SÁM HỐI DIỆT NGÃ 6 - Tu Trong Nhà Bếp -Làm Việc -Trình Tự Pháp Hành
TU TRONG NHÀ BẾP – LÀM VIỆC – TRÌNH TỰ PHÁP HÀNH
-Thích Minh Thành-
Ngày 18 tháng 12 năm 2021
Kính lễ ân đức Thế Tôn
Kính lễ ân đức Chánh Pháp
Kính lễ ân đức chúng tăng
Kính lễ ân đức bậc đạo sư
Kính lễ ân đức Thánh giới.
Kính bạch các bậc hiền trí, tăng ni cùng quý Phật tử, lâu nay chúng ta nghĩ rằng thiền đường là nơi tu, chánh điện là chỗ tu, nhưng còn chỗ tu quan trọng hơn ở tất cả nơi tu là nhà bếp. Giống như mình đi ra đường, mình tiếp xúc với người mới lạ thì mình cẩn thận, dè chừng, dè dặt. Nhưng khi tiếp xúc với người thân thì mình không có cẩn trọng mà không ngờ chính người thân lại là nơi mình hết sức thận trọng. Đây là sự thấy đảo ngược trở lại thấy biết thông thường.
Tại sao nhà bếp lại là nơi tu nhiều hơn? Chỗ nào là chỗ mình lơ là, không để tâm, mình nghĩ là không cần để ý thì chính chỗ đó là chỗ cần phải để tâm, để ý, thận trọng. Những người mình nghĩ là không quan trọng, chính những người đó mới là những người quan trọng.
Thứ nhất là nhà bếp, thứ hai là khi đang làm việc, thứ ba là lúc giải lao hay thư giãn, vui chơi thì những lúc đó là những lúc mình cần phải cẩn thận để tu vì trước nay mình quan điểm là: khi ngồi thiền là giờ ngồi thiền.
Tại sao nhà bếp quan trọng? Vì chỗ đó mình không cẩn thận, mình không chánh niệm, thì mình sẽ có những lời nói hay hành vi làm buồn người khác, làm tổn thương người khác mà vì vô minh, không chánh niệm tỉnh giác nên mình không biết. Một lời nói của mình khi không chánh niệm, không tỉnh giác, không có sự tôn trọng lẫn nhau, không có sự cung kính huynh đệ, giữa các bậc đồng phạm hạnh với nhau, có thể làm cho người kia suy sụp tinh thần, làm cho họ thối đọa, lùi lại và rơi xuống núi, làm cho người nghe đó mất đi căn lành đối với Tam Bảo. CHỉ vì một ngôn ngữ hay hành động, không hiểu, không thương hay cảm thông, tôn trọng, quý kính lẫn nhau.
Đây là chỗ mình phải hết sức để tâm, đây là kinh Nikāya sống, đây là pháp sống, là sự việc có xảy ra, đã rất nhiều lần xảy ra. Vì một lời nói không chánh niệm của mình, lời nói bất cẩn, bản ngã hay lời nói ta đây, lời nói cho mình là chủ, thật ra bản thân của Minh Thành ở trong chùa thì nửa cuộc đời Minh Thành rất sợ nhà bếp, lo lắng nhiều nhất là nhà bếp. Như trong nhân gian có câu “Nhất trụ trì, nhì nhà bếp” và không phải vô duyên vô cớ mà người ta nói câu đó, tức là sau thầy trụ trì thì kế đó là nhà bếp, câu đó không mang ý nghĩa hay đẹp.
Nhưng có những chỗ mà mình không dám xuống, đó là nhà bếp, vừa là nghĩa đen cũng là nghĩa bóng vì chỗ đó là lửa, lửa về nghĩa đen và cả nghĩa bóng. Vì đó rất dễ tham, sân, si, bản ngã. Bản thân Minh Thành rất tha thiết, biết rằng các vị làm việc rất vất vả, rất mệt, nhưng mình phải nhớ là mình tu, đừng nói những lời làm nhức nhối cho nhau, đừng nói những lời làm tự ái, tổn thương đến nhau, làm mất đi hòa khí, hòa kính, hòa lạc, hòa ái trong đại chúng. Phải từ sự chánh niệm tỉnh thức trong sự nhận diện thân tâm của mình, mình làm sao để luôn giữ được hòa khí, không khí hòa hợp, hòa ái, thương mến nhau trong tinh thần Chánh Pháp. Hòa hợp, hòa lạc, an vui tu học.
Điều quan trọng là hòa hợp, cung kính, tôn trọng lẫn nhau. Đây là Minh Thành nói rộng đến các Phật tử, trong gia đình khi làm bếp rất dễ mệt, dễ phiền, dễ quạo, dễ bực, dễ sân si. Nên khi ở trong nhà bếp dù là ở trong chùa hay ở ngoài gia đình thì chỗ đó là chỗ cần phải tu thật nhiều. Nên mong rằng chúng ta dần dần sẽ đi vào sự quản lý thân tâm, quản thúc sáu căn, thâu nhiếp và chế ngự ba nghiệp của mình. Phải có một kết quả rõ ràng, thực tế, thiết thực để mọi người cùng thấy, tự thân mình thấy, bạn đạo mình thấy, mọi người về nhìn thấy.
Mình phải tiến bộ hàng tuần, hàng tháng, hàng ngày, mình phải thấy được sự tiến bộ rõ rệt trong sự thâu nhiếp và chế ngự các căn, đây chính là pháp hành. Và chỗ thường ngày khi mình ở dưới bếp là những giờ mình thả lỏng các căn. Giờ đó dễ tham, dễ muốn, dễ buông lơi, buông lỏng, buông xuôi, buông trôi, buông lung trong lời nói và hành động.
Minh Thành đã từng nhắc, về hình ảnh khi nhỏ chỉ mấy tuổi nhưng đến giờ vẫn không quên được, đó là ở chùa Quảng Phước, lúc còn cố sư bà trụ trì, Minh Thành bước vào bếp phải giật mình vì có đến mấy chục người làm bếp, đó là dịp rằm lớn nhưng không nghe tiếng bằm chặt. Nên Minh Thành nhìn kĩ thì mọi người bằm xả là dùng dao ấn, họ hạn chế tiếng động tối đa.
Trong thanh quy đạo tràng của chúng ta đọc hằng ngày, khi đọc là để nhớ, ứng dụng, chứ không phải đọc trả bài rồi thôi, lúc trở ra lại không nhớ, lãng quên, buông lung. Vậy nên có hình ảnh dưới bếp rất yên lặng, nhẹ nhàng. Và tại sao có những vị ở dưới bếp làm công quả, phụ giúp công việc, nếu như họ thấy chư tăng, chư ni, các vị tập sự xuất gia, Phật tử tu học trang nghiêm thì người ta có dám buông thả không? Dù cho người ta có dám buông thả thì người ta cũng bị không khí trang nghiêm, thanh tịnh đó, thu thúc, thu nhiếp đó làm cho người ta có sự thu mình lại, thâu nhiếp lại, cẩn trọng, dè dặt lại.
Nhưng nếu mình buông thả thì người ta cũng thả buông, nên mình phải làm gương trước mới được, mình không đổ thừa vào hoàn cảnh, đổ thừa vào người khác. Người ta buông mà mình lo thâu nhiếp của mình.
Và nhớ sự thâu nhiếp không phải là thầy hỏi mà không trả lời, thâu nhiếp không phải như khúc cây không dám động đậy. Đó như hai thái cực, một cái là buông trôi, một cái là không nhìn đến ai nữa, có gọi cũng không muốn trả lời.
Vậy nên nhà bếp là chỗ tu nhiều nhất, người làm trong bếp phải tu, người đi xuống bếp cũng phải tu. Người đi đến như các thầy các cô là đến để khất thực, không phải xuống để chơi, nói chuyện. Không có phận sự miễn vào, nên không tự nhiên mà xuống bếp, chỉ những người có ca trực thì mới xuống đó, cũng không phải đi vào đó để nói chuyện.
Người làm chánh niệm tỉnh giác, người xuống khất thực trang nghiêm thanh tịnh, thì mỗi người giữ cho chính mình là giữ cho đại chúng. Mình là sư huynh, sư tỉ mà lại không trang nghiêm thanh tịnh, thả lỏng thì sư đệ, sư muội ở dưới ra sao? Họ cũng sẽ giống như vậy. Nếu như mình không trang nghiêm thanh tịnh, thì tự thân mỗi người sẽ trang nghiêm thanh tịnh, người ta sẽ không dám đùa giỡn, vì mình như thế nào thì người ta mới dám đùa giỡn, dần dần cũng thành quen.
Vậy nên lúc nào cởi mở vui vẻ là cởi mở vui vẻ, chia sẻ, cảm thông, nhưng lúc nào oai nghi, trang nghiêm là phải như vậy. Nên chỗ đó dễ nóng, có nhiều lửa, dễ tham, sân si, bản ngã, dễ nói chuyện thị phi, dễ buông lung phóng dật, nên chỗ đó là phải tu thật nhiều. Chỗ tu nhiều nhất chính là nhà bếp nên đang sửa nhà bếp, sửa xong phải để một tấm bảng, chỉ cần bước vào cửa, đi vào trong bàn thọ trai là phải đề hết các bảng đó. Chỗ đó tu được là những chỗ khác tu được.
Nơi cần tu thứ hai là khi đi ra làm việc, vì khi làm việc thì tâm phàm phu nhỏ hẹp, tâm chấp thủ, tâm chỉ thấy một góc, một cạnh, một chiều, một hướng, hay làm việc thì chỉ thấy là làm việc chứ không biết tu trong làm việc. Nấu cơm thì chỉ biết nấu cơm chứ không biết chánh niệm tỉnh giác, nhận diện ngũ uẩn. Vậy nên khi ra làm việc là chỗ cần tu thứ hai. Làm thấy công việc thôi mà quên tâm, quên mình, quên pháp.
Đại chúng nghĩ bổn phận và trách nhiệm của Minh Thành đây là bao nhiêu công việc cần phải xử lý? Nếu suốt ngày chỉ nhìn việc thôi thì còn có pháp nữa không? Làm việc là lấy pháp, trí tuệ, tâm tu, lấy sự chánh niệm tỉnh thức để xử lý công việc. Công việc không là gì hết, quan trọng là phải giữ được sự chánh niệm và tỉnh giác để xử lý công việc, cũng như nấu ăn không mệt nhọc nhiều, có mệt nhọc cũng không đáng, nhiều, so với cực khổ bên ngoài mà điều khó khăn là sự chánh niệm tỉnh giác, nhận diện được thân tâm của mình trong khi nấu ăn.
Khi lái xe, khó với người không biết lái, nhưng đã biết lái thì không khó mà khó là chánh niệm tỉnh giác trong khi lái xe. Chỗ nào mình cũng trú trong pháp thì đó là tùy pháp, hành pháp. Không phải lên xe là rồi, không có pháp nữa, chỉ biết có tốc độ. Hay khi vào nhà bếp chỉ thấy nào là dao, chén, tô, cà rốt, khoai tây, đậu nành, nấm rơm, tàu hủ mà không thấy pháp, phải thấy được nó là đoàn thực. Vì dục, tham, ái tập khởi, thức ăn tập khởi nên sắc này tập khởi.
Khi mình làm hết lòng cho đại chúng một bữa cơm thanh đạm, sạch sẽ, vệ sinh, dinh dưỡng, nhưng trong khi làm mình lại thấy nhàm chán, không ham, không ưa, thích, tuy rằng mình làm nhưng mình vẫn hướng tới sự ly tham đối với đoàn thực. Như vậy gọi là nấu cơm bằng pháp, không phải chỉ nấu cơm bằng gạo, rau, củ, quả mà là nấu bằng pháp, đó mới gọi là tùy pháp, tức là làm bất cứ việc gì thì pháp cũng không vắng mặt, pháp luôn được an trú, thấy biết.
Pháp là ngũ uẩn, lúc nào, như thế nào thì bên trong ngũ uẩn đó dùng tham, sân, si, bản ngã vận hành như thế nào? Lúc mình làm thì có chế ngự, nhiếp phục không? Khi ra vườn rau, mình thấy, quán chiếu và phải biết là nó tươi thì mình ham, mình thích còn nếu nó héo thì mình đau khổ trong đó thì làm cho mình mất mình, phải dùng pháp để chăm sóc vườn rẫy, để nấu nướng, để làm việc, dùng pháp trong những giờ thư giãn hay những giờ được giải lao. Không phải nói tới giờ giải lao thì mất hết, không còn thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức nữa, không thấy lậu hoặc nữa. Như vậy gọi là hành pháp, tùy pháp.
Chữ pháp này rất tuyệt diệu, đầu tiên mình phải biết pháp là gì? Pháp là ngũ uẩn. Trong pháp, trong năm uẩn là gì bên trong đó? Phải thấy được trong đó là vô minh, tham ái, thấy được trong đó là sân si, bản ngã, hơn thua… Thấy được chúng là thấy pháp.
Lúc nào mình cũng nhìn vào xem bản ngã ra sao, hiện tại ra sao, có khởi không? Lúc nào nhìn vào dục ái với ngũ uẩn ra sao, tham như thế nào, lúc nào cũng dò xét, rà vào xem những cái sân hiện tại như thế nào. Lúc nào cũng rà soát xem độ trong sáng của tâm hiện tại đang ở mức độ nào, có thấy rõ sắc, thọ, tưởng, hành, thức không hay nó đang có một ý niệm về tôi, của tôi, tự ngã của tôi thì đó là thân kiến, phải phá ngay lập tức. Nếu nhìn lại không rõ cảm thọ, không rõ ý hành, không rõ tưởng, độ trong sáng bị mờ tối là vô minh, phải lập tức tác ý, làm cho nó rõ, lâp tức tịnh chỉ, quay trở vào để soi rọi.
Pháp là nhiếp phục, nhận ra, chế ngự. Những thứ này cũng là pháp, cuối cùng là đoạn tận. Đó là tiến trình của pháp, pháp hành, ai cũng gọi là tùy pháp, hành pháp, thuận pháp. Đó là pháp ly tham đối với ngũ uẩn.
Đầu tiên là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, kế đó là xem bên trong có vô minh, tham ái, sân si, bản ngã, hơn thua, nó có hay không có hoặc có thì tình trạng nó như thế nào, là thô hay tế và khi mình nhìn thấy trong đó rồi, thì từng loại bệnh thì mình đưa thuốc tương ứng, tương thích đối với nó, để mình điều trị tâm bệnh ngay lúc đó.
Ví dụ lúc đó sân sanh khởi, mình nhìn vào thấy được sân sanh khởi, trong khi đang làm việc thì ngay lúc đó mình phải cảm giác toàn thân, an tịnh, lắng dịu, tác ý, đánh đuổi, làm cho nó an tịnh, lắng dịu trước. Sau khi nó an tịnh, lắng dịu rồi thì mình tác ý sâu vào bên trong, nhổ gốc, tiếp tục trải tâm từ, dù cho nó hết rồi vẫn tiếp tục trải tâm từ để nhổ bỏ gốc.
Ví dụ ngay lúc làm mà bản ngã sanh khởi lên, hơn thua, ta đây thì mình nhận diện bản ngã đó, nó sanh khởi như thế nào, tình trạng hiện giờ như thế nào. Đầu tiên là mình làm nó an tịnh, lắng dịu trước, tiếp theo là nhiếp phục, chế ngự bằng sự tác ý. Trong sự nhiếp phục, chế ngự này có nhiều thứ và tùy theo mức độ, nói nhẹ, nói mạnh, la rầy, chửi mắng, nhục nhã, hèn hạ, tồi bại, ngu si. Như gọi bản ngã là rắn độc, gọi tâm sân là chó, dục sanh khởi lên thì gọi nó là heo.
Tâm hướng ngoại cứ nhìn ngó bên ngoài, tâm mông lung, đứng núi này trông núi nọ thì gọi nó là khỉ vượn, tâm đơ đơ, si si, mê mê thì gọi là bò. Như vậy, năm con này mình phải nhớ: con heo là dục tham, sân là chó, bản ngã là rắn độc, hướng ngoại là khỉ, si mê là con bò. Mỗi lần cảm thọ sanh khởi thì dục sanh khởi, gọi nó là heo, suốt ngày chỉ biết ham ăn, ham ngủ, ham chơi, ham dục “Tu mà không muốn, cả ngày ăn ngủ để bị cân kí đem bán hay sao? Muốn làm heo hay sao?”
Khi sân sanh khởi lên thì nói “Người không muốn làm mà muốn làm chó hay sao? Suốt ngày gặp ai cũng sủa hay sao? Người ta có làm gì đâu mà lại nhào ra sủa?” Phải tác ý mạnh như vậy, uy lực chừng nào thì tác ý mạnh chừng đó. Như vậy mới có khả năng nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận, diệt tận. Phải siêng tác ý.
Bản ngã là rắn độc, thì phải tác ý “Người không muốn làm mà muốn làm rắn độc sao? Người hiền lương, hiền lành mà lại muốn làm rắn hổ, rắn độc?” Phải tác ý mạnh mẽ như vậy.
Tiếp theo là hướng ngoại, “Chỉ biết đứng núi này trông núi nọ, ở chỗ này nhớ chỗ kia, chỉ biết ngóng, nhìn mãi. Tâm này là tâm khỉ vượn, vất vưởng, không yên. Người không muốn làm mà muốn làm vượn sao?”
Tâm vô minh, si mê, si ám, ngồi đâu cũng muốn ngủ gục ở đó, hai mắt đơ đơ thì kêu “Ngu như bò!” Phải tác ý như vậy, nếu có con nào hiện lên thì gõ đầu con đó, diệt tận năm con này thì mới trở thành bậc hiền trí. Nếu năm con này còn hoành hành, còn hung hãn, hung hăn, phun nọc độc, cắn người, còn chuyền nhảy lung tung thì mình vẫn còn trong phạm trù tai họa, hiểm nguy, bất an, đau khổ trong hiện tại và tương lai một cách dài lâu. Phải nhiếp phục năm con này và để hình ảnh nhắc nhở năm con ở trước sân, là heo thì để dục, là con chó thì để chữ sân, rắn độc là bản ngã, khỉ là hướng ngoại, con bò là si.
Năm con đó ở bên trong này, nếu ngũ uẩn không tu tập thì rơi xuống năm con đó, rồi sau đó thành một trong năm con đó. Vậy nên phải nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận. Bước tiếp theo là đi đến chỗ bình an, ngọt ngào, từ ái, nhẹ nhàng, thanh lương. Đó là tiến trình vận hành của pháp, là trình tự của pháp hành mà chúng ta đang thực tập. Vậy nên bước đầu nhận diện năm uẩn mà không có bước đó thì những bước sau xem như không, làm sao có thể thành tựu? Và nhận diện không phải chỉ ở trong giờ ngồi thiền là nhận diện, mà giờ làm việc là nhận diện, giờ giải lao là giờ nhận diện, giờ ra chơi, giờ nghỉ ngơi… Lúc nào cũng dò xét, canh chừng.
Ví dụ như mình có đứa con còn nhỏ, như hiện nay có nhiều đứa trẻ bị rơi từ lầu cao, có khi rơi xuống chết, có khi được cứu, hay có khi bị rơi xuống hồ, xuống giếng, ban công, tòa cao ốc. Hay có đứa trẻ cầm súng giỡn với người mẹ, vô tình chĩa súng bắn làm người mẹ chết.
Tâm thức của mình cũng giống như đứa trẻ đó, không biết gì, không nhận thức được nào là thiện, là ác, bất thiện, tham, sân, bản ngã nó đều không biết. Nên mình phải dạy dỗ từng chút cho nó ở mọi lúc mọi nơi và chính những lúc mình xem thường thì mình phải xem trọng. Ngược lại với lúc xưa mình xem đó là thường, giờ mình xem lúc đó là quan trọng. Đó là pháp hành, là Nikāya sống.
Mình thấy lâu lâu các con trong người của mình có quậy mình nhiều không? Ví như lâu lâu nó có sủa không? Có nhả nọc độc, khè vào người ta? Có nhảy lung tung không? Hay con heo có quậy mình nhiều không? Vậy nên phải nhìn ra năm con đó, cũng là năm tâm: tham, sân, bản ngã, hướng ngoại và si. Phải canh chừng, nhìn ngó nó mãi, không buông lơi nó dù cho lời nói bình thường, phải tập nói rõ ràng, minh bạch, minh chánh, trong sáng mà không nói đùa, nói chơi, nói lời phù phiếm là bị phạm trong bốn giới của miệng. Nói đùa, nói vui trong pháp, trong luật thì được, nhưng nói đùa, nói vui mà làm cho người ta hờn, giận, sân, chạm tự ái là vi phạm.
Mình càng thu nhiếp càng nhiều thì sự buông lung của mình được giảm bớt dần dần, được chế ngự. Vậy nên chúng ta đã nhìn thấy được chỗ tu quan trọng nhất của mình là ở đâu? Đó là nhà bếp, chỗ quan trọng tiếp theo là làm việc, giải lao, lúc vui chơi, nói chuyện.
Bên trên là nói về sự việc, tiếp theo là nói đến con người. Khi lần đầu gặp người khác thì mình rất dè chừng, giữ kẽ, văn minh nhưng đối với cha mẹ, vợ chồng, thầy, huynh đệ khi ở chung nhà, chung nhà, chung phòng với mình thì mình có lịch sự, giữ kẽ, cẩn thận nữa không? Vậy nên lúc đầu mới lên chùa thì khi gặp thầy thì mình cúi chào sâu, ở lâu thì không như vậy, dần dà lâu hơn thì có thể gặp không chào. Đây là Minh Thành nói sự thật, đã chứng kiến rất nhiều trường hợp như vậy, mới vào thì chào cúi đầu rất thấp, ở một thời gian thì khi chào chỉ cúi còn một nửa, dần dà giảm thêm và cuối cùng là không chào nữa.
Đó là tại vì sao? Là xem thường những người gần gũi, sự cung kính pháp bị thoái đọa, sụp đổ. Nếu không có nó thì không thể tu được, cung kính pháp là pháp tuyệt đối quan trọng. “Giờ xá thầy rất ngượng, để những người khách mới đến xá!” Tất cả những điều nhỏ nhỏ đó để chúng ta học.
Có một vị Minh Thành đến thăm thì Ngài đó dẫn lên chánh điện thì mình lạy, nhưng thầy không lạy và nói “Lâu lâu thầy đến nên lạy, tôi ở đây thân quen rồi nên không cần lạy!” Chúng ta nghe như có lý nhưng thật ra là không có lý, đó chính là chỗ hỏng của chúng ta. Nên dần dần đối với cha mẹ, thầy, sư thúc, sư bá mình không còn cung kính nữa, những bậc trưởng thượng mình không cung kính nữa, vì đã quen quá. Từ đó, mất đi những pháp cung kính, những ác bất thiện pháp sanh khởi, xem thường nên sanh. Bắt đầu nó soi mói, nhìn vào những khuyết điểm của người khác, thậm chí là bậc trưởng thượng vì pháp cung kính mất, nền tảng đã mất. Như vậy thì làm sao để tu tiếp theo?
Vậy nên Minh Thành thường kể hoài bài kinh Người vợ trẻ, cô dâu mới về nhà chồng là phải học thuộc bài đó, thuộc lòng. Thời điểm hai ngàn sáu trăm năm trước thì Đức Phật đã dạy. Đó là tại sao mà mình và người thân thường hay cự cãi, xích mích, bất hòa với nhau, chính là chỗ đó, mình giữ kẽ với người ngoài, người lạ, người khách, mà người thân bên cạnh mình lại không cung kính, trang nghiêm, không cẩn trọng, vì thấy thường, gặp rất nhiều lần trong ngày.
Vì bên cạnh người thân là chỗ để cho mình dễ sống với tập khí, với nghiệp, tập nghiệp, thói quen. Khi gặp họ thì mình giữ gìn, thả lỏng các căn nên vợ chồng nói chuyện mấy câu là cãi nhau, với người khách lạ đến nhà thì làm sao cãi nhau với người ta? Vậy nên pháp cung kính, pháp trang nghiêm, tôn trọng, cung kính, biết ơn với nhau, dù cho ở cùng nhau mười năm hay hai mươi năm thì sự cung kính của mình càng tăng trưởng, không bị thoái lui, giảm thiểu.
Dù đầu con đã bạc nhưng thầy Minh Thành vẫn dạy mình như một đứa trẻ, có thể la rầy, quở trách ở trước bao nhiêu đại chúng. Làm sao phải thực hành được tâm hiền và phải đánh gục được bản ngã thì mình mới học được Thánh pháp một cách thâm sâu. Ở trước bậc đạo sư, ân sư, thầy cầu pháp, sư phụ của mình thì mình hòa tan, tan biến bản ngã của mình trở thành miếng giẻ rách để cho Ngài chà đạp, moi móc, mổ xẻ tim gan của mình, để Ngài chỉ những khối u, tật bệnh của mình.
Ở trước bậc đạo sư, trước thầy của mình thì mình không còn cái ngã, tuyệt đối không được sanh khởi bất cứ những cái gì bất kính, khó chịu, sân hận đối với bậc thầy của mình. Còn nếu thầy mình chia sẻ mà nói “Nghe cũng hay mà sao khó chịu quá!” thì làm sao mình học? Tâm sân hận, khó chịu, bản ngã đó thì làm sao mình tiếp thu được hết các pháp? Đó chỉ là pháp học, chưa nói đến pháp hành đã gặp chướng ngại.
Khi mình nghe những lời dạy, chỉ lỗi, trung trực, ngay thẳng, đánh phá vào bên trong những lậu hoặc, tập tánh, thói quen của mình thì mình có chịu cúi đầu, dập đầu, bên trong có hình ảnh mình quỳ mọp xuống đất để lắng nghe không? Hay mình ngụy biện, trách biện, xảo biện, quanh co, giấu lỗi lầm? Đó là bí quyết để cầu pháp.
Nên hình ảnh quỳ lạy, dập đầu dưới chân người, phải sống động trong tâm mình, thường xuyên hình ảnh đó phải xuất hiện. Người bình thường mình đã cúi lạy thì với bậc đạo sư, ân sư, tôn sư của mình thì việc quỳ lạy rất bình thường. Dù cho Ngài có la, có mắng, có chửi thì bên trong đó cũng là trí tuệ, đại bi. Nếu là bậc thành tựu chánh tri kiến. Chúng ta thấy đó là quan ải, vượt qua được đó thì mới vào được cửa pháp, nhập môn.
Cửa pháp rất nhỏ, cái ta của mình lớn quá sẽ chui vào không vừa, như cửa của pháp chỉ bằng đầu ngón tay, nhưng cái ta của mình như một con người thì vào không vừa. Vậy nên mình đem bản ngã tới để cầu Thánh pháp vô ngã thì cầu không được. Phải dập đầu xuống, cúi đầu xuống, thu lại thì mới vào được cửa Pháp, gọi là nhập môn.
Nên khi Minh Thành qua Nhật, để uống được một chung trà đạo thì hết sức gian nan, vừa tốn tiền tốn công mà phải quỳ xuống và bò vào, không được đi vì cánh cổng rất nhỏ. Trong đó có ý của họ. Đó là nói về thế pháp còn nói về Thánh pháp này thì phải gục ngã bản ngã, đập đổ nó xuống thì nó mới đi vào được cửa pháp, tức là nhập môn, nếu không thì đổ hết, rơi xuống núi hết, rơi hàng chục, “chục” ở đây là nói theo miền Tây, là mười sáu, không phải mười. Chính bản ngã làm rơi rụng hết như vậy.
Nên trong đoạn cuối của bài chúng ta đang học là pháp hành.
“Cách diệt ngã trong bài này là hành giả tập cho mình luôn cúi đầu sát đất với chân của tất cả mọi người, dù là người bần tiện hay người cao sang, người lớn tuổi hay nhỏ tuổi, người tu hay không tu, hành giả phải giữ tâm mình, hình ảnh, thân tướng, tứ đại, vô thường này quỳ gối với đầu cúi sát xuống dưới chân của người. Trong khi thực hành như vậy, hành giả tác ý, an trú trong cảm giác ngọt ngào, ngoan hiền, mình được quỳ, được lạy như vậy thì mình thấy nó rất ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương, mình thấy mình ngoan hiền, thích thú, hạnh phúc vì mình đã nhiếp phục được cảm thọ, được sắc uẩn này, sắc pháp, cục tứ đại này để cho nó quỳ mọp, lạy xuống.”
Mình thấy mình hạnh phúc, vui sướng, khoan khoái, thích thú, thành công, mình thấy mát mẻ vì bây giờ nó nghe lời mình, không còn ương ngạnh, cứng cỏi, không còn vênh váo, ta đây, không còn tấm thân to cao, ngất ngưởng ngút trời nữa mà phải dập đầu xuống. Bản ngã bị đánh gục, hạ gục xuống, bị ép gục xuống.
Phải tu như vậy, tu đến lúc dù người ta chửi mắng xối xả vào mặt mình mà mình vẫn an tịnh, lắng dịu, nhiếp phục được bản ngã thì tâm của mình mới nhu nhuyến, dễ thương, ngoan hiền như vậy. Mình thấy một đứa con ngoan mà bị rầy la, quở mắng thì nó có lồng lộn lên, nổi sân lên, phản biện, phản bác lại không? Dù cho cha mẹ có la mắng gì thì vẫn thương, kính, biết ơn cha mẹ. Từ đó mình hiểu được, và dù bất kể cha me la sai hay đúng, thậm chí là la sai thì đứa con có hiếu vẫn không có chống cự, cãi lại.
Đối với các bậc đại trí mà các Ngài chỉ dẫn cho mình là không sai, chỉ do mình chưa thấy ra hết. Vì các Ngài nhìn thấy những cái mà mình không nhìn thấy, hiểu những cái mình không hiểu, các Ngài biết những cái mình không biết, thấu triệt những cái mình không thấu triệt. Nếu mình vì bản ngã thì mình không học đạo được nên:
“Phải an trú trong cảm giác ngọt ngào, ngoan hiền, dễ thương, tâm được nhẹ nhàng, khả ái, hoan hỷ với cảm thọ khiêm cung, với hạnh khiêm cung, hạnh quỳ lạy, đầu cúi sát đất. Trong khi quỳ thì đầu cúi sát đất, hành giả thầm tác ý: “Lạy người, cho con xin được xả bản ngã này ra, cho con xin được diệt bản ngã tồi tệ, xấu xa, hư ảo, tạm bợ này vào lòng đất!” Nếu hành giả an trú tâm như vậy, an trú tưởng như vậy liên tục trong một thời gian dài thì chắc chắn bản ngã trong hành giả sẽ giảm thiểu. Từ đó hành giả có thể bước vào những Thánh pháp thâm sâu, vi diệu, tế nhị, thanh cao.
Hạnh quỳ gối đầu cúi sát đất này cũng là đức hạnh mà chúng tôi đã tập nhiều năm trước đây. Nhờ thực hành đức hạnh này mà chúng tôi thấy rõ bản ngã trong tự thân này càng ngày lắng dịu, càng ngày nhỏ nhiệm, càng ngày diệt tận, thân tâm luôn sẵn sàng cúi đầu quỳ xuống trước mọi người với tâm khiêm hạ, ngoan hiền, cung kính, hân hoan. Nhờ tu tập thuần thục và an trú trong một tâm ngoan hiền, cung kính như vậy, kết hợp với trí về ngũ uẩn trong tự thân thì khi được khen hay khi thành tựu điều gì, hành giả không khởi tâm tự mãn, ta đây, bản ngã không phình trương to, không kiêu hãnh, tự đại, tự cao để rồi sau đó rơi vào lầm lỗi, tạo nghiệp, phiền não, khổ đau.
Đó là ý nghĩa, lợi ích và mục đích của hạnh diệt ngã này và của bài Sám hối diệt ngã.
“Lạy Người cho con xin được xả bỏ bản ngã này ra, lạy Người cho con xin được bỏ bản ngã này ra!”
Mỗi lần lạy mình nên tác ý như vậy, lạy người mà mình sân hận, hơn thua với người đó.
“Lạy Người cho con xin được xả bỏ bản ngã này ra, lạy Đức Thế Tôn cho con được bỏ bản ngã này ra. Lạy Người cho con xin được diệt bản ngã tồi tệ, xấu xa này. Lạy Người cho con xin được xả bản ngã hư ảo, tạm bợ này vào lòng đất. Lạy Người cho con được xả bản ngã hư ảo, tạm bợ này vào lòng đất.”
Xả vào lòng đất cho nó nằm dưới đó, bị chôn lấp lại, xả bỏ bản ngã, cái tôi, cái ta ngu si, dại khờ, hư ảo, tạm bợ, tồi tệ, xấu xa, hèn hạ này, cho nó đi vào lòng đất, chôn xuống, cho xuống huyệt, kim tỉnh, đào hố chôn nó vào lòng đất.
Mỗi lần lạy xuống, nằm sát xuống, năm dốc đầu địa, trán mình chạm đất, hai khủy tay, cùi chỏ, đầu gối chạm sát đất.
“Con nguyện xả bản ngã này, hư ảo, tạm bợ này đi vào lòng đất.”
Lạy lâu và quán chiếu, quán tưởng để nó ngấm vào trong cảm thọ của mình.
“Đi vào lòng đất hỡi bản ngã tạm bợ, hư ảo này, hỡi cái bản ngã dại khờ, ngu dốt, vô minh này. Buông bỏ cho ngươi đi vào lòng đất đi. Ta chôn ngươi, chôn cái bản ngã này, hạ huyệt, vùi lấp, mai táng, làm đám tang cho cái bản ngã này, cho ngươi diệt tận, đoạn tận.”
Mình tác ý như vậy, an trú tâm như vậy an trú tưởng, hình tướng của mình như vậy và liên tục trong thời gian dài. Khi rảnh dù ngồi ở đâu thì quán tưởng, tác ý như vậy, không phải đợi tới lúc lạy sám hối mới quán tưởng, bất cứ mình ở chỗ nào thì mình nhớ phải tác ý như vậy.
“Con xả bản ngã tồi tệ này ra, con nguyện xả bản ngã hư ảo, xấu xa, ác độc này ra. Bản ngã làm hại mình làm hại người, làm khổ mình làm khổ người. Bản ngã hành hạ mình hành hạ người, nguyện xả bỏ ra cho nó đi vào lòng đất.”
Mình an trú liên tục như vậy trong thời gian dài, thường xuyên, ngày nào cũng tác ý, quán tưởng, mình rảnh thì mình lạy, tác ý, quán tưởng, ngắm vào thọ, tưởng, hành của mình, vận hành pháp quán, an trú, liên tục như vậy. Cho nó đi sâu vào dòng cảm thọ, hình bóng không bao giờ tan, nó an trú luôn trong tâm mình. Mỗi lần nghĩ về mình thì hiện ra hình bóng của một người hiền từ, ngoan ngoãn, quỳ lạy dưới chân ta.
Bản ngã trong hành giả sẽ được lắng dịu, giảm thiểu, từ đó mới bước vào được những Thánh pháp thâm sâu, vi diệu và thanh cao. Đây là pháp hành mà người thực hành đã thành công, chia sẻ lại cho chúng ta nên chúng ta tin tưởng và cố gắng thực tập thì sự thành công, thành tựu đó sẽ đạt được trong sự tinh cần tinh tấn, quyết tâm của chúng ta.
Nhờ thực hành phương pháp này, đức hạnh này mà bản ngã trong tự thân ngày càng lắng dịu, ngày càng nhỏ nhiệm và ngày càng diệt tận. Bản ngã trong mình giờ chưa có lắng dịu, nên khi chạm tới là phẫn nộ, lồng lộn, nổi loạn lên vì chưa có lắng dịu. Chỉ cần một người tới nói, góp ý với mình là mình phản ứng, phản biện, phản bác ngay, đó là còn, chưa lắng dịu, còn sôi nổi, nổi loạn, bạo động, giờ mình phải tu tập điều này thôi.
Nếu có người chỉ lỗi cho mình, dù người đó là cư sĩ. Minh Thành cũng đã từng trải nghiệm qua, giữa hội chúng chỉ lỗi, Minh Thành quỳ xuống lạy. Khi mình thực tập được điều này rồi, dù cho chưa thành công, thành tựu viên mãn nhưng mình có một sự thực tập, để tâm thì mình thấy phép màu sẽ xuất hiện. Rất đặc biệt, mình sẽ trở thành một con người khác, người hiền ngoan, dễ dạy, dễ nghe lỗi, dễ nhận lỗi, sinh lỗi, dễ thấy lỗi, sửa lỗi, dễ được người ta chỉ lỗi hơn.
Nếu không biết lắng dịu thì chỉ cần chỉ, hay chưa chỉ đã muốn xuống núi. Đó là nó lồng lộn, nổi loạn, bạo động, cái bản ngã đó mình không thấy được, nên những người không có thực tập, nhận diện ngũ uẩn, lậu hoặc, cấu nhiệm của tâm. Khi nói sám hối diệt ngã thì nói “Có ngã đâu diệt?” thì không được. Thật sự là vô ngã nhưng mình không thấy vô ngã nên mình mới phàm phu, nhưng mình thấy rõ ràng có bản ngã nhưng người ta nói “Có ngã đâu diệt?” thì tâm bản ngã như vậy làm sao diệt ngã?
Chỉ một câu nói nhưng mất đi cơ hội vô lượng vô biên kiếp để vượt qua bản ngã. Chúng ta thật sợ khi chỉ một ý nghĩ, lời nói chống đối mà họ không biết là đã mất đi cơ hội học pháp diệt ngã, học cách diệt ngã để thực tập cách diệt trừ chấp ngã này. Minh Thành phải giải thích “Diệt ngã này là diệt trừ chấp ngã!” nhưng cũng không thành công. Đó cũng không phải là chuyện thường, vì có người học tu bốn mươi năm vẫn thấy bình thường.
Chúng ta thấy trên chữ nghĩa, văn tự, danh tướng, mình chấp vào đó là mình không học đạo, Thánh pháp được. Nên mình muốn học đạo là phải vượt qua được danh tướng, văn tự là vì vậy. Chấp chữ, chấp nghĩa, chấp danh, chấp tướng, chấp hình thức, chấp hình tướng. Nhưng nhiều khi mình nói thì người ta lại trả lời “Thưa thầy con không có chấp, con không có chuyện chấp đâu nên không có ngã để diệt?” Trong khi ngã đó rõ ràng mà không thấy, đáng thương cho chúng ta, chúng ta dạy khờ, dạy dột, si dại, si mê, đáng thương.
Vậy nên thực tập điều này thì mình sẽ thấy rõ được bản ngã trong tự thân của mình càng ngày càng lắng dịu, càng ngày càng nhỏ nhiệm, lắng xong rồi nhỏ lại dần. Từ nhỏ nhiệm tức là rất nhỏ, từ nhỏ không là nhỏ thường, nhưng nhiệm nữa là nhỏ xíu xiu, có thể mình rất khó thấy gọi là nhỏ nhiệm. Cho đến ngày càng diệt tận là dứt ra hết.
Dứt ra đó là những Thánh vị và một tâm trống không, lắng dịu, an tịnh, phá vỡ thân kiến và ảo tưởng về tự ngã của chính mình. Chỉ còn một sắc uẩn, sắc pháp, một hình bóng quỳ mọp, dập đầu dưới chân mọi người chứ không có cái tôi. Người ta mượn cái tưởng để phá thân kiến, ảo tưởng về ta, còn hình ảnh quỳ xuống dập đầu đó, lạy người ta cũng không phải là tôi. Chỉ là mượn hình bóng của sắc uẩn, dùng sắc diệt sắc, dùng tưởng diệt tưởng.
Thật tuyệt vời, tu như vậy mới đi đến chỗ sạch sẽ thân tâm. Còn giờ chạm nhẹ vào thì lại phình trương lên, bậc ra giống như cơ quan, mũi tên bắn ra, như vậy thì làm sao tu? Phải tập hoài, quán tưởng hoài, tác ý hoài đến khi nó ngoan hiền. Càng ngày càng lắng dịu, nhỏ nhiệm, diệt tận.
“Thân tâm luôn sẵn sàng quỳ xuống trước mọi người với tâm khiêm hạ, ngoan hiền, cung kính, hân hoan dù bất cứ là ai. Nhờ tu tập thuần thục và an trú một tâm ngoan hiền, cung kính như vậy, kết hợp với trí về ngũ uẩn trong tự thân.”
Đó là câu quan trọng, trí ngũ uẩn là không cho sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là tôi, của tôi mà đây chỉ là một đống vô minh, khát ái, tham, sân, si và bản ngã. Không có tôi trong này nên làm được vậy mà không nghĩ ta làm được vậy, không tự mãn, tự cao hay tự đại. Nếu không thì mình thấy được mấy người kia không có hạ được bản ngã, tôi hạ được bản ngã rồi, tôi hay hơn mấy người kia là xong, đã lọt qua phàm phu hết.
Đó chính là chỗ thâm sâu, nên nói xong rồi phủi mà bao nhiêu lớp trí huệ thâm sâu như vậy làm được thiện pháp. Cũng giống như ông tiến sĩ, ông học được hết rồi thì ông nói “Bằng cấp tiến sĩ này tôi quăng thùng rác.” Ông đó nói thì người ta nể, còn mình dốt mà nói như vậy thì người ta khinh. Mình bây giờ thì giống người nào nhiều hơn? Không có gì hết, vì tôi đâu có cần gì hết, có gì đâu mà bỏ.
Vậy nên phải học, nghe pháp, phải nghiền ngẫm, tư duy, tác ý, thực tập, ngày ngày hoan hỷ, hân hoan, thích thú, an trú, tư duy, quán chiếu trong đó, không được rời xa pháp.
“Nên kết hợp với trí ngũ uẩn về tự thân, trong tự thân khi được khen hay khi thành tựu được điều gì, hành giả không khởi tâm tự mãn ta đây, bản ngã không phình trương to, không kiêu hãnh, tự đại, tự cao.”
Mình thấy ngày xưa bao nhiêu vị mình đọc trong truyện, tu đạt được ngũ thông, mỗi lần đi đến nhận sự cúng dường là đi trong hư không, tới là vua và hoàng hậu lạy dưới chân để cúng dường. Nhưng vì không diệt được bản ngã, không thành tựu được Chánh Tri Kiến phá thân kiến nên dục sanh khởi hay sân sanh khởi, hay bản ngã sanh khởi là mất thần thông, rơi vào danh lợi, tài sắc của thế gian rồi bị đọa lạc trở lại, vì không thành tựu Chánh Tri Kiến, phá diệt bản ngã thâm căn cố đế vô lượng kiếp này.
Mình không đặt nền tảng, không đứng trên lập trường, ở trên trí tuệ về vô ngã mà mình tu, thì tất cả những gì mình tu là nằm trong hữu vi, hữu lậu sanh diệt. Nên dù nó có đạt được mức độ gì đi nữa thì cũng đạt trong bản ngã. Mà đạt trong bản ngã thì tham, sân si, vô minh, khát ái còn, như vậy, khi gặp duyên gì đó là mất và mất là thường rơi sâu xuống vực.
Nên mình đọc trong sách, nhiều người thành tựu những cảnh giới rất cao thâm thiền định nhưng vẫn đọa, vì vẫn còn trong tự ngã. Nên tu tập pháp diệt ngã như vậy có thành tựu thì cũng không kiêu hành, tự đại, tự cao để rồi sau đó phải rơi vào lầm lỗi, tạo nghiệp rồi phiền não, khổ đau. Vậy nên chúng ta thấy:
Đó là ý nghĩa, lợi ích, mục đích của hạnh diệt ngã này, của bài Sám hối diệt ngã.
Mình làm tất cả mọi công việc như vậy và đặt tâm mình trong hướng không có tôi, của tôi, không có của ai nên mình làm vậy thì khi buông bỏ nhẹ tênh. Nếu mình gặp phải chuyện gì đó mà phải từ giã cuộc đời này thì cũng không có gì là tôi, là của tôi, vì mình đã an trú tâm mình trong đó hàng nhiều năm, chục năm thì lúc đó mình không có gì mà luyến tiếc.
Còn nếu mình đặt ở trên tư tưởng, quan điểm, cách nhìn, là tôi, của tôi, tôi dày công gầy dựng, khai sơn tạo tự, thì đến lúc thình lình mất đi thì mình sẽ lo lắng, sợ hãi, tiếc nuối những cái của mình đã gầy dựng lên. Vậy nên chúng ta thấy đi sâu vào trong cảm thọ, suy nghĩ, hình bóng, trong tâm, trong nhận thức, ăn sâu vào đó là một ý niệm “Tôi là…” đó là vô minh. Phải tẩy ra được ý niệm “Tôi là…” ở trong từng suy nghĩ, cảm thọ, hình bóng, nhận thức.
Đó là công phu, muốn vậy thì phải tập cúi đầu khiêm hạ, tập lễ lạy, dập đầu, tập làm giẻ lau, tập làm con bò bị cưa hai sừng, tập làm người hèn hạ, thấp kém, nghèo cùng, ăn xin. Tập nhàm chán thân lủng lỗ, rỉ chảy, tanh hôi suốt cả ngày, tập nhàm chán, viễn ly, ngao ngán, hướng đến sự rời xa, từ bỏ, xả bỏ. Đó là lợi ích, mục đích, ý nghĩ của phương pháp thực tập đức hạnh, diệt trừ bản ngã hư ảo, hư danh, tạm bợ, thấp hèn và ác độc này.
Ngày nào chúng ta cũng nhắc, nhớ và quán tưởng như vậy hết, thực tập lạy như vậy thì bản ngã có giảm được không? Ngày nào cũng nhắc, nhớ, quán xét, ngày nào cũng có những hình bóng thực tập để lạy, quán tưởng, nhận thức như vậy thì làm sao nó không giảm bớt, giảm thiểu, làm sao nó không được chế ngự, nhiếp phục? Đó là điều không thể xảy ra. Nếu thấy đứa nào sanh khởi lên là gõ đầu ngay, chế ngự, nhiếp phục và đoạn tận nó ngay.
Đó là lời mở đầu, lời dẫn để vào bài Sám hối diệt ngã. Đó là ý nghĩa, mục đích và lợi ích, tại sao chúng ta phải thực tập bài Sám hối diệt ngã, thực tập thì đem lại lợi ích gì. Mục đích của việc làm này là đạt đến gì? Đó là chúng ta giải thích vừa xong, ý nghĩa, lợi ích và mục đích của bài Sám hối diệt ngã, đọc, nhớ và quán tưởng, hành trì.
Từ ngày mình lên núi đến nay mình có thấy bản ngã của mình giảm bớt được kha khá chưa? Đã nhìn ra nó và gõ đầu nó được không? Có chiến thắng với nó được đôi vài lần không? Trước khi mình đi học vào dòng pháp này và bây giờ mình có thấy phần nào giảm thiểu không?
92-104: Phật tử trình pháp.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
-Thích Minh Thành-
Ngày 18 tháng 12 năm 2021
Kính lễ ân đức Thế Tôn
Kính lễ ân đức Chánh Pháp
Kính lễ ân đức chúng tăng
Kính lễ ân đức bậc đạo sư
Kính lễ ân đức Thánh giới.
Kính bạch các bậc hiền trí, tăng ni cùng quý Phật tử, lâu nay chúng ta nghĩ rằng thiền đường là nơi tu, chánh điện là chỗ tu, nhưng còn chỗ tu quan trọng hơn ở tất cả nơi tu là nhà bếp. Giống như mình đi ra đường, mình tiếp xúc với người mới lạ thì mình cẩn thận, dè chừng, dè dặt. Nhưng khi tiếp xúc với người thân thì mình không có cẩn trọng mà không ngờ chính người thân lại là nơi mình hết sức thận trọng. Đây là sự thấy đảo ngược trở lại thấy biết thông thường.
Tại sao nhà bếp lại là nơi tu nhiều hơn? Chỗ nào là chỗ mình lơ là, không để tâm, mình nghĩ là không cần để ý thì chính chỗ đó là chỗ cần phải để tâm, để ý, thận trọng. Những người mình nghĩ là không quan trọng, chính những người đó mới là những người quan trọng.
Thứ nhất là nhà bếp, thứ hai là khi đang làm việc, thứ ba là lúc giải lao hay thư giãn, vui chơi thì những lúc đó là những lúc mình cần phải cẩn thận để tu vì trước nay mình quan điểm là: khi ngồi thiền là giờ ngồi thiền.
Tại sao nhà bếp quan trọng? Vì chỗ đó mình không cẩn thận, mình không chánh niệm, thì mình sẽ có những lời nói hay hành vi làm buồn người khác, làm tổn thương người khác mà vì vô minh, không chánh niệm tỉnh giác nên mình không biết. Một lời nói của mình khi không chánh niệm, không tỉnh giác, không có sự tôn trọng lẫn nhau, không có sự cung kính huynh đệ, giữa các bậc đồng phạm hạnh với nhau, có thể làm cho người kia suy sụp tinh thần, làm cho họ thối đọa, lùi lại và rơi xuống núi, làm cho người nghe đó mất đi căn lành đối với Tam Bảo. CHỉ vì một ngôn ngữ hay hành động, không hiểu, không thương hay cảm thông, tôn trọng, quý kính lẫn nhau.
Đây là chỗ mình phải hết sức để tâm, đây là kinh Nikāya sống, đây là pháp sống, là sự việc có xảy ra, đã rất nhiều lần xảy ra. Vì một lời nói không chánh niệm của mình, lời nói bất cẩn, bản ngã hay lời nói ta đây, lời nói cho mình là chủ, thật ra bản thân của Minh Thành ở trong chùa thì nửa cuộc đời Minh Thành rất sợ nhà bếp, lo lắng nhiều nhất là nhà bếp. Như trong nhân gian có câu “Nhất trụ trì, nhì nhà bếp” và không phải vô duyên vô cớ mà người ta nói câu đó, tức là sau thầy trụ trì thì kế đó là nhà bếp, câu đó không mang ý nghĩa hay đẹp.
Nhưng có những chỗ mà mình không dám xuống, đó là nhà bếp, vừa là nghĩa đen cũng là nghĩa bóng vì chỗ đó là lửa, lửa về nghĩa đen và cả nghĩa bóng. Vì đó rất dễ tham, sân, si, bản ngã. Bản thân Minh Thành rất tha thiết, biết rằng các vị làm việc rất vất vả, rất mệt, nhưng mình phải nhớ là mình tu, đừng nói những lời làm nhức nhối cho nhau, đừng nói những lời làm tự ái, tổn thương đến nhau, làm mất đi hòa khí, hòa kính, hòa lạc, hòa ái trong đại chúng. Phải từ sự chánh niệm tỉnh thức trong sự nhận diện thân tâm của mình, mình làm sao để luôn giữ được hòa khí, không khí hòa hợp, hòa ái, thương mến nhau trong tinh thần Chánh Pháp. Hòa hợp, hòa lạc, an vui tu học.
Điều quan trọng là hòa hợp, cung kính, tôn trọng lẫn nhau. Đây là Minh Thành nói rộng đến các Phật tử, trong gia đình khi làm bếp rất dễ mệt, dễ phiền, dễ quạo, dễ bực, dễ sân si. Nên khi ở trong nhà bếp dù là ở trong chùa hay ở ngoài gia đình thì chỗ đó là chỗ cần phải tu thật nhiều. Nên mong rằng chúng ta dần dần sẽ đi vào sự quản lý thân tâm, quản thúc sáu căn, thâu nhiếp và chế ngự ba nghiệp của mình. Phải có một kết quả rõ ràng, thực tế, thiết thực để mọi người cùng thấy, tự thân mình thấy, bạn đạo mình thấy, mọi người về nhìn thấy.
Mình phải tiến bộ hàng tuần, hàng tháng, hàng ngày, mình phải thấy được sự tiến bộ rõ rệt trong sự thâu nhiếp và chế ngự các căn, đây chính là pháp hành. Và chỗ thường ngày khi mình ở dưới bếp là những giờ mình thả lỏng các căn. Giờ đó dễ tham, dễ muốn, dễ buông lơi, buông lỏng, buông xuôi, buông trôi, buông lung trong lời nói và hành động.
Minh Thành đã từng nhắc, về hình ảnh khi nhỏ chỉ mấy tuổi nhưng đến giờ vẫn không quên được, đó là ở chùa Quảng Phước, lúc còn cố sư bà trụ trì, Minh Thành bước vào bếp phải giật mình vì có đến mấy chục người làm bếp, đó là dịp rằm lớn nhưng không nghe tiếng bằm chặt. Nên Minh Thành nhìn kĩ thì mọi người bằm xả là dùng dao ấn, họ hạn chế tiếng động tối đa.
Trong thanh quy đạo tràng của chúng ta đọc hằng ngày, khi đọc là để nhớ, ứng dụng, chứ không phải đọc trả bài rồi thôi, lúc trở ra lại không nhớ, lãng quên, buông lung. Vậy nên có hình ảnh dưới bếp rất yên lặng, nhẹ nhàng. Và tại sao có những vị ở dưới bếp làm công quả, phụ giúp công việc, nếu như họ thấy chư tăng, chư ni, các vị tập sự xuất gia, Phật tử tu học trang nghiêm thì người ta có dám buông thả không? Dù cho người ta có dám buông thả thì người ta cũng bị không khí trang nghiêm, thanh tịnh đó, thu thúc, thu nhiếp đó làm cho người ta có sự thu mình lại, thâu nhiếp lại, cẩn trọng, dè dặt lại.
Nhưng nếu mình buông thả thì người ta cũng thả buông, nên mình phải làm gương trước mới được, mình không đổ thừa vào hoàn cảnh, đổ thừa vào người khác. Người ta buông mà mình lo thâu nhiếp của mình.
Và nhớ sự thâu nhiếp không phải là thầy hỏi mà không trả lời, thâu nhiếp không phải như khúc cây không dám động đậy. Đó như hai thái cực, một cái là buông trôi, một cái là không nhìn đến ai nữa, có gọi cũng không muốn trả lời.
Vậy nên nhà bếp là chỗ tu nhiều nhất, người làm trong bếp phải tu, người đi xuống bếp cũng phải tu. Người đi đến như các thầy các cô là đến để khất thực, không phải xuống để chơi, nói chuyện. Không có phận sự miễn vào, nên không tự nhiên mà xuống bếp, chỉ những người có ca trực thì mới xuống đó, cũng không phải đi vào đó để nói chuyện.
Người làm chánh niệm tỉnh giác, người xuống khất thực trang nghiêm thanh tịnh, thì mỗi người giữ cho chính mình là giữ cho đại chúng. Mình là sư huynh, sư tỉ mà lại không trang nghiêm thanh tịnh, thả lỏng thì sư đệ, sư muội ở dưới ra sao? Họ cũng sẽ giống như vậy. Nếu như mình không trang nghiêm thanh tịnh, thì tự thân mỗi người sẽ trang nghiêm thanh tịnh, người ta sẽ không dám đùa giỡn, vì mình như thế nào thì người ta mới dám đùa giỡn, dần dần cũng thành quen.
Vậy nên lúc nào cởi mở vui vẻ là cởi mở vui vẻ, chia sẻ, cảm thông, nhưng lúc nào oai nghi, trang nghiêm là phải như vậy. Nên chỗ đó dễ nóng, có nhiều lửa, dễ tham, sân si, bản ngã, dễ nói chuyện thị phi, dễ buông lung phóng dật, nên chỗ đó là phải tu thật nhiều. Chỗ tu nhiều nhất chính là nhà bếp nên đang sửa nhà bếp, sửa xong phải để một tấm bảng, chỉ cần bước vào cửa, đi vào trong bàn thọ trai là phải đề hết các bảng đó. Chỗ đó tu được là những chỗ khác tu được.
Nơi cần tu thứ hai là khi đi ra làm việc, vì khi làm việc thì tâm phàm phu nhỏ hẹp, tâm chấp thủ, tâm chỉ thấy một góc, một cạnh, một chiều, một hướng, hay làm việc thì chỉ thấy là làm việc chứ không biết tu trong làm việc. Nấu cơm thì chỉ biết nấu cơm chứ không biết chánh niệm tỉnh giác, nhận diện ngũ uẩn. Vậy nên khi ra làm việc là chỗ cần tu thứ hai. Làm thấy công việc thôi mà quên tâm, quên mình, quên pháp.
Đại chúng nghĩ bổn phận và trách nhiệm của Minh Thành đây là bao nhiêu công việc cần phải xử lý? Nếu suốt ngày chỉ nhìn việc thôi thì còn có pháp nữa không? Làm việc là lấy pháp, trí tuệ, tâm tu, lấy sự chánh niệm tỉnh thức để xử lý công việc. Công việc không là gì hết, quan trọng là phải giữ được sự chánh niệm và tỉnh giác để xử lý công việc, cũng như nấu ăn không mệt nhọc nhiều, có mệt nhọc cũng không đáng, nhiều, so với cực khổ bên ngoài mà điều khó khăn là sự chánh niệm tỉnh giác, nhận diện được thân tâm của mình trong khi nấu ăn.
Khi lái xe, khó với người không biết lái, nhưng đã biết lái thì không khó mà khó là chánh niệm tỉnh giác trong khi lái xe. Chỗ nào mình cũng trú trong pháp thì đó là tùy pháp, hành pháp. Không phải lên xe là rồi, không có pháp nữa, chỉ biết có tốc độ. Hay khi vào nhà bếp chỉ thấy nào là dao, chén, tô, cà rốt, khoai tây, đậu nành, nấm rơm, tàu hủ mà không thấy pháp, phải thấy được nó là đoàn thực. Vì dục, tham, ái tập khởi, thức ăn tập khởi nên sắc này tập khởi.
Khi mình làm hết lòng cho đại chúng một bữa cơm thanh đạm, sạch sẽ, vệ sinh, dinh dưỡng, nhưng trong khi làm mình lại thấy nhàm chán, không ham, không ưa, thích, tuy rằng mình làm nhưng mình vẫn hướng tới sự ly tham đối với đoàn thực. Như vậy gọi là nấu cơm bằng pháp, không phải chỉ nấu cơm bằng gạo, rau, củ, quả mà là nấu bằng pháp, đó mới gọi là tùy pháp, tức là làm bất cứ việc gì thì pháp cũng không vắng mặt, pháp luôn được an trú, thấy biết.
Pháp là ngũ uẩn, lúc nào, như thế nào thì bên trong ngũ uẩn đó dùng tham, sân, si, bản ngã vận hành như thế nào? Lúc mình làm thì có chế ngự, nhiếp phục không? Khi ra vườn rau, mình thấy, quán chiếu và phải biết là nó tươi thì mình ham, mình thích còn nếu nó héo thì mình đau khổ trong đó thì làm cho mình mất mình, phải dùng pháp để chăm sóc vườn rẫy, để nấu nướng, để làm việc, dùng pháp trong những giờ thư giãn hay những giờ được giải lao. Không phải nói tới giờ giải lao thì mất hết, không còn thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức nữa, không thấy lậu hoặc nữa. Như vậy gọi là hành pháp, tùy pháp.
Chữ pháp này rất tuyệt diệu, đầu tiên mình phải biết pháp là gì? Pháp là ngũ uẩn. Trong pháp, trong năm uẩn là gì bên trong đó? Phải thấy được trong đó là vô minh, tham ái, thấy được trong đó là sân si, bản ngã, hơn thua… Thấy được chúng là thấy pháp.
Lúc nào mình cũng nhìn vào xem bản ngã ra sao, hiện tại ra sao, có khởi không? Lúc nào nhìn vào dục ái với ngũ uẩn ra sao, tham như thế nào, lúc nào cũng dò xét, rà vào xem những cái sân hiện tại như thế nào. Lúc nào cũng rà soát xem độ trong sáng của tâm hiện tại đang ở mức độ nào, có thấy rõ sắc, thọ, tưởng, hành, thức không hay nó đang có một ý niệm về tôi, của tôi, tự ngã của tôi thì đó là thân kiến, phải phá ngay lập tức. Nếu nhìn lại không rõ cảm thọ, không rõ ý hành, không rõ tưởng, độ trong sáng bị mờ tối là vô minh, phải lập tức tác ý, làm cho nó rõ, lâp tức tịnh chỉ, quay trở vào để soi rọi.
Pháp là nhiếp phục, nhận ra, chế ngự. Những thứ này cũng là pháp, cuối cùng là đoạn tận. Đó là tiến trình của pháp, pháp hành, ai cũng gọi là tùy pháp, hành pháp, thuận pháp. Đó là pháp ly tham đối với ngũ uẩn.
Đầu tiên là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, kế đó là xem bên trong có vô minh, tham ái, sân si, bản ngã, hơn thua, nó có hay không có hoặc có thì tình trạng nó như thế nào, là thô hay tế và khi mình nhìn thấy trong đó rồi, thì từng loại bệnh thì mình đưa thuốc tương ứng, tương thích đối với nó, để mình điều trị tâm bệnh ngay lúc đó.
Ví dụ lúc đó sân sanh khởi, mình nhìn vào thấy được sân sanh khởi, trong khi đang làm việc thì ngay lúc đó mình phải cảm giác toàn thân, an tịnh, lắng dịu, tác ý, đánh đuổi, làm cho nó an tịnh, lắng dịu trước. Sau khi nó an tịnh, lắng dịu rồi thì mình tác ý sâu vào bên trong, nhổ gốc, tiếp tục trải tâm từ, dù cho nó hết rồi vẫn tiếp tục trải tâm từ để nhổ bỏ gốc.
Ví dụ ngay lúc làm mà bản ngã sanh khởi lên, hơn thua, ta đây thì mình nhận diện bản ngã đó, nó sanh khởi như thế nào, tình trạng hiện giờ như thế nào. Đầu tiên là mình làm nó an tịnh, lắng dịu trước, tiếp theo là nhiếp phục, chế ngự bằng sự tác ý. Trong sự nhiếp phục, chế ngự này có nhiều thứ và tùy theo mức độ, nói nhẹ, nói mạnh, la rầy, chửi mắng, nhục nhã, hèn hạ, tồi bại, ngu si. Như gọi bản ngã là rắn độc, gọi tâm sân là chó, dục sanh khởi lên thì gọi nó là heo.
Tâm hướng ngoại cứ nhìn ngó bên ngoài, tâm mông lung, đứng núi này trông núi nọ thì gọi nó là khỉ vượn, tâm đơ đơ, si si, mê mê thì gọi là bò. Như vậy, năm con này mình phải nhớ: con heo là dục tham, sân là chó, bản ngã là rắn độc, hướng ngoại là khỉ, si mê là con bò. Mỗi lần cảm thọ sanh khởi thì dục sanh khởi, gọi nó là heo, suốt ngày chỉ biết ham ăn, ham ngủ, ham chơi, ham dục “Tu mà không muốn, cả ngày ăn ngủ để bị cân kí đem bán hay sao? Muốn làm heo hay sao?”
Khi sân sanh khởi lên thì nói “Người không muốn làm mà muốn làm chó hay sao? Suốt ngày gặp ai cũng sủa hay sao? Người ta có làm gì đâu mà lại nhào ra sủa?” Phải tác ý mạnh như vậy, uy lực chừng nào thì tác ý mạnh chừng đó. Như vậy mới có khả năng nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận, diệt tận. Phải siêng tác ý.
Bản ngã là rắn độc, thì phải tác ý “Người không muốn làm mà muốn làm rắn độc sao? Người hiền lương, hiền lành mà lại muốn làm rắn hổ, rắn độc?” Phải tác ý mạnh mẽ như vậy.
Tiếp theo là hướng ngoại, “Chỉ biết đứng núi này trông núi nọ, ở chỗ này nhớ chỗ kia, chỉ biết ngóng, nhìn mãi. Tâm này là tâm khỉ vượn, vất vưởng, không yên. Người không muốn làm mà muốn làm vượn sao?”
Tâm vô minh, si mê, si ám, ngồi đâu cũng muốn ngủ gục ở đó, hai mắt đơ đơ thì kêu “Ngu như bò!” Phải tác ý như vậy, nếu có con nào hiện lên thì gõ đầu con đó, diệt tận năm con này thì mới trở thành bậc hiền trí. Nếu năm con này còn hoành hành, còn hung hãn, hung hăn, phun nọc độc, cắn người, còn chuyền nhảy lung tung thì mình vẫn còn trong phạm trù tai họa, hiểm nguy, bất an, đau khổ trong hiện tại và tương lai một cách dài lâu. Phải nhiếp phục năm con này và để hình ảnh nhắc nhở năm con ở trước sân, là heo thì để dục, là con chó thì để chữ sân, rắn độc là bản ngã, khỉ là hướng ngoại, con bò là si.
Năm con đó ở bên trong này, nếu ngũ uẩn không tu tập thì rơi xuống năm con đó, rồi sau đó thành một trong năm con đó. Vậy nên phải nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận. Bước tiếp theo là đi đến chỗ bình an, ngọt ngào, từ ái, nhẹ nhàng, thanh lương. Đó là tiến trình vận hành của pháp, là trình tự của pháp hành mà chúng ta đang thực tập. Vậy nên bước đầu nhận diện năm uẩn mà không có bước đó thì những bước sau xem như không, làm sao có thể thành tựu? Và nhận diện không phải chỉ ở trong giờ ngồi thiền là nhận diện, mà giờ làm việc là nhận diện, giờ giải lao là giờ nhận diện, giờ ra chơi, giờ nghỉ ngơi… Lúc nào cũng dò xét, canh chừng.
Ví dụ như mình có đứa con còn nhỏ, như hiện nay có nhiều đứa trẻ bị rơi từ lầu cao, có khi rơi xuống chết, có khi được cứu, hay có khi bị rơi xuống hồ, xuống giếng, ban công, tòa cao ốc. Hay có đứa trẻ cầm súng giỡn với người mẹ, vô tình chĩa súng bắn làm người mẹ chết.
Tâm thức của mình cũng giống như đứa trẻ đó, không biết gì, không nhận thức được nào là thiện, là ác, bất thiện, tham, sân, bản ngã nó đều không biết. Nên mình phải dạy dỗ từng chút cho nó ở mọi lúc mọi nơi và chính những lúc mình xem thường thì mình phải xem trọng. Ngược lại với lúc xưa mình xem đó là thường, giờ mình xem lúc đó là quan trọng. Đó là pháp hành, là Nikāya sống.
Mình thấy lâu lâu các con trong người của mình có quậy mình nhiều không? Ví như lâu lâu nó có sủa không? Có nhả nọc độc, khè vào người ta? Có nhảy lung tung không? Hay con heo có quậy mình nhiều không? Vậy nên phải nhìn ra năm con đó, cũng là năm tâm: tham, sân, bản ngã, hướng ngoại và si. Phải canh chừng, nhìn ngó nó mãi, không buông lơi nó dù cho lời nói bình thường, phải tập nói rõ ràng, minh bạch, minh chánh, trong sáng mà không nói đùa, nói chơi, nói lời phù phiếm là bị phạm trong bốn giới của miệng. Nói đùa, nói vui trong pháp, trong luật thì được, nhưng nói đùa, nói vui mà làm cho người ta hờn, giận, sân, chạm tự ái là vi phạm.
Mình càng thu nhiếp càng nhiều thì sự buông lung của mình được giảm bớt dần dần, được chế ngự. Vậy nên chúng ta đã nhìn thấy được chỗ tu quan trọng nhất của mình là ở đâu? Đó là nhà bếp, chỗ quan trọng tiếp theo là làm việc, giải lao, lúc vui chơi, nói chuyện.
Bên trên là nói về sự việc, tiếp theo là nói đến con người. Khi lần đầu gặp người khác thì mình rất dè chừng, giữ kẽ, văn minh nhưng đối với cha mẹ, vợ chồng, thầy, huynh đệ khi ở chung nhà, chung nhà, chung phòng với mình thì mình có lịch sự, giữ kẽ, cẩn thận nữa không? Vậy nên lúc đầu mới lên chùa thì khi gặp thầy thì mình cúi chào sâu, ở lâu thì không như vậy, dần dà lâu hơn thì có thể gặp không chào. Đây là Minh Thành nói sự thật, đã chứng kiến rất nhiều trường hợp như vậy, mới vào thì chào cúi đầu rất thấp, ở một thời gian thì khi chào chỉ cúi còn một nửa, dần dà giảm thêm và cuối cùng là không chào nữa.
Đó là tại vì sao? Là xem thường những người gần gũi, sự cung kính pháp bị thoái đọa, sụp đổ. Nếu không có nó thì không thể tu được, cung kính pháp là pháp tuyệt đối quan trọng. “Giờ xá thầy rất ngượng, để những người khách mới đến xá!” Tất cả những điều nhỏ nhỏ đó để chúng ta học.
Có một vị Minh Thành đến thăm thì Ngài đó dẫn lên chánh điện thì mình lạy, nhưng thầy không lạy và nói “Lâu lâu thầy đến nên lạy, tôi ở đây thân quen rồi nên không cần lạy!” Chúng ta nghe như có lý nhưng thật ra là không có lý, đó chính là chỗ hỏng của chúng ta. Nên dần dần đối với cha mẹ, thầy, sư thúc, sư bá mình không còn cung kính nữa, những bậc trưởng thượng mình không cung kính nữa, vì đã quen quá. Từ đó, mất đi những pháp cung kính, những ác bất thiện pháp sanh khởi, xem thường nên sanh. Bắt đầu nó soi mói, nhìn vào những khuyết điểm của người khác, thậm chí là bậc trưởng thượng vì pháp cung kính mất, nền tảng đã mất. Như vậy thì làm sao để tu tiếp theo?
Vậy nên Minh Thành thường kể hoài bài kinh Người vợ trẻ, cô dâu mới về nhà chồng là phải học thuộc bài đó, thuộc lòng. Thời điểm hai ngàn sáu trăm năm trước thì Đức Phật đã dạy. Đó là tại sao mà mình và người thân thường hay cự cãi, xích mích, bất hòa với nhau, chính là chỗ đó, mình giữ kẽ với người ngoài, người lạ, người khách, mà người thân bên cạnh mình lại không cung kính, trang nghiêm, không cẩn trọng, vì thấy thường, gặp rất nhiều lần trong ngày.
Vì bên cạnh người thân là chỗ để cho mình dễ sống với tập khí, với nghiệp, tập nghiệp, thói quen. Khi gặp họ thì mình giữ gìn, thả lỏng các căn nên vợ chồng nói chuyện mấy câu là cãi nhau, với người khách lạ đến nhà thì làm sao cãi nhau với người ta? Vậy nên pháp cung kính, pháp trang nghiêm, tôn trọng, cung kính, biết ơn với nhau, dù cho ở cùng nhau mười năm hay hai mươi năm thì sự cung kính của mình càng tăng trưởng, không bị thoái lui, giảm thiểu.
Dù đầu con đã bạc nhưng thầy Minh Thành vẫn dạy mình như một đứa trẻ, có thể la rầy, quở trách ở trước bao nhiêu đại chúng. Làm sao phải thực hành được tâm hiền và phải đánh gục được bản ngã thì mình mới học được Thánh pháp một cách thâm sâu. Ở trước bậc đạo sư, ân sư, thầy cầu pháp, sư phụ của mình thì mình hòa tan, tan biến bản ngã của mình trở thành miếng giẻ rách để cho Ngài chà đạp, moi móc, mổ xẻ tim gan của mình, để Ngài chỉ những khối u, tật bệnh của mình.
Ở trước bậc đạo sư, trước thầy của mình thì mình không còn cái ngã, tuyệt đối không được sanh khởi bất cứ những cái gì bất kính, khó chịu, sân hận đối với bậc thầy của mình. Còn nếu thầy mình chia sẻ mà nói “Nghe cũng hay mà sao khó chịu quá!” thì làm sao mình học? Tâm sân hận, khó chịu, bản ngã đó thì làm sao mình tiếp thu được hết các pháp? Đó chỉ là pháp học, chưa nói đến pháp hành đã gặp chướng ngại.
Khi mình nghe những lời dạy, chỉ lỗi, trung trực, ngay thẳng, đánh phá vào bên trong những lậu hoặc, tập tánh, thói quen của mình thì mình có chịu cúi đầu, dập đầu, bên trong có hình ảnh mình quỳ mọp xuống đất để lắng nghe không? Hay mình ngụy biện, trách biện, xảo biện, quanh co, giấu lỗi lầm? Đó là bí quyết để cầu pháp.
Nên hình ảnh quỳ lạy, dập đầu dưới chân người, phải sống động trong tâm mình, thường xuyên hình ảnh đó phải xuất hiện. Người bình thường mình đã cúi lạy thì với bậc đạo sư, ân sư, tôn sư của mình thì việc quỳ lạy rất bình thường. Dù cho Ngài có la, có mắng, có chửi thì bên trong đó cũng là trí tuệ, đại bi. Nếu là bậc thành tựu chánh tri kiến. Chúng ta thấy đó là quan ải, vượt qua được đó thì mới vào được cửa pháp, nhập môn.
Cửa pháp rất nhỏ, cái ta của mình lớn quá sẽ chui vào không vừa, như cửa của pháp chỉ bằng đầu ngón tay, nhưng cái ta của mình như một con người thì vào không vừa. Vậy nên mình đem bản ngã tới để cầu Thánh pháp vô ngã thì cầu không được. Phải dập đầu xuống, cúi đầu xuống, thu lại thì mới vào được cửa Pháp, gọi là nhập môn.
Nên khi Minh Thành qua Nhật, để uống được một chung trà đạo thì hết sức gian nan, vừa tốn tiền tốn công mà phải quỳ xuống và bò vào, không được đi vì cánh cổng rất nhỏ. Trong đó có ý của họ. Đó là nói về thế pháp còn nói về Thánh pháp này thì phải gục ngã bản ngã, đập đổ nó xuống thì nó mới đi vào được cửa pháp, tức là nhập môn, nếu không thì đổ hết, rơi xuống núi hết, rơi hàng chục, “chục” ở đây là nói theo miền Tây, là mười sáu, không phải mười. Chính bản ngã làm rơi rụng hết như vậy.
Nên trong đoạn cuối của bài chúng ta đang học là pháp hành.
“Cách diệt ngã trong bài này là hành giả tập cho mình luôn cúi đầu sát đất với chân của tất cả mọi người, dù là người bần tiện hay người cao sang, người lớn tuổi hay nhỏ tuổi, người tu hay không tu, hành giả phải giữ tâm mình, hình ảnh, thân tướng, tứ đại, vô thường này quỳ gối với đầu cúi sát xuống dưới chân của người. Trong khi thực hành như vậy, hành giả tác ý, an trú trong cảm giác ngọt ngào, ngoan hiền, mình được quỳ, được lạy như vậy thì mình thấy nó rất ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương, mình thấy mình ngoan hiền, thích thú, hạnh phúc vì mình đã nhiếp phục được cảm thọ, được sắc uẩn này, sắc pháp, cục tứ đại này để cho nó quỳ mọp, lạy xuống.”
Mình thấy mình hạnh phúc, vui sướng, khoan khoái, thích thú, thành công, mình thấy mát mẻ vì bây giờ nó nghe lời mình, không còn ương ngạnh, cứng cỏi, không còn vênh váo, ta đây, không còn tấm thân to cao, ngất ngưởng ngút trời nữa mà phải dập đầu xuống. Bản ngã bị đánh gục, hạ gục xuống, bị ép gục xuống.
Phải tu như vậy, tu đến lúc dù người ta chửi mắng xối xả vào mặt mình mà mình vẫn an tịnh, lắng dịu, nhiếp phục được bản ngã thì tâm của mình mới nhu nhuyến, dễ thương, ngoan hiền như vậy. Mình thấy một đứa con ngoan mà bị rầy la, quở mắng thì nó có lồng lộn lên, nổi sân lên, phản biện, phản bác lại không? Dù cho cha mẹ có la mắng gì thì vẫn thương, kính, biết ơn cha mẹ. Từ đó mình hiểu được, và dù bất kể cha me la sai hay đúng, thậm chí là la sai thì đứa con có hiếu vẫn không có chống cự, cãi lại.
Đối với các bậc đại trí mà các Ngài chỉ dẫn cho mình là không sai, chỉ do mình chưa thấy ra hết. Vì các Ngài nhìn thấy những cái mà mình không nhìn thấy, hiểu những cái mình không hiểu, các Ngài biết những cái mình không biết, thấu triệt những cái mình không thấu triệt. Nếu mình vì bản ngã thì mình không học đạo được nên:
“Phải an trú trong cảm giác ngọt ngào, ngoan hiền, dễ thương, tâm được nhẹ nhàng, khả ái, hoan hỷ với cảm thọ khiêm cung, với hạnh khiêm cung, hạnh quỳ lạy, đầu cúi sát đất. Trong khi quỳ thì đầu cúi sát đất, hành giả thầm tác ý: “Lạy người, cho con xin được xả bản ngã này ra, cho con xin được diệt bản ngã tồi tệ, xấu xa, hư ảo, tạm bợ này vào lòng đất!” Nếu hành giả an trú tâm như vậy, an trú tưởng như vậy liên tục trong một thời gian dài thì chắc chắn bản ngã trong hành giả sẽ giảm thiểu. Từ đó hành giả có thể bước vào những Thánh pháp thâm sâu, vi diệu, tế nhị, thanh cao.
Hạnh quỳ gối đầu cúi sát đất này cũng là đức hạnh mà chúng tôi đã tập nhiều năm trước đây. Nhờ thực hành đức hạnh này mà chúng tôi thấy rõ bản ngã trong tự thân này càng ngày lắng dịu, càng ngày nhỏ nhiệm, càng ngày diệt tận, thân tâm luôn sẵn sàng cúi đầu quỳ xuống trước mọi người với tâm khiêm hạ, ngoan hiền, cung kính, hân hoan. Nhờ tu tập thuần thục và an trú trong một tâm ngoan hiền, cung kính như vậy, kết hợp với trí về ngũ uẩn trong tự thân thì khi được khen hay khi thành tựu điều gì, hành giả không khởi tâm tự mãn, ta đây, bản ngã không phình trương to, không kiêu hãnh, tự đại, tự cao để rồi sau đó rơi vào lầm lỗi, tạo nghiệp, phiền não, khổ đau.
Đó là ý nghĩa, lợi ích và mục đích của hạnh diệt ngã này và của bài Sám hối diệt ngã.
“Lạy Người cho con xin được xả bỏ bản ngã này ra, lạy Người cho con xin được bỏ bản ngã này ra!”
Mỗi lần lạy mình nên tác ý như vậy, lạy người mà mình sân hận, hơn thua với người đó.
“Lạy Người cho con xin được xả bỏ bản ngã này ra, lạy Đức Thế Tôn cho con được bỏ bản ngã này ra. Lạy Người cho con xin được diệt bản ngã tồi tệ, xấu xa này. Lạy Người cho con xin được xả bản ngã hư ảo, tạm bợ này vào lòng đất. Lạy Người cho con được xả bản ngã hư ảo, tạm bợ này vào lòng đất.”
Xả vào lòng đất cho nó nằm dưới đó, bị chôn lấp lại, xả bỏ bản ngã, cái tôi, cái ta ngu si, dại khờ, hư ảo, tạm bợ, tồi tệ, xấu xa, hèn hạ này, cho nó đi vào lòng đất, chôn xuống, cho xuống huyệt, kim tỉnh, đào hố chôn nó vào lòng đất.
Mỗi lần lạy xuống, nằm sát xuống, năm dốc đầu địa, trán mình chạm đất, hai khủy tay, cùi chỏ, đầu gối chạm sát đất.
“Con nguyện xả bản ngã này, hư ảo, tạm bợ này đi vào lòng đất.”
Lạy lâu và quán chiếu, quán tưởng để nó ngấm vào trong cảm thọ của mình.
“Đi vào lòng đất hỡi bản ngã tạm bợ, hư ảo này, hỡi cái bản ngã dại khờ, ngu dốt, vô minh này. Buông bỏ cho ngươi đi vào lòng đất đi. Ta chôn ngươi, chôn cái bản ngã này, hạ huyệt, vùi lấp, mai táng, làm đám tang cho cái bản ngã này, cho ngươi diệt tận, đoạn tận.”
Mình tác ý như vậy, an trú tâm như vậy an trú tưởng, hình tướng của mình như vậy và liên tục trong thời gian dài. Khi rảnh dù ngồi ở đâu thì quán tưởng, tác ý như vậy, không phải đợi tới lúc lạy sám hối mới quán tưởng, bất cứ mình ở chỗ nào thì mình nhớ phải tác ý như vậy.
“Con xả bản ngã tồi tệ này ra, con nguyện xả bản ngã hư ảo, xấu xa, ác độc này ra. Bản ngã làm hại mình làm hại người, làm khổ mình làm khổ người. Bản ngã hành hạ mình hành hạ người, nguyện xả bỏ ra cho nó đi vào lòng đất.”
Mình an trú liên tục như vậy trong thời gian dài, thường xuyên, ngày nào cũng tác ý, quán tưởng, mình rảnh thì mình lạy, tác ý, quán tưởng, ngắm vào thọ, tưởng, hành của mình, vận hành pháp quán, an trú, liên tục như vậy. Cho nó đi sâu vào dòng cảm thọ, hình bóng không bao giờ tan, nó an trú luôn trong tâm mình. Mỗi lần nghĩ về mình thì hiện ra hình bóng của một người hiền từ, ngoan ngoãn, quỳ lạy dưới chân ta.
Bản ngã trong hành giả sẽ được lắng dịu, giảm thiểu, từ đó mới bước vào được những Thánh pháp thâm sâu, vi diệu và thanh cao. Đây là pháp hành mà người thực hành đã thành công, chia sẻ lại cho chúng ta nên chúng ta tin tưởng và cố gắng thực tập thì sự thành công, thành tựu đó sẽ đạt được trong sự tinh cần tinh tấn, quyết tâm của chúng ta.
Nhờ thực hành phương pháp này, đức hạnh này mà bản ngã trong tự thân ngày càng lắng dịu, ngày càng nhỏ nhiệm và ngày càng diệt tận. Bản ngã trong mình giờ chưa có lắng dịu, nên khi chạm tới là phẫn nộ, lồng lộn, nổi loạn lên vì chưa có lắng dịu. Chỉ cần một người tới nói, góp ý với mình là mình phản ứng, phản biện, phản bác ngay, đó là còn, chưa lắng dịu, còn sôi nổi, nổi loạn, bạo động, giờ mình phải tu tập điều này thôi.
Nếu có người chỉ lỗi cho mình, dù người đó là cư sĩ. Minh Thành cũng đã từng trải nghiệm qua, giữa hội chúng chỉ lỗi, Minh Thành quỳ xuống lạy. Khi mình thực tập được điều này rồi, dù cho chưa thành công, thành tựu viên mãn nhưng mình có một sự thực tập, để tâm thì mình thấy phép màu sẽ xuất hiện. Rất đặc biệt, mình sẽ trở thành một con người khác, người hiền ngoan, dễ dạy, dễ nghe lỗi, dễ nhận lỗi, sinh lỗi, dễ thấy lỗi, sửa lỗi, dễ được người ta chỉ lỗi hơn.
Nếu không biết lắng dịu thì chỉ cần chỉ, hay chưa chỉ đã muốn xuống núi. Đó là nó lồng lộn, nổi loạn, bạo động, cái bản ngã đó mình không thấy được, nên những người không có thực tập, nhận diện ngũ uẩn, lậu hoặc, cấu nhiệm của tâm. Khi nói sám hối diệt ngã thì nói “Có ngã đâu diệt?” thì không được. Thật sự là vô ngã nhưng mình không thấy vô ngã nên mình mới phàm phu, nhưng mình thấy rõ ràng có bản ngã nhưng người ta nói “Có ngã đâu diệt?” thì tâm bản ngã như vậy làm sao diệt ngã?
Chỉ một câu nói nhưng mất đi cơ hội vô lượng vô biên kiếp để vượt qua bản ngã. Chúng ta thật sợ khi chỉ một ý nghĩ, lời nói chống đối mà họ không biết là đã mất đi cơ hội học pháp diệt ngã, học cách diệt ngã để thực tập cách diệt trừ chấp ngã này. Minh Thành phải giải thích “Diệt ngã này là diệt trừ chấp ngã!” nhưng cũng không thành công. Đó cũng không phải là chuyện thường, vì có người học tu bốn mươi năm vẫn thấy bình thường.
Chúng ta thấy trên chữ nghĩa, văn tự, danh tướng, mình chấp vào đó là mình không học đạo, Thánh pháp được. Nên mình muốn học đạo là phải vượt qua được danh tướng, văn tự là vì vậy. Chấp chữ, chấp nghĩa, chấp danh, chấp tướng, chấp hình thức, chấp hình tướng. Nhưng nhiều khi mình nói thì người ta lại trả lời “Thưa thầy con không có chấp, con không có chuyện chấp đâu nên không có ngã để diệt?” Trong khi ngã đó rõ ràng mà không thấy, đáng thương cho chúng ta, chúng ta dạy khờ, dạy dột, si dại, si mê, đáng thương.
Vậy nên thực tập điều này thì mình sẽ thấy rõ được bản ngã trong tự thân của mình càng ngày càng lắng dịu, càng ngày càng nhỏ nhiệm, lắng xong rồi nhỏ lại dần. Từ nhỏ nhiệm tức là rất nhỏ, từ nhỏ không là nhỏ thường, nhưng nhiệm nữa là nhỏ xíu xiu, có thể mình rất khó thấy gọi là nhỏ nhiệm. Cho đến ngày càng diệt tận là dứt ra hết.
Dứt ra đó là những Thánh vị và một tâm trống không, lắng dịu, an tịnh, phá vỡ thân kiến và ảo tưởng về tự ngã của chính mình. Chỉ còn một sắc uẩn, sắc pháp, một hình bóng quỳ mọp, dập đầu dưới chân mọi người chứ không có cái tôi. Người ta mượn cái tưởng để phá thân kiến, ảo tưởng về ta, còn hình ảnh quỳ xuống dập đầu đó, lạy người ta cũng không phải là tôi. Chỉ là mượn hình bóng của sắc uẩn, dùng sắc diệt sắc, dùng tưởng diệt tưởng.
Thật tuyệt vời, tu như vậy mới đi đến chỗ sạch sẽ thân tâm. Còn giờ chạm nhẹ vào thì lại phình trương lên, bậc ra giống như cơ quan, mũi tên bắn ra, như vậy thì làm sao tu? Phải tập hoài, quán tưởng hoài, tác ý hoài đến khi nó ngoan hiền. Càng ngày càng lắng dịu, nhỏ nhiệm, diệt tận.
“Thân tâm luôn sẵn sàng quỳ xuống trước mọi người với tâm khiêm hạ, ngoan hiền, cung kính, hân hoan dù bất cứ là ai. Nhờ tu tập thuần thục và an trú một tâm ngoan hiền, cung kính như vậy, kết hợp với trí về ngũ uẩn trong tự thân.”
Đó là câu quan trọng, trí ngũ uẩn là không cho sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là tôi, của tôi mà đây chỉ là một đống vô minh, khát ái, tham, sân, si và bản ngã. Không có tôi trong này nên làm được vậy mà không nghĩ ta làm được vậy, không tự mãn, tự cao hay tự đại. Nếu không thì mình thấy được mấy người kia không có hạ được bản ngã, tôi hạ được bản ngã rồi, tôi hay hơn mấy người kia là xong, đã lọt qua phàm phu hết.
Đó chính là chỗ thâm sâu, nên nói xong rồi phủi mà bao nhiêu lớp trí huệ thâm sâu như vậy làm được thiện pháp. Cũng giống như ông tiến sĩ, ông học được hết rồi thì ông nói “Bằng cấp tiến sĩ này tôi quăng thùng rác.” Ông đó nói thì người ta nể, còn mình dốt mà nói như vậy thì người ta khinh. Mình bây giờ thì giống người nào nhiều hơn? Không có gì hết, vì tôi đâu có cần gì hết, có gì đâu mà bỏ.
Vậy nên phải học, nghe pháp, phải nghiền ngẫm, tư duy, tác ý, thực tập, ngày ngày hoan hỷ, hân hoan, thích thú, an trú, tư duy, quán chiếu trong đó, không được rời xa pháp.
“Nên kết hợp với trí ngũ uẩn về tự thân, trong tự thân khi được khen hay khi thành tựu được điều gì, hành giả không khởi tâm tự mãn ta đây, bản ngã không phình trương to, không kiêu hãnh, tự đại, tự cao.”
Mình thấy ngày xưa bao nhiêu vị mình đọc trong truyện, tu đạt được ngũ thông, mỗi lần đi đến nhận sự cúng dường là đi trong hư không, tới là vua và hoàng hậu lạy dưới chân để cúng dường. Nhưng vì không diệt được bản ngã, không thành tựu được Chánh Tri Kiến phá thân kiến nên dục sanh khởi hay sân sanh khởi, hay bản ngã sanh khởi là mất thần thông, rơi vào danh lợi, tài sắc của thế gian rồi bị đọa lạc trở lại, vì không thành tựu Chánh Tri Kiến, phá diệt bản ngã thâm căn cố đế vô lượng kiếp này.
Mình không đặt nền tảng, không đứng trên lập trường, ở trên trí tuệ về vô ngã mà mình tu, thì tất cả những gì mình tu là nằm trong hữu vi, hữu lậu sanh diệt. Nên dù nó có đạt được mức độ gì đi nữa thì cũng đạt trong bản ngã. Mà đạt trong bản ngã thì tham, sân si, vô minh, khát ái còn, như vậy, khi gặp duyên gì đó là mất và mất là thường rơi sâu xuống vực.
Nên mình đọc trong sách, nhiều người thành tựu những cảnh giới rất cao thâm thiền định nhưng vẫn đọa, vì vẫn còn trong tự ngã. Nên tu tập pháp diệt ngã như vậy có thành tựu thì cũng không kiêu hành, tự đại, tự cao để rồi sau đó phải rơi vào lầm lỗi, tạo nghiệp rồi phiền não, khổ đau. Vậy nên chúng ta thấy:
Đó là ý nghĩa, lợi ích, mục đích của hạnh diệt ngã này, của bài Sám hối diệt ngã.
Mình làm tất cả mọi công việc như vậy và đặt tâm mình trong hướng không có tôi, của tôi, không có của ai nên mình làm vậy thì khi buông bỏ nhẹ tênh. Nếu mình gặp phải chuyện gì đó mà phải từ giã cuộc đời này thì cũng không có gì là tôi, là của tôi, vì mình đã an trú tâm mình trong đó hàng nhiều năm, chục năm thì lúc đó mình không có gì mà luyến tiếc.
Còn nếu mình đặt ở trên tư tưởng, quan điểm, cách nhìn, là tôi, của tôi, tôi dày công gầy dựng, khai sơn tạo tự, thì đến lúc thình lình mất đi thì mình sẽ lo lắng, sợ hãi, tiếc nuối những cái của mình đã gầy dựng lên. Vậy nên chúng ta thấy đi sâu vào trong cảm thọ, suy nghĩ, hình bóng, trong tâm, trong nhận thức, ăn sâu vào đó là một ý niệm “Tôi là…” đó là vô minh. Phải tẩy ra được ý niệm “Tôi là…” ở trong từng suy nghĩ, cảm thọ, hình bóng, nhận thức.
Đó là công phu, muốn vậy thì phải tập cúi đầu khiêm hạ, tập lễ lạy, dập đầu, tập làm giẻ lau, tập làm con bò bị cưa hai sừng, tập làm người hèn hạ, thấp kém, nghèo cùng, ăn xin. Tập nhàm chán thân lủng lỗ, rỉ chảy, tanh hôi suốt cả ngày, tập nhàm chán, viễn ly, ngao ngán, hướng đến sự rời xa, từ bỏ, xả bỏ. Đó là lợi ích, mục đích, ý nghĩ của phương pháp thực tập đức hạnh, diệt trừ bản ngã hư ảo, hư danh, tạm bợ, thấp hèn và ác độc này.
Ngày nào chúng ta cũng nhắc, nhớ và quán tưởng như vậy hết, thực tập lạy như vậy thì bản ngã có giảm được không? Ngày nào cũng nhắc, nhớ, quán xét, ngày nào cũng có những hình bóng thực tập để lạy, quán tưởng, nhận thức như vậy thì làm sao nó không giảm bớt, giảm thiểu, làm sao nó không được chế ngự, nhiếp phục? Đó là điều không thể xảy ra. Nếu thấy đứa nào sanh khởi lên là gõ đầu ngay, chế ngự, nhiếp phục và đoạn tận nó ngay.
Đó là lời mở đầu, lời dẫn để vào bài Sám hối diệt ngã. Đó là ý nghĩa, mục đích và lợi ích, tại sao chúng ta phải thực tập bài Sám hối diệt ngã, thực tập thì đem lại lợi ích gì. Mục đích của việc làm này là đạt đến gì? Đó là chúng ta giải thích vừa xong, ý nghĩa, lợi ích và mục đích của bài Sám hối diệt ngã, đọc, nhớ và quán tưởng, hành trì.
Từ ngày mình lên núi đến nay mình có thấy bản ngã của mình giảm bớt được kha khá chưa? Đã nhìn ra nó và gõ đầu nó được không? Có chiến thắng với nó được đôi vài lần không? Trước khi mình đi học vào dòng pháp này và bây giờ mình có thấy phần nào giảm thiểu không?
92-104: Phật tử trình pháp.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.