh để không lấy xe chạy xuống núi nữa. Người có trí, người đi trước cảnh báo mà mình không nghe cứ bước tới là mình đi luôn, mình xem thường, coi thường.
IV. Luôn an trú dè dặt
Ngày xưa mới vào chùa bị nói một tiếng thôi là sợ rồi, quỳ lạy sám hối khóc nức nở, nhưng ở lâu rồi nói mãi cũng không thấy sợ, đó là ác pháp. Phải biết sợ hãi, không được để cho tái diễn ác pháp nữa, đừng nghĩ thích xuống núi là không phải ác pháp, phải nhìn kĩ trong cảm giác có gì thúc giục trong đó, tác ý giúp cho những thọ; tưởng; hành bất thiện dừng lại. Thầy Pháp Nghĩa có chương trình về Sài Gòn nhưng con thấy ở dưới đó có thể làm được, nếu thầy về Sài Gòn thì mất đi cơ hội quý tu học, sư cô chuẩn bị xuống núi thì con cũng mở bài diệt tâm hướng ngoại, thế là cả hai từ bỏ chương trình, sám hối khóc nức nở xin ở lại tu học.
Không phải là con không lo cho đại chúng, không phải nhập thất rồi con chỉ biết bản thân mình thôi mà phải xuất hiện đúng lúc đúng thời, con giúp đến mức như vậy mà còn không ở được nữa, chỉ muốn xuống núi đi về thì đành chịu vì thế cần phải có nhiệt tâm và phải biết lo sợ. Đây là giải thích nhiệt tâm tinh cần trong Tứ Niệm Xứ chứ không phải nhiệt tâm đơn giản như mình nghĩ.
Phải canh chừng cái ác khi nó chưa sanh khởi, nếu nó đã lỡ sanh khởi thì tìm mọi cách để trừ diệt cho tan, đó là người có nhiệt tâm, có lo lắng sợ hãi. Khi thấy thiện pháp không sanh thì phải tìm mọi cách để nó sanh khởi, lúc còn là tập sự xuất gia thì nhiệt thành tinh tấn đầy cảm xúc vậy mà bây giờ trơ ra như khúc cây, đó là đang đi lùi rồi từ từ đi xuống núi, càng ngày phải càng nhiệt tâm, tinh cần tinh tấn, càng ngày phải càng nóng bỏng lên đối với thiện pháp.
Có khi người ta đi tu suốt đời cũng chưa được một lần nhập thất như quý thầy cho nên phải biết trân trọng cơ hội tu học này, nhưng cũng đừng ráng quá sức. Phải biết nhiệt tâm, lo lắng và sợ hãi, tu là phải biết liều mạng. Năm 1994 con ngồi thiền ở Thiền Viện Trúc Lâm, các thầy ngồi hai tiếng nước mắt tràn ra nhưng không bỏ chân ra, một ngày ngồi ba thời, mỗi thời hai tiếng, mỗi lần lên thiền đường ngồi thiền là mặt người nào cũng như ra trận.
Có nhiều người ngồi đau quá nên hai chân quạt lên xuống nhưng vẫn không mở chân ra, tu là phải như vậy, những vị đó bây giờ đều là những trụ trì lớn trong nước ngoài nước, còn giờ mới đau, mới tê chút đã buông chân, còn buồn ngủ là để cho ngủ luôn, không có nhiệt tâm chiến đấu với nó vì thế phải có nhiệt tâm, lo lắng và sợ hãi đối với ác pháp và thiện pháp.
Ngài Ca-diếp nói rằng nếu không có nhiệt tâm, không biết sợ thì không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Không có giác ngộ, không có Niết-bàn, không có chứng đạt sự diệt tận khổ đau nếu người đó không nhiệt tâm, không biết sợ đối với ác bất thiện pháp cũng như đối với sự không phát triển của thiện pháp.
Đọc cái này và chiêm nghiệm để có động lực tu học, khi mình buông pháp ra là trở về với tập khí, đó là lý do mỗi ngày cần nghe kinh, nghe pháp, ngày nào cũng ăn cơm thì ngày nào cũng ngồi thiền, ngày nào cũng phải nghe pháp. Bây giờ chúng ta nghỉ là nói chuyện phiếm, nghịch điện thoại, làm này làm nọ theo tập khí cho nên cần nghe pháp thường xuyên để giảm bớt tập khí, thói quen thường tình.
Sự nhiệt tâm của mình sẽ đột phá những giới hạn của thân thể, tâm thức mình. Con bị ho nhưng có những nhân duyên con phải cố gắng hoặc là không từ chối được nhưng xong công việc là hết bệnh luôn. Có những khi mệt nhưng không thể không lên lớp, sau đó lên lớp là khỏe lại không cần uống thuốc, đó là pháp lực bất tư nghì cho nên sự tu tập trong pháp sẽ sanh ra pháp lực, pháp hỷ, sanh ra pháp hùng. Mình đừng lo sợ bệnh tật, uống thuốc này kia vì cứ lo sợ là bệnh hoài, cứ nhiệt tâm, tinh cần dồn sức đánh trận sẽ không sao hết, nghĩ rằng lần ngồi thiền này là lần cuối cùng thì sẽ làm được.
"-- Hãy giống như mặt trăng, này các Tỳ-kheo, khi đi đến các gia đình, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, chớ có đường đột xông xáo (appagabbha)". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), III. Ví Dụ Với Trăng)
Những câu này cần khắc vào não vì nó là Thánh trí. Khi mình đi khất thực hoặc là đến nhà các Phật tử hoặc là ra chợ thì thân tâm phải dè dặt, không được phi như lý tác ý là ở chùa căng thẳng nên ra ngoài cho thoải mái rồi cho phép bản thân buông lung. Bí kíp của tu hành là ngay trong khoảnh khắc hiện giờ chứ không có tu nhiều, ngay lúc đó thôi chứ không có ba năm, bảy năm gì cả. Thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt khi đi đến các gia đình, khi tiếp xúc với Phật tử, khi tiếp xúc với người khác phái.
Tạng kinh này là một kho kim cương nhưng ít có người mở ra dùng, con có tâm nguyện giảng hết tạng kinh này nếu còn sống vì cái này chỉ cất trong tủ không ai đọc cả, nếu có đọc cũng không thể hiểu được hết. Mình thân với ai là nói chuyện với người đó không có chánh niệm, không có oai nghi, mình nghĩ là họ thân thiện với mình nhưng chính vì vậy mà mình cần phải tu vì lúc đó là lúc mình bung tập khí của mình ra.
Ra ngoài thì mình lịch sự với người mới gặp, lịch sự với khách nhưng khi về nhà gặp cha mẹ, anh em thì mình mất lịch sự, không giữ gìn gì cả. Khi gặp những người thân trong gia đình là mình buông thả, phóng dật, sống với tập khí, thói quen, thân không dè dặt, tâm không dè dặt, chính chỗ nào mới sanh ra phiền não cho nên vợ chồng đổ vỡ, cha con cự cãi, anh chị em bất hòa, huynh đệ ở chung trong chùa mà chia nhóm ra chơi. Nếu có dè dặt, có chánh niệm và tỉnh giác là không có những chuyện đó xảy ra.
Con có những nguyên tắc sống nếu ai thông cảm được thì thôi, còn không sẽ nói mình khó. Con ở trong thất mà ai đường đột bất thình lình vào là con không muốn tiếp vì nhiều khi con đang mặc áo mà các sư cô bước vào. Khi ở chung với nhau cũng không được xông xáo đường đột, vào phòng phải gõ cửa chứ không được tự mở ra rồi bước vào, mỗi người được che bức bình phong nhưng muốn qua cũng phải xin phép trước, từ bên tập sự muốn qua bên quý thầy cũng phải xin phép trước chứ không phải vô ra không cần biết ai.
Tất cả những cái này đều nhằm thực tập nết hạnh, oai nghi của mình, giáo sư Nguyễn Khuê khi mới lên là xưng tôi nhưng ngày cuối cùng lại xưng con sau khi nghe chia sẻ Thánh trí năm uẩn, thầy đã hơn tám mươi tuổi và là thầy của con nhưng mỗi khi trình bày thầy đều bước qua xá một cái rồi mới cầm micro bước lại chỗ ngồi mới phát biểu, trong khi mình còn trẻ mà ngồi tại chỗ cầm micro nói thôi, thầy đã lớn tuổi như vậy nhưng thầy vẫn đi bộ qua xá rồi cầm micro trở về chỗ cũ phát biểu. Mỗi lần phát biểu làm như vậy thì mất thời gian nhưng mình phải học những cái này, phải có chuẩn mực chứ tuyệt đối không được đường đột xông xáo.
Có những khi con đang nói chuyện về pháp với khách thì bước vào nói chen ngang, cái này hoàn toàn không được, là sự đường đột. Mình là người xuất gia thì càng phải cẩn thận những cái này, muốn nói, muốn thưa cái gì thì phải đứng chờ, cái này không những người tập sự, người công quả mà ngay cả người xuất gia kề cận học đã lâu năm mà cũng bị vậy, muốn nói là nói, không được đường đột như vậy. Các cô gọi con vào buổi tối là con không nghe, nhắn tin con cũng không trả lời vì đó là giờ thiền định, mình phải có giờ tắt điện thoại chứ không mở suốt ngày được, tất cả mọi cái đều phải học, từ những cái tế hạnh này mới thành Thánh hạnh.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một người nhìn một cái giếng cũ, hay sườn núi dốc, hay thác nước, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, hãy giống như mặt trăng khi đi đến các gia đình, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, không có đường đột xông xáo". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), III. Ví Dụ Với Trăng)
Mình hay chồm đến cái giếng để lấy nước nhưng lại là giếng cũ hoặc giếng bằng đất ngày xưa mà không cẩn thận trượt chân rơi xuống mất mạng. Khi mình đi trên dốc đứng cũng phải cẩn thận, đi phải giữ thế, bước chậm hoặc khi đi dưới thác nước trơn trợt cũng phải cẩn thận. Khi đi đến tiếp xúc với các gia đình hoặc tiếp xúc với các Phật tử cũng phải cẩn thận giống như đi đến giếng nước hay đi trên dốc đứng hoặc đi dưới thác nước, nếu mình giữ được giống lời Đức Phật nói thì ít nhất mình cũng phải là Tu-đà-hoàn, Đức Phật sống như vậy, các bậc Thánh giả sống như vậy và chư Tỳ-kheo thời Đức Phật cũng sống như vậy thì giới mới thanh tịnh. Giới thanh tịnh thì khi ngồi thiền tâm mới an định, tâm an định sẽ có khinh an, hỷ lạc, tuệ quán khai triển thiền quán sẽ phá lậu hoặc, đó là trình tự của tâm. Còn mình bây giờ xem thường những cái này nên không thành tựu, vì thế cần tập từ từ, không được nói lớn tiếng, khi đã tập được sẽ rất tuyệt vời.
"Kassapa, này các Tỳ-kheo, giống như mặt trăng, khi đi đến các gia đình, thân dè dặt và tâm dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, không có đường đột xông xáo". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), III. Ví Dụ Với Trăng)
Điều này cũng giống như Đức Phật ví dụ cô dâu lúc mới về nhà chồng, còn ở đây là người mới lên núi lần đầu tiên. Lúc nào cũng phải nhớ mình là người mới, các thầy, các cô và đại chúng hãy nhìn cô, thầy giáo của con gần ba mươi năm và khi con về thăm gia đình thầy Pháp Nghĩa cũng vậy hay khi ba mẹ của chú Trí Hòa lên thăm cũng vậy. Mình không có suy nghĩ "đây là ba mẹ của đệ tử tôi" rồi xem giống như trong nhà, phải có sự tôn trọng với họ, phải tạo mọi điều kiện để họ tiếp nhận Thánh pháp.
Tuy con quen biết giáo sư Nguyễn Khuê gần ba mươi năm nhưng con vẫn xem như đó là người mới, sự cung kính và tôn trọng phải tăng trưởng lên thêm. Đức Phật cho ví dụ hãy giống như mặt trăng to tròn, tỏ rạng, khi đi đến các gia đình phải quán tưởng hình tướng mình là mặt trăng, đây là mặt trăng của thiện pháp, mặt trăng của Thánh pháp, mặt trăng của tịnh pháp, mặt trăng của đời sống thanh cao, thánh thiện, không vì danh lợi, địa vị, chức quyền, tình cảm, tài vật rồi để cho mình tham lam, tham đắm, không thấy sự nguy hại.
V. Không dính mắc với cư sĩ
"Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo? Như thế nào một Tỳ-kheo xứng đáng đi đến các gia đình?
-- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ sở y. Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỳ-kheo sẽ thọ trì". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), III. Ví Dụ Với Trăng)
Khi Đức Phật hỏi các vị Tỳ-kheo "các ông nghĩ như thế nào" thì không một ai dám trả lời, còn mình bây giờ được hỏi là thao thao bất tuyệt. Mình thao thao với cái vô minh của mình, với bản ngã, lậu hoặc của mình, với thọ; tưởng; hành trong si ám của mình. Những câu hỏi này là nhằm để Đức Phật tuyên dương diệu nghĩa, chính kiểu không tôn trọng, không biết các pháp lấy Thế Tôn làm gốc rễ, không biết các pháp lấy Thế Tôn làm bậc lãnh đạo, tất cả mọi sự lấy Thế Tôn làm chỗ nương dựa cho nên mình mới suy nghĩ theo mê chấp của mình cho nên pháp đi vào thời kì mường tượng và hoại diệt, còn nếu mình tuân thủ theo nguyên tắc này thì chánh pháp vẫn còn.
Mạnh ai người nấy chế tác, mạnh ai người nấy diễn thuật, mạnh ai người nấy đưa ra ý tưởng, không lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, không lấy Thế Tôn làm căn bản, không lấy Thế Tôn làm chỗ y cứ rồi hỏi ai dạy thì bảo rằng sư ông dạy, sư phụ dạy, tổ nói vậy, đó là nguyên nhân chánh pháp sụp đổ vì vậy các thầy, các cô và đại chúng cần thuộc lòng kinh Nikāya. Học ngũ uẩn mấy chục năm vẫn không nhìn ra được ngũ uẩn vì mỗi người diễn mỗi kiểu, chỉ cần trở về định nghĩa trong tạng kinh và thực tập theo đó thì sáng rực.
"Rồi Thế Tôn vẫy bàn tay giữa hư không:
-- Ví như, này các Tỳ-kheo, bàn tay này giữa hư không, không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, là vị Tỳ-kheo đi đến các gia đình, tâm không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc, nghĩ rằng: 'Những ai muốn được lợi, hãy được lợi! Những ai muốn công đức, hãy làm các công đức!'
Như mình hoan hỷ, thỏa mãn khi mình được lợi; hãy hoan hỉ, thỏa mãn khi người khác được lợi! Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo như vậy xứng đáng đi đến các gia đình. Này các Tỳ-kheo, Kassapa khi đi đến các gia đình, đối với các gia đình, tâm không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc, nghĩ rằng: 'Những ai muốn được lợi hãy được lợi! Những ai muốn công đức hãy làm các công đức!'
Như mình hoan hỉ, thỏa mãn khi mình được lợi; hãy hoan hỉ, thỏa mãn, khi người khác được lợi!
Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo như vậy xứng đáng đi đến các gia đình". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), III. Ví Dụ Với Trăng)
Sau này thiền tông mới học những cái cơ phong của Đức Phật, từ những cái này mới làm ra những cái sau này, tất cả các tông phái đều lấy những phần nhỏ trong này ra để học. Khi các Tỳ-kheo hỏi như thế nào mới xứng đáng để đi đến các gia đình thì Đức Phật vẫy bàn tay trong hư không nói rằng bàn tay đang vẫy trong hư không không bị dính mắc, không bị trói buộc, tay không cầm nắm gì cả, đây là bàn tay tự do thì khi đến các gia đình tâm cũng không bị dính mắc, không bị nắm lấy, không bị trói buộc.
Bây giờ đến lui đó cúng dường nhiều thì thân thiết, xem như người trong nhà, thân còn hơn cha mẹ trong khi cha mẹ ruột lại không về thăm, đó là bị dính mắc, bị trói cột, bị nắm lấy. Đức Phật nói cùng vui với cái vui của họ, cùng khổ với cái khổ của họ, liên hệ quá mật thiết với gia đình của họ. Con có nguyên tắc của một đời xuất gia của con, ai giận thì chịu, đó là con không có Phật tử thân thiết, có liên lạc thì nói về pháp còn ngoài ra nói chuyện này chuyện kia thì thôi, vì nói một hồi là mình sẽ bị dính mắc, bị nắm chặt. Ngay cả cha mẹ, người thân của con cũng đối xử bằng pháp, con thấy ông Năm có phiền não nhiều là con cách ly vài ngày để cho ông soi xét lại cái giận đó đúng hay không, con thấy bà Năm lơ là tu học là con nhắc nhở khéo léo hoặc nhắc ngay trong bài giảng.
Sáng nay thầy Nguyễn Khuê gọi điện cám ơn mười lăm phút, thầy xưng tán nhiều nhất là báo hiếu với cha mẹ về cái pháp, con mong muốn ông cụ, bà cụ đi vào pháp, những cái khác có một chút cho vui thôi nhưng phải biết chánh yếu là pháp. Không thể biết chắc chắn mình còn sống được bao lâu nữa, tối nay có ra đi cũng không biết hay tuần sau, tháng sau ra đi cũng không biết vì thế nếu không có sự chuẩn bị, không có sự tu tập, nghe pháp thường xuyên, quán chiếu thì cái chết đến bất thình lình thì ai cứu được, chỉ có tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa vào bất kì ai khác, lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa, lấy chánh pháp làm ngọn đèn.
Chánh pháp đó là luôn luôn quán chiếu thân tâm, quán chiếu tính nguy hại, tính vô thường, tính khổ, vô ngã, tan rã, bại hoại của thân xác này, của đời sống này, đó mới là ngọn đèn cho chính mình, đó là sự báo hiếu. Anh chị con lên thấy sao con lạnh nhạt quá nhưng không phải vậy, lạnh cái đời nhưng nồng cái đạo pháp, nếu cái đời càng nồng ấm thì càng buộc ràng thêm thôi, có những chỗ mẹ của các thầy trụ trì gọi các thầy bằng "thằng", điều này rất nguy hiểm, con rất sợ điều này vì ỷ lại con mình là trụ trì, mình là cha mẹ của thầy trụ trì rồi vào chùa bung bản ngã ra, họ lạm quyền trong chùa, cái đó là hại cha mẹ đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Cho nên từ đầu con quán triệt kĩ điều này cho nên bây giờ ai cũng khen thầy Pháp An và bà Diệu Hiền, con đã vạch hướng đi từ đâu và đặt tâm đúng hướng, đó là sự khổ tâm của con nên chỉ có con biết, người nào để ý sâu sắc mới biết được thôi, còn người thông thường là không biết. Nếu lên đây tu học thì nồng ấm thật sự, còn lên đây không tu học mà cứ khóc lóc, tình thương, kể lể này kia thì không muốn gặp, mình phải lên học pháp, cầu pháp, tìm phương pháp thì mới gặp nhau vì Đức Phật đã nói:
"Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Ðang thấy Ta, là thấy Pháp". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, V. Vakkàli)
Đời sống của con là pháp, người nào muốn cầu pháp, học pháp, tu pháp thì mới gặp con, còn ngoài ra là không gặp, hoặc có gặp cũng như không gặp. Nếu không hướng tâm về pháp thì dù ngồi đối diện cũng cách ra ngàn dặm vì một người hướng vào và người kia thì hướng ra thì làm sao gặp. Chú Dũng bây giờ cạo đầu, bỏ hết công việc lên đây tu học mà giờ anh em, bạn làm ăn ngày xưa lên gặp nói về tiền bạc, danh lợi, ăn chơi thì chú có muốn nghe không, còn nói về tu học là nghe liền cho nên ai thấy pháp là người đó thấy ta, ai thấy ta là người đó thấy pháp, ai gần pháp thì người đó gần ta, ai gần ta thì người đó gần pháp. Đó là chỗ tuyệt diệu của người xuất gia, trở lại vấn đề là đừng để dính mắc, trói buộc đối với sự cung kính, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng, thân thiện.
Con thấy trong đại chúng có người thân với người này không thân người kia là con không vui, đó là tâm thiên lệch, nhóm này chơi có hai ba người, nhóm kia không chơi thì đó là tâm thế tục, phàm tình, đó là bị dính mắc. Không có gì nặng nề nhưng người này hiền lành, dễ nghe, dễ nói nên chơi thân, còn người kia khó nói nên tránh, đó là không đúng, phải tập tâm rộng mở, nhu hòa, không dính mắc dù cho là thiện pháp. Nếu không khéo với cái tình đúng sai, hay dở, thân sơ thì thành sai, phải giữ với nhau bằng cái pháp thì mới có an ổn, lợi ích lâu dài, ngược lại thế nào cũng có chuyện.
Vì pháp mà đến với nhau để tu học, vì pháp mà đi để cầu pháp, tất cả phải đặt pháp trên đầu. Đức Phật nói người không bị dính mắc, người không bị nắm lấy, không bị trói buộc giống như mặt trăng, giống như bàn tay giữa hư không, đó là người xứng đáng để đi đến các gia đình và người đó suy nghĩ ai muốn được lợi thì được lợi, ai muốn công đức thì công đức, tức là người nào bố thí, cúng dường thì bản thân người đó sẽ được lợi, người nào bố thí, cúng dường thì bản thân người đó sẽ được công đức, đó là vì lợi ích cho những gia đình đó chứ không phải gia đình đó đem lại lợi ích cho mình.
Đúng ra người Phật tử nào hiểu pháp rồi cúng dường lớn thì người đó phải cảm ơn, thầy Pháp An nói con người này cúng dường cái này, người kia cúng dường cái kia thì con bình thường, nhiều khi không biết luôn vì họ làm là họ được lợi cho họ. Có những người mình cảm ơn thì bản ngã họ lại lớn lên thêm vì họ nghĩ mình nhận cái ơn của họ nhưng ngược lại họ cúng dường là họ được lợi, họ cúng dường là họ được công đức, nhờ tam bảo mà họ được lợi, nhờ tam bảo mà họ được công đức chứ không phải vì sự cúng dường nhiều rồi mình đưa họ lên rồi làm hư họ nhưng bây giờ Phật tử bị hư rất nhiều. Họ cúng dường rồi đến chùa muốn lạm quyền, chỉ đạo ở đây đặt cái này, ở kia phải đặt cái khác, gặp con là nói khỏi cúng nữa.
Có một cô Phật tử muốn cúng cho nửa mảnh đất ở đây, trước khi cúng con gọi cô về bàn kĩ với ở nhà, cúng dường có điều kiện thì con mới nhận, thứ nhất cúng cái này không phải cho con mà cúng cho tam bảo, con là người đại diện để nhận, thứ hai không được ở trong miếng đất mình cúng, nếu muốn ở thì phải mua chỗ khác, thứ ba là khi đã cúng rồi thì chư Tăng sẽ quyết định toàn quyền để kiến lập đạo tràng tam bảo chứ không phải mình cúng rồi là có ý kiến vào phải theo ý mình là con không nhận.
Mình nhận cúng dường này phước báo cho họ, còn người nghĩ rằng cúng dường là các thầy có lợi ích thì đó là vô văn phàm phu, không phải đệ tử Phật, người nào nghĩ rằng cái này "tôi được cúng dường", "cái này cúng cho tôi" thì cũng không phải đệ tử chánh thức của Phật, đệ tử chánh thức của Phật không có suy nghĩ như vậy. Chỉ có nghĩ như vậy, làm như vậy mới đưa đến mục đích ly tham, nếu không nghĩ như vậy, không làm như vậy, không nói như vậy thì không hướng đến mục đích ly tham, chỉ có tăng trưởng thêm tham. Cho nên ngay từ đầu con đã nói phải xác định mục tiêu, kiên trì với mục tiêu và nỗ lực để đạt được mục tiêu, suốt đời không thay đổi mục tiêu.
Mình hãy tùy hỷ, hoan hỉ khi cúng dường cho các huynh đệ của mình, mình hãy tùy hỷ, hoan hỉ khi người khác được tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường, không có ganh tỵ. Mình ngồi kế bên mà sư huynh được Phật tử cúng dường liên tục, không cúng cho mình, thậm chí không thèm xá mình thì thọ; tưởng; hành sẽ bị dao động, tại đây Đức Phật dạy rằng "Như mình hoan hỉ, thỏa mãn khi mình được lợi; hãy hoan hỉ, thỏa mãn, khi người khác được lợi!", đó là tùy hỷ, vui theo, mình thấy các Phật tử tu hành tinh tấn, để tâm hướng dẫn mọi người rồi mọi người cảm nhận pháp nên người ta cúng dường là cúng cho pháp, không phải cúng dường cho mấy chục kí lô thịt ngồi đó, cúng dường pháp bảo nên phải từ bỏ tâm so sánh, có hay không, nhiều hay ít, kính hay không kính, tác ý phá bản ngã trong đó.
Cái tu của mình tế nhị đến như vậy chứ không phải đợi cái gì dữ dằn mới tu, mời cô Toàn lên đây không phải chuyện dễ mà người ta quỳ lạy cô cung kính, khóc lóc, trong khi con ngồi kế bên không nhìn con hoặc là nói chuyện với cô từ đầu đến cuối không thèm nhớ tới con, lúc đó mình phải xem lại cảm thọ, xem lại bản ngã của mình, những cái này rất sâu sắc nếu mình không phá được thì không tu được.
Cô đã đi đến các học viện Phật giáo lớn của Việt Nam, đến chùa Hoằng Pháp có đạo tràng vĩ đại nhất, đi đến chùa Giác Ngộ là nơi tiếng tăm, rất nhiều chỗ nhưng không phải người ta không biết cái pháp này hay, người ta biết nên người ra mới mời cô, các bậc thầy đó không lẽ không biết nhưng biết rồi là kính như viễn chi, chào rồi là xong. Có thể gạ gục bản ngã mình xuống được không? Một ông thầy trụ trì, một ông thầy thượng tọa, Hòa Thượng, giảng sư, giáo thọ sư ngồi đó mà người ta quỳ lạy cô không, thậm chí mình phải chịu lép, chịu sai, người kia đúng, mình có phá trừ bản ngã được không?
Đây là quan ải, nếu không phá được quan ải này thì không thể tiếp nhận pháp chứ đừng nói chi quỳ lạy vị cư sĩ giữa hàng trăm người. Chính vì vậy có thể những việc con làm bây giờ có thể người ta không chấp nhận nhưng sau này sẽ trở thành huyền thoại là không phải chuyện dễ. Thoát ra khỏi nổi cái cao thấp, cái sắc tướng, địa vị, vai vế, trên dưới, đó là cả một sự đột phá lớn, đây là chuyện không hề đơn giản chút nào cho nên các cô quỳ lạy nhau không phải là chuyện đơn giản, đó là sự phá cách, xuất cách, núi Tu-di sụp đổ, thậm chí đến thầy mình hoặc là Hòa Thượng cũng không muốn lạy, nếu không lạy thì người ta nhìn mình nên phải lạy, cái thật sự cung kính đảnh lễ là cả một vấn đề, phải hạ đo ván bản ngã.
Sự tu này là cả một công trình, cả một sự chiến đấu chứ không hề đơn giản, đó là mới nói đến cái thô nhất ở bên ngoài, bên trong còn nhiều lớp hơn nữa cho nên phải kiên trì, cố gắng. Đó là nội chướng ngoại ma, bên trong là chướng còn bên ngoài là ma.
./.
Thánh Tăng Khuyến Tấn
Gương Sáng Thánh Tăng Maha Kassapa
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hạnh tri túc PAGEREF _Toc179556915 \h 1
II. Trí tuệ xuất ly PAGEREF _Toc179556916 \h 3
III. Tứ Chánh Cần PAGEREF _Toc179556917 \h 9
IV. Luôn an trú dè dặt PAGEREF _Toc179556918 \h 14
V. Không dính mắc với cư sĩ PAGEREF _Toc179556919 \h 19
I. Hạnh tri túc
Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta tìm hiểu tiếp về phần xuất gia phản tỉnh với chủ đề gương sáng Thánh Tăng, Tương Ưng Bộ kinh, tập II, Thiên Nhân Duyên, chương V, Tương Ưng Kassapa, tức là ngài Ma-ha Ca-diếp.
Đức Phật nói với ngài Ca-diếp đối với bất cứ loại y nào ngài cũng luôn biết đủ, bằng lòng, hài lòng, ngài vừa lòng và khen ngợi hạnh biết đủ đối với bất cứ loại y nào. Không vì y áo mà làm điều bất chánh, bất xứng, nếu không được y thì ngài không dao động, nếu được y thì ngài dùng y mà không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.
"-- Tri túc, này các Tỳ-kheo, là Kassapa này, với bất cứ loại y nào, và tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại y nào; không vì y làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được y, vị này không có dao động. Và nếu được y, vị này dùng y không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), I. Tri Túc)
Đối với bất cứ loại y nào ngài cũng biết đủ, mình liên hệ cái hạnh này của ngài đến đời sống của mình. Khi mình được Phật tử cho y áo hoặc là khúc vải thì đối với bất cứ loại vải nào mình cũng phải biết đủ chứ mình không có so sánh huynh kia được vải tốt, còn mình vải xấu.
"Tri túc, này các Tỳ-kheo, là Kasssapa này, với bất cứ đồ ăn khất thực nào, tán thán hạnh tri túc với bất cứ đồ ăn khất thực nào; không vì đồ ăn khất thực, làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được đồ ăn khất thực, vị này không có dao động. Và nếu được đồ ăn khất thực, vị này dùng đồ ăn khất thực ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), I. Tri Túc)
Đức Phật nói thêm đối với bất cứ loại đồ ăn khất thực nào ngài Ca-diếp cũng biết đủ, không vì đồ ăn nước uống mà làm điều bất chánh, bất xứng, không xứng đáng. Nếu không được đồ ăn khất thực thì tâm không dao động, nếu được đồ ăn khất thực thì không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.
"Tri túc, này các Tỳ-kheo, là Kassapa này, với bất cứ loại sàng tọa nào, và tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại sàng tọa nào; và không vì sàng tọa, làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được sàng tọa, vị này không có dao động. Và nếu được sàng tọa, vị này dùng sàng tọa ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), I. Tri Túc)
Sàng tọa là gường chõng, ghế gường. Đối với bất cứ loại gường ghế nào cũng biết đủ.
"Tri túc, này các Tỳ-kheo, là Kassapa này, với bất cứ thuốc men trị bệnh nào. Và vị này tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào; và không vì duyên với thuốc men trị bệnh, làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được thuốc men trị bệnh, vị này không có dao động. Và nếu được thuốc men trị bệnh, vị này dùng thuốc men trị bệnh ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), I. Tri Túc)
Đối với bất cứ thuốc men trị bệnh nào cũng vậy, đây là tứ sự cúng dường. Đây là bốn thứ mà mình thường được nhận lãnh, thường được Phật tử cúng dường, tức là ăn, mặc, gường chõng là chỗ ở và thuốc men trị bệnh. Tại sao đối với thuốc men cũng phải biết đủ? Khi mình nhận thuốc men lúc bệnh cũng phải có chánh niệm tỉnh giác chứ không phải nghĩ rằng bệnh rồi là hết tu, nếu không được thuốc thì tâm cũng không dao động, nếu được thuốc tốt, thuốc quý cũng không tham lam, say đắm trong đó. Mình bệnh thì Phật tử hay tin rồi nấu cái này cái kia cho mình ăn, đem sữa cho mình uống, mình nghĩ mình bệnh thì họ đem đồ ăn, thức uống hay thuốc cho là chuyện bình thường, lúc đó mình không quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trong pháp.
Khi xưa có một thầy tu rất nổi tiếng về đức hạnh, có năng lực đặc biệt, thầy ở trên núi cao một mình. Có cô Phật tử tới lui chăm lo, bất ngờ thầy bệnh lại ở trên núi cao nên được cô này cạo gió cho, thế là cạo gió một thời gian là thầy này hoàn tục, đó là phải thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ. Đối với Ni cũng vậy, có những Phật tử nam tội nghiệp sư cô, thấy thương sư cô, thấy quý sư cô.
Hôm nay mình thấy được đức hạnh của ngài Ca-diếp, thấy được ngài tu như thế nào, dù cho được bất cứ loại y nào, bất cứ loại vải nào, loại áo nào, loại khăn, nón nào, ngày xưa ở Ấn Độ không có những cái này nhưng bây giờ có thì phải nói rộng ra nữa. Áo thun, áo lạnh, áo gió, y hậu, nón, khăn, tất vớ… tất cả những cái đó phải biết đủ, phải thấy được mục đích, công năng, tác dụng của những thứ đó là gì, chỉ là che đậy thân thể cho khỏi nắng táp mưa sa, chỉ là che đậy sự xấu hổ. Mục đích của nó chỉ có vậy thôi, áo ấm để ngăn cái lạnh, tất cả mọi loại y phục, quần áo, khăn, nón, tất vớ, áo ấm, áo thun đều phải sử dụng với mục đích là che đậy, giữ ấm, ngoài ra không có gì khác, những thứ này phải phục vụ cho ly tham, cho xuất ly, phục vụ cho Thánh đạo, Thánh trí, đó là người trí sử dụng tứ sự cúng dường.
II. Trí tuệ xuất ly
Khi mình được cúng nhiều thì mình phải thí xả, không được chất chứa, không được tích lũy, mình đã học trí năm uẩn thì phải tổn giảm chứ không cho tăng trưởng những món đồ vật chất này, xả ly chứ không cho tích lũy, từ bỏ chứ không chấp thủ đối với sắc uẩn, sắc pháp, bây giờ là tất cả sàng tọa, gường chõng, nói rộng ra là phòng ốc. Minh Thành có đi thăm một ngôi chùa của một thầy trụ trì cũng là huynh đệ, thầy mời Minh Thành ngồi trên bộ salon, thầy nói rằng salon này chỉ có hai bộ thôi, một bộ là của một vị nào đó lớn lắm, một bộ ở trong chùa này, toàn quốc chỉ có hai bộ thôi, rất mắc tiền.
Con ngồi cũng cười và nói rằng tốt lắm nhưng trong lòng thật sự xót xa, đó không phải là tâm của người tu, phải biết đủ đối với tất cả loại bàn ghế, gường chõng, phòng ốc, không được những thứ này thì tâm cũng không được dao động, còn nếu được cũng không tham lam, không say đắm, không phạm tội, phải quán nguy hại, quán xuất ly, hai cái này là cực kì quan trọng vì không có hai cái này là không phải người tu.
Phải thấy nguy hại và quán xuất ly với trí tuệ đối với mọi thứ, phải thấy hiểm họa trong tấm y gấm, phải thấy tai nạn trong khúc vải đẹp này, phải thấy mầm móng sa đọa trong chiếc áo đẹp này, dục sanh khởi, tham sanh khởi, sự chấp thủ vào năm uẩn sanh khởi, như vậy là đau khổ sanh khởi, sầu, bi, ưu, não sanh khởi. Những bậc Thánh Tăng họ tu như vậy đó, thấy nguy hại và quán xuất ly với trí tuệ đối với tất cả món ăn, tất cả y áo, tất cả gường chõng, tất cả phòng ốc và tất cả thuốc men vật dụng.
Ba mẹ hoặc chị con thương con rồi đem cho đồ ăn buổi chiều là con không đồng ý, đó không phải thương, đó là thương của phàm phu vì không biết gì cả, con nhập thất mà đưa đồ ăn vào nhiều con cũng mệt lắm, không ăn thì bỏ hư, còn ăn thì ngồi thiền không được cho nên có những khi đem đồ ăn buổi trưa thôi mà ăn đến chiều, đến sáng mai cũng không hết đồ ăn, người ngoài thấy đó là vui nhưng người tu thấy đó là khổ vì thế chỉ có người tu hiểu cho nhau, cho nên không phải lúc nào con cũng nói, có những cái con nói, có những cái con không nói. Thành ra, để tâm, ưa thích, tham đắm trong những thứ vật chất sinh hoạt đời thường là sự lui sụp, thốt thất, thối đọa của người xuất gia.
Một người không tinh vi, không cẩn trọng, không sâu sắc thì không thể thực tập được những cái này. Khi mình nhận một món ăn, một y áo, một cái gường, ghế, khi mình nhận thuốc, sữa, ngũ cốc dinh dưỡng thì mình phải rà soát tâm mình để xem có ưa thích không những với món đồ mà còn phải xem coi có ưa thích đối với người đem cho món đồ đó không, vì sẽ sanh ra phàm tình, thân với người này hơn những người kia, người nào lo cho mình nhiều thì mình sẽ có tình cảm, sẽ thiên vị hơn những người khác, đó là phàm tình.
Nếu người đó có tu học thì mình sẵn sàng chia sẻ pháp nhiều hơn những người khác vì đương nhiên thân cận thì họ sẽ được nghe pháp nhiều hơn, được hướng dẫn nhiều hơn nhưng cái gì cũng phải có chừng mực, không quá đà nhận anh em, chị em hoặc là cha nuôi, mẹ nuôi. Trong Phật pháp không có những cái này nhưng người xuất gia bị vướng cái này rất nhiều, Phật tử nào tới lui lo nhiều thì nhận là mẹ nuôi trong khi cha mẹ ruột lại bỏ, đó là chuyện cực kì sai quấy nặng đối với cha mẹ của mình, chưa biết người đó đến với mình vì mục đích gì, mình có đủ trí huệ để nhìn ra tâm tư của họ không, họ đến vì pháp hay vì tình cảm, hay vì danh vị, danh vọng.
Có nhiều người thích có sư phụ chức lớn, danh tiếng cho nên mình phải có trí soi rọi vào đó, rà soát tất cả mới tìm ra được lậu hoặc chứ không phải tu rồi ngơ ngơ, không phải tu rồi trở thành vô tư, ngáo ngơ, bên ngoài nhìn hiền nhưng bên trong soi thấu tâm can không có kẽ hở, như vậy mới gọi là bậc pháp nhãn, bậc minh nhãn, kiến đạo. Tuy rằng mình chưa sạch hết lậu hoặc nhưng những gì sanh khởi lên phải thấy, phải biết, phải kiểm tra, dè chừng, đề phòng thì mới gọi là đang tu tập Thánh đạo, ngược lại chỉ là kẻ vô văn phàm phu dù cho hình thức là tu sĩ vì không hướng đến xuất ly, không thấy được tính nguy hại, không quán xuất ly với trí tuệ thì sao được gọi là người tu.
Nguy hại là dục sanh khởi, ái sanh khởi đối với mấy món đồ, tham sanh khởi, bản ngã sanh khởi khi lên mặt, ta đây vì được cúng dường nhiều hơn người khác, ta đây có phước đức hơn, ta đây cúng nhiều còn những người kia không được cúng. Cái này đã được ghi trong Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính rất nhiều, đọc vào rất khiếp đảm, Đức Phật ví dụ rất sợ, những từ đó ngày xưa đã là nặng rồi cho nên bây giờ phải tác ý thật mạnh mẽ giống như vậy. Đức Phật nói con giòi ở trong đống phân này rồi nhìn sang những con giòi khác thì nói rằng tụi nó ở trong đống phân nhỏ hơn mình hoặc là lên mặt ta đây có đống phân to còn tụi bây không có, đối với người xuất gia cũng vậy, tự cho mình có phước đức nhiều, được cúng dường nhiều hơn người khác cũng giống như những con giòi.
"-- Khổ lụy, này các Tỳ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
Ví như, này các Tỳ-kheo, một con trùng phẩn, ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt có một đống phân lớn.
Nó khinh miệt các con trùng phẩn khác và nói: 'Ta ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt ta, có đống phân lớn này'.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, có Tỳ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào làng hay thị trấn để khất thực. Vị ấy tại đây đã ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát của vị ấy được tràn đầy.
Vị ấy đi đến ngôi vườn (tịnh xá) và giữa chúng Tỳ-kheo khoe khoang như sau: 'Ta ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát này của ta tràn đầy. Ta nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bịnh. Nhưng các Tỳ-kheo khác công đức ít, ảnh hưởng ít, không nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh'.
Vị ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, khinh miệt các Tỳ-kheo chánh hạnh khác. Này các Tỳ-kheo, như vậy sẽ đem lại bất hạnh, đau khổ lâu dài cho kẻ ngu si ấy". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Ðắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, V. Trùng Phẩn)
Cho nên chỉ có Thánh trí mới từ từ cách ly được phàm tình, không nghe Thánh trí, không chiêm nghiệm Thánh trí, không tu tập Thánh trí, không phát huy Thánh trí, không sống bằng Thánh trí thì cái phàm tình của mình không giảm thiểu, chỉ sống bằng phàm tình với vô minh và tham ái, cái gì cũng dính mắc. Có khi nhiều người nghĩ rằng thầy không thương mình nhưng thực ra thầy thương còn hơn mình tưởng nhưng thương bằng Thánh trí, trong khi mình lại muốn thương theo kiểu phàm tình, còn thầy thương theo kiểu đó thì thất bại.
Nếu mình quan tâm theo kiểu thông thường, thân cận ngọt ngào thì chết cả thầy lẫn trò, trừ bậc Nhị quả, Tam quả hoặc Tứ quả Thánh nhân, đó là những bậc tham sân muội lược, sạch hết tham, sân, si, còn những quả vị thấp thì vẫn còn tham, sân, si cho nên tối thiểu phải Dự Lưu Thánh quả thì mới thấy cái nào là ái, cái nào là từ, nếu không là lẫn lộn hết, mình cứ nghĩ là từ tâm nhưng thật ra là ái luyến cho nên phải cẩn thận.
Câu tuyệt diệu là không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ, dù được những cái ngon, cái tốt, cái quý cũng phải thấy sự nguy hại trong những cái đó và quán xuất ly với trí tuệ. Bất cứ cái nào có dục, tham, ái thì cái đó là nguy hiểm, là tai hại, là hiểm họa, sống với tâm đó thì mới được an ổn, nhìn cái gì trong ngũ uẩn lục trần cũng thấy tai họa trong đó.
Thích chạy xe xuống núi thì đó là nguy hiểm, thích cô bán rau là nguy hiểm, ngồi thiền thấy hiện ra gương mặt cô dễ thương, khả ái là nguy hiểm, phải phát hiện ra dục, tham, ái sâu sắc trong cảm thọ. Đối với món đồ cũng vậy, gường chõng cũng vậy, y áo cũng vậy, tập thí xả bất cứ lúc nào, con thường thí xả những món đồ quý nên con mới vào được dòng Thánh pháp này. Có một thầy ở Thường Chiếu, khi thầy vào phòng của con ở Bửu Liên, lúc đó con chưng hạt châu bằng pha lê trong suốt, ở dưới có bông sen đỡ hạt châu đó, thầy đó thấy thì nói cho thầy nên con nói "nếu thầy thích thì con cúng dường thầy", trong bụng mình cũng thấy tiếc chứ không phải là không nhưng đang tập thí xả nên cho luôn.
Những món đồ Phật tử cúng dường quý con không dùng mà để cúng dường cho các Hòa Thượng lớn hoặc những vị mà mình thấy đúng là đem ra cúng. Một người làm tượng Phật tạc tượng Thích-ca Mâu-ni bằng gỗ đẹp vô cùng, con rất hài lòng, ưng ý nhưng khi gặp cô Toàn chuẩn bị về Pháp thì con tặng cô, khi đó cô đã giới thiệu về pháp nhưng con chưa vào. Thường thì con có hai nguyện tuy chưa làm viên mãn nhưng vẫn cố gắng làm, thứ nhất là gặp bất cứ ai khổ cũng phải giúp đỡ dù nhiều hay ít, lúc kẹt không có thì thôi nhưng có tiền là cho, thứ hai là cho những đồ quý giá của mình, đem bố thí, cúng dường hết.
Không được để cho mình mất phước cho nên phải tập thí xả, mỗi lần con cúng dường cho ai là con sẽ được người khác cúng dường lại gấp hai, gấp ba lần. Con không có ý là cúng để được người khác cúng lại nhiều hơn cho mình, cũng như chùa Hoằng Pháp xây chi nhánh hay tòa nhà đa năng gì đó, con về thăm thầy trụ trì thì nghe như vậy, con nghĩ rằng từ mái chùa này giúp cho mình có cơ hội chia sẻ chánh pháp đến mọi người, từ ngôi chùa này mà mọi người biết mình tuyên giảng giáo pháp, không có ngôi chùa này thì mình có giảng 20 năm cũng không ai biết, từ ngôi chùa đó thì Phật tử mới biết rồi mới hỗ trợ Linh Quy Pháp Ấn cho nên con nhớ ơn chùa Hoằng Pháp, dù cho chùa đó rất lớn và Phật tử ở đó rất đông, mình ở đây chẳng là gì cả nhưng con vẫn cúng dường cho chùa 50 triệu. Con đưa tiền thì thầy trụ trì từ chối, bảo giữ tiền lo xây cất trên Linh Quy, con bảo rằng chưa xây, chừng nào xây thì tính, còn ở đây đang xây nên cho con tùy hỷ một chút phước báo, ân đức của sư phụ trên mái chùa này, con cúng như vậy thì về vài hôm sau con được cúng lại gấp 2-3 lần như vậy.
Mình phải tập thí xả, bố thí, cúng dường thật nhiều và tập cho những cái khó cho, chính vì vậy từ am tranh mà ra gần cả núi, con không mong cầu mà tự động như vậy. Tất cả mọi cái trên cuộc đời này đều có nhân quả, điều đặc biệt là có phước nhưng không tham đắm cái phước, cái này mới thành trí huệ. Không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ thì cái phước đó tăng trưởng thành vô lậu, còn làm phước mà chấp vào cái phước đó, bị say đắm trong đó thì cái phước đó thành tai họa, nguy hại, chính vì vậy mình vẫn làm phước, tích lũy phước, bòn phước, làm tăng trưởng phước nhưng những cái phước đó nhằm đầu tư cho trí tuệ nhàm chán, ly tham, xuất ly và đoạn diệt, đây là chỗ thâm sâu của Thánh trí.
Không phải không làm phước, bảo rằng "giờ tôi tu dứt ngũ uẩn nên không cần phước nữa nên kêu tôi làm phước chi nữa", hoàn toàn sai lầm, không có phước sẽ bị chướng ngại không tu được, vài bữa là bệnh, bị què chân ngồi thiền không được, vài bữa gia đình có chuyện bắt phải về lo, xảy ra đủ thứ chuyện, người nào thiếu phước, vô phước, không có phước là tu không được cho nên muốn ngồi thiền hoặc nghe pháp thông thường thôi cũng phải tích lũy rất nhiều phước đức, đừng nói gì thấy được Thánh pháp này là phải tích lũy vô lượng vô biên phước trí trong quá khứ, không phải là chuyện đơn giản.
Một người chịu quy y tam bảo thôi là cả một vấn đề chứ đừng nói gì một người chịu ở trong chùa hằng tháng để tu tập, đừng nói chi tập sự xuất gia, đừng nói chi là xuất gia, đừng nói chi xuất gia dám bỏ thành thị chịu ở trong núi cao hẻo lánh, đừng nói gì gặp được Thánh pháp, đừng nói gì vào sâu trong Thánh pháp đánh phá thẳng trực diện vào tham dục, sân si, vô minh, bản ngã, từ bỏ ngũ uẩn thì còn khủng khiếp đến nỗi nào. Phải quán chiếu như vậy để thấy rằng không phải dễ để gặp được Thánh pháp, càng không phải dễ để thâm nhập vào đó để mình không được xem thường những phước đức trí tuệ mình đã vun bồi cho đến ngày nay. Thành ra, học được những cái này rất hay và tuyệt vời.
"Do vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học tập như sau: 'Chúng tôi sẽ tri túc với bất cứ loại y nào, và chúng tôi sẽ là người tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại y nào. Và không vì y, chúng tôi sẽ làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được y, chúng tôi sẽ không dao động. Và nếu được y, chúng tôi sẽ dùng y ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy sự nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ. Chúng tôi sẽ tri túc với bất cứ loại đồ ăn khất thực nào... với bất cứ loại sàng tọa nào... với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào, và chúng tôi sẽ là người tán thán sự tri túc với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào. Và không vì thuốc men trị bệnh, chúng tôi sẽ làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được thuốc men trị bệnh, chúng tôi sẽ không dao động. Và nếu được thuốc men trị bệnh, chúng tôi sẽ dùng thuốc men trị bệnh ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các ông cần phải học tập'". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), I. Tri Túc)
Chẳng những mình thực hành hạnh biết đủ mà còn tán thán, khen ngợi hạnh biết đủ, truyền bá hạnh biết đủ đối với những người muốn tu tập, khuyến khích, khích lệ, hướng dẫn mọi người tu học hạnh biết đủ. Đó là cái hạnh biết đủ của Thánh Tăng.
III. Tứ Chánh Cần
Sau đây là bài kinh Không Biết Sợ, ngược với không biết sợ là phải biết sợ, tức là hạnh tàm quý.
"Một thời Tôn giả Mahà Kassapa (Ðại Ca-diếp), và Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) trú ở Barànasi (Ba-la-nại), chỗ Isipatana (chư Tiên đọa xứ), tại Migadàya (Lộc Uyển).
Rồi Tôn giả Sàriputta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Kassapa những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Mahà Kassapa:
-- Này Hiền giả Kassapa, được nói rằng không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; và có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
Như thế nào, này Hiền giả, là không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách? Và như thế nào là có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách?" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Văn ngày xưa rất khó hiểu, đảo qua đảo lại vì thế nếu không đọc kĩ là không thể hiểu được, cái này chính là Tứ Chánh Cần.
"-- Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không khởi nhiệt tâm". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Nếu là cái ác, bất thiện pháp, những cấu nhiễm khởi lên sẽ làm mình gặp bất lợi, những cái tham, sân, si, vô minh, bản ngã sanh khởi lên không đưa đến lợi ích cho chúng ta.
"Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, chúng có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Cái ác không bị diệt đi thì đưa đến bất lợi.
"Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm".(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Những thiện pháp không khởi lên cũng là sự bất lợi.
"Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Nếu cái ác khởi lên mà mình không diệt nó thì nó có hại, còn nếu cái thiện không sanh khởi thì có hại. Bây giờ mình phải có nhiệt tâm đối với đoạn ác và nhiệt tâm đối với sanh thiện. Nhiệt tâm nghĩa là phải nỗ lực, phải mạnh mẽ, phải nhiệt huyết để đoạn trừ những pháp ác trong tâm, bây giờ mình thấy có dục khởi, có sân khởi mà mình mặc kệ, bỏ qua, đi tìm chuyện khác làm thì đối với người tu thông thường là đã tốt, còn đối với người tu chánh pháp là không được, người đó không có nhiệt tâm.
Đối với tứ sự cúng dường khi nãy mà mình có tâm tham, tâm thích, tâm khoái trong đó, ưa thích trong đó, khi đó mình thấy được những tâm này nhưng mình làm biếng không tác ý, quán chiếu để tẩy sạch những cảm thọ đó mà mình bỏ qua hoặc là mình sân, khó chịu với người nào đó, mình biết mình có sân nhưng mình bỏ qua, mình làm biếng quán chiếu tâm từ để giải phá cảm thọ sân đó, hành sân, tưởng sân đó thì đó là không có nhiệt tâm, mà không có nhiệt tâm thì ác bất thiện pháp này sẽ sanh khởi, an trú, tồn chỉ, trở thành hàng tồn kho trong tâm mình, người này không có nhiệt tâm tu tập.
Mỗi ngày nó sanh khởi một chút thì lâu ngày nó sẽ tăng trưởng, phát triển, xâm chiếm, áp đảo và cuối cùng người này ra đời, cho nên có xác mà không có hồn, có tu đi nữa nhưng lại không có nhiệt tâm trong tu tập, sống lơ lững như lục bình trôi sông không có mục đích, không hướng đến cứu cánh phạm hạnh, đó là không có nhiệt tâm tu tập, gọi là hạ liệt trong pháp và luật.
Nếu đang đi, đang đứng, đang ngồi, đang nằm mà sanh khởi ác bất thiện pháp, dục tầm, sân tầm, hại tầm sanh khởi mà người này không nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn trừ diệt thì Đức Phật nói người này giải đãi, thấp kém trong pháp và luật. Những điều vi tế này chỉ có mình biết chứ người ngoài không thể biết, người ngoài chỉ có thể thấy những cái thô thôi, thậm chí nếu mình không để ý là mình không thể thấy được, phải là người có thực tập trí năm uẩn mới nhìn thấy được, còn không nhận diện năm uẩn là không thể thấy và nhận diện năm uẩn ở cấp độ nào sẽ thấy được lậu hoặc ở cấp độ đó.
Những hành động phùng mang trợn mắt, quơ tay múa chân là phàm phu, không cần tu cũng biết đó là sân, còn ở đây là nhìn thấy được những lậu hoặc sanh khởi, vận hành thì mới gọi là quán tâm trên tâm, quán thọ trên các cảm thọ, quán pháp trên pháp. Ngược lại nói rằng không thấy có tham, sân, si gì cả thì đó là vô minh chứ không phải Thánh nhân, người mà sạch hết tham, sân, si, lậu tận là các bậc A-la-hán còn mình nói rằng trước giờ không thấy tham, sân, si gì cả thì đó là vô minh.
Cho nên người tu chân thật, nhiệt tâm là không bỏ qua cũng như một người canh phòng cửa khẩu thì không được bỏ trót lọt bất cứ người nào, phải kiểm tra đầy đủ, có đem đồ lậu không. Nếu người phòng thủ biên giới, biên cương mà cho qua trót lọt không kiểm tra thì hậu quả khôn lường, người tu cũng giống như vậy. Đó là nhiệt tâm, cái thứ hai là không biết sợ, ngài Xá-lợi-phất hỏi ngài Ma-ha Ca-diếp thế nào là không biết sợ.
"Và này Hiền giả, như thế nào là không biết sợ?
"Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không có biết sợ. 'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không biết sợ. 'Các thiện pháp không khởi lên ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không biết sợ. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi', vị ấy không biết sợ.
Như vậy, này Hiền giả, là không biết sợ". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Mình phải biết sợ đối với ác pháp, cái này là Tứ Chánh Cần nhưng khai triển rộng hơn, sâu sắc hơn. Thứ nhất nếu cái ác khởi lên thì có thể đưa đến bất lợi mà vị này không sợ, tức là canh phòng khi nó chưa khởi. Thứ hai là nếu cái ác không bị đoạn diệt có thể đưa đến bất lợi, tức là khi nãy chưa khởi thì mình phải canh chừng, còn bây giờ đã khởi mà mình vừa không đoạn diệt vừa không sợ. Thứ ba là thiện pháp không khởi lên thì ác pháp sẽ sanh nhưng vị này không biết sợ, khi thiện pháp chưa sanh thì phải làm cho nó sanh.
Tiếp theo là nếu thiện pháp bị đoạn diệt sẽ đưa đến bất lợi thì mình phải biết sợ, ví dụ ngày nào cũng đúng giờ đánh kẻng là mình có mặt vậy mà bây giờ thầy và đại chúng đều có mặt hết mình mới lên, như vậy là ác pháp sanh thiện pháp giảm mà mình vẫn thấy bình thường, người này mất hết nhiệt tình, không thấy sợ, sau đó là nằm ngủ luôn không lên tu học nữa mà cũng thấy bình thường. Lúc đầu thì tu đều đều, sau đó là thưa dần rồi cuối cùng là nằm ngủ đến sáng luôn, sau đó là xuống núi luôn, từ những cái nhỏ như vậy mà không biết sợ rồi tăng trưởng thành chuyện lớn, không có nhiệt tâm tu học. Ở đây mình thấy được đây là Tứ Chánh Cần nhưng được khai triển ở phương diện rộng hơn.
Một là thiện pháp chưa sanh thì phải làm cho nó sanh, còn khi nó đã sanh thì phải làm cho tăng trưởng. Ác pháp đã sanh thì phải làm cho nó đoạn diệt, còn ác pháp chưa sanh thì đừng làm cho nó sanh. Như vậy phải canh phòng từ lúc chưa sanh, còn khi đã sanh thì phải diệt tận, mình phải hiểu ý là phải canh phòng từ lúc chưa sanh.
Cũng như đang bị dịch bệnh mà mình ở trên núi đã thông báo cách ly, phong tỏa Linh Quy Pháp Ấn, còn khi đã bị lây bệnh mới đề thông báo thì đã muộn màng. Khi chưa sanh phải biết sợ chứ đợi đến khi bị lây bệnh nằm trên gường thì còn thông báo gì nữa, sự tu cũng phải như vậy, phải chặn từ trước khi nó chưa sanh khởi, thấy được mầm móng sanh ra của nó thì phải chặn ngay lập tức. Trong tâm mình cũng phải vậy, cái ác chưa sanh thì phải đề phòng, trừ bỏ, nếu lỡ đã sanh thì phải tìm đủ mọi cách dập tắt nó, như vậy vừa phải có nhiệt tâm vừa phải lo lắng sợ hãi.
Cái thiện chưa sanh thì phải làm cho nó sanh, phải nhiệt tâm làm cho nó sanh, ngồi thiền im re chánh niệm trước mặt, rõ biết toàn thân, nội tâm tỉnh giác là đủ rồi, cứ ngồi trơ ra an tịnh, lắng dịu là thấy khỏe rồi không muốn làm gì nữa là không được mà phải quán bất tịnh, quán chín giai đoạn của một tử thi, quán tứ đại, quán cảnh mình bị trúng dịch bệnh để không lấy xe chạy xuống núi nữa. Người có trí, người đi trước cảnh báo mà mình không nghe cứ bước tới là mình đi luôn, mình xem thường, coi thường.
IV. Luôn an trú dè dặt
Ngày xưa mới vào chùa bị nói một tiếng thôi là sợ rồi, quỳ lạy sám hối khóc nức nở, nhưng ở lâu rồi nói mãi cũng không thấy sợ, đó là ác pháp. Phải biết sợ hãi, không được để cho tái diễn ác pháp nữa, đừng nghĩ thích xuống núi là không phải ác pháp, phải nhìn kĩ trong cảm giác có gì thúc giục trong đó, tác ý giúp cho những thọ; tưởng; hành bất thiện dừng lại. Thầy Pháp Nghĩa có chương trình về Sài Gòn nhưng con thấy ở dưới đó có thể làm được, nếu thầy về Sài Gòn thì mất đi cơ hội quý tu học, sư cô chuẩn bị xuống núi thì con cũng mở bài diệt tâm hướng ngoại, thế là cả hai từ bỏ chương trình, sám hối khóc nức nở xin ở lại tu học.
Không phải là con không lo cho đại chúng, không phải nhập thất rồi con chỉ biết bản thân mình thôi mà phải xuất hiện đúng lúc đúng thời, con giúp đến mức như vậy mà còn không ở được nữa, chỉ muốn xuống núi đi về thì đành chịu vì thế cần phải có nhiệt tâm và phải biết lo sợ. Đây là giải thích nhiệt tâm tinh cần trong Tứ Niệm Xứ chứ không phải nhiệt tâm đơn giản như mình nghĩ.
Phải canh chừng cái ác khi nó chưa sanh khởi, nếu nó đã lỡ sanh khởi thì tìm mọi cách để trừ diệt cho tan, đó là người có nhiệt tâm, có lo lắng sợ hãi. Khi thấy thiện pháp không sanh thì phải tìm mọi cách để nó sanh khởi, lúc còn là tập sự xuất gia thì nhiệt thành tinh tấn đầy cảm xúc vậy mà bây giờ trơ ra như khúc cây, đó là đang đi lùi rồi từ từ đi xuống núi, càng ngày phải càng nhiệt tâm, tinh cần tinh tấn, càng ngày phải càng nóng bỏng lên đối với thiện pháp.
Có khi người ta đi tu suốt đời cũng chưa được một lần nhập thất như quý thầy cho nên phải biết trân trọng cơ hội tu học này, nhưng cũng đừng ráng quá sức. Phải biết nhiệt tâm, lo lắng và sợ hãi, tu là phải biết liều mạng. Năm 1994 con ngồi thiền ở Thiền Viện Trúc Lâm, các thầy ngồi hai tiếng nước mắt tràn ra nhưng không bỏ chân ra, một ngày ngồi ba thời, mỗi thời hai tiếng, mỗi lần lên thiền đường ngồi thiền là mặt người nào cũng như ra trận.
Có nhiều người ngồi đau quá nên hai chân quạt lên xuống nhưng vẫn không mở chân ra, tu là phải như vậy, những vị đó bây giờ đều là những trụ trì lớn trong nước ngoài nước, còn giờ mới đau, mới tê chút đã buông chân, còn buồn ngủ là để cho ngủ luôn, không có nhiệt tâm chiến đấu với nó vì thế phải có nhiệt tâm, lo lắng và sợ hãi đối với ác pháp và thiện pháp.
Ngài Ca-diếp nói rằng nếu không có nhiệt tâm, không biết sợ thì không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Không có giác ngộ, không có Niết-bàn, không có chứng đạt sự diệt tận khổ đau nếu người đó không nhiệt tâm, không biết sợ đối với ác bất thiện pháp cũng như đối với sự không phát triển của thiện pháp.
Đọc cái này và chiêm nghiệm để có động lực tu học, khi mình buông pháp ra là trở về với tập khí, đó là lý do mỗi ngày cần nghe kinh, nghe pháp, ngày nào cũng ăn cơm thì ngày nào cũng ngồi thiền, ngày nào cũng phải nghe pháp. Bây giờ chúng ta nghỉ là nói chuyện phiếm, nghịch điện thoại, làm này làm nọ theo tập khí cho nên cần nghe pháp thường xuyên để giảm bớt tập khí, thói quen thường tình.
Sự nhiệt tâm của mình sẽ đột phá những giới hạn của thân thể, tâm thức mình. Con bị ho nhưng có những nhân duyên con phải cố gắng hoặc là không từ chối được nhưng xong công việc là hết bệnh luôn. Có những khi mệt nhưng không thể không lên lớp, sau đó lên lớp là khỏe lại không cần uống thuốc, đó là pháp lực bất tư nghì cho nên sự tu tập trong pháp sẽ sanh ra pháp lực, pháp hỷ, sanh ra pháp hùng. Mình đừng lo sợ bệnh tật, uống thuốc này kia vì cứ lo sợ là bệnh hoài, cứ nhiệt tâm, tinh cần dồn sức đánh trận sẽ không sao hết, nghĩ rằng lần ngồi thiền này là lần cuối cùng thì sẽ làm được.
"-- Hãy giống như mặt trăng, này các Tỳ-kheo, khi đi đến các gia đình, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, chớ có đường đột xông xáo (appagabbha)". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), III. Ví Dụ Với Trăng)
Những câu này cần khắc vào não vì nó là Thánh trí. Khi mình đi khất thực hoặc là đến nhà các Phật tử hoặc là ra chợ thì thân tâm phải dè dặt, không được phi như lý tác ý là ở chùa căng thẳng nên ra ngoài cho thoải mái rồi cho phép bản thân buông lung. Bí kíp của tu hành là ngay trong khoảnh khắc hiện giờ chứ không có tu nhiều, ngay lúc đó thôi chứ không có ba năm, bảy năm gì cả. Thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt khi đi đến các gia đình, khi tiếp xúc với Phật tử, khi tiếp xúc với người khác phái.
Tạng kinh này là một kho kim cương nhưng ít có người mở ra dùng, con có tâm nguyện giảng hết tạng kinh này nếu còn sống vì cái này chỉ cất trong tủ không ai đọc cả, nếu có đọc cũng không thể hiểu được hết. Mình thân với ai là nói chuyện với người đó không có chánh niệm, không có oai nghi, mình nghĩ là họ thân thiện với mình nhưng chính vì vậy mà mình cần phải tu vì lúc đó là lúc mình bung tập khí của mình ra.
Ra ngoài thì mình lịch sự với người mới gặp, lịch sự với khách nhưng khi về nhà gặp cha mẹ, anh em thì mình mất lịch sự, không giữ gìn gì cả. Khi gặp những người thân trong gia đình là mình buông thả, phóng dật, sống với tập khí, thói quen, thân không dè dặt, tâm không dè dặt, chính chỗ nào mới sanh ra phiền não cho nên vợ chồng đổ vỡ, cha con cự cãi, anh chị em bất hòa, huynh đệ ở chung trong chùa mà chia nhóm ra chơi. Nếu có dè dặt, có chánh niệm và tỉnh giác là không có những chuyện đó xảy ra.
Con có những nguyên tắc sống nếu ai thông cảm được thì thôi, còn không sẽ nói mình khó. Con ở trong thất mà ai đường đột bất thình lình vào là con không muốn tiếp vì nhiều khi con đang mặc áo mà các sư cô bước vào. Khi ở chung với nhau cũng không được xông xáo đường đột, vào phòng phải gõ cửa chứ không được tự mở ra rồi bước vào, mỗi người được che bức bình phong nhưng muốn qua cũng phải xin phép trước, từ bên tập sự muốn qua bên quý thầy cũng phải xin phép trước chứ không phải vô ra không cần biết ai.
Tất cả những cái này đều nhằm thực tập nết hạnh, oai nghi của mình, giáo sư Nguyễn Khuê khi mới lên là xưng tôi nhưng ngày cuối cùng lại xưng con sau khi nghe chia sẻ Thánh trí năm uẩn, thầy đã hơn tám mươi tuổi và là thầy của con nhưng mỗi khi trình bày thầy đều bước qua xá một cái rồi mới cầm micro bước lại chỗ ngồi mới phát biểu, trong khi mình còn trẻ mà ngồi tại chỗ cầm micro nói thôi, thầy đã lớn tuổi như vậy nhưng thầy vẫn đi bộ qua xá rồi cầm micro trở về chỗ cũ phát biểu. Mỗi lần phát biểu làm như vậy thì mất thời gian nhưng mình phải học những cái này, phải có chuẩn mực chứ tuyệt đối không được đường đột xông xáo.
Có những khi con đang nói chuyện về pháp với khách thì bước vào nói chen ngang, cái này hoàn toàn không được, là sự đường đột. Mình là người xuất gia thì càng phải cẩn thận những cái này, muốn nói, muốn thưa cái gì thì phải đứng chờ, cái này không những người tập sự, người công quả mà ngay cả người xuất gia kề cận học đã lâu năm mà cũng bị vậy, muốn nói là nói, không được đường đột như vậy. Các cô gọi con vào buổi tối là con không nghe, nhắn tin con cũng không trả lời vì đó là giờ thiền định, mình phải có giờ tắt điện thoại chứ không mở suốt ngày được, tất cả mọi cái đều phải học, từ những cái tế hạnh này mới thành Thánh hạnh.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một người nhìn một cái giếng cũ, hay sườn núi dốc, hay thác nước, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, hãy giống như mặt trăng khi đi đến các gia đình, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, không có đường đột xông xáo". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), III. Ví Dụ Với Trăng)
Mình hay chồm đến cái giếng để lấy nước nhưng lại là giếng cũ hoặc giếng bằng đất ngày xưa mà không cẩn thận trượt chân rơi xuống mất mạng. Khi mình đi trên dốc đứng cũng phải cẩn thận, đi phải giữ thế, bước chậm hoặc khi đi dưới thác nước trơn trợt cũng phải cẩn thận. Khi đi đến tiếp xúc với các gia đình hoặc tiếp xúc với các Phật tử cũng phải cẩn thận giống như đi đến giếng nước hay đi trên dốc đứng hoặc đi dưới thác nước, nếu mình giữ được giống lời Đức Phật nói thì ít nhất mình cũng phải là Tu-đà-hoàn, Đức Phật sống như vậy, các bậc Thánh giả sống như vậy và chư Tỳ-kheo thời Đức Phật cũng sống như vậy thì giới mới thanh tịnh. Giới thanh tịnh thì khi ngồi thiền tâm mới an định, tâm an định sẽ có khinh an, hỷ lạc, tuệ quán khai triển thiền quán sẽ phá lậu hoặc, đó là trình tự của tâm. Còn mình bây giờ xem thường những cái này nên không thành tựu, vì thế cần tập từ từ, không được nói lớn tiếng, khi đã tập được sẽ rất tuyệt vời.
"Kassapa, này các Tỳ-kheo, giống như mặt trăng, khi đi đến các gia đình, thân dè dặt và tâm dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, không có đường đột xông xáo". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), III. Ví Dụ Với Trăng)
Điều này cũng giống như Đức Phật ví dụ cô dâu lúc mới về nhà chồng, còn ở đây là người mới lên núi lần đầu tiên. Lúc nào cũng phải nhớ mình là người mới, các thầy, các cô và đại chúng hãy nhìn cô, thầy giáo của con gần ba mươi năm và khi con về thăm gia đình thầy Pháp Nghĩa cũng vậy hay khi ba mẹ của chú Trí Hòa lên thăm cũng vậy. Mình không có suy nghĩ "đây là ba mẹ của đệ tử tôi" rồi xem giống như trong nhà, phải có sự tôn trọng với họ, phải tạo mọi điều kiện để họ tiếp nhận Thánh pháp.
Tuy con quen biết giáo sư Nguyễn Khuê gần ba mươi năm nhưng con vẫn xem như đó là người mới, sự cung kính và tôn trọng phải tăng trưởng lên thêm. Đức Phật cho ví dụ hãy giống như mặt trăng to tròn, tỏ rạng, khi đi đến các gia đình phải quán tưởng hình tướng mình là mặt trăng, đây là mặt trăng của thiện pháp, mặt trăng của Thánh pháp, mặt trăng của tịnh pháp, mặt trăng của đời sống thanh cao, thánh thiện, không vì danh lợi, địa vị, chức quyền, tình cảm, tài vật rồi để cho mình tham lam, tham đắm, không thấy sự nguy hại.
V. Không dính mắc với cư sĩ
"Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo? Như thế nào một Tỳ-kheo xứng đáng đi đến các gia đình?
-- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ sở y. Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỳ-kheo sẽ thọ trì". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), III. Ví Dụ Với Trăng)
Khi Đức Phật hỏi các vị Tỳ-kheo "các ông nghĩ như thế nào" thì không một ai dám trả lời, còn mình bây giờ được hỏi là thao thao bất tuyệt. Mình thao thao với cái vô minh của mình, với bản ngã, lậu hoặc của mình, với thọ; tưởng; hành trong si ám của mình. Những câu hỏi này là nhằm để Đức Phật tuyên dương diệu nghĩa, chính kiểu không tôn trọng, không biết các pháp lấy Thế Tôn làm gốc rễ, không biết các pháp lấy Thế Tôn làm bậc lãnh đạo, tất cả mọi sự lấy Thế Tôn làm chỗ nương dựa cho nên mình mới suy nghĩ theo mê chấp của mình cho nên pháp đi vào thời kì mường tượng và hoại diệt, còn nếu mình tuân thủ theo nguyên tắc này thì chánh pháp vẫn còn.
Mạnh ai người nấy chế tác, mạnh ai người nấy diễn thuật, mạnh ai người nấy đưa ra ý tưởng, không lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, không lấy Thế Tôn làm căn bản, không lấy Thế Tôn làm chỗ y cứ rồi hỏi ai dạy thì bảo rằng sư ông dạy, sư phụ dạy, tổ nói vậy, đó là nguyên nhân chánh pháp sụp đổ vì vậy các thầy, các cô và đại chúng cần thuộc lòng kinh Nikāya. Học ngũ uẩn mấy chục năm vẫn không nhìn ra được ngũ uẩn vì mỗi người diễn mỗi kiểu, chỉ cần trở về định nghĩa trong tạng kinh và thực tập theo đó thì sáng rực.
"Rồi Thế Tôn vẫy bàn tay giữa hư không:
-- Ví như, này các Tỳ-kheo, bàn tay này giữa hư không, không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, là vị Tỳ-kheo đi đến các gia đình, tâm không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc, nghĩ rằng: 'Những ai muốn được lợi, hãy được lợi! Những ai muốn công đức, hãy làm các công đức!'
Như mình hoan hỷ, thỏa mãn khi mình được lợi; hãy hoan hỉ, thỏa mãn khi người khác được lợi! Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo như vậy xứng đáng đi đến các gia đình. Này các Tỳ-kheo, Kassapa khi đi đến các gia đình, đối với các gia đình, tâm không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc, nghĩ rằng: 'Những ai muốn được lợi hãy được lợi! Những ai muốn công đức hãy làm các công đức!'
Như mình hoan hỉ, thỏa mãn khi mình được lợi; hãy hoan hỉ, thỏa mãn, khi người khác được lợi!
Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo như vậy xứng đáng đi đến các gia đình". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), III. Ví Dụ Với Trăng)
Sau này thiền tông mới học những cái cơ phong của Đức Phật, từ những cái này mới làm ra những cái sau này, tất cả các tông phái đều lấy những phần nhỏ trong này ra để học. Khi các Tỳ-kheo hỏi như thế nào mới xứng đáng để đi đến các gia đình thì Đức Phật vẫy bàn tay trong hư không nói rằng bàn tay đang vẫy trong hư không không bị dính mắc, không bị trói buộc, tay không cầm nắm gì cả, đây là bàn tay tự do thì khi đến các gia đình tâm cũng không bị dính mắc, không bị nắm lấy, không bị trói buộc.
Bây giờ đến lui đó cúng dường nhiều thì thân thiết, xem như người trong nhà, thân còn hơn cha mẹ trong khi cha mẹ ruột lại không về thăm, đó là bị dính mắc, bị trói cột, bị nắm lấy. Đức Phật nói cùng vui với cái vui của họ, cùng khổ với cái khổ của họ, liên hệ quá mật thiết với gia đình của họ. Con có nguyên tắc của một đời xuất gia của con, ai giận thì chịu, đó là con không có Phật tử thân thiết, có liên lạc thì nói về pháp còn ngoài ra nói chuyện này chuyện kia thì thôi, vì nói một hồi là mình sẽ bị dính mắc, bị nắm chặt. Ngay cả cha mẹ, người thân của con cũng đối xử bằng pháp, con thấy ông Năm có phiền não nhiều là con cách ly vài ngày để cho ông soi xét lại cái giận đó đúng hay không, con thấy bà Năm lơ là tu học là con nhắc nhở khéo léo hoặc nhắc ngay trong bài giảng.
Sáng nay thầy Nguyễn Khuê gọi điện cám ơn mười lăm phút, thầy xưng tán nhiều nhất là báo hiếu với cha mẹ về cái pháp, con mong muốn ông cụ, bà cụ đi vào pháp, những cái khác có một chút cho vui thôi nhưng phải biết chánh yếu là pháp. Không thể biết chắc chắn mình còn sống được bao lâu nữa, tối nay có ra đi cũng không biết hay tuần sau, tháng sau ra đi cũng không biết vì thế nếu không có sự chuẩn bị, không có sự tu tập, nghe pháp thường xuyên, quán chiếu thì cái chết đến bất thình lình thì ai cứu được, chỉ có tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa vào bất kì ai khác, lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa, lấy chánh pháp làm ngọn đèn.
Chánh pháp đó là luôn luôn quán chiếu thân tâm, quán chiếu tính nguy hại, tính vô thường, tính khổ, vô ngã, tan rã, bại hoại của thân xác này, của đời sống này, đó mới là ngọn đèn cho chính mình, đó là sự báo hiếu. Anh chị con lên thấy sao con lạnh nhạt quá nhưng không phải vậy, lạnh cái đời nhưng nồng cái đạo pháp, nếu cái đời càng nồng ấm thì càng buộc ràng thêm thôi, có những chỗ mẹ của các thầy trụ trì gọi các thầy bằng "thằng", điều này rất nguy hiểm, con rất sợ điều này vì ỷ lại con mình là trụ trì, mình là cha mẹ của thầy trụ trì rồi vào chùa bung bản ngã ra, họ lạm quyền trong chùa, cái đó là hại cha mẹ đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Cho nên từ đầu con quán triệt kĩ điều này cho nên bây giờ ai cũng khen thầy Pháp An và bà Diệu Hiền, con đã vạch hướng đi từ đâu và đặt tâm đúng hướng, đó là sự khổ tâm của con nên chỉ có con biết, người nào để ý sâu sắc mới biết được thôi, còn người thông thường là không biết. Nếu lên đây tu học thì nồng ấm thật sự, còn lên đây không tu học mà cứ khóc lóc, tình thương, kể lể này kia thì không muốn gặp, mình phải lên học pháp, cầu pháp, tìm phương pháp thì mới gặp nhau vì Đức Phật đã nói:
"Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Ðang thấy Ta, là thấy Pháp". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, V. Vakkàli)
Đời sống của con là pháp, người nào muốn cầu pháp, học pháp, tu pháp thì mới gặp con, còn ngoài ra là không gặp, hoặc có gặp cũng như không gặp. Nếu không hướng tâm về pháp thì dù ngồi đối diện cũng cách ra ngàn dặm vì một người hướng vào và người kia thì hướng ra thì làm sao gặp. Chú Dũng bây giờ cạo đầu, bỏ hết công việc lên đây tu học mà giờ anh em, bạn làm ăn ngày xưa lên gặp nói về tiền bạc, danh lợi, ăn chơi thì chú có muốn nghe không, còn nói về tu học là nghe liền cho nên ai thấy pháp là người đó thấy ta, ai thấy ta là người đó thấy pháp, ai gần pháp thì người đó gần ta, ai gần ta thì người đó gần pháp. Đó là chỗ tuyệt diệu của người xuất gia, trở lại vấn đề là đừng để dính mắc, trói buộc đối với sự cung kính, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng, thân thiện.
Con thấy trong đại chúng có người thân với người này không thân người kia là con không vui, đó là tâm thiên lệch, nhóm này chơi có hai ba người, nhóm kia không chơi thì đó là tâm thế tục, phàm tình, đó là bị dính mắc. Không có gì nặng nề nhưng người này hiền lành, dễ nghe, dễ nói nên chơi thân, còn người kia khó nói nên tránh, đó là không đúng, phải tập tâm rộng mở, nhu hòa, không dính mắc dù cho là thiện pháp. Nếu không khéo với cái tình đúng sai, hay dở, thân sơ thì thành sai, phải giữ với nhau bằng cái pháp thì mới có an ổn, lợi ích lâu dài, ngược lại thế nào cũng có chuyện.
Vì pháp mà đến với nhau để tu học, vì pháp mà đi để cầu pháp, tất cả phải đặt pháp trên đầu. Đức Phật nói người không bị dính mắc, người không bị nắm lấy, không bị trói buộc giống như mặt trăng, giống như bàn tay giữa hư không, đó là người xứng đáng để đi đến các gia đình và người đó suy nghĩ ai muốn được lợi thì được lợi, ai muốn công đức thì công đức, tức là người nào bố thí, cúng dường thì bản thân người đó sẽ được lợi, người nào bố thí, cúng dường thì bản thân người đó sẽ được công đức, đó là vì lợi ích cho những gia đình đó chứ không phải gia đình đó đem lại lợi ích cho mình.
Đúng ra người Phật tử nào hiểu pháp rồi cúng dường lớn thì người đó phải cảm ơn, thầy Pháp An nói con người này cúng dường cái này, người kia cúng dường cái kia thì con bình thường, nhiều khi không biết luôn vì họ làm là họ được lợi cho họ. Có những người mình cảm ơn thì bản ngã họ lại lớn lên thêm vì họ nghĩ mình nhận cái ơn của họ nhưng ngược lại họ cúng dường là họ được lợi, họ cúng dường là họ được công đức, nhờ tam bảo mà họ được lợi, nhờ tam bảo mà họ được công đức chứ không phải vì sự cúng dường nhiều rồi mình đưa họ lên rồi làm hư họ nhưng bây giờ Phật tử bị hư rất nhiều. Họ cúng dường rồi đến chùa muốn lạm quyền, chỉ đạo ở đây đặt cái này, ở kia phải đặt cái khác, gặp con là nói khỏi cúng nữa.
Có một cô Phật tử muốn cúng cho nửa mảnh đất ở đây, trước khi cúng con gọi cô về bàn kĩ với ở nhà, cúng dường có điều kiện thì con mới nhận, thứ nhất cúng cái này không phải cho con mà cúng cho tam bảo, con là người đại diện để nhận, thứ hai không được ở trong miếng đất mình cúng, nếu muốn ở thì phải mua chỗ khác, thứ ba là khi đã cúng rồi thì chư Tăng sẽ quyết định toàn quyền để kiến lập đạo tràng tam bảo chứ không phải mình cúng rồi là có ý kiến vào phải theo ý mình là con không nhận.
Mình nhận cúng dường này phước báo cho họ, còn người nghĩ rằng cúng dường là các thầy có lợi ích thì đó là vô văn phàm phu, không phải đệ tử Phật, người nào nghĩ rằng cái này "tôi được cúng dường", "cái này cúng cho tôi" thì cũng không phải đệ tử chánh thức của Phật, đệ tử chánh thức của Phật không có suy nghĩ như vậy. Chỉ có nghĩ như vậy, làm như vậy mới đưa đến mục đích ly tham, nếu không nghĩ như vậy, không làm như vậy, không nói như vậy thì không hướng đến mục đích ly tham, chỉ có tăng trưởng thêm tham. Cho nên ngay từ đầu con đã nói phải xác định mục tiêu, kiên trì với mục tiêu và nỗ lực để đạt được mục tiêu, suốt đời không thay đổi mục tiêu.
Mình hãy tùy hỷ, hoan hỉ khi cúng dường cho các huynh đệ của mình, mình hãy tùy hỷ, hoan hỉ khi người khác được tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường, không có ganh tỵ. Mình ngồi kế bên mà sư huynh được Phật tử cúng dường liên tục, không cúng cho mình, thậm chí không thèm xá mình thì thọ; tưởng; hành sẽ bị dao động, tại đây Đức Phật dạy rằng "Như mình hoan hỉ, thỏa mãn khi mình được lợi; hãy hoan hỉ, thỏa mãn, khi người khác được lợi!", đó là tùy hỷ, vui theo, mình thấy các Phật tử tu hành tinh tấn, để tâm hướng dẫn mọi người rồi mọi người cảm nhận pháp nên người ta cúng dường là cúng cho pháp, không phải cúng dường cho mấy chục kí lô thịt ngồi đó, cúng dường pháp bảo nên phải từ bỏ tâm so sánh, có hay không, nhiều hay ít, kính hay không kính, tác ý phá bản ngã trong đó.
Cái tu của mình tế nhị đến như vậy chứ không phải đợi cái gì dữ dằn mới tu, mời cô Toàn lên đây không phải chuyện dễ mà người ta quỳ lạy cô cung kính, khóc lóc, trong khi con ngồi kế bên không nhìn con hoặc là nói chuyện với cô từ đầu đến cuối không thèm nhớ tới con, lúc đó mình phải xem lại cảm thọ, xem lại bản ngã của mình, những cái này rất sâu sắc nếu mình không phá được thì không tu được.
Cô đã đi đến các học viện Phật giáo lớn của Việt Nam, đến chùa Hoằng Pháp có đạo tràng vĩ đại nhất, đi đến chùa Giác Ngộ là nơi tiếng tăm, rất nhiều chỗ nhưng không phải người ta không biết cái pháp này hay, người ta biết nên người ra mới mời cô, các bậc thầy đó không lẽ không biết nhưng biết rồi là kính như viễn chi, chào rồi là xong. Có thể gạ gục bản ngã mình xuống được không? Một ông thầy trụ trì, một ông thầy thượng tọa, Hòa Thượng, giảng sư, giáo thọ sư ngồi đó mà người ta quỳ lạy cô không, thậm chí mình phải chịu lép, chịu sai, người kia đúng, mình có phá trừ bản ngã được không?
Đây là quan ải, nếu không phá được quan ải này thì không thể tiếp nhận pháp chứ đừng nói chi quỳ lạy vị cư sĩ giữa hàng trăm người. Chính vì vậy có thể những việc con làm bây giờ có thể người ta không chấp nhận nhưng sau này sẽ trở thành huyền thoại là không phải chuyện dễ. Thoát ra khỏi nổi cái cao thấp, cái sắc tướng, địa vị, vai vế, trên dưới, đó là cả một sự đột phá lớn, đây là chuyện không hề đơn giản chút nào cho nên các cô quỳ lạy nhau không phải là chuyện đơn giản, đó là sự phá cách, xuất cách, núi Tu-di sụp đổ, thậm chí đến thầy mình hoặc là Hòa Thượng cũng không muốn lạy, nếu không lạy thì người ta nhìn mình nên phải lạy, cái thật sự cung kính đảnh lễ là cả một vấn đề, phải hạ đo ván bản ngã.
Sự tu này là cả một công trình, cả một sự chiến đấu chứ không hề đơn giản, đó là mới nói đến cái thô nhất ở bên ngoài, bên trong còn nhiều lớp hơn nữa cho nên phải kiên trì, cố gắng. Đó là nội chướng ngoại ma, bên trong là chướng còn bên ngoài là ma.
./.