Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tam su voi nguoi xuat gia - Ly tham la phap toi thang - nghe, danh may, BT tu ngay 30.4.2019

2026-03-03 00:52:25
LINH QUY PHÁP ẤN

TÂM SỰ VỚI NGƯỜI XUẤT GIA

Ly tham là pháp tối thắng

THÍCH MINH THÀNH

NHÀ XUẤT BẢN …………………….

Thuyết giảng:

Thích Minh Thành.

Chuyển thành văn bản:

Thiện Ngộ.

Biên tập:

Thiện Ngộ.

Sửa bản in:

………………………..

Ban Văn hóa Pháp Ấn

thực hiện

Sư phụ giảng cho Ni sinh; chưa rõ tên bài, TN đặt tựa;

Nghe và biên tập từ máy ghi âm của Sư phụ

ngày 30.4.2019 đến 0 giờ, rạng ngày 04.5.2019.

MỤC LỤC

Chánh tri kiến là nền tảng của trí huệ …………………………………. trang4

Rèn luyện không ngừng soi chiếu năm uẩn .........……………………………6

Ly tham tối thượng pháp ………………………………………………………. 8

Chánh tri kiến là nền tảng của trí huệ

Mỗi khi chúng ta bước vào thời khóa công phu, cùng cất lên hồng danh Bổn Sư ba lần như vậy, chúng ta có cảm nhận gì? Miệng niệm ‘Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật’, tai nghe âm thanh rõ biết đức Phật mình đang niệm, mắt nhìn thấy tôn tượng Thế Tôn. Toàn thân và tâm lắng dịu trang nghiêm hướng về đức Phật trì niệm.

Chúng ta đang ngồi yên nhưng khi nghe bên ngoài có âm thanh, chẳng hạn tiếng niệm Phật thì chúng ta chạy theo duyên trần. Ta không làm chủ tâm này được, vì bên ngoài có tác động lập tức mình bị dẫn theo. Tuy đó là câu niệm Phật nhưng vẫn là sự hướng ngoại của mình, không quay về soi rọi nội tâm rõ ràng trong lúc ngồi chánh niệm. Đây là câu niệm Phật mà mình còn bị dẫn theo huống nữa là câu mắng chửi người khác giành cho mình, lúc đó mình sẽ bị chết theo câu đó.

Cho nên, cần sâu sắc chiêm nghiệm trước mọi cảnh huống từ bên ngoài. Hành giả hãy chuyên chú vào cảm giác toàn thân và định tâm trên thân. Cần phải thực tập đối với tất cả âm thanh. Dù cho ai đang ngồi ngoài sau bị ho một tiếng mạnh hoặc có vị nào đó làm ngã chiếc ghế vang ra âm thanh lớn thì cũng không vì thế mà làm mình phải tỏ ra sự khó chịu, quan tâm, dự vào, bị tác động. Ai không thường xuyên thực tập cảm giác toàn thân, trước cảnh huống ấy chắc hẳn sẽ quay lại nhìn coi ai bị ho, ai làm ngã ghế, ai đã gây ra những âm thanh kia. Đó là chỉ mới nói tới việc quay người và nhìn, sẽ có người còn lên tiếng, nét mặt, cử chỉ biểu lộ ra bên ngoài cùng một lúc với những âm thanh ho và ngã ghế kia. Như vậy, không còn chánh niệm, chẳng trú tâm vào thân và nhận diện, điều phục cảm giác toàn thân đang hiện hữu.

Hành giả không thực tập pháp hành ví như nhà không có chủ. Bởi một khi sáu căn tiếp xúc sáu trần là mình bị dẫn đi rất xa, không còn là mình nữa, mất chánh niệm và không biết được cảm giác gì đang hiện khởi. Như vậy làm sao điều phục tâm, chẳng thể nào đoạn tận pháp bất thiện đang sinh khởi, hiện hữu, phát triển trong thân và tâm này.

Bạn mình làm việc mệt nên gương mặt đang có biểu hiện nét cau có, mắt mình bắt gặp sắc diện ấy rồi bị nó dẫn đi luôn, mình cũng đổ theo cơn bực. Bực mình và bực người. Đây là sự thiệt thòi, đáng thương cho một người không có tu tập.

Do vậy, chúng ta thường xuyên tinh cần thực hành tọa thiền chuyên chú vào ba pháp: Chánh niệm trước mặt, trở về hơi thở cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Đây là tấm bản lề, rất quan trọng của sự tu hành. Không phải ngồi thiền mới thực hiện ba pháp này, bất cứ lúc nào trong oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm, nói, nín, động tĩnh đều chuyên chú tỉnh giác chánh niệm.

Hành giả luôn trở về an trú trong hơi thở, làm chủ cảm giác, định tâm trên thân. Ngược lại, chúng ta sẽ dễ bị bản ngã, cái tôi lưu trú, hoán đổi đúng sai mê lầm, làm nhiễu loạn mình, cho mình chạy trong vô minh sanh tử luân hồi mà không hay biết, chẳng thật rõ về năm uẩn.

Không nhận rõ năm uẩn đang vận hành, lại cho nó là mình. Ví như có một cảm thọ sanh khởi về sự bực tức, hành giả phải nhận rõ đây là khổ thọ, phân loại xem nó là khổ thọ về thân hay về tâm. Đặc biệt, rõ biết sự khổ thọ này chỉ là cảm giác, sanh diệt, biến hoại, vô thường, chẳng chấp vào đó cho là thật, thường còn.

Hoặc như, có khi dịp Lễ, Hội, Giỗ tuy mệt thân vì phải cùng mọi người sửa soạn, chuẩn bị trang hoàng cho đầy đủ, trang nghiêm, tốt đẹp, thành tựu… nhưng lại vui về tâm. Vì thấy đại chúng tới sớm, đầy đủ huynh đệ trong pháp hỷ. Do vậy, cần nhận rõ cảm thọ thân và cảm thọ tâm. Đừng nhầm lẫn, làm cho cảm thọ thân tác động đến cảm thọ tâm. Chẳng hạn, chúng ta đang đi công việc ngoài đường, thời tiết lúc này là 38 độ C, nóng bức, gay gắt, khó chịu, cơ thể tuôn mồ hôi. Lúc này mình dễ bực tức, nổi sân nhanh hơn lúc bình thường, vì thời tiết tốt đẹp, không gian dễ chịu sẽ thoải mái, nhẹ nhàng hơn. Như vậy, từ cảm thọ thân bên ngoài nó xâm chiếm vào bên trong cảm thọ tâm, nó lấn lướt, làm thay đổi suy nghĩ, thái độ sống lúc hiện tại.

Ngược lại, cảm thọ tâm làm thay đổi cảm thọ thân. Ví như, đang bình thường, nghe điện thoại reo, từ bên kia phát âm thanh cho biết tin là người thân của mình đang nhập viện cấp cứu trong tình trạng nguy cấp. Sau khi nghe điện thoại xong, tâm trạng mình có còn bình thường, an vui như lúc nãy hay không? Có khi tay chân run lên, bước đi lập cập, sửa soạn đồ đạc luýnh quýnh để còn tính toán về cho kịp lúc gặp được mặt người thân trong giây phút thập tử nhất sinh này. Thọ nhĩ xúc sanh, lo lắng, chấn động, sợ hãi.

Hoặc như buồn, giận ai đó cũng có thể bỏ ăn, ăn không vô, ăn chẳng có cảm giác ngon lành, rồi ngủ không ngon giấc, thao thức, trằn trọc. Từ chỗ ăn không ngon, ngủ không yên sanh ra thân bệnh. Đây là tác động cảm thọ từ tâm sang cảm thọ thân.

Thật vậy, cảm thọ tâm nó ảnh hưởng sâu rộng và mãnh liệt hơn nhiều so với cảm thọ thân. Luôn luôn nhìn lại cảm thọ xuất hiện, sanh khởi, an trú, phát triển ở bên trong và mình làm chủ được từng loại cảm thọ đó, phân loại và đoạn diệt những loại cảm thọ tiêu cực, đưa vào sự đau khổ sanh tử. Có thường xuyên thực tập, quán chiếu miên mật thì mới phát hiện kịp thời, diệt tận cội rễ phiền não, tham – sân – si, bản ngã. Rèn tâm luyện thân như vậy mới sinh ra trí huệ thật sự, dựa trên nền tảng chánh tri kiến.

Rèn luyện không ngừng soi chiếu năm uẩn

Trí huệ năm uẩn là trí huệ của bậc Thánh. Chúng ta thường xuyên rèn luyện để thấu tỏ năm uẩn. Từ đó, có phương pháp tu hành nhằm nắm rõ đặc tính, bản chất của các cảm thọ để có cách nhiếp phục, diệt tận. Tuy nhiên, nhiếp phục tới đâu thì hay tới đó, không thể một lần mà đoạn tận được!

Ví như, hôm nay ở chùa có vị Thầy đến giảng pháp, nếu mình sắp xếp mọi việc ở nhà bếp tốt hơn, nhanh gọn hơn và không tạo thêm nhiều món ăn thì sẽ tranh thủ dự được giờ nghe pháp. Còn không khéo sắp xếp, mình sẽ bày thêm món này món kia cho ngon, cho đầy ắp thì không còn giờ để nghe pháp. Hoặc không làm việc ở nhà bếp thì mình lo bận làm việc ở đâu đó, không tranh thủ nghe được pháp thoại nuôi dưỡng trí huệ trên đường tu. Hoặc như làm nhiều việc nên mệt, rồi dễ sân với người khác, thành ra cự cãi với nhau, mất cơ hội thính pháp. Con đường tới Đạo còn xa mịt mù. Đó là do mình không biết quý trọng, biết tiếc những khoảnh khắc quý giá của cuộc đời để nghe pháp và nương theo ấy mà hành trì.

Khi chúng ta không thấy được cảm thọ: vui, buồn, không vui không buồn, sẽ để chúng mặc nhiên tuôn chảy theo tập khí nhiều đời, theo thói quen nhiều năm. Như vậy, ta với người làm việc và mãi trong pháp đối đãi hơn thua, đúng sai, thị phi, phiền não trong bóng tối vô minh chỉ đạo.

Thật vậy, các cảm thọ là không đáng hoan hỷ, chẳng nên giữ chặt, bởi chúng hư hoại, vô thường, luôn biến đổi. Hành giả chuyên rèn pháp xả ly đối với bất cứ cảm thọ gì sanh khởi. Điều này hẳn nhiên rất khó khăn, trên lý thuyết là vậy, thực tập chẳng dễ chút nào! Nhưng nếu mình cố gắng, nhiệt tâm, tinh cần, không ngừng vượt lên sẽ thành tựu. Còn ham thích cảm thọ - cảm giác là còn bị trói cột, ngay cả khi không có khởi nghĩ cảm thọ vui hay buồn thì cũng là còn vô văn phàm phu.

Trí tuệ năm uẩn trong kinh tạng Nikàya được đức Thế Tôn trình bày cặn kẽ, xuyên suốt trong các bản kinh. Chúng ta sẽ thấy được vị ngọt của cảm thọ, sự nguy hại của cảm thọ và sự xuất ly cảm thọ.

Khi chúng ta nhìn lên tượng, hình, tranh vẽ về đức Phật rồi chắp tay lạy, cầu nguyện là mình đang cầu nguyện bức tượng, hình vẽ, tranh Phật đó phải không? Đó là sắc pháp, biểu tượng. Khi năm uẩn ta chạm với biểu tượng ấy để xoay trở ngược lại soi vào bên trong để nhận diện cảm giác đang sanh khởi, phân loại và diệt tận những gì là bất thiện pháp, là hơn thua, phải quấy đúng sai, hay dở, khen mình chê người, tham – sân – si, bản ngã… Như vậy, thấy năm uẩn là thấy Phật. Nếu không, ngày ngày chúng ta khởi tâm phân biệt đây là tượng đồng, kia là tượng gỗ, nọ là tượng dát vàng mà không thấy Phật ở đâu cả! Đó là chạy theo sắc uẩn, mãi lựa tượng Phật và cầu xin thì chẳng thể biết rõ được sự vận hành của năm uẩn ra sao, làm sao có được cách diệt tận tham, sân, si của năm uẩn thế nào.

Ví như, mình c rất nhiều tượng Phật, nhưng mình đặc biệt quý nhất một tượng, không may có ai đó đã “rinh mất ông Phật” mình thích nhất, lúc đó cảm thọ thế nào? Tâm khởi ra sao? Ai không hoan hỷ, chẳng đắm trước bởi năm uẩn sẽ đoạn diệt khỏi khổ đau.

Khi đứng trước tôn tượng đức Thế Tôn, hành giả rõ biết đó là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, đã diệt tận mọi cáu bẩn, uế nhiễm, không còn tham, sân, si, bản ngã. Khi lạy Phật là cúi xuống năm vóc sát đất, quay lại soi trong mình những uế nhiễm đã thanh sạch hay chưa, phải lóng cặn và diệt tận nó, không cho bản ngã sanh khởi, chẳng để cảm giác đánh lừa, tham sân si che lấp trí huệ. Lạy Phật chí thành như vậy mới là tôn kính Phật. Nếu không, vô tình chúng ta chỉ còn tu trên hình tướng, bị năm uẩn lôi kéo và nhầm lẫn giải thoát, thật ra vẫn lòng vòng trong biển khổ của sắc uẩn này. Vì tu trên sắc tướng, tu trong tưởng tượng. Do vậy, không thấy được trí huệ sanh khởi.

Hiện nay, chúng ta tu trên hình thức nghi lễ quá nhiều! Những màu sắc, tổ chức diễn ra nhiều. Mình chưa thấy rõ mục đích sự tu tập là gì. Tham dục, ái có giảm chưa? Khi tiếp duyên xúc cảnh gặp trái ý nghịch lòng có lắng dịu không hay còn sân si? Sự si mê là không nhìn thấy được các pháp, chẳng nhìn thấy năm uẩn, không rõ biết cảm giác vận hành. Cảm xúc của bản ngã, mình có nhận rõ hay vội cho đó là mình, của mình?

Đó là những điều trọng yếu mà cần nhìn lại, suy xét, quán chiếu để đường tu mình quang đãng hơn. Chúng ta còn mải lo nghĩ việc phải trồng cây cho đẹp, cắt tỉa cành cho thành hình con này con kia cho thích con mắt. Quét dọn lau chùi cho nó bóng loáng lên, lo những gì thuộc hình thức, càng quan tâm, chăm sóc vẻ ngoài càng như tằm kéo kén càng ngày càng bện chặt lại.

Ngày ngày ta trau chuốt cho hình sắc, sắc tướng này, tốn rất nhiều thời gian cho nó nhưng không biết rằng nó đang giết mình từng giây phút, nó hủy hoại đi đời sống nội tâm mình rất nhiều, vì mất thời gian. Chính sắc uẩn sanh khởi ái, dục, tham. Thọ uẩn này làm cho mình sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta tự nhận sắc, thọ, tưởng, hành và thức là tôi, tự ngã của tôi. Điều này đã làm mình bị nhấn chìm vào trong tối tăm sanh tử khổ đau, phiền não liên mien bất tận. Khi nào mình vượt thoát khỏi năm uẩn vô minh này sẽ gặt hái được Thánh trí năm uẩn, cũng có nghĩa là ta đã phá tung màn lưới vô minh, uế nhiễm, khổ đau.

Khi không thật thấy rõ bằng trí huệ, chúng ta dễ bị tưởng tượng và suy nghĩ chính bản thân làm sai lệch, đánh bóng điều mình cho là sự thật và mình bị chạy theo cảm giác đó, chết trong đó. Hành giả cần thường trực nhận diện năm uẩn để biết được các cảm thọ hoạt động ra sao, rõ biết các pháp và điều phục chúng, chế ngự, diệt tận không làm cho nó sanh khởi, hiện hữu nữa.

Ly tham tối thượng pháp

Chúng ta ngồi bên nhau nên bàn chuyện Phật pháp, nói về xả ly, ly tham, đừng nói chuyện thị phi, những chuyện ngoài lề chánh pháp. Nó không mang lại ý nghĩa và lợi ích thiết thực cho người tu, đường tu của chúng ta. Nếu không làm cho mình nhàm chán, xả ly, mà còn ham muốn, thích thú trong cảm giác và năm uẩn điều phối mình thì còn nằm trong sanh tử thường trực. Còn đắm trước trong lợi dưỡng, đắm say những điều ham thích chính là điều kiện trực tiếp và nhanh nhất trở thành mồi ngon của ác ma.

Thường xuyên tập nhận rõ cảm giác toàn thân, dù dang ngồi học Pháp, bên ngoài chuông reo hết giờ, mặc kệ tiếng chuông, chúng ta vẫn bình thản trong oai nghi chánh niệm tỉnh giác. Khi nào Giáo Thọ Sư cho nghỉ thì cùng lúc nghỉ, còn mình nghe chuông báo hết giờ học cứ nhốn nháo, sếp sách vở thì có khác gì thế tục, khác gì các em học sinh ở ngoài đời. Những điều nhỏ nhặt, thường gặp mà mình chưa thể chuyển hóa được bằng sự thanh tịnh thân tâm, chánh tư duy oai nghi thì khi gặp những chuyện to lớn làm sao điều phục được cảm giác, khó mà chế ngự năm uẩn này.

Hành giả quán chiếu, nói mạnh với tâm rằng ‘không có chỗ nào để phải giành cả, chỗ thật sự của mày là nghĩa địa! Chỗ của mày là nhà cốt kìa!’. Mình đánh tan cảm giác ‘ta đây’, tự ngã. Vì sao phải làm vậy? Chúng ta dễ bị bên ngoài tác động, không định tâm được, do thiếu quán chiếu cảm giác toàn thân và nội tâm luyện tĩnh. Ví như, đang cười nói vui cùng bạn đạo, nhưng sư phụ la rầy điều chi đó thì xụ mặt. Hoặc được ai đó khen mình thế này, thế kia là phồng lỗ mũi, mắt sáng rỡ. Đó là cảm giác, là chưa có sự nhiếp phục thân tâm, chưa làm chủ được mình. Luyến ái, chấp thủ, bản ngã quả thật kinh khiếp!

Nếu không thường xuyên thực tập pháp nhận diện năm uẩn, điều phục và làm chủ cảm giác thì hành giả mãi bị nó ngăn che, lôi kéo, vùi dập trong khổ đau. Có thường xuyên thực tập thì khi nó vừa manh nha, có biểu hiện của tham, sân, si, bản ngã, ái, dục,… là mình biết ngay loại cảm giác gì, loại tưởng gì, loại hành diễn biến ra sao và thức rõ biết thế nào về pháp đó là bất thiện hay thiện… Lúc đó, mình làm chủ cảm giác, làm chủ sự vận hành của năm uẩn này, như vậy mới diệt tận được chúng, đoạn tận những ham muốn dấy khởi bất tận.

Vô văn phàm phu là đợi tới chuyện nó bung ra, đã xong thì mới thấy, còn vị Đa văn Thánh đệ tử khi gặp, thấy, biết một việc vừa sanh khởi từ nhỏ nhiệm đã rõ biết và có cách phòng hộ, an trú, điều phục, tẩy sạch những gì mang tính uế nhiễm, não hại.

Trong Tăng Chi Bộ kinh, đức Phật đã từng chỉ dạy, vị Tỷ-kheo nào đang đi, đứng, ngồi, nằm mà khởi lên dục tầm, sân tầm, hại tầm; vị ấy không nhiệt tâm tinh cần, chẳng tỉnh giác thì đó là vị hạ liệt trong tu tập.

Đó là những suy nghĩ về dục, về sân hận, về những gì muốn gây não hại cho người khác, đó là bất thiện, là tà tư duy. Ngược lại, chánh tư duy là ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy hoặc xả ly tư duy. Tâm mình lúc nào cũng hướng tới sự viễn ly những điều nguy hại cho mình cho người, chẳng muốn hơn thua. Vị nào trú được xả tâm này sẽ luôn nhẹ nhàng, an lạc. Vì nếu không thực tập và làm được điều này thì chúng ta xúc duyên tiếp cảnh mỗi ngày qua đi rất nhiều điều gieo trong não, làm cho mình bận tâm, rối trí nặng lòng sanh khởi phiền não, mù mờ trên bước đường đời đường tu mà không có liệu pháp xả tâm thì cứ nhận mãi, ùn ứ và mệt mỏi, ngao ngán, phiền não. Ví như, ăn, uống, sinh hoạt, nói năng, làm việc, tu tập,… sẽ có chuyện với người này người kia nếu như không có trú xả tâm, chẳng thường soi lại mình, điều phục bản ngã mình.

Hành giả tập quản lý sáu căn khi nó gặp sáu trần thì sanh chuyện. Hãy thực tập chuyên chú vào để rõ biết tường tận về từng căn trong mỗi hành động, mỗi lời nói, sự nghe, sự thấy để cho thật đúng như chánh pháp, đừng thông qua cái ta, cái tôi, bản ngã có mặt thì mọi chuyện trở thành sai khác. Năm uẩn vận hành rất siêu, nếu không có trí tuệ sắc bén, tế nhị, tinh vi thì chẳng thể thấy được sự vận hành biến chuyển năm uẩn trong mỗi sát-na đời người. Nếu không thấy được pháp sẽ thấy cái tôi. Không tu tập sẽ cho thọ, tưởng, hành, thức là mình, của mình rồi trôi lăn trong sanh tử.

Ví như, ai đó đánh mình thì sao? Đánh thương yêu thì khác còn đánh kiểu giận sẽ khác. Cảm thọ hiện diện qua rất nhiều hình thức, vô vàn cung bậc cảm xúc. Cho nên hành giả cần nhận diện rõ về bộ mặt của chúng để biết căn nguyên ‘cơn bệnh’ ấy mà ‘kê toa’, ‘bốc thuốc’ cho đúng, cho trúng để mau hết bệnh!

Bởi tâm mình dễ hướng ngoại hoặc là bị ngoại cảnh tác động, nếu tà kiến thì còn lâu mới thấy được năm uẩn. Lúc này, mình đi đâu cũng vác núi Tu Di theo, chuyên chở tấm thân phàm tục này cho là mình, là tôi, của tôi, bản ngã chất đầy trong đó. Ở nhà khổ quá nên mới chạy vô chùa, ở chùa cũng khổ quá nên chạy vô thất tĩnh tu, nhưng nếu vô thất mà còn khổ nữa thì chạy đi đâu đây? Khổ do không thấy được năm uẩn nên mãi chạy, cả đời cứ lăng xăng mãi mà chẳng thành tựu pháp. Từ chỗ dục, tham, sân, bản ngã, chẳng phải ở bên ngoài tác động.

Nếu người kia đang sân hận trùng trùng mà mình cứ tâm yên thân bất động thì chẳng có chuyện xảy đến, vì chẳng có tương ưng, không có giao cảm, đâu có mồi lửa nên chẳng sanh lửa hừng. Chúng ta có tật thích đổ thừa mà không chịu thích giác ngộ, thích trí huệ. Thật vậy, mê tín, hướng ngoại, tà kiến nó xâm nhập và chiếm hữu nội tâm mình nhiều lắm! Chính nó ngăn chặn con đường tới trí huệ của người tu! Do vậy, phải nhiếp phục được tham trong cảm giác của chính mỗi người chúng ta.

Thường xuyên quán chiếu những cụm từ: Hoan hỷ, hoan nghênh. Chúng ta chớ bị đắm trước, uế nhiễm trong đó. Đừng hoan nghênh đối với sắc, chớ an trú tâm mình trong sắc uẩn. Vì an trú tâm trong sắc là tự mình cho sắc này là mình, của mình, tức là ta lập địa chỉ thường trú ở trong sắc này. Ví như, ta cho rằng chùa này của mình, phòng này của mình, thân này của mình rồi những vật dụng khác, chẳng hạn đồng hồ của mình, mắt kính của mình, chiếc xe của mình, cái áo của mình, tràng chuỗi của mình… Chúng ta gắn cái mác của vô thường thì sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi, nó lập tức có mặt và đồng hành đưa mình vào cõi chết. Ngay đó phải quay lại nhận rõ sắc này là tứ đại hợp thành, tứ đại vô thường, biến hoại.

Người nào càng mong muốn, đòi hỏi, thích tìm thêm thì còn lụy trong sự bất an, buồn bã, sầu khổ. Đó là tâm mê, không nhìn ra thực chất của năm uẩn sẽ bị nó làm cho mình chết trong luân hồi sanh tử. Cần nhìn rõ từ thân này cho tới vạn vật trong vũ trụ này cũng đều là sự kết hợp của đất, nước, gió, lửa. Tứ đại sanh diệt, chẳng thể thường hằng vậy sao mình lưu trú, hy vọng, mong cầu, bám chấp vào đó, cho đó là mình, của mình, là tôi, của tôi, cống cao ngã mạn, chê người khen mình. Rất là nguy hại!

Ly tham đối với sắc chất, sắc uẩn này đưa mình tới chỗ Thánh trí, trí huệ của bậc Thánh. Chúng ta tập từ cái thô đến tế, chẳng hạn, nhìn tờ tiền mệnh giá năm trăm ngàn đồng với tờ năm chục ngàn đồng hoặc năm ngàn đồng thì chỉ biết đó là tiền tiền, chớ sanh khởi phân biệt nhiều ít, muốn là chủ sở hữu, tìm cách có được,… đó là khổ đeo đuổi. Phải ly tham! Chúng ta nhiếp phục từ từ mới được. Cứ nghĩ mà xem, một tờ năm ngàn đồng với tờ năm trăm ngàn đồng mà gặp lửa cháy rồi cũng thành tro than như nhau là hết sự ham muốn. Hoặc như thân xác của một người bảy mươi tuổi với một thanh niên mười bảy tuổi đem vào lò thiêu thì tro xương có khác nhau không? Cũng là rã mục, vô thường, là hoại diệt trong sanh mạng hữu hạn này mà thôi!

Người tu thường quán chiếu ly tham thì mới xứng đáng ngồi đó để người ta quỳ lạy, cúng dường Tam bảo! Ngược lại, mình bị tham đắm bởi vật chất, vì cảm giác nhất thời mà tổn phước, suy đức thì đường tu mong manh khó vững, nguy hại vô cùng! Vì miếng ăn, vì tiền tài, lợi dưỡng là những món mồi đang được bẫy cho những ai tham, thích mong cầu, muốn trở lại sự luân hồi trong khổ đau triền miên bất tận. Thật sự dè chừng và hổ thẹn! Rõ biết sự xấu hổ ấy để ly tham, lìa dục, ái, tham, sân, si, bản ngã chất đầy từ tập khí ngàn đời, từ thói quen nhiều năm tháng… Phải thực hành miên mật mới thành thói quen tốt, hướng thượng thiện pháp trên đường tu.

Nhìn thấu, buông bỏ, an tịnh sẽ tới tịch tịnh Niết-bàn. Phải tỏ tường bản chất trống rỗng của năm uẩn, của tứ đại này là đống bọt, bong bóng da. Xem coi mình lúc đi, đứng, ngồi, nằm, nói, nín, động, tĩnh có bản ngã, có vì mình hay không? Nhìn lại mình, soi rọi sâu bên trong nội tâm để trị bệnh si ám cho nó, điều phục, chế ngự, đoạn tận dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Trú vào tâm xả là địa chỉ thường trú của người xuất gia. Chúng ta sẽ không chết bởi cảm giác khổ thọ hoặc lạc thọ nhưng dễ sai lầm, ngộ nhận và bị nó giết chết không hay với loại cảm giác đều đều không vui không buồn, bất lạc bất khổ thọ này. Cảm giác lờ mờ, trơ trơ này xuất hiện nhiều lắm! Nếu không tỉnh giác sẽ cho đó là tâm mình, là tôi tức là chết. Đừng chạy theo cảm giác, bất động trong sự tỉnh sáng rõ biết, thường xuyên hành trì trên bước đường giải thoát bản ngã, gông xiềng của vô minh năm uẩn để thành tựu Thánh trí năm uẩn. Ly tham là pháp tối thượng, là kim chỉ nam, đèn sáng cho mỗi chúng ta dũng mãnh trên con đường cầu Đạo.

./.